Này là Người
Thức giấc nửa đêm
Nguyễn Thanh Nghị với Khải Triều
Năm 1994 gia đình tôi chuyển từ quận Tám, Tp HCM về giáo xứ Nam Hòa, p.6 quận Tân Bình, Tp.HCM, đường Chấn Hưng. Con đường này có một địa điểm nổi tiếng về đất đai. Đó là Vườn rau Lộc Hưng. Khi tôi viết bài này, thì miếng đất này đang xây dựng khu trường học gồm ba cấp học. Bên cạnh khu trường học này là ngôi nhà thờ Lộc Hưng mới xây dựng lại toàn bộ, theo kiến trúc Rôma.
Khi gia đình tôi về, thì Linh mục Giuse Trần Văn Đắc đang là Chính xứ giáo xứ NH, giáo xứ đang chuẩn bị (từ năm 1992) việc xây dựng ngôi nhà thờ mới, năm 2005 thì khánh thành. Năm 1999 tôi được chọn vào ngành Thừa Tác Viên Thánh Thể Ngoại Lệ. Thân phụ của anh Nguyễn Thanh Nghị cũng thuộc ngành này, trước tôi. Do đó, tôi có dịp đến gia đình thăm bác và gặp gỡ anh Nghị. Anh Nghị là một nhà mô phạm của ngành giáo dục, nên anh rất giữ kẽ. Có lẽ do tôi mang dòng máu của kẻ đam mê thơ văn và triết học, lại có cả huyền học, hay thần bí, nhà Phật gọi là thiền, nên tôi đã chọn anh là người đầu tiên ở gx NH để tặng anh một tập thơ, chọn từ hai tập Người ôm mặt khóc (1963) và Tiếng hát khuẩn trùng (1964), và một số bài viết sau năm 1975, ghi ngoài bìa là Tuyển tập, 1963-2003. Qua việc này, tôi mới từ từ được anh tặng mấy tập thơ của anh, mỗi tập có một số bài, tôi đã giới thiệu trong quyển Những nhà thơ Công giáo Việt Nam hiện nay (2022). Nhưng, anh Nguyễn Thanh Nghị, ngoài công việc của một nhà giáo, anh còn viết thánh ca, biên tập những bài Thánh kinh trong chương trình “chia sẻ ngoại khóa” tại một tập viện dòng MTG trong TGP Sài Gòn-Tp. HCM. Cho nên, chúng tôi lại có dịp trở lại với anh Nguyễn Thanh Nghị trong quyển sách này với hai tập: Này là Người và Thức giấc nửa đêm.
Nguyễn Thanh Nghị với tập “Này là Người”:
Nguyễn Thanh Nghị là tên thật, có tên thánh là Giuse-Maria. Ông còn có bút danh khác là Thiên Duy, dùng trong các tác phẩm thơ và thánh ca. Ông sinh năm 1949 tại tỉnh Hưng Yên, miền Bắc Việt Nam.
Trong Lời nói đầu, trang 3, tác giả có nói đến việc hình thành tập sách nhỏ này. Kể cả Lời nói đầu, thì sách có 6 bài, 158 trang. Ông viết: “Tập sách nhỏ này là tập những bài chia sẻ ngoại khóa thứ ba. Nên cũng là những cố gắng gom góp từ những bài giảng của cố LM Phêrô Đặng Xuân Thành, Cha Louis Nguyễn Anh Tuấn (nay Ngài đã được Giáo hội gọi vào hàng Giám mục, kế vị các tông đồ của Chúa) và Cha Gioan Baotixita Nguyễn Bửu Khánh thay cha Louis làm trợ úy cho Hiệp Hội Sống Tin Mừng Thánh Tâm Chúa Giêsu, là một trong bốn thành phần của “Gia Đình Đồng Tâm”, một hình thức Tu trì mới: “Tu hội đời”. Và vì là cộng đoàn “Sống Tin Mừng”, nên mọi trao đổi, chia sẻ và học tập đều cố gắng đi tìm lời giải đáp trong Thánh kinh. Cộng thêm những ý tưởng và những câu chuyện từ những bài giảng của các cha, những lời chia sẻ của Quí Bề Trên, Quí Soeurs mà tôi có dịp được lắng nghe”.
Các bài trong sách:
Này là Người
Ăn chay
Kinh Lạy Cha
Ra Đi Bình An
Để thêm lòng tôn thờ Chúa và yêu mến Đức Mẹ qua Kinh Mân Côi
Những nhan đề của bài đã dẫn chúng ta đến ý niệm, đây là những vấn đề quan trọng của người Kitô hữu, cũng rất quen thuộc với người Công giáo. Giáo hội nói chung, và những vị “làm thầy” không bao giờ mệt mỏi rao giảng, nói và viết về những vấn đề này tại bất cứ đâu bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Hôm nay, chúng ta lại được đọc những văn bản này từ những tài liệu rất có giá trị được tác giả trích dẫn.
Thật là ngẫu nhiên khi chúng ta vừa đọc những bài thơ của Mạc Tường, được tác giả cảm xúc rồi sáng tác từ Kinh thánh. Qua đó, chúng ta đi sâu vào nguồn cội, vào căn cơ của nguồn suối Tình yêu và Ơn Cứu độ Thiên Chúa ban cho nhân loại. Nay, với chủ đề về con người, về lời cầu nguyện qua Kinh Lạy Cha mà Chúa Giêsu đã dạy các tông đồ…chúng ta lại một lần nữa được hiểu thêm về Kinh thánh qua những văn bản mà Nguyễn Thanh Nghị đã rất cẩn thận ghi lại.
