MỘT
Tôi nhận được tuyển tập thơ “Chân Dung Người Lính-Thi Sĩ Miền Nam” của anh Lê Mai Lĩnh gửi tặng cách nay hai tuần, nhưng lu bu việc xếp đặt thư viện tại gia của mình nên mãi đến hôm qua mới có thì giờ ngồi đọc một mạch toàn tập. Lúc gửi sách, anh có nhắn, đọc rồi viết cho anh một hai trang nhận xét, tôi gật, một hai trang thì quá dễ, cũng nói thêm, để em xem có gì vui vui mới viết.
Tôi bảo “để xem có gì vui vui mới viết” là tôi đã có chủ đích. Số là, khi viết về bản “Địa Đàng Em” của Cung Minh Huân phổ thơ Lê Mai Lĩnh, tôi cũng đã tò mò lên mạng tìm hiểu thêm về tác giả bài thơ. Hóa ra, Lê Mai Lĩnh đã xuất bản tập thơ đầu tay có tên “Nỗi Buồn Nhược Tiểu” dưới bút hiệu Sương Biên Thùy năm 1958, tức lúc tôi còn chưa sinh ra đời và anh chỉ mới 16!
Sau khi xuất bản tập thơ đầu tay, anh cộng tác với nhiều tạp chí văn học-nghệ thuật miền Nam, dĩ nhiên là cả sau khi vào lính, làm sĩ quan CTCT, cho đến khi miền Nam tan hàng. Cùng với các sĩ quan khác, anh đã phải đi tù, tổng cộng 8 năm, qua 10 trại từ Nam chí Bắc. Ra tù, anh làm đủ việc mưu sinh, rồi mở “Quán Bên Đường” để bạn bè có chỗ uống thiếu, đến năm 94 thì đốt quán, lên đường đi Mỹ, diện H.O.
Cuộc đời rẽ ngoặt nghiệt ngã sau 1975 nhưng Lê Mai Lĩnh vẫn “kiên định làm thơ”. Tập “Chân Dung Người Lính-Thi Sĩ Miền Nam”, xuất bản đầu năm nay, có thể coi như một tự truyện bằng vần (dù vần điệu cực kỳ trúc trắc, he he), tổng cộng 67 bài, trong đó, ngoài 5 bài cảm hứng từ Phong trào Dù Vàng Hồng Kông, 1 bài bốn câu rất tào lao (bài “Bỏ áo vào quần”), khoảng 20 bài về tù đày, còn lại trên 40 bài là thơ tình.
HAI
Trong số 20 bài về tù đày, tôi thích nhất bài mở đầu có tên “Tạ lỗi với quê hương”, ghi lại cảm xúc của anh khi phải giã biệt ngôi trường Nguyễn Hoàng và thị xã Quảng Trị. Trong ký ức của tôi, và anh cũng có ghi lại trong bài, vùng đất này luôn gắn liền với đạn bom, máu lửa, với Cổ thành, với Đại lộ Kinh hoàng. Năm 2015, có dịp đi qua đường Quang Trung, ghé Cổ thành bên giòng Thạch Hãn, tôi thấy phố xá vẫn còn xác xơ, hiu hắt lắm.
Nhưng qua bài thơ cảm động này của anh, tôi còn thấy một Quảng Trị rất khác, nhọc nhằn nhưng vốn dĩ yên lành và lung linh hoa mộng. Anh nói về các bà mẹ tảo tần, chắt chiu, về những người cha “tất bật ngược xuôi cuối bãi đầu ghềnh”, về các thầy cô “suốt đời tận tụy hy sinh / dạy cho tôi những kiến thức làm người”, về những bạn bè “màu trắng học trò và màu phượng vĩ đỏ”, và dĩ nhiên:
Nhớ như in từng địa chỉ ngôi nhà
Từng khung cửa sổ, ngọn đèn học thi
Nhớ từng khuôn mặt, từng dáng đi
Từng mái tóc vờn bay trong gió
Từng tà áo thướt tha đầu ngõ
Vành nón lá nghiêng nghiêng…
.
Nhớ con đường bờ sông phượng đỏ một trời
Con đường đêm đêm mở ra một thế giới thần tiên
Ở đó, có nàng Công Chúa ngủ quên
Chờ Hoàng Tử thức dậy
Ử đó, có những thảm cỏ xanh, gốc cây
Và bóng tối thật dễ chịu
Chúng không can dự vào những nụ hôn, lời thầm thì
Của những đôi tình nhân yêu nhau, yêu nhau
Ở đó có một dòng sông trăng chạy dài
từ cầu ga đến chùa Tỉnh Hội
Đêm đêm dập dìu những dáng liêu trai
Đêm đêm dập dìu những O Thiếu nữ
Làm sao tôi có thể quên…
.
Và cả em nữa, làm sao tôi không nhớ
Chính em đó, làm sao tôi có thể quên
Những đêm Nguyễn Hoàng đầy trăng
Tôi đi bộ hàng mấy cây số đường làng
Qua những lũy tre, bờ dậu, đến nhà ông Lê Chí Khiêm
Hái trộm những cành hoa dạ lý hương
Về cắm lên cửa sổ nhà em trọ học…
Đọc những dòng thơ này của Lê Mai Lĩnh, tự nhiên tôi thấy tâm hồn mình mát lạ. Và hầu như đồng thời với cảm giác mát rượi này, tôi cũng chợt hiểu thêm, và đồng cảm sâu sắc, tại sao trong những ngày tù đày trên đất Bắc, thiếu tướng Lê Minh Đảo đã viết nên những lời ca mà ai nghe cũng ứa nước mắt: “Trăng sao tin yêu ai dối trá / Đất trời hiền hòa ai đốt phá / Và đem thê lương che kín núi sông này…”
Tiếp ngay sau bài thơ mở đầu “Tạ lỗi với quê hương” dài 6 trang là một bài dài 8 trang có tựa “Bản cáo trạng hay thư gửi tên tù nhân của lịch sử”. Đây là một bài thơ kiểu “theo giòng lịch sử”, nói về những trải nghiệm, suy tư và chọn lựa của riêng ông nhưng có lẽ đồng thời cũng là của rất nhiều thanh niên miền Nam thế hệ ông. Tôi ngạc nhiên thú vị, nhưng không hoàn toàn bất ngờ, khi nghe ông tiết lộ:
Cha tôi là Lê Văn Thông
Từ người kháng chiến yêu nước năm 45
Biết nói tiếng Pháp như gió
Sau trở thành tên đảng viên CS, chỉ biết cầm súng cắc-bụp-xoè
Giờ đã 80 nằm một chỗ chửi ông
và tập đoàn lãnh đạo CSVN
Bởi theo các ông mà thân tàn ma dại…
.
