The Trung Sisters. (DeeDraws / DeviantArt)
Lịch sử giống như con nước ròng – càng về xa càng lộ ra bãi lầy. Dân mình, từ buổi khai thiên lập địa, bọc trăm trứng chia non chia biển, đâu có thiếu giống anh hùng? Vậy mà vì cái nghiệp bị kèm kẹp, mấy trăm năm dưới bóng kẻ ngoài, từ đất đến chữ, từ tiếng nói đến cách sống, mình dần dà quên mất mình là ai.
Cái đau không phải nằm ở chuyện bị đánh chiếm, nó nằm ở chỗ bị giáo hoá. Cái gông không phải bằng sắt, mà bằng văn tự, ngôn ngữ, tư tưởng, lối sống. Người ta không xiềng tay mình, mà xiềng đầu, xiềng hồn. Người ta không bắt mình bỏ tổ tiên, mà dạy mình đổi tên, đổi họ, đổi lòng.
Từ buổi bị phương Bắc lấn tới – tụi nó chẳng ồ ạt giết chóc như dân mình tưởng. Ngược lại, tụi nó gả con, phong tước, dạy lễ nghĩa, rồi bảo dân mình sống tử tế theo khuôn mẫu của “người văn minh”. Nghe tưởng ngon lành, chớ thật ra đó là cái lưỡi câu bọc đường.
Tụi nó dựng nên lớp lớp “hương trưởng” người bản xứ, cho làm quan nhỏ, gắn cho danh hiệu. Rồi mở lớp dạy chữ, dạy sách. Từ đó, dân mình học tiếng tụi nó, nói tiếng tụi nó, viết sách theo tụi nó, rồi bắt đầu nghi ngại chính cái ngôn ngữ của ông bà mình. Rồi tự xưng là học trò của tụi nó, là “người phương Nam văn hiến nhờ gốc gác phương Bắc”.
Có thấy đau không?
Người ta không đập nhà mình, người ta chỉ bảo nhà mình quê quá, nghèo quá, rồi từ từ mình tự ra khỏi nhà, vô nhà người ta xin ở ké. Đó mới là đòn hiểm.
Có ai từng nghe chuyện “trồng tre trong rừng mía” không? Tre mọc ít, mía lấn nhiều, vài mùa thôi là hết tre. Mưu của người ta cũng y chang. Không cần đao kiếm – chỉ cần thay chữ, thay cách nghĩ, chỉ cần mình thấy xấu hổ với chính cội nguồn.
Bà kể chuyện xưa nghen: thời xa lắc, có viên cai trị họ Tô. Ổng không đánh ai, mà mở lớp, viết sách, bắt trẻ học thuộc “Đạo Trời”, lễ nghĩa quân thần. Gả con gái cho tộc trưởng đất Việt, dạy lễ làm chồng, làm con. Lâu ngày, tộc trưởng ấy không còn thấy mình là dân Việt, mà thấy mình là phiên thần – người được soi sáng bởi ánh văn minh phương Bắc.
Từ đó, từng thế hệ mọc lên như cây măng mọc trong bụi chuối – măng xanh mà lòng đã vàng úa, vì gốc đã bị rút nước, đất đã bị đổi màu.
Cái ghê nhất là người ta không tàn sát, mà biến người mình thành kẻ phục tùng tự nguyện. Dân mình bắt đầu thấy chuyện cống nạp là lễ nghi, thấy chuyện gọi người ta bằng “thiên tử” là vinh quang, thấy chuyện quỳ lạy là đạo lý.
Con thấy chưa? Bị mất nước chưa chắc là hết, chớ bị mất gốc là diệt chủng trong im lặng.
Từ đời này qua đời khác, người mình học thi để được làm quan theo cách người ta dạy. Thi đậu thì về gọi cha mẹ mình là “dân đen”, ngồi trên ngai mà lòng đã lệch về phương xa. Dân mình ăn cơm Việt mà mơ giấc mộng nơi khác, viết chữ Hán mà quên tiếng mẹ đẻ, thờ tổ tiên mà dán thêm bài vị thiên triều. Vậy còn gì đau bằng?