“Này là Người” là bài thương khó đọc vào chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, tác giả ghi rõ, “sau khi Philatô trao Đức Giêsu cho bọn lính đánh đòn và hành hạ, đến độ không còn nhìn ra một con người, như lời tiên tri Isaia đã tiên báo về người tôi trung của Thiên Chúa: “Cũng như bao kẻ đã sửng sốt khi thấy tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa.” (Is 52, 14). Lúc đó, Philatô dẫn Chúa Giêsu ra trước mặt mọi người, và chính trong dáng vẻ tan nát không còn hình dáng của một con người ấy, thì Philatô lại giới thiệu: “Này là người.” (Ga 19, 5)
l.,
Như vậy, tác giả đã hé mở chủ đề của bài, là tìm hiểu về con người, để biết giá trị của nó, hầu trong giao tiếp, trong gặp gỡ hàng ngày, người ta có cách đối xử với nhau sao cho đúng với phẩm giá một con người.
Tác giả chia bài này làm ba phần chính, I, II, III sau đó là các mục 1, 2, và kế nữa là a, b. Ở Phần I, tác gia đi tìm định nghĩa “Con người là gì?”
1.Theo một số triết gia, như:
-Con người là con vật có lý trí.
-Con người là con vật biết làm kinh tế.
-Con người là con vật biết suy tư.
-Con người là con vật có tổ chức…
-Hay “con người” là hai từ ghép lại: “Con” là ở bậc thấp khi tiến lên cao hơn là “người” có nghĩa là khởi đầu như con vật, do tiến bộ hay được giáo dục để trở thành con người. (Sđd trang 5).
Trong các định nghĩa này, tác giả không nhắc đến một số triết gia Công giáo, trong đó có Karl Jaspers và Kierkegaard. Chúng tôi xin lỗi tác giả được bổ sung.
Karl Jaspers cho rằng “Những khoa học về loài người đã đưa đến tất cả những loại kiến thức, nhưng không tìm ra kiến thức nào về con người trong toàn diện của nó.” (Xem: Triết học nhập môn, bản dịch của Tế Xuyên, Nhà sách Khai Trí, Sài Gón, 1967 trang 57)
Ông viết tiếp: “Đã biết được những giới hạn của kiến thức, chúng ta sẽ hoàn toàn sáng suốt mà tin vào cái gì hướng dẫn tự-do-tính của ta, khi tự-do-tính ấy tương-quan với Thượng Đế.” (Sđd, trang 60). Tuy nhiên, triết gia này cũng nghĩ rằng: “Với tự-do-tính, con người sử dụng đời mình như một vật liệu, Con người có một lịch sử riêng, nghĩa là mình sống không phải tùy theo cái gia tài sinh lý của mình nhưng còn tùy theo truyền thống nữa. Đời người diễn biến như một quá trình tự nhiên; tự-do-tính của con người cần được hướng dẫn.” (Sđd, trang 60). Và, “con người càng sáng suốt trong lòng tin bao nhiêu, thì siêu-việt-tính lại càng trong sáng bấy nhiêu đối với y.” (Sđd, trang 61)
Càng đi xa và sâu hơn trong ý niệm về siêu-việt-tính, Karl Jaspers càng bước sang niềm tin về Siêu-Việt-Thể trong triết học của ông. Xin học với ông khi ông nhận xét về Kierkegaard trong tương quan giữa triết gia này với Thiên Chúa:
“Kierkegaard mỗi ngày suy nghiệm về mình, phó thác mình cho sự dìu dắt của Thiên Chúa: ông tự biết mình luôn luôn ở trong tay Chúa. Ông nghe tiếng của Chúa xuyên qua việc ông làm và việc xảy đến cho ông; tuy vậy ông nhận thấy rằng điều ông nghe được có nhiều ý nghĩa, và vẫn còn mờ ảo. Thiên Chúa hướng dẫn ông, nhưng ông không thể thấyđược và cũng không donhững mạng lịnh độc nghĩa mà do tự-do-tính của con người; chính tự-do-tính đã thi hành những quyết định vì nó liên hệ đến căn bản siêu việt.” (Sđd, trang 61)
Trở lại với tác giả Nguyễn Thanh Nghị, sau mấy định nghĩa vắn tắt về con người của một vài triết gia, ông Nguyễn Thanh Nghị nói đến mấy hiệu quả tiêu cực của các định nghĩa này. Ông viết:
“Những định nghĩa trên, có thể đúng theo cái nhìn của các nhà khoa học. Nhưng với người Kitô hữu, thì những định nghĩa này rất nguy hiểm cho mối tương quan giữa các nhân vị:
*Nếu con người khởi đầu được sinh ra như một con vật, rồi sau lớn lên, được học hỏi mới trở thành người, thì khi mới sinh ra, người ta có thể đối xử như một con vật, có nghĩa là thích thì nuôi, không thích thì có quyền loại bỏ, như tại Trung Quốc có một thời kỳ mỗi cặp vợ chồng chỉ được quyền sinh một con, mà quan niệm trọng nam khinh nữ vẫn còn ăn sâu trong não trạng của họ, nên khi đứa bé sinh ra là gái, cha mẹ của chúng sẵn sàng bóp mũi hoặc nhận nước cho chết, vì có thể họ coi người con mới sinh ấy chỉ là một con vật. (Trang 6)
*Thứ hai, nếu con người khởi đi từ “con” rồi được giáo dục mới trở thành “người”, thì những đứa trẻ ở trong những bộ lạc hay những nơi không được giáo dục đều là những con vật cả hay sao? Hoặc nếu một con người sinh ra, vì một lý do nào đó không biết làm kinh tế, không có khả năng suy tư hay khi về già không còn khả năng gì, sẽ trở lại thành con vật hay sao?!?! Chính vì điều này, nhiều cha mẹ già bị con cái hắt hủi, và những bào thai có dấu hiệu không bình thường, hoặc không đúng ý muốn, dễ bị chính cha mẹ của chúng loại bỏ. Tại Việt Nam, theo báo cáo ngày 11-7-2014 của hội kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, tỷ lệ phá thai sớm là 300.000 ca mỗi năm, chiếm tỷ lệ 20%, cao nhất các nước Đông Nam Á và xếp thứ 5 trên toàn thế giới. Đọc con số thật đáng buồn và đáng xấu hổ vì thành tích phi nhân này, chúng ta sẽ thấy cái nguy hiểm co thể bắt đầu từ những định nghĩa, những quan điểm lệch lạc (Sđd tr 6,7)
*Xét ở khía cạnh khác, ngay cả khi con người biết làm kinh tế, biết suy tư, có tổ chức v.v…thì có thật tất cả những điều ấy làm nên giá trị đích thực và trọn vẹn về con người chưa? Vì nếu đúng như vậy, người ta sẽ đánh giá về một con người dựa trên tiêu chuẩn biết làm kinh tế nhiều hay ít, biết suy tư hay những khả năng khác. Điều này dẫn đến biến con người trở thành những con rô-bốt, con nào có nhiều chức năng và hiệu quả cao hơn sẽ được đánh giá cao hơn.