Mẹ tôi là Nguyễn Thị Sầm
Tần tảo một mình nuôi 4 đứa con từ ngày chồng tham gia kháng chiến
Nhờ thế chúng tôi lớn khôn
Ba người anh của tôi
Một người đi lính Biệt Động Quân
Một người đi Thủy Quân Lục Chiến
Một người đi Biệt Kích Dù
Còn tôi, ngành Chiến Tranh Chính Trị
Sau 30 tháng 4 mẹ tôi bị cha tôi nạo một trân nên thân
“Sao mụ cho chúng đi toàn thứ dữ”…
Sau phần “lý lịch trích ngang”, Lê Mai Lĩnh nói về cái sự “cả đời chạy” của mình, trước chạy lui, sau chạy tới:
Chạy, bằng đôi chân của mẹ, khi còn là hài nhi thời tản cư năm 1945
Chạy, khi ông ra lệnh rào làng chiến đấu, giặc Pháp về đốt nhà bắt người xếp hàng bắn như xâu táo
Đó là thời kỳ chạy lui bằng chân đất của tôi thời thơ ấu
Khi chưa biết ông là ai?
.
Nhưng từ Tết Mậu Thân năm 68
Khi ông dùng thơ làm mật lệnh
Xua quân vào Huế chôn sống hàng chục ngàn người
Tôi bắt đầu biết ông là ai?
Và từ đó tôi mang giầy sô tiến lên phía trước…
Phần còn lại của bài thơ dài 8 trang là những sự kiện “chấn động lịch sử, tang tóc lòng người” như việc giết hoặc thủ tiêu những người yêu nước không cùng khuynh hướng chính trị như lời chứng của Nguyễn Hộ, hoặc như các vụ Cải Cách Ruộng Đất, Nhân Văn Giai Phẩm, Mậu Thân-Huế, 30 tháng 4, vụ ép dân đi Kinh Tế Mới, đánh tư sản, tổ chức vượt biên bán chính thức, vơ vét lợi ích nhóm, sự băng hoại toàn xã hội…
Trong 20 bài về tù đày, ngoài hai bài “sử thi” ở trên, còn có “Trường ca cho Huế mùa xuân” rất đáng chú ý bởi những câu thơ đẹp, vẽ nên một “Huế mộng Huế mơ”. Cũng đáng chú ý là “Giao thừa năm 37 tuổi” và “Chuyến tàu cuối năm”. Trong hai bài thơ này, Lê Mai Lĩnh đều nhắc đến cùng một chi tiết, bộc lộ cái bản lĩnh, và quan trọng hơn, một nhìn nhận rất rạch ròi, tỉnh táo của người tù miền Nam. Bài đầu:
Này em nhỏ cầm đá ném vào đầu ta
Trên đoạn đường gần ga Hà Nội
Nếu không nhanh ta đã u đầu
Chắc em buồn lòng không thơi thới
.
Đôi lúc các em cũng thành công
Nói cho để các em mừng
Bạn ta có đã năm, mười đứa
Đã sưng đầu chảy máu đầy lưng
.
Này cô gái chu miệng chửi rủa mẹ cha ta
Trên đoạn đường gần ga Yên Bái
Chắc cô vui vì ta đã nghe
Chắc cô buồn vì ta đã cười
.
Dẫu thế nào ta vẫn khôn hơn cô
Này cô bé, sao không về đi cày
Ai bắt cô đứng đây giờ đó
Để diễn trò căm phẫn, lạ thay.
Thế rồi, sau 8 năm tù đày, với “Sắn, bản tuyên ngôn thế kỷ”, “Trong tù sờ râu”, “Trèo dừa”, “Mùa đông đi cấy ruộng sình”, v.v., dĩ nhiên không phải không có những lúc phóng tầm mắt ra ngoài song sắt mơ mộng bay bổng cho quên cơn đói, người tù trở về, xe chở tù cũng lại qua ga Yên Bái, ga Hà Nội, và cũng vẫn đứng đấy các cô gái năm xưa, nhưng bây giờ tâm tình đã khác. Bài thứ hai:
Chào em bé ném đá ta ngày mới tới
Và cô bé chu miệng chửi rủa mẹ cha ta ngày mới ra
Giờ thì biết em đã biết ta
Không phải là quân ăn thịt người
Nên đã có em mang sắn đến cho ta…
.
Này cô gái thanh niên xung phong
Khi con tàu qua khỏi hầm đèo
Sao cô cầm đá ném vào đầu công an
Rồi hai tay chống nạnh nhìn theo
.
Này các em ở sân ga Đà Nẵng
Có bao lăm lời lỗ thế nào
Mà em ném cho ta bao thuốc tặng
Nhỡ công an thấy được làm sao
.
Này các em nhỏ ở sân ga Nha Trang
Em hát những gì nghe sao ngộ nghĩnh
Em giận đời chăng rằng em bị phỉnh
“Như có bác Hồ trong thùng phuy đậy nắp
Mở nắp ra nghe cái cốc trên đầu”
BA
Thật ra, nếu chỉ là những bài thơ tù không thôi thì tôi đã không viết loạt bài này. Như đã nói ở phần đầu, là “để xem có gì vui vui mới viết”, tôi viết bài này là vì những bài thơ tình, số lượng trong tuyển tập gấp đôi số thơ tù, và có giọng rất “khùng điên”, như lời thi sĩ tự thú, những cũng rất độc đáo, rất Lê Mai Lĩnh, không lẫn với bất kỳ ai, đọc một lần là nhớ, khiến Trần Doãn Nho phải thẳng thừng: “Tôi hoàn toàn dị ứng với lối viết của LML”!
Đọc Lê Mai Lĩnh mà không dị ứng mới là lạ, nhưng nhiều người vẫn đánh bạn với anh và dành cho anh những lời ưu ái, trong số những anh này, có người tôi từng đọc như Võ Phiến, Võ Đại Tôn, Lâm Lễ Trinh, Phạm Ngũ Yên, Thái Tú Hạp, có người tôi nhiều lần đọc như Doãn Quốc Sỹ, Trần Trung Đạo, Kha Tiêm Ly, lại có người tôi rất thân như Lê Đình Cai. Tại sao lại có sự tréo ngoe đó? Tất cả chỉ tại những bài thơ tình!