Nhưng đất không chịu nổi cái lưỡi dao ngọt mãi. Tới lúc nước trào đê, hồn núi thức dậy, mới có chuyện Hai Bà Trưng nổi dậy, Phùng Hưng, Mai Thúc Loan, Ngô Quyền… Họ không chỉ nổi dậy vì đất – mà vì lòng, vì tiếng nói, vì cội nguồn.
Có câu xưa truyền lại, “đánh một người đàn ông, chỉ đập được thân; cưới được người đàn bà của họ, là chinh phục cả linh hồn.”
Phương Bắc xưa biết rõ điều đó. Vậy nên không chỉ mang binh mã, mà mang cả mỹ nhân, công chúa, mệnh phụ. Mỗi lần phong vương, phong hầu cho đất Việt, tụi nó gả con gái cho tộc trưởng, thủ lĩnh, xem như sợi dây mềm nối hai vùng máu thịt. Cái mưu này ngọt – nhưng sâu độc vô vàn.
Những người đứng đầu nước Việt, khi nhận con gái người ta làm vợ, khi có con lai máu phương Bắc, thì trong lòng không còn là kẻ giữ đất mà là phường giữ ân. Mà người đàn bà trong nhà – nắm đầu gối, giữ tai, có khi còn mạnh hơn quân pháp. Còn ai nhớ Lữ Hậu thời Hán? Chính bà đó nắm thiên hạ bằng cái miệng và đôi mắt, chớ đâu phải bằng gươm giáo?
Vậy đó, dân mình chẳng hay, khi người đứng đầu đã “nặng ân thâm tình”, thì giặc khỏi cần đánh, nước cũng rệu rã mà rơi. Gả gái một lần, phương Bắc găm một đứa cháu ngoại máu Việt vào gốc cây giống mình – từ đó sinh ra cái giống chúa không thuần Việt, vua không toàn lòng.
Còn nhớ không, tiếng nói là xương sống của một dân tộc. Tiếng còn thì hồn còn. Mà một khi đã viết bằng chữ người ta, học thơ người ta, thi theo lối người ta, thì cái miệng Việt chỉ còn là cái loa phát ngôn cho hồn khác giống.
Bước đầu, tụi phương Bắc bắt dân mình học Hán tự. Nghe thì oai – “văn hóa”, “tri thức”, “đạo lý”. Nhưng thực chất là thay một hệ thống tư duy, gỡ bỏ cái nôm na máu thịt, thay vào cái văn chương cứng đờ.
Tiếng Việt lúc đó bị ép xuống đáy, chỉ dùng trong chợ, trong nhà quê, còn chữ Hán được đưa lên bàn thờ, trên bảng thi, trên trán sĩ tử. Ai giỏi Hán văn thì được làm quan, ai biết thơ Đường luật thì được kính trọng. Dần dần, cả nước trở thành phiên bản lỗi của kẻ đô hộ.
Thử tưởng tượng – đứa con mà không biết chữ của cha mình, không hiểu tiếng của mẹ mình, thì còn gọi là giống nòi gì?
Vậy nên, Hán hóa không chỉ là việc học chữ, mà là một cuộc cài đặt lại linh hồn, gài lại cách suy nghĩ. Người Việt từ đó sống tư tưởng của người khác, nghĩ chuyện đời mình bằng tư tưởng của nước người.
Mưu kế xuất sắc và hiểm nhất của phương Bắc, chính là thi cử. “Muốn trói cổ dân bản xứ – hãy cho nó một cái chiếu hoa đi thi.”
Tụi nó mở trường, mở khoa, đặt ra lối học – gọi là Học Đường, Nho học. Cử nhân, Tiến sĩ – ngó thì vinh hiển, nhưng thật ra là hàng rào sắt bọc nhung.
Muốn làm quan? Học Hán. Muốn được kính trọng? Học Đạo Khổng. Muốn làm phò mã? Học thi phú Đường luật. Muốn làm người tử tế? Quỳ trước Tứ thư, Ngũ kinh. Vậy là từng lớp người Việt ráng sức mà chui vô cái lồng bằng vàng ấy – vừa học, vừa tự cắt đứt cái rễ dân tộc trong mình.