Góp ý: Điều này sẽ nguy hiểm hơn khi nhân loại bước sang kỷ nguyên Văn minh Nhân tạo, tức AI. Máy bay “không người lái” (UAV) đã cho thấy nguy hiểm của nó trong cuộc chiến Nga-Ucraina. Những năm đầu của thế kỷ XXI này, chúng ta cũng đã thấy sự tác hại của những quan niệm nghiêng nhiều về những phương tiện vất chất mà người ta chiếm hữu được, hơn là giá trị tinh thần. Đất nước Việt Nam cũng có thể là một thí dụ cho vấn đề này. Cho nên, tác giả Nguyễn Thanh Nghị tiếp tục tìm hiểu về con người qua định nghĩa của Kinh thánh.
2. Định nghĩa theo Kinh thánh
a. Con người?
* “Con người” là từ chỉ một loài thụ tạo được Thiên Chúa tạo dựng mang hình ảnh Thiên Chúa, chứ không phải hai từ “con” và “người” ghép lại.
“Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống bò dưới đất.” (St I, 26)
*Hơn nữa, con người sau khi phạm tội, đánh mất giá trị ban đầu, đã được Chúa Giêsu chuộc lại bằng giá máu của Người trong hy tế Thập Giá trên đồi Golgotha. Như vậy, dù con người ấy có thế nào đi nữa, chưa biết gì, hay không có khả năng biết gì hoặc khi về già mất hết mọi khả năng, thì vẫn phải được mọi người kính trọng, không phải vì có còn đóng góp gì không, hay đã từng đóng góp những gì, nhưng vì là một thụ tạo mang hình ảnh Đấng tối cao, dược chính Chúa cứu chuộcbằng Máu và được trở thànhcon của Ngài (trang 8)
b. Thái độ của chúng ta
Sau đó tác gia nêu lên mấy thái độ không nên có, như “dựa vào hình dáng bên ngoài hay khả năng” của một con người mà đối xử, nhưng là đối xử trong công bằng, dù người ấy còn “đang đóng góp” hay “không còn đóng góp cho xã hội”. Điều thứ hai, tác giả Nguyễn Thanh Nghị cho rằng, “là thụ tạo mang hình ảnh Thiên Chúa, nên ta phải biết gìn giữ và coi trọng chính ta, vì bản chất thánh thiện này, chứ không phải những yếu tố khác”, như “danh vọng, giàu có”. Ông dẫn lời Đức Thánh Cha Phanxicô trong tông huấn “Vui mừng và hoan hỉ”. Ngài đã nói đến phẩm giá tuyệt vời của con người, nên ngài khuyên chúng ta đừng sợ nên thánh: “Đừng sợ nên thánh. Nó sẽ không lấy đi một năng lượng, sức sống hay niềm vui của anh chị em. Trái lại, anh chị em sẽ trở thành điều mà Chúa Cha đã nghĩ đến khi tạo thành anh chị em, và anh chị em sẽ trung thành với chính con người sâu thẳm nhất của mình. Sự lệ thuộc vào Thiên Chúa sẽ giải thoát chúng ta khỏi mọi hình thức nô lệ và dẫn chúng ta đến việc nhận ra phẩm giá cao quí của mình.” (GE 32) (Nguyễn Thanh Nghị, tr.9)
Đoạn sau đó, tác giả nêu ra một nỗi buồn và cũng đáng lo, là khi ta “không còn tin vào nguồn gốc của ta, cũng như không còn tin rằng Đấng toàn năng yêu thương ta đến độ đã chết cho ta và muốn ta hưởng hạnh phúc vĩnh cửu bên Ngài.” Bởi đó, theo tác giả, phẩm giá cao trọng của con người không đặt nơi những gì ta có, những gì ta hiểu biết hay những gì người khác đánh giá ta. Nhưng nó “hệ tại ở bản chất, và thái độ của chính chúng ta.”
Biết được nguồn gốc của mình hay phẩm giá cao trọng của mình, vẫn chưa nói được là đủ để yên lòng, tác giả còn muốn nói thêm một vấn đề, vì có lẽ tác giả biết rằng con người ta cũng rất dễ thay đổi. Ở thuở nhỏ, mấy ai mà không biết trò chơi: “thiên đàng-hỏa ngục hai bên”. Vấn đề đó là: “Chỉ khi ta kiên quyết chối từ bản chất cao trọng của mình và quyết định thuộc quyền thống trị của sự dữ là satan, lúc đó ta tự bôi đen phẩm giá của mình để rơi vào vùng tăm tối của sự chết.” (Trang 9)
Thái độ cuối cùng của ta là nhận ra mình chỉ là thụ tạo do Thiên Chúa tạo nên mang giống hình ảnh của Ngài, chứ ta không phải là Thiên Chúa. Chỉ Thiên Chúa mới là Đấng duy nhất tạo dựng muôn loài từ hư vô, còn con người dù có tài năng đến đâu, cũng chỉ “chế tạo” ra một vật gì đó từ những cái đã có rồi, người đó chỉ “khám phá” chứ không làm ra từ không có gì. Có người khi suy nghĩ về điều này, đã nói rằng, hãy nói với nhà khoa học vô thần rằng, ông hãy làm ra một chiếc lá có sự sống trong nó như chiếc lá trên cành cây kia, tôi sẽ tin ông.