Để ngọn ngành, phải ngược thời gian về thuở “khi xưa ta bé ta ngu” của Lê Mai Lĩnh ở Nguyễn Hoàng, Quảng Trị. Ngày đó, rất “xui xẻo”, một cô gái đã “bị” thi sĩ để ý. Mối tình đơn phương đã “ám” ông suốt 60 năm. Về sau, khi nàng đã “tra” (tôi đọc mà không hiểu từ này, he he), chàng và nàng hội ngộ ở Denver, sau đó ai bang nào về bang nấy, sáng nàng ngồi nhà uống cà phê, thi sĩ ngồi nhà viết thơ tình, 2 năm viết 500 bài!
Vậy nàng Dulcinea của chàng hiệp sĩ (tước hiệu tự phong của LML) là ai? Đó là Lương Quyên, cũng là “cô láng giềng” (tình tự dưới hoa quá, hi hi), là “dì Mười” (người xa cách quá tôi buồn lắm, hu hu), là “bà tiên” (nghe là biết rất mê Bùi Giáng), là cô học trò (lạ, có dạy học ngày mô), lúc lại là Lara của Zhivago (lãng mạn quá đà, he he). Gọi nàng bằng lung tung xà bèng tên nhưng tình yêu thi sĩ dành cho nàng là duy nhất, độc đáo cực kỳ, mà tình hận chĩa vào nàng cũng cực kỳ độc đáo!
Tình yêu ấy có gì mà độc đáo cực kỳ? Là yêu quá đấy mà thôi, yêu cuồng điên, yêu mất trí, yêu đến cà lăm chữ:
Mỗi sáng mai, tỉnh dậy, tình vươn vai
Tình lớn dậy, mỗi ngày, tình lớn dậy
Anh yêu em, tình lớn dậy từng ngày
Tình lớn dậy từng ngày, trời ban cho
Yêu đến quờ quạng chữ:
Mỗi sáng mai, nhớ em, đôi môi như hai con đỉa trời
Vắt vẻo nằm trên cái nốt ruồi ác chiến
Ôi cái nốt ruồi thi sĩ muốn quyên sinh
Thi sĩ muốn quyên sinh, ôi cái nốt rồi em ác liệt!
Chu mẹ ơi, đúng là khổ cho cô láng giềng, tủi cho Lara, và tím ruột bầm gan cho dì Mười! Sao gã thi sĩ lại tả đôi môi mọng của tình nhân (dẫu đã hơi “tra”, chữ của Lê Mai Lĩnh dùng đi dùng lại trong các bài thơ tình của mình) như hai con đỉa? Dù có là đỉa trời đi chăng nữa (không có trong từ điển, chẳng biết loại đỉa gì) thì vẫn là đỉa, nghe rất ư là kinh khủng khiếp!
Nhưng chưa phải đã hết. Mãnh liệt hơn cả lòng tôn thờ nàng Dulcimea của chàng Don Quixote, vượt xa hơn nhiều lời tụng ca của Bùi Giáng tiên sinh về cái đẹp của cái của kiều nữ Kim Cương, chàng thi sĩ của chúng ta:
Mỗi sáng mai, anh làm thơ và tưởng tượng
Giờ là lúc em đang cong cớn dưới vòi nước ấm
Ước gì anh được làm bánh xà phòng
Ước gì anh được làm chiếc khăn
Ước gì anh được làm chiếc lược gỡ rối vườn địa đàng!
He he, yêu mà đến thế thì thôi, cụ Nguyễn Du nghe cũng giật mình! Lúc đọc đoạn thơ này của Lê Mai Lĩnh, tôi cứ cười khùng khục, nhớ lại bản dịch Hamlet của Bùi Giáng. Đoạn Hamlet bị Ophelia vì nghe lời khuyên của cha nên cự tình, Hamlet ức quá lôi tín vật trong túi quần ra trả lại cho người yêu. Nhưng qua phóng bút của Bùi tiên sinh thì Hamlet thọc tay vào quần, móc đưa cho Ophelia và ca: “Cỏ tiên còn một chút này…”
Cũng trong đoạn thơ trên là lần đầu tiên Lê Mai Lĩnh nói đến từ “địa đàng” (trong toàn tập “Chân dung người lính-thi sĩ miền Nam”, Lê Mai Lĩnh nhắc đến từ này cả thảy 5 lần trong 5 bài thơ khác nhau), mà nghĩa biểu vật của “địa đàng” ở đây không thể nhầm lẫn, và ai đã “nếm mùi đời” cũng đều hiểu “cỏ tiên” ở “địa đàng em” ấy rậm và xoăn như thế nào, vậy mà thi sĩ đòi lấy lược chải thì đến tết Công-gô mới thẳng. He he, điên thế.
Đó là buổi sáng, còn buổi tối thì sao? Buổi tối càng kinh khủng khiếp, nhưng cũng cực kỳ độc đáo! Nhớ lại, Marx có nêu bốn, năm nguyên lý về sự vận hành của lịch sử, trong đó có nguyên lý lượng đổi chất đổi hay chất đổi lượng đổi gì đó. Nguyên lý này ứng tuyệt vời với Lê Mai Lĩnh. Vì bị ám ảnh 60 năm với nàng, một hiện tượng thuần túy tinh thần, sự ám ảnh đó cuối cùng đã hoá vật chất mà thi sĩ “ngửi” được hàng đêm:
Đã hai thế kỷ qua trò đi đâu
Đừng để mất mùi hương sầu riêng
Sầu riêng, mùi sầu riêng ta tương tư
Đêm đêm ta tương tư mùi sầu riêng
.
Đã hai thế kỷ qua trò biến hay thăng
Dẫu biến hay thăng vẫn giữ mùi sầu riêng nhé
Mất mùi sầu riêng ta khó sống
Mất mùi sầu riêng sống cũng như chết
.
Nói ngắn gọn, trò muốn đi đâu thì đi
Nhưng cất giữ giùm ta mùi sầu riêng
Khi về ta sẽ cúi hôn lên đó
Xem có còn không mùi sầu riêng!