Mà khổ nỗi, ai học được, thì lại chính là kẻ đầu tiên nối dài tay giặc. Còn ai không học, không thi, thì bị gọi là quê mùa, vô học, không văn minh.
Và cái mưu ấy thành công. Dân mình tranh nhau làm nô lệ trí thức. Một thứ trí thức không vì mình, không vì làng, không vì nước – mà vì cái ghế quan do giặc dựng. Vậy là nước mất chưa chắc vì gươm dao, mà mất vì đám con ưu tú của mình bán linh hồn cho một chữ đậu.
Một đòn nữa – hiểm như nọc rắn mà mịn như lụa. Đó là dùng chính người bản xứ cai trị người bản xứ.
Thay vì đưa toàn người phương Bắc xuống, tụi nó dụ dỗ, nuôi dưỡng, phong chức cho một lớp người Việt “trung thành với triều đình phương Bắc”. Họ là huyện lệnh, tri phủ, quan trấn, hương lý – bề ngoài là người Việt, mặt mũi cũng làng quê như mình, nhưng trong lòng đã đổi máu.
Họ thi hành chính sách người ta đưa xuống, cai trị dân mình bằng lưỡi dao người ta mài sẵn. Nhưng vì là người quen mặt, nói tiếng bản địa, nên dân dễ tin, dễ nghe. Rồi chính họ ngăn dân nổi dậy, dập tắt manh nha phản kháng, chính họ viết báo cáo dâng lên thiên triều, kể chuyện dân mình rục rịch.
Cái đau chỗ đó – giặc không cần ra tay, chỉ cần giống nòi mình phản lại nhau. Chẳng khác gì mượn tay con để đánh cha.
Tụi phương Bắc thâm sâu ở chỗ – không chỉ dùng gươm đao, mà dùng lý lẽ, lễ nghĩa để ru ngủ.
Con có để ý không, bao nhiêu đời dân mình bị dạy phải “trung quân”, “hiếu hòa”, “thờ thiên tử”? Đó là gì? Là một bộ giáo lý bọc đường – dạy dân không được nổi dậy, không được chối bỏ quyền lực từ trên, không được “vô lễ” với “trung ương”.
Từ “man di” trở thành mặc cảm tập thể. Người Việt mình bị nhồi rằng mình là dân nhỏ, là kẻ cần giáo hóa. Từ đó, kháng chiến trở thành hành vi “nghịch đạo”, và cam chịu lại được tô vẽ thành hiền lành, tử tế.
Chưa hết – tụi nó truyền đạo Khổng, nhấn mạnh tam cương ngũ thường, rồi khiến cho cả xã hội Việt lúc đó trói chặt mọi kháng vọng bằng sợi dây luân lý. Dân mình sợ làm loạn vì sợ bất hiếu, sợ phản lại vua là nghịch đạo.
Tức là: trước khi trói mình bằng luật, giặc đã trói mình bằng luân lý.
Dân Nam không cam chịu, dù bị ròng rã trăm năm nhồi sọ, trói văn, bẻ ý. Cái hồn nước mình như ngọn lửa âm ỉ trong tro, đụng tới là cháy phừng, dù ngàn lớp bụi phủ vẫn không tắt.
Khi phương Bắc nghĩ mình đã thuần hoá được dân Giao Chỉ, đã đổi được hồn, đã chặt gốc rễ, thì cũng là lúc từng làn sóng nổi dậy dâng lên như sóng thần, như bão lửa.
Người đàn bà đầu tiên dám gánh núi, đội trời – đó là Trưng Trắc, Trưng Nhị. Không phải vì bị giết chồng mà đứng dậy. Mà vì chịu không nổi cảnh dân mình bị ép làm nô lệ, gái nước Nam bị bắt đi hầu giặc, dân đen bị đánh bằng roi sắt, đàn ông bị bắt đi khai khẩn mà chẳng khác trâu ngựa.