Tác giả viết lời cuối về thái dộ này như sau: “Vì thế, ta phải biết về giới hạn và cả nguồn gốc ta được hiện hữu, biết suy tư và có những sáng kiến ấy từ đâu, để ta biết khiêm tốn nhận ra tương quan với Thiên Chúa và khiêm tốn đối xử với anh em mình.” (Trang 10)
Sang đến Phần II, tác giả bàn đến vấn đề Con người là trung tâm
1. Từ ý định của Thiên Chúa
a. Thiên Chúa tạo dựng
Sau khi tạo dựng trời đất và muông chim cầm thú, Chúa đã tạo dựng con người, chúc phúc và trao cho con người quyền thay Ngài làm chủ muôn vật trên trái đất (Trang 11). Sau đó, tác giả dẫn sách Sáng thế đoạn nói đến việc: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ. Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất, Hãy làm bá chủ mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời và mọi giống bò trên mặt đất”. Thiên Chúa phán: “Đây Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ mang hạt giống trên khắp mặt đất và mọi thứ cây có trái mang hạt giống để làm lương thực cho các ngươi.” St 1, 27-29)
Mặc dù Thiên Chúa đã trao quyền cai trị mặt đất và mọi giống vật, cây cỏ trên mặt đất, trừ một cây biết thiện-ác, lành-dữ Thiên Chúa cảnh báo con người “không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết.” (St 2, 16-17)
Nhưng, con người bất trung, đã ăn trái cây ấy và “đã rơi vào sự chết, phải xa lìa nguồn sống là chính Đấng tạo dựng. Nhưng Thiên Chúa không bỏ con người, Ngài không xóa bàn làm lại bằng cách tạo dựng con người khác, Ngài đã lên ngay kế hoạch cứu độ con người, khi phán với satan là con rắn: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi và mi sẽ cắn vào gót nó.” (St 3, 15)
Tác giả Nguyễn Thanh Nghị sau đó đã mượn thêm lời Thánh Vịnh để chứng minh về vấn đề con người là trung tâm đã nằm trong ý định của Thiên Chúa: “Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên, cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo, đặt muôn loài muôn sự dưới chân” (TV 8, 6-7)
Tác giả còn muốn rõ ràng, minh bạch nhiều hơn nữa với việc dẫn Tin Mừng theo thánh Mc 6, 31, về việc Chúa Giêsu nói với các tông đồ, sau khi sai họ đi loan báo Tin Mừng và họ trở về trong hoan hỉ về những việc họ đã làm. Chúa bảo các ông: “Chính anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” (Mc 6, 31) Còn chính Ngài, dù đã rất mệt nhọc, nhưng khi thấy đám đông, Chúa lại tiếp tục giảng dạy và chữa lành bệnh tật cho họ. “Ra khỏi thuyền, Đức Giêsu thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều.” (Mc 6, 34)
Chưa muốn dừng lại ở đây, tác giả tiếp tục dẫn Tin Mừng theo thánh Marco về việc các tông đồ bức gié lúa mà ăn, lúc họ đói, trong ngày Sa-bát, (Mc 2, 24) điều này bị phái Pha-ri-sêu phản đối. Nhưng Chúa Giêsu nói với họ: “Ngày Sa-bát làm ra vì con người chứ không phải con người vì ngày Sa-bát. Bởi đó, Con Người làm chủ luôn cả ngày Sa-bát” (Mc 2, 27-28)
Điều này Chúa Giêsu muốn nói: con người là chính, việc giữ ngày Sa-bát không phải vì ngày Sa-bát, nhưng Ngài muốn con người được nghỉ ngơi, để có thời giờ đến tâm sự với Thiên Chúa, Đấng là nguồn yêu thương và hạnh phúc. Và đến với anh em, là điều kiện để hạnh phúc được triển nở, là cửa ngõ đón nhận hạnh phúc từ Thiên Chúa. Và khi Đức Giêsu nói: “Con Người làm chủ luôn cả ngày Sa-bát”. Chúa còn muốn nhấn mạnh: Con Người là chính Đức Giêsu, Ngài là Thiên Chúa là chủ mọi loài và cả ngày Sa-bát. Đức Giêsu cũng muốn nói đến mầu nhiệm nhập thể: Thiên Chúa mặc lấy bản tính con người, và từ nay con người đã được nâng lên nhờ thế giá và sự cứu độ của Đức Giêsu. Ta thấy trong kinh Tin Kính, giáo hội đã dạy chúng ta đọc vào các ngày Chúa nhật, lễ trọng và cung kính cúi đầu bái lạy Mầu nhiệm cao cả này “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria và đã làm Người.”
Ở một trình thuật khác của thánh Marcô (Mc 5, 1-16), Đức Giêsu chữa cho một người bị thần ô uế ám tại vùng đất của dân Ghê-ra-sa. Chúa đã cho bầy quỉ xuất ra khỏi người ấy và nhập vào đàn heo chừng hai ngàn con, rồi cả bầy heo từ sườn núi lao xuống biển và chết ngộp dưới đó. Điều này Đức Giêsu một lần nữa dạy chúng ta: con người quí trọng hơn tất cả. Nên để cứu chỉ một người khỏi sự hành hạ của thần ô uế, Chúa không ngần ngại hy sinh đàn heo, cho dù nhiều đến hai ngàn con (trang 14).