Trong truyện ngắn “Phẩm Tiết” của Nguyễn Huy Thiệp, đoạn sau khi chiếm Phú Xuân, Gia Long-Nguyễn Ánh cướp được nhiều vàng bạc châu báu, cả cung tần mỹ nữ, đặc biệt có cả nàng Ngô Thị Vinh Hoa. Thiệp tả: “Nhà vua mở cửa, thấy Vinh Hoa bị trói, trên người không có mảnh vải che… Nhà vua đến gần, thấy Vinh Hoa đẹp quá, bỗng nhiên sây sẩm mặt mày. Nước từ âm hộ Vinh Hoa tiết ra thơm ngát mùi hoa sữa…”
Chuyện “địa đàng em” của Vinh Hoa tiết ra mùi gì thì chỉ vua Gia Long biết, nhưng nhà vua băng đã 200 trăm năm lẻ, không nói Thiệp sao biết, nên Thiệp đoán mò, cố ngửi xuyên thế kỷ, độ chính xác coi như zero. Lê Mai Lĩnh nói qua tự chứng, tôi tin. Cái mùi khiến vua Quang Trung lần đầu gặp đã “rùng mình, hoa mắt, đánh rơi cốc rượu quý” và sau này là vua Gia Long “sây sẩm mặt mày”, mùi đó chính xác là MÙI SẦU RIÊNG, he he.
Ở trên là nói về thơ Lê Mai Lĩnh khi yêu. Không có gì khủng khiếp hơn tình yêu khi đã biến thành lòng oán hận (nguyên văn là “thù hận”, nhưng LML chắc chẳng thù ai, mặc dù có thể “oán”, oán vì bị người tình xử ức, hu hu). Vậy khi anh “oán” thì sao? Số là, sau khi gặp lại người tình 60 năm, lại được chị nhà ngó lơ, phần vì “người ta đã cho mình cả đời rồi” (“Dòng Nhớ”, Nguyễn Ngọc Tư), phần vì “võ công” của lão chị cũng đã “hấp tinh đại pháp” kiệt rồi (Kim Dung), nên thả cho lão “chống gậy tìm tình” (chữ của Lê Mai Lĩnh). thi sĩ mừng rơn, lập tức ba mũi giáp công, tặng hoa, tặng quà, gọi phôn liên tu bất tận, khiến người tình hoảng, cấm tiệt. Thi sĩ ức:
Cô cấm tôi gọi phone cho cô không quá ba lần mỗi đêm
Cô cấm tôi không được gọi cô sau 7 giờ tối
Cô cấm tôi không được gọi tên cô, Lương Quyên
Cô cấm tôi không được gọi cô là cô láng giềng
Mà chỉ được gọi cô là DÌ MƯỜI.
Sau uất ức là nổi doá, thi sĩ công khai gửi cho nàng:
TỐI HẬU THƯ:
Nếu em không về lại trong cánh tay ta
Thì mọi sự sẽ thay đổi:
Ngày trước ta nói em đẹp như tiên, nay ta nói em xấu như quỷ
Ngày trước ta nói tóc em là mây, nay ta nói tóc em là một chùm rễ tre
Ngày trước ta nói môi em là trái nho mọng, nay ta nói môi em là trái chôm chôm
Ngày trước ta ca ngợi em kinh nguyệt điều hòa, nay ta nói khoản ấy của em tháng trồi tháng trụt
Ngày trước ta nói hai trái vú em như MARILYN MONROE, nay ta nói vú em như vú THỊ NỞ
Chỉ sơ sơ chừng đó, em đã biết sợ chưa…
He he, không chỉ sợ, mà còn hãi quá đi chứ!
BỐN
Đối với một ông già gân bảy mươi tuổi lẻ (ấy là lúc sau 60 năm gặp lại Lương Quyên, cũng là cô láng giềng xưa, cũng là cô học trò và là Lara của Zhivago trong hoang tưởng), đã từng yêu đến cà lăm, yêu đến quờ quạng chữ, yêu đến độ đêm ngủ cứ mơ hít hà mùi sầu riêng, ngày thức thì ao ước được chải cho đến tết Công-gô nhúm cỏ tiên xoăn tít nơi địa đàng em, nhất là lại được chị nhà ngó lơ cho thoải mái “chống gậy tìm tình”, độc giả hồi hộp mong ngóng đoạn phim “cấm trẻ dưới 18”. Ngờ đâu, phim đứt!
Trong bài “Đêm trăng mật” (không thấy in trong tuyển tập “Chân dung người lính-thi sĩ miền Nam”), thi sĩ kể lại buổi tái ngộ:
Cần gì phải là một tuần, mỗi trăng mật
Sao không là, một đêm, cũng đủ MẬT TRĂNG
Cảm ơn em đã đến Denver
Đêm hội ngộ NGUYỄN HOÀNG/QUẢNG TRỊ
Hội ngộ tình quê, cũng là hội ngộ tình ta.
Biền biệt tháng năm xa, tình ngăn cách
Đêm Colorado, chúng mình chào hàng nhau
Em thấy gì nơi anh, điều cần, cho em mặc cả
Anh thấy gì nơi em, anh ngả giá cả phận người.
Một, hai nụ hôn, không ảnh hưởng lên nền hòa bình thế giới
Một, hai vòng ôm, chẳng đủ làm nên chiến tranh
Nhưng nếu sớn sác chạm vào vùng cấm địa
Tình nổ tanh bành, mà anh cũng tanh bành xác theo
Thôi thì, đành vậy nghe em
Đêm TRĂNG MẬT, nhưng mình cứ COCACOLA
Đêm áp sát thịt da, nhưng mình cứ như người còn trinh tiết
Em trinh, anh trinh, chúng mình NÀNG THƠ và THI SĨ còn trinh
Ai cấm chúng ta không cho phép mình còn trinh.
Ủa, đã thiên thời địa lợi nhân hòa như vậy mà COCACOLA rồi thôi, là sao? Không chỉ với tình cũ của 60 năm, mà ngay với những người đàn bà thoáng gặp sau này, phim cũng đứt giữa chừng để uống COCACOLA: Một ở Phan Rang năm 1965, một ở Montréal, năm 2000, một ở Philadelphia, năm 2001, và một cũng từ Canada qua chơi Springfield, Massachusetts, năm 2003. Kể về bốn người tình, lời kể nào cũng hứa hẹn mê ly cụp lạc, nhưng cũng đều kết bằng ghi chú: “Hình như tôi không phải là đàn ông”!
Đó là trong đời thực, thôi thì cũng châm chước cho thi sĩ được phép “chống gậy tìm tình” nhưng mắt vẫn phải ngó trước ngó sau, chỉ hy vọng trong thế giới của những giấc mơ hoang, mọi sự sẽ khác. Xuân Diệu chẳng đã từng mách: “Nhưng anh giấu em những mộng không ngờ / Cũng như em giấu ta những điều quá thực…” Không nói ra, ai biết? Vậy mà ngay cả trong mơ, thi sĩ cũng chẳng dám “tới luôn bác tài”. Chán thế!