Người đời sau có kẻ chê “phụ nữ yếu mềm”, nhưng bà Trưng cưỡi voi đánh giặc, phất cờ không cần vua phong, tự dựng ngai giữa đám loạn thần, không đợi ai kêu mà chính mình hóa thành sấm. Hai bà giữ nước ba năm, khiến phương Bắc phải cử đại quân mới đánh được, đủ biết lòng dân khi đã sôi thì gươm giáo nào ngăn nổi.
Bà Trưng không ngã dưới tay giặc, mà gieo mình xuống dòng sông để giữ trọn khí phách, vì biết rằng sống mà hàng, là làm nhục giống nòi. Cái khí phách đó trang nghiêm hơn trăm ngai vàng.
Con có biết lời thề của Bà Triệu không?
“Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, quét sạch bờ cõi, cứu dân ra khỏi nơi chìm đắm, chứ nào chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!”
Câu đó đập thẳng vô mặt đám trí thức Hán hóa, vô tim những kẻ cam phận. Câu đó là tuyên ngôn nữ quyền, là tiếng gầm dân tộc, là giấc mơ làm người tự do trong cơn ác mộng ngàn năm đô hộ.
Giặc phương Bắc nhiều lần đưa quân tới rừng Thanh, mà đều vỡ mật khi đối diện bóng người đàn bà mặc giáp vàng, cưỡi voi trắng, mắt sáng như sao.
Cái đau là không phải bà không giành được chiến thắng, mà là dân mình lúc đó còn nặng cái hèn, còn sợ cái uy thiên triều. Nhưng lòng bà – dù thất bại, vẫn cháy như núi lửa, và cái tên Triệu Ẩu mãi khắc trên đá, không ai xóa được..
Ngô Quyền – đó là đỉnh chót vót của lòng căm thù và trí tuệ dân tộc. Người dứt hẳn cái vòng lặp Bắc thuộc, không bằng thề thốt, mà bằng cọc gỗ cắm thẳng vô bụng quân Nam Hán.
Đánh một trận trên sông Bạch Đằng – trận mà cả lịch sử phương Bắc chưa từng thấy. Ngô Quyền không thắng vì quân đông, mà thắng bằng thiên tài và máu của ngàn đời bị chém, bị chôn.
Cọc gỗ nhọn dưới đáy sông – là xương của tổ tiên hóa thành móng vuốt, chờ lũ giặc trôi theo thuỷ triều để xé bụng chúng thành bãi xác.
Khi Ngô Quyền thắng, ông không lập triều vọng Bắc, không đi sứ cầu hòa. Ông tự xưng Vương, xây nước độc lập, chấm dứt cả ngàn năm phương Bắc coi mình là quận huyện.
“Chúng ta không còn là dân thuộc địa. Chúng ta là chủ.”.
Nếu dân mình mà tin theo những “chính đạo từ phương Bắc”, thì giờ này không còn cái gọi là nước Việt, không còn tiếng Việt, không còn chùa làng, không còn áo bà ba hay bánh chưng Tết.
Dân tộc ta giữ nước bằng cách giữ lấy ký ức, giữ lại tiếng nói mẹ ru, giữ cách sống nôm na mà nghĩa tình.
Con à, đô hộ không phải chuyện quá khứ, mà là nguy cơ mọi thời.
Ngày xưa giặc mang gươm, ngày nay giặc có thể mang tiền, mang phim, mang sách vở, mang mạng xã hội, mang cả ngôn ngữ bóng bẩy để ru ngủ. Con mà mất gốc, không biết ông cha mình từng đổ máu như thế nào để giữ lại cái tên Việt, thì con sẽ tự tay viết lại lịch sử của giặc bằng chính bàn phím của mình.
Cho nên bà kể con nghe dài như vầy – không phải để con học thuộc, mà để máu tổ tiên dậy lên trong tim, để con nhớ:
Nước không mất vì gươm dao, mà mất khi người ta quên mình là ai.
Nguyễn Quynh
*Tên bài do TVBH đặt
**Bài do CTV/TVBH gởi tới.