2.Lập trường của Giáo hội
a. Mục tiêu tối hậu của con người
Ở mục này, soạn giả Nguyễn Thanh Nghị cũng vẫn lập trường và quan điểm của mình, ông tìm về những tài liệu chính thức của Hội thánh Công giáo, như Giáo lý của Hội Thánh Công giáo và Học thuyết Xã hội Hội thánh Công giáo, Văn kiện Công đồng chung Vatican II: Giáo hội trong thế giới hôm nay v.v…để biết Giáo hội đặt con người ở vị trí nào trong mục vụ và trong chiều hướng phục vụ con người, kể cả những thành phần bên ngoài Giáo hội. Đấy là nguồn tài liệu rất phong phú để biết con người là quan trọng như thế nào đối với Giáo hội, chúng ta chưa nói đến những Thông điệp về lao động, tiền lương của công nhân, phẩm giá của người lao động, con người nơi gia đình hay ngoài xã hội v.v… cũng nằm trong chương trình phục vụ con người. Bởi thế, Thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II đã nói: Con người là con đường của Giáo hội.
Tuy nhiên, vấn đề về con người thì quá rộng, mà công việc của tác giả thì khiêm tốn, chỉ thu gọn vào “giảng khóa” với tập viện của một Hội dòng nữ, nên ông chỉ đề cập đến hai chủ đề. Đó là Mục tiêu tối hậu của con người và Con người là chủ thể. Chúng ta hãy tìm hiểu xem.
*Rút ra từ Kinh Thánh, Giáo Hội đã xác định rất rõ ràng lập trường của mình qua Học thuyết Xã hội Hội Thánh Công Giáo và các huấn quyền:
-Trong Giáo lý Hội Thánh Công Giáo cũng nhắc lại đặc tính rất đặc biệt này, được rút ra từ Hiến chế về mục vụ của Công đồng Vatican II. “Trong tất cả các thụ tạo hữu hình, chỉ có con người là có khả năng hiểu biết và yêu mến Tạo Hóa. Con người là thụ tạo duy nhất trên trái đất được Thiên Chúa tạo nên cho chính họ” (GLHTCG điều 356).
–Nên mục tiêu tối hậu của con người là trở về Đấng cội nguồn của mình là chính Thiên Chúa. Vì thế, mọi kế hoạch khiến con người xa rời mục tiêu tối hậu ấy, đều không chấp nhận được. “Tự bản thân và trong ơn gọi của mình, con người vốn vượt lên trên những giới hạn của vũ trụ, xã hội và lịch sử: mục tiêu tối hậu của con người là chính Thiên Chúa.” … “Một xã hội sẽ vong thân, khi do hình thức tổ chức, sản xuất và tiêu thụ của mình khiến con người khó tự hiến bản thân mình và liên kết với người khác.” (HTXHHTCG, 47)
- Vì mỗi con người đều là hình ảnh của Thiên Chúa và được cứu chuộc bằng Máu Đức Giêsu Kitô, nên phẩm giá con người là vô biên, đến độ không có gì có thể đánh đổi được, như lời Đức Giêsu đã nói: “Vì người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì?” (Lc 9, 25) Điều này cũng được nhắc đến trong Giáo lý Hội Thánh Công Giáo: “Vì con người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, nên có phẩm giá là một nhân vị. Không phải là một sự vật mà là một con người. Con người có khả năng tự biết mình, tự làm chủ chính mình và tự do tự hiến và thông hiệp với những người khác. Do ân sủng, mỗi người được mời để giao ước với Đấng Sáng Tạo, dâng lên Người một lời đáp trả tin yêu mà không ai có thể thay thế được.” (GLHTCG điều 357)
- Vì thế, Giáo hội đưa ra lập trường rất rõ ràng về sự tôn trọng mục tiêu tối hậu của con người: “Không thể và không được dùng cơ chế xã hội, kinh tế hay chính trị để lèo lái con người, vì ai cũng có tự do để tự hướng dẫn mình đạt tới mục tiêu tối hậu của mình.” (HTXHCG, 48)
b. Con người là chủ thể
Trong các phần trên đây về con người, tác giả Nguyễn Thanh Nghị đã tra cứu tài liệu từ nguồn gốc căn bản của Giáo hội Công giáo. Bước sang phần này, con người là chủ thể, ông đã ghé vào thực tế, suy nghĩ từ Thông điệp Laudato Si’ của Giáo Hoàng Phanxico.
Trước hết chúng tôi được đọc bài mở đầu cho loạt bài viết về Thông điệp Lauda Si’ của cha JB Đậu Quang Luật ofm trên trang điện tử HĐGM Việt Nam, ngày 25-7-2022:
“Liên kết mật thiết giữa những tiếng khóc than của người nghèo và những tiếng rên xiết của trái đất đã gây ra tiếng vang xa rộng nơi Thông điệp Laudato si’ của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nhờ các cuộc khảo cứu khoa học và những kinh nghiệm huấn luyện ở Châu Mỹ La tinh mà Đức Thánh Cha đã dành sứ vụ của ngài ưu ái cho người nghèo, những con người đang mang trong mình những nỗi đau khổ về việc khan hiếm nước sạch, phá rừng, thực phẩm thiếu an toàn, ô nhiễm môi trường… Đức Thánh Cha đã nhận thấy rằng phải khẩn cấp thúc đẩy chăm sóc tạo thành mà bấy lâu nay các giáo huấn Giáo Hội về xã hội chưa làm đầy đủ đối với trái đất đang bị tàn phá nặng nề. Ngày nay chúng ta có thể sáng kiến cách thức khác để thực hiện tình yêu đối với Thiên Chúa và đồng loại như chính mình. Nhớ lại hai lệnh truyền trong Tin Mừng Mát-thêu (23, 37-40) để cải thiện mối tương quan với Thiên Chúa, tạo thành và chính mình là cuộc hoán cải môi sinh đã được Đức Phanxicô kêu gọi các giáo phận, giáo xứ, gia đình cùng và các tổ chức khác cùng thực hiện: chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta.”