Bằng chứng: Trong “Một chuyện không có thực”, với lời nhấn mạnh ở kết: “Truyện hư cấu”, cũng không thấy đăng trong tuyển tập “Chân dung người lính-thi sĩ miền Nam”, có lẽ vì mới sáng tác mà lại là văn xuôi, không phải thơ (dù đối với trường hợp Lê Mai Linh thì văn xuôi và thơ cũng na ná, khác nhau chủ yếu ở chỗ năng xuống hàng, he he), Lê Mai Lĩnh kể:
Hắn lái xe đưa người đàn bà về nhà.
Hắn chào ra về.
Người đàn bà cầm chân hắn ở lại.
Về gì vội thế. Ngồi lại với em giây lát.
Người mẹ về VN.
Đứa con gái theo chồng
Thằng con trai sang nhà bạn gái ngủ.
Còn lại bà và hắn.
Hai người ngồi ở sofa. Hắn bên phải bà.
Lúc này bà đã bật TV.
Không khí đêm vắng vẻ, chỉ nghe tiếng quạt trên trần nhà.
Tay trái hắn, quàng lên vai bà. Tay phải đặt lên chân bà.
(tôi tránh nói chữ đùi, dị hợm)
Đôi lần hắn cầm tay bà hôn.
Hắn thấy người như núi lửa.
Hắn nghe tiếng thở bà không bình thường.
Hắn rắp tâm mở trận mạc
Hắn cho 5 tên khinh binh vượt hàng rào điện tử McNamara.
Không thấy đối phương phản ứng, ngồi im re.
Hắn thấy thời cơ thuận lợi.
Hắn gọi máy cho 5 tên khinh binh bò dưới hàng rào hoa lực là một lớp vải may bằng vải mùng.
Lúc này đối phương bắt đầu phản ứng, vùng vẫy, nên 5 tên khinh binh lọt vào hố bom B52, ẩm thấp, nhờn nhợt.
Hắn thu quân.
Trở lại vị trí lúc ban đầu.
Tay trái quàng trên vai bà, tay phải đặt trên chân bà…
Đoạn phim đang gay cấn thì màn ảnh đại vĩ tuyến bỗng nháy liên tục, khán giả dộng ghế rầm rầm. Tuy vậy, bằng vào lý thuyết “ký hiệu học văn bản”, mọi chuyện bị xoá ở đoạn nháy lại rất rõ ràng. “Chân” và “đùi”, đặc biệt trong sexio-linguistics (không biết tiếng Việt dịch là gì), tự chúng đã không đồng sở chỉ, càng không đồng sở biểu, không đồng sở dụng, cả đồng kết cấu cũng không. Đến “đùi” mà còn kỵ húy thì còn mong đợi gì?
Vậy mà, trong bài “Thơ tình của một ông già 70”, thi sĩ hùng hồn: “Ví phỏng em u mê / Anh lì lợm làm tới / Ví phỏng em im lặng / Anh mở cửa địa đàng” Hóa ra chỉ toàn hăm, lúc giáp lá cà thì chém vè. Tôi đọc mà thắc mắc mãi, nên quyết tâm tìm hiểu. Đọc kỹ lại một lượt hơn 40 bài thơ tình trong tuyển tập, tôi phát hiện có 5 bài thi sĩ nhắc tới vườn địa đàng, như sau:
MỖI SÁNG MAI
Mỗi sáng mai, anh làm thơ và tưởng tượng
Giờ là lúc em đang cong cớn dưới vòi nước ấm
Ước gì anh được làm bánh xà phòng
Ước gì anh được làm chiếc khăn
Ước gì anh được làm chiếc lược gỡ rối vườn địa đàng!
THƠ TÌNH CỦA MỘT ÔNG GIÀ 70
Ví phỏng em u mê
Anh lì lợm làm tới
Ví phỏng em im lặng
Anh mở cửa địa đàng
VƯỜN ĐỊA ĐÀNG
Buổi sáng, hãy cho anh uống cà phê trên địa đàng em
Buổi trưa, hãy cho anh uống nước ngọt, tiết ra từ địa đàng em
Buổi chiều, hãy cho anh uống rượu, từ men địa đàng em
Buổi tối, hãy cho anh gục, trong vùng sâu, địa đàng em
EM, TRÁI CẤM ĐỊA ĐÀNG
Em, trái cấm địa đàng
Anh, canh giữ địa đàng
Em, căn nguyên tội lỗi
Anh, chung thân tội đồ
DẤU YÊU
Em hãy ngó xuống vườn địa đàng
Xem xem, có hoa cỏ tươi vui, mượt mà
Giếng nước có trong trẻo, lịm ngọt
Để mỗi đêm, anh gục đầu, chết khỏe
Nếu thống kê, “địa đàng” là từ được lập lại nhiều nhất trong toàn tập, như một ám ảnh. Vậy là bệnh lý rồi! Tôi lục trong thư viện tại gia của mình, tìm được quyển “Christiani enchiridion medicinae: causae, symptomata, remedia” (Y thư Yếu lược Thiên chúa giáo: Nguyên nhân, Triệu chứng, Chữa trị). Thì đây, trong mục “hội chứng địa đàng” (paradisus trauma) có ghi, toàn văn như sau:
Nguyên nhân: Miếng táo vừa trôi ngang cuống họng, giác quan Adam bỗng bừng tỉnh. Trước mắt anh là một toà thiên nhiên lồ lộ, phía trên là khuôn mặt liêu trai mời gọi, thấp chút là hai trái núi Marilyn Monroe đổ lệch hai bên, nhìn qua đã nghẹn thở, thấp nữa là lạch sâu, hai bờ và trên vách cỏ tiên mọc thành lớp, dầy và xoăn, ngào ngạt hương sầu riêng.
“Địa đàng là đây”, Adam thảng thốt. Hốt nhiên, anh thấy bàn tay trái anh đang nắm một cây gậy gồ ghề, bàn tay phải anh xòe ra, như xoa nắn khoảng không gian phía trước, hai chân anh lập cập bước tới. Đúng lúc anh đang chuẩn bị thâm nhập địa đàng thì Thượng Đế hiện ra, quát to: “Mi dám!” Adam rụng rời, cây gậy trong tay biến mất.