Nhưng trước hết, tác giả Nguyễn Thanh Nghị mở đầu cho phần này, bằng việc ông quan tâm tới việc người trao tặng vật cho người nghèo và việc sau đó lại dùng hình ảnh này như một quảng cáo để đưa lên các phương tiện truyền thông. Ông bảo như thế là không được : “Vì phẩm giá của con người gắn với Đấng tạo dựng, nên ơn gọi của con người vượt lên trên những giới hạn của vũ trụ, xã hội và lịch sử. Vì thế, tuyệt đối không bao giờ được dùng con người làm vật hy sinh cho một mục tiêu nào, dù đó là mục tiêu cá nhân hay tập thể; mục tiêu của hiện tại hay tương lai.
-Chẳng hạn trong các công tác từ thiện, người ta không được phép chưng lại hình ảnh người làm từ thiện đang phân phát cho người nghèo như một thành tích và rêu rao công việc đã làm, nhất là không được chụp và đưa hình ảnh của người nghèo đang giơ tay đỡ quà tặng mà người làm công việc từ thiện đang phân phát lên các phương tiện truyền thông. Vì khuôn mặt người nghèo khó ấy không phải là hình ảnh cho người ta cái quyền đưa lên như vậy, kể cả không có ý đồ quảng bá cho việc từ thiện đã làm, hay cố đưa lên để kêu gọi lòng hảo tâm của những người khác cho những lần kế tiếp hay cho những người nghèo khổ khác, thì cũng không được phép. Vì khi đưa lên như vậy, ta đã xúc phạm đến anh em, xúc phạm đến hình ảnh của Thiên Chúa, xúc phạm đến chính Đức Giêsu như dân Do Thái đã treo Ngài lên cho mọi người chế riễu hay tội nghiệp.” (Trang 16)
-Hoặc dùng lớp người này làm vật hy sinh cho lớp người khác, kể cả thế hệ này hy sinh cho thế hệ tương lai, hay vì nhu cầu của thế hệ hiện tại không quan tâm đến những thế hệ tương lai, nghĩa là trong lúc tìm cách đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại, không được tác hại đến các thế hệ tương lai, như lời Đức Thánh Cha Phanxic đã nói trong Thông điệp Laudatô Si’: “Khái niệm về thiện ích chung cũng mở rộng tới các thế hệ tương lai. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra những tác động nguy hại rõ rang và đau đớn cho định mệnh chung của chúng ta, trong đó có cả những người đến sau chúng ta. Chúng ta không còn có thể nói về sự phát triển bền vững tách rời khỏi sự liên đới giữa các thế hệ…Sự liên đới giữa các thế hệ không mang tính tùy chọn, nhưng nó là một vấn đề căn bản của công bằng, vì thế giới mà chúng ta đã lãnh nhận cũng thuộc về những người sẽ đến sau chúng ta.” (LS 159)
* Và vì ơn gọi của con người vượt lên trên những giới hạn của vũ trụ và thế giới, nên mọi hoạt động phải qui chiếu và phục vụ con người: “Toàn bộ đời sống xã hội đều là biểu hiện của một nhân vật chính không thể lầm lẫn được, đó chính là con người.” (HTXHHTCG, 106)
–Cũng như lời tuyên bố trong Hội nghị Thượng đỉnh về trái đất năm 1992 tại Rio de Janeiro: “Con người là trung tâm của các mối quan tâm dành cho sự phát triển bền vững.” Do đó, con người phải là mục tiêu hay đối tượng trước tiên người ta nhắm đến, mỗi khi bắt tay làm việc gì. Vì vậy, mọi tổ chức, mọi chính sách, kế hoạch, mà không nhắm đến phục vụ cho hạnh phúc của con người, và đặt con người là trên hết, đều không có giá trị trước mặt Thiên Chúa. (Trang 18)
III. Xét lại quan điểm về một số thành phần bị coi thường
Tác giả Nguyễn Thanh Nghị đã dành những suy nghĩ rất đáng quý cho bốn thành phần mà ông đã cảm nghiệm được trong cuộc sống xã hội ở Việt Nam, hoặc ở một vài quốc gia khác mà ông đã tìm hiểu kể cả trong lịch sử, trong Kinh thánh. Đó là thành phần trẻ em, người nghèo, người già và người tội lỗi. Ở mỗi thành phần, tác giả đều nêu lên một vài chi tiết căn bản cho thấy những thành phần này bị coi rẻ, miệt thị họ như thế nào. Có những vấn đề tồn tại lâu dài, hầu như khó thay đổi trong suy nghĩ của nhiều người đối với người nghèo, người bất hạnh…Người ta chỉ có thể thay đổi cách nhìn, cách đánh giá người khác, không loại trừ việc xét đoán, một khi họ có một nền tảng đạo đức vững chắc, biết giá trị của phẩm giá con người không hệ tại nơi dáng vẻ bề ngoài của người ấy. Một điều đáng nói khác là, ở mỗi thành phần đã nêu, sau những nhận định, Nguyễn Thanh Nghị đã có những thí dụ dẫn chứng cho lối suy nghĩ hay quan điểm của mình. Ở mỗi thành phần, chúng tôi xin dẫn một hay hai đoạn. Nhưng, trước hết xin giới thiệu với quý vị những suy nghĩ của tác giả về những cách đánh giá lệch lạc, bất công không đúng với phẩm giá của các thành phần này trong vị trí con người như mọi người, trong lịch sử cũng như trong hiện tại, đã hiện diện trên trái đất này ở mọi quốc gia, lãnh thổ thuộc mọi tiếng nói và mọi ngôn ngữ.
Mở đầu cho Phần III này, tác giả nêu đại cương: “Vì không đánh giá đúng phẩm giá của một con người, nên đối với những người chưa có khả năng hay không có hoặc không còn khả năng đóng góp cho xã hội, mà phải cậy nhờ vào sự giúp đỡ của người khác, như những trẻ em, người già yếu bệnh tật, những người nghèo khổ và cả những người bị cho là kẻ tội lỗi trong xã hội. Thường bị người khác coi thường hoặc khinh rẻ, hoặc không còn dành cho họ một vị trí mà mỗi con người đều phải được tôn trọng. Chúng ta hay nghiêm túc xét lại điều này.” (Trích trong: Này là Người, trang 19)
1.Trẻ em
Trên thế giới có rất nhiều dân tộc, coi thường trẻ em, vì chưa trưởng thành về nhiều mặt. Tuy nhiên, dù trẻ em chưa trưởng thành về độ tuổi theo qui định của xã hội, và có thể chưa trưởng thành về tri thức, về khả năng thực hiện những công việc và cũng chưa đủ sáng suốt trong những quyết định của mình. Nhưng, không vì thế, chúng ta có thể coi rẻ các em, tệ hơn nữa khi coi các em chưa thật sự là một con người đúng nghĩa.
-Chẳng hạn tại Việt Nam, trong gia đình đôi khi trao đổi chuyện gì chung, nhiều khi con cái có điều định nói, người lớn gạt ngay đi “con nít biết gì mà nói”, hay trong dân gian thường có câu tỏ vẻ khinh thường: “chuyện đàn bà con nít mà” v.v…
-Thời Chúa Giêsu, luật pháp và xã hội Rôma cũng không cho trẻ em quyền lên tiếng quyết định. Chính cách gọi trẻ em của người Rôma nói lên điều ấy: họ gọi trẻ em là “infans” có nghĩa là người chưa biết nói hay không có quyền nói (trích trong tập: “Điểm dừng chân” của cha Phêrô Đặng Xuân Thành)
-Ngay trong dân Do Thái, cũng có quan niệm như vậy, đã ảnh hưởng đến các thánh sử khi thuật lại việc Đức Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, cũng chỉ kể đến đàn ông: “Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ em.” (Mt 14, 21).
Cả những người đã theo Chúa được gọi là môn đệ của Chúa cũng có cái nhìn coi thường trẻ nhỏ như thế. “Bấy giờ người ta dẫn trẻ em đến với Đức Giêsu để Người đặt tay trên chúng và cầu nguyện. Các môn đệ la rầy chúng” (Mt 19, 13)
Sau đó, tác giả đã dẫn chứng thêm về sự hiện diện của trẻ em trong Kinh Thánh được Chúa yêu mến chúng như thế nào, để chúng ta cũng noi theo Chúa trong đối xử với các trẻ em. Như trong Cựu ước ước: Chúa dùng thiếu niên Danien để cứu người phụ nữ bị kết oan oan, bà Susanna, con ông Khen-ki-gia và là vợ ông Giô-gia-kim (Đn 13, 1-62). Hoặc Chúa dùng Đavít, khi còn là đứa trẻ chăn chiên giết tướng giặc khổng lồ của quân Phi-li-tinh là Go-li-át (1 Sm 17, 40-51)
-Trong Tân ước, tác giả dẫn lời Chúa Giêsu nói về các trẻ nhỏ khi các môn đệ hỏi Chúa: “ai là người lớn nhất trong Nước Trời? Đức Giêsu liền gọi một em nhỏ đến, đặt giữa các ông và bảo: “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không quay trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng vào được Nước Trời.” (Mt 18, 2-3)
-Nhưng tuyệt vời hơn, Chúa đã đồng hóa em nhỏ là chính Chúa: “Ai tiếp đón một em nhỏ như thế này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy.” (Mt 18, 5)
Tác giả còn nhớ đến hình ảnh một Giêsu sơ sinh nằm trong máng cỏ đêm Hài Nhi này chào đời tại Bê-lem. Các nhà chiêm tinh ở Đông phương nhìn thấy ngôi sao lạ mà biết đó là một vị Cứu tinh của nhân loại. Họ lên đường, cứ dõi theo ngôi sao mà đi. Họ đã đến nơi, thấy một trẻ sơ sinh nằm trong máng cỏ giữa đêm đông giá buốt, chỉ có mấy con bò lửa thở hơi ấm cho Ngài. Họ quỳ gối bái lạy Hài Nhi, dâng vàng, mộc dược và nhũ hương (Mt 2, 11-12). Của lễ các nhà chiêm tinh dâng là biểu hiện lòng tôn kính, suy tôn một Đấng Cứu thế. Tiếp đến, tác giả Nguyễn Thanh Nghị đề cập đến một vài biến cố đặc biệt Đức Mẹ hiện ra đem sứ điệp đến cho nhân loại, Đức Mẹ đều hiện ra với các em nhõ. Như năm 1917, Đức Mẹ hiện ra tại làng Fatima ở Bồ Đào Nha 6 lần với ba trẻ chăn cừu, để loan báo sứ điệp hòa bình và tình thương cho nhân loại: Hãy ăn năn sám hối-Hãy siêng năng lần hạt Mân Côi-Hãy tôn sùng đền tạ Trái Tim Đức Mẹ. (Trích bài: Này là Người, tr. 22). Tác giả còn nhắc đến sự kiện xảy ra ở Lourdes (Lộ Đức, Pháp) năm 1858, Đức Mẹ hiện ra với Bernadette, 14 tuổi, một thiếu nữ nghèo, quê mùa, bệnh hoen suyễn, và chậm chạp. Đức Mẹ kêu gọi con cái loài người hãy thực hiện những việc đem lại ích lợi cho các linh hồn. Hãy cầu nguyện cho kẻ có tội được ơn trở lại. Hãy sám hối và xây nhà nguyện hầu qui tụ con cái loài người hướng về linh địa này, là nơi lòng thương xót Chúa được thể hiện. . . (Trang 23)
Về phần Hội thánh, trách nhiệm dẫn giắt con cái mình trên toàn trái đất này mà Chúa đã trao phó cho, đã từ hai ngàn năm nay, Hội thánh không mệt mỏi trong vấn đề giáo dục đức tin và bảo vể con người ở bất cứ nơi nào Hội thánh hiện diện, trong đó các thành phần trẻ em, như mồ côi, khuyết tật, nạn nhân của các tệ nạn trong xã hội, kể cả chiến tranh, thiên tai bão lụt v.v… Điều quan trọng khác là việc giáo dục, đào tạo các thành phần trẻ hướng đến mục tiêu thành nhân, con người nhân bản.