Phần bàn về triệu chứng, “Y thư Yếu lược Thiên chúa giáo” ghi: Mắt sáng lên khi nhìn ngắm đồ cổ, miệng lẩm bẩm hai chữ “địa đàng”, mũi rất nhạy với mùi sầu riêng, tay thường nắm gậy tìm tình, đặc biệt yêu thích công tác gác cửa, vừa gác vừa niệm chú, lúc thì “Amen”, lúc thì “Nam mô Bát Đà Đa”. Riêng phần chú thích về cách chữa trị, chỉ thấy ghi vỏn vẹn: Vô phương!
Đọc ghi chép trong “Y thư Yếu lược Thiên chúa giáo”, ngẫm lại những bài thơ tình trong tập “Chân dung người lính-thi sĩ miền Nam”, liên hệ lại với giáo trình “Phân tâm học Thi ca”, ta có thể đoan chắc Lê Mai Lĩnh mắc phải “Hội chứng Địa đàng”, bởi nếu không thế thì không thể lý giải việc đứt phim ngang xương để uống COCACOLA trong thơ tình của ông.
NĂM
Trong bài “Lê Mai Lĩnh: Con người và văn chương”, nhà thơ Như Không viết: “Ở LML có một chút khùng khùng của Bùi Giáng (chính anh cũng tự nhận mình là Khùng Thi Sĩ), một chút ngông ngông của Nguyễn Bắc Sơn, một chút tếu táo kiểu… Lão Ngoan Đồng Châu Bá Thông, và rất khí phách khi nói về các vấn đề chính trị và dân tộc. Dù văn hay thơ, văn phong của anh luôn tưng tửng, có nét riêng, rất … Lê Mai Lĩnh.”
Nhận xét về ngôn ngữ của Lê Mai Lĩnh, Như Không viết: “Thơ anh viết như nói, không hề có chút trau chuốt nào, không rườm rà tả cảnh, lại càng không có kiểu “chọn chữ đẹp để sắp vần“. Có lần, nói chuyện về văn chương, anh bảo anh có phần thất vọng khi hầu hết những bài thơ anh đọc gần đây nếu không thuộc loại tả cảnh thì cũng thuộc loại “chọn chữ sắp vần“, đọc lên nghe rất ghê gớm nhưng chẳng ý nghĩa gì…”
Tôi hoàn toàn đồng ý với Như Không trong đánh giá chung về thơ Lê Mai Lĩnh. Những ai lần đầu đọc thơ anh, đặc biệt nếu trông đợi thơ phải có vần điệu rõ ràng, có sự chọn lọc, kết hợp từ mới mẻ, độc đáo, tao nhã, cũng như phải có những ẩn dụ bí hiểm, thì dị ứng với thơ anh là điều dễ hiểu. Còn với những ai đã quá chán những câu thơ ủy mị về những mối tình lỡ, muốn tìm một giọng phá cách, đọc thơ anh sẽ rất khoái.
Khoái, bởi thơ anh đem lại cho độc giả những cung bậc cảm xúc rất đa dạng: đẹp, như những bài về Nguyễn Hoàng, Quảng Trị, về Đồng Khánh, Huế; dịu dàng, cảm động, chẳng hạn như bài “Có thể nào”, “Hãy giữ giùm tôi nửa trái tim khú đế”, “Bài thơ thứ nhất”, v.v. Nhưng nổi trội nhất về giọng thơ Lê Mai Lĩnh, như nhiều người nhận xét, vẫn là tính khùng khùng, điên điên đầy bất ngờ, nó khiến cho người đọc lúc phì cười, lúc ấm ức, lúc lại thấy quái lạ.
Phì cười, chẳng hạn, đang tán tụng nhan sắc cô láng giềng “vẫn như ngày nào” thì thi sĩ ghi chú: “Dẫu đã hơi bị tra”! Hoặc: ”Đang giữa lúc bếp lửa tình ngùn ngụt / Và cuộc mây mưa ướt sũng gối chăn đêm…” nghe rất tình tứ thì thi sĩ bỗng khùng lên: “Em theo ai, em ngon nhỉ, em theo ai?” Những cách nói rất “bình dân học vụ” kiểu “ngon nhỉ”, “hết sảy”, “ba sạo”, “ác chiến”, v.v., nhan nhản trong thơ tình LML, ai đọc cũng không thể không phì cười.
Một điều nữa cũng khiến độc giả phì cười nằm ở những câu kết rất bất ngờ, rất độc đáo, và dĩ nhiên rất tếu. Chẳng hạn, trong “Bài thơ thứ hai”, sau bốn câu mở đầu để xác định chủ đề: “Vì đã có bài thơ thứ nhất / Nên phải có bài thứ hai / Rồi bài thơ thứ một ngàn lẻ một / Có gì đâu em, rất đỗi bình thường” tác giả liệt kê một dãy điều bình thường để rồi cuối cùng hạ một câu: “Cũng lại bình thường, nếu có ngày anh nói / Yêu em, anh muốn chết cho rồi”!
Thơ Lê Mai Lĩnh, ngoại trừ một vài câu lẻ âm điệu rất nhịp nhàng, rất thơ, chẳng hạn như “Hơn nửa đời người anh mới gặp em / Em mộng đỏ của một thời trái chín”, rất xuất sắc, hoặc “Rượu, không uống mà say / Tình, lỡ vương phải chịu / Em hiểu không, lòng anh?” thật tuyệt, và hai bài có vần điệu rõ rệt “Hãy giữ giùm tôi nửa trái tim khú đế” và “Thơ tình của một ông già 70”, còn lại tất cả đọc nghe chẳng khác mấy với văn xuôi xuống hàng.
Nhưng văn xuôi cũng vẫn có thể có nhạc. Ác nỗi, tính nhạc hiếm hoi này trong thơ Lê Mai Lĩnh đa phần “đột tử” vì một câu phang ngang phè. Chẳng hạn bài “Buồn cô láng giềng, thi sĩ muốn quyên sinh”, trong hai câu đầu khổ thứ hai: “Hơn 60 năm rồi, chớ có ít chi mô / Trong trái tim tôi, một ngăn diễm lệ…” nhạc đang lấy hơi trỗi lên thì bị xì hơi vì câu kế: “Dành cho cô, muốn làm chi thì làm…” khiến độc giả là tôi vừa mắc cười, vừa hụt hẫng, lại vừa tức.
Đấy là các cảm giác của tôi khi lần đầu đọc phớt Lê Mai Lĩnh: “Thơ như văn xuôi xuống hàng!” Thế rồi một sáng cà phê, Hàn Hương Giang giới thiệu với tôi bài “Paris” của Nguyên Sa được Anh Bằng phổ nhạc với tên “Mai tôi đi”: “Mai tôi ra đi chắc trời mưa / Tôi chắc trời mưa mau / Mưa thì mưa chắc tôi không bước vội / Nhưng chậm thế nào cũng phải xa nhau…” Đọc mấy câu mở đầu, dù biết thơ của Nguyên Sa, tôi không muốn đọc tiếp, nghe lẩm cẩm thế nào.
Nhưng Hàn Hương Giang bật tiếp bài phổ nhạc của Anh Bằng do Nguyễn Hồng Nhung hát. Tôi nghe mà giật thót. Hoá ra, những câu thơ mình vội vã đánh giá là lẩm cẩm lại tiềm tàng tính nhạc đến cao độ như thế. Dĩ nhiên cũng nhờ tài năng của Anh Bằng, nhưng Anh Bằng không thể biến cái không thành có. Phát hiện bất ngờ này khiến tôi chạy trở vào nhà đem những bài thơ tình của Lê Mai Lĩnh ra đọc lại, chậm rãi, nhấn nhá.
Thì đột nhiên, những câu thơ trước nghe tuồn tuột như văn xuôi nay bỗng nảy nhạc. Hoá ra, muốn chạm đến nhạc tính của lời thơ thì cách đọc rất quan trọng. Đồng thời với phát hiện này, tôi ngộ thêm một điều, là cái lạm phát dấu phẩy trong thơ LML, chẳng hạn: “Cần gì phải là một tuần (phẩy) mỗi trăng mật / Sao không là (phẩy) một đêm (phẩy) cũng đủ MẬT TRĂNG”. Lối phẩy này rất phi cú pháp, nhưng với cách đọc mới, chúng tạo nhạc, hóa ra lại có lý.
Trên đây là một số nhận xét ngắn gọn của riêng tôi về giọng thơ Lê Mai Lĩnh. Ngoài những cái đẹp, dịu dàng, cảm động, điểm nổi bật vẫn là nét phá cách, khùng khùng, điên điên, lúc làm người đọc phì cười, lúc lại làm cho họ hụt hẫng, tức khí. Một số người sẽ dị ứng với cách viết này, một số khác sẽ khoái chí, nhưng tất cả chắc cũng phải cùng đồng ý, rằng nó rất Lê Mai Lĩnh, không lẫn. Nếu bảo đây là một thành công của anh chắc cũng không quá đáng.
SÁU
Ngoài sự độc đáo, không lẫn về giọng thơ, giá trị nhân văn (nghe hơi “lên gân” nhưng chính xác) trong thơ Lê Mai Lĩnh cũng là điều đáng bàn. Nói “nhân văn” là bởi, tuy thơ anh có vẻ khùng điên nhưng lại rất thật, nó bộc lộ trải nghiệm của riêng anh (anh bảo do Thần Thơ đọc cho chép, đang đọc mà ngưng ngang là anh tắc, tôi không tin vào Thần Thơ, chỉ tin vào vô thức) nhưng cũng là trải nghiệm về cõi nhân sinh, tùy từng độ tuổi mà cảm nhận nhiều ít.
Tôi ngộ ra đôi điều về cõi nhân sinh khi đọc thơ anh, không ngộ hết vì nhiều thứ có lẽ phải chờ tự chứng khi đạt tuổi anh. Trước tiên, đó là sự khẳng định tình yêu không có tuổi (ông bà ta nói “bảy mươi chưa phải là già”) được anh cụ thể hoá rất sinh động bằng hình ảnh “chống gậy tìm tình”, cũng say đắm, lung linh, sôi nổi chẳng kém thuở đôi mươi. Ở đây chỉ ngắn gọn đưa ra một trong nhiều ví dụ: Trong bài “Thơ tình của một ông già 70”, Lê Mai Lĩnh viết:
Ví phỏng em biền biệt
Đời anh cằn héo khô
Ví phỏng em quay lưng
Thơ anh, mùa hạn hán
.
Em, cơn mưa mùa hạ
Trên cánh đồng thơ anh
Em tưới tắm hồn anh
Thơ anh phục sinh là”.
Một trải nghiệm nhân sinh khác mà Thần Thơ mặc khải cho anh (chắc nhiều người cũng được mặc khải như anh nhưng không viết ra vì họ không viết trong vô thức như anh, hoặc vì ngại “ảnh hưởng đến hoà bình thế giới”), đó là trải nghiệm Tình đầu-Tình cuối. Trải nghiệm này đã được nhiều nhạc sĩ nhắc đến. Trầm Tử Thiêng: “Rồi từ đó tình yêu đầu / Thành muôn thâu…” Hoàng Trọng Anh: “Ta riêng ấp ủ trong tim / Tình đầu nào quên…” Hoặc Phạm Mạnh Cương với “Nửa hồn thương đau” rất nổi tiếng.
Nhưng có lẽ phải đợi đến sự xuất hiện của Lê Mai Lĩnh thì trải nghiệm nhân sinh về “Tình đầu-Tình cuối” mới được tường giải bằng cả cuộc đời thực lẫn thi ca của anh. Sau 1975, chia tay với người vợ đầu, anh đi bước nữa với một cô gái Huế kém anh 16 tuổi tên Phương Đông, cuộc tình muộn rất đẹp, như anh mô tả trong “Bài thơ tặng cô gái Huế”: “Từ dạo Quán Bên Đường / Chúng ta quen nhau / Tôi, ông chủ / Em, cô nhân viên / Nồi bún bò Huế, rất Huế…”
Hoặc bài “Đường Tình”:
Cũng muốn đi hoài, đi hoài cho tròn một đời
Cầm tinh con ngựa
Tóc em ngắn quá, không trói được vó câu của anh
Duy chỉ có nụ cười và đôi kính cận
Giữ chân anh như một thứ ngựa què…
Anh và cô Phương Đông có với nhau hai con gái giỏi giang, xinh đẹp, cuộc sống gia đình rất hạnh phúc, vậy mà cho đến tận tuổi 80, trong anh vẫn lưu giữ một bóng hình của 60 năm trước, âm ỉ nhưng không kém phần mãnh liệt. Từ chuyện đời và thơ của Lê Mai Lĩnh, tôi nghe lại “Thương hoài ngàn năm” của Phạm Mạnh Cương và vỡ ra nhiều điều:
Ngàn năm thương hoài một bóng người thôi
Tình đã khơi rồi mộng khó nhạt phai
Trăng khuyết rồi có khi đầy
Ngăn cách rồi cũng xum vầy
Mây bay bay hoài ngàn năm
—
Thương hoài ôi ngàn năm còn đó
Đá mòn mà tình có mòn đâu
Tình đầu là tình cuối người ơi
Suốt đời mình nguyện cầu lứa đôi…
Trước nay, tôi vẫn cứ đinh ninh bài hát nói về một người con trai yêu một người con gái, sau đó trắc trở, không đến với nhau được, nhưng người con trai vẫn chỉ yêu cô gái ấy cho đến suốt đời, không thể yêu một ai khác. Bây giờ thì tôi ngộ ra, hiểu như vậy là mới chỉ hiểu phần chữ, phiếm diện. Hiểu như thế thì chẳng hoá ra anh chàng trong bài hát là khùng? Chẳng lẽ trên đời này lại chỉ có mỗi một người con gái là đáng yêu hay sao?
Nhờ Lê Mai Lĩnh, tôi đã hiểu bài hát này một cách nhân bản hơn: cái tình cảm ngày xưa, theo năm tháng, người ta sẽ quên đi vì đã gặp những mối tình mới, hạnh phúc mới, hạnh phúc đến khó có thể hạnh phúc hơn, cả quá khứ, cả tương lai. Vậy mà, thật lạ, cái tình cảm tưởng đã bị vùi lấp bởi lớp bụi thời gian, bởi hạnh phúc hiện tại, thật ra vẫn có đó, để một ngày, do một bài hát, một chạm mặt tình cờ, sẽ sống lại, lung linh và tinh khôi như thủa ban đầu…
BẢY
Tôi còn có thể viết thêm về nhiều trải nghiệm nhân sinh khác khi đọc “Chân dung Người lính-Thi sĩ miền Nam” của Lê Mai Lĩnh, nhưng viết hoài cũng không hết mà bài đã quá dài, nên xin để bạn đọc tự khám phá. Phần kết thúc, tôi chỉ muốn nhắc lại ý chính của loạt bài viết này: Lê Mai Lĩnh, giọng thơ tuy có vẻ khùng khùng, điên điên nhưng là một giọng thơ phá cách và rất độc đáo. Trong “Bài thơ cuối năm hay nhất tôi được đọc”, nhà viết chính luận kiêm nhà thơ tài hoa Trần Trung Đạo kể lại:
“Đầu thập niên 1990, căn nhà của vợ chồng tôi ở Dorchester, MA, trở thành “trụ sở” của cả một thế hệ cầm bút lưu vong định cư ở miền Đông Bắc Mỹ. Gọi là thế hệ bởi đa số nhà văn nhà thơ cùng tuổi. Họ là Trần Hoài Thư, Lâm Chương, Lê Mai Lĩnh, Phạm Nhã Dự, Trần Doãn Nho, v.v… Trước 75, họ biết nhau, chơi với nhau, viết chung một báo và nhiều trong số họ còn vào trường Sĩ Quan Thủ Đức cùng khóa. Tổng cộng khoảng 30 người tính cả chúng tôi, những người cầm bút yêu mến họ thuộc thế hệ sau…”
Ở một đoạn khác, Trần Trung Đạo kể: “Ngày đó tôi làm MC cho tất cả chương trình văn nghệ lớn nhỏ ở Boston. Một lần nhà thơ Lê Mai Lĩnh từ Hartford, Connecticut đến thăm. Trong phòng khách nhà tôi, tôi giới thiệu nhà thơ Lê Mai Lĩnh. Nhà thơ Lê Mai Lĩnh là một người có cá tính. Ông thích làm dáng, thích làm điệu bộ, thích đóng kịch, có khi thích giả khùng. Nếu độc giả gặp một Lê Mai Lĩnh như thế đâu đó xin đừng để ý. Bên trong, ông là một người rất hiền hòa, tình cảm và yếu mềm trước tình cảm. Ông từng khóc (thật) ở nhà tôi…
“Đêm ở nhà tôi, nhà thơ Lê Mai Lĩnh đọc bài thơ “Chuyến Tàu Cuối Năm”. Bài thơ là bút ký của một người tù trên chuyến tàu từ Bắc vào Nam. Người tù này chưa được thả, chỉ bị chuyển từ một nhà tù ở Thanh Hóa vào nhà tù khác ở Gia Rai. [Bài thơ làm tôi xúc động, nó] là tâm sự của một thế hệ và hơn thế nữa là tâm sự của cả dân tộc trong giai đoạn đen tối của lịch sử Việt Nam. Lịch sử rồi sẽ sang trang, nhưng bài thơ “Chuyến Tàu Cuối Năm” của Lê Mai Lĩnh sẽ sống rất lâu cùng đất nước.”
Đoạn kết, Trần Trung Đạo tiên đoán: “Một mai, khi cách sống và lối sống của con người đổi thay, những bài thơ tỏ tình có tính thời trang sẽ được đưa vào thư viện. Nhưng những bài thơ gắn liền với thăng trầm của dân tộc vẫn sẽ tiếp tục sống… Năm, mười năm sau, một trăm, hai trăm năm sau, các nhà văn học sử VN biết đâu lại chẳng đến con đường Dorchester ở Massachusetts, Bolsa ở California, Bellaire ở Houston v.v… để sưu tầm dấu tích của những người cầm bút Việt Nam Cộng Hòa còn để lại sau khi đã tan đi trên đất khách…”
Đọc bài viết của Trần Trung Đạo, tôi có suy nghĩ: Bài “Chuyến tàu cuối năm” của Lê Mai Lĩnh, đã được điểm qua ở phần 2, chắc chắn sẽ đi vào Văn học sử như tiên đoán của Trần Trung Đạo. Riêng những bài thơ tình của anh, cũng đã được nhắc đến ở phần 3, 4, 5, chắc cũng sẽ vào theo, lý do là chúng không thuộc dạng “những bài thơ tỏ tình có tính thời trang” mà thường mang theo cả những trải nghiệm nhân sinh rất sâu sắc. Mà nói cho ngay, dù chúng có về thư viện thì cũng chẳng sao, bởi chúng có đi đâu về đâu thì tên tôi cũng sẽ được nhắc đến vì loạt bài phê bình tếu táo này, he he.
Houston 6/18/23
Thông Đặng