Vì vậy, Tòa thánh đã tổ chức một Hội nghị đặc biệt về vấn đề bảo vệ trẻ em từ ngày 21.02 đến ngày 24.02.2019, với sự tham dự của 193 vị, bao gồm Chủ tịch Hội đồng Giám mục các nước, các Hồng y Bộ trưởng của Tòa thánh, lãnh đạo các giáo hội Đông Phương và Bề trên Tổng quyền nhiều dòng tu. Trước toàn thể đại hội, Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh: “Mục đích của giáo hội là lắng nghe, theo dõi, bảo vệ và quan tâm những trẻ bị lạm dụng, bóc lột và bị bỏ bên lề xã hội, dù ở bất cứ nơi đâu.” (Trang 23)
Tác giả Nguyễn Thanh Nghị đã mở rộng vấn đề vế thành phần trẻ em từ tình trạng các em bị coi thường sang đến vấn đề giáo dục. Trước hết, ông bác bỏ một vài quan niệm mà ông cho là sai lầm của một vài thành phần từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Ông viết: rất nhiều bậc phụ huynh và những người đang làm công tác giáo dục cho những đứa trẻ, nhất là những em cá biệt hay thành phần bụi đời, bị coi là khó dạy, thường mang ý nghĩ: Giáo dục là làm cho những đứa trẻ ấy từ xấu nên tốt, từ hư hỏng trở thành ngoan, từ những phản ứng như những con vật trở nên phản ứng của một con người. Suy nghĩ này rất nguy hiểm vì những lý do sau (Trang 24).
Rồi tác giả nêu ra hai lý do:
Thứ nhất: Ngay tư tưởng ban đầu ta đã coi đứa trẻ ấy là thứ không ra gì, hoặc như thứ có thể bỏ đi hoặc như một con vật không phải là người. Thì trong sâu thẳm, ta đã không thật sự tôn trọng nhân phẩm của đứa trẻ ấy, cũng có nghĩa là ta không tôn trọng công trình tạo dựng của Thiên Chúa. (Tr. 24)
Thứ hai, tác giả cho rằng, những quan niệm về giáo dục trên đây (làm cho trẻ hư hỏng trở nên tốt…) nếu được áp dụng và giả dụ thành công, thì điều này sẽ tác dụng xấu trở lại đối với người áp dụng biện pháp ấy, tức là: họ trở nên kiêu ngạo. Còn khi thất bại, ta sẽ nản chí và đặt dấu chấm hết trên đứa trẻ này. (Tr. 24)
Tác giả nhấn mạnh: “Tất cả những suy nghĩ và công việc giáo dục đang áp đặt lên đối tượng được giáo dục theo ý nghĩ lệch lạc này, ta đang xúc phạm đến phẩm giá của đứa trẻ và đang xúc phạm đến Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng em mang hình ảnh của Ngài, đang xúc phạm đến Chúa Thánh Thần, Người Thầy đích thực vẫn đặt trong sâu thẳm tâm hồn mỗi con người tiếng nói của sự thiện hảo, gọi là tiếng nói lương tâm, mà chính môi trường, những thế lực của sự dữ và những người chung quanh đã và đang làm cho hình ảnh tốt lành của em bị bôi đen, và tiếng lương tâm bị lu mờ và nhỏ lại.
Vậy đâu là quan điểm đúng đắn trong công việc giáo dục một đứa trẻ?
Và tác giả nêu ra mấy điều: Trước hết, tác giả vẫn dựa vào nguồn gốc của con người là do Thiên Chúa tạo dựng, nên bản chất là thiện. Câu nói “Nhân chi sơ tính bản thiện” được hiểu thêm và rõ nghĩa hơn từ đây. Thế nhưng, một đứa trẻ bị coi là xấu xa, ta không coi nó là con người thì chính ta đã xúc phạm đến Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng nên chúng. Cho nên, khi một đứa trẻ trở nên xấu thì đấy chỉ là hiện tượng hoặc do xã hội, môi trường hay người lớn, “đã vô tình hay cố ý làm hoen ố hình ảnh tốt lành ban đầu, bằng những ích kỷ, ghen tương, đố kỵ, lọc lừa, gian dối, hận thù, làm em trở thành con người có những hành vi xấu xa ấy.” (Tr. 25)
Quan điểm về con người của tác giả Nguyễn Thanh Nghị chúng tôi đã giới thiệu với quý vị trong suốt bài này, là điểm quan trọng khi nói về vấn đề giáo dục những trẻ em bất hạnh, kém may mắn, bị chính người thân chối từ, đã “ném” em ra ngoài xã hội do họ chạy theo sự cám dỗ của tiền bạc, danh vọng và tình cảm nam nữ quyến rũ họ. Cho nên, muốn gặt hái được thành quả tốt về vấn đề đang nói đến ở đây, thì người có trách nhiệm về giáo dục các em trong các thành phần này, cần thiết phải am hiểu về “tính thiện” của các em. Tác giả viết: “Người làm công tác giáo dục đóng vai trò hướng dẫn, động viên và khích lệ giúp em lau sạch dần những vết dơ, những vết bẩn làm cho lu mờ điều căn bản tốt lành đẹp đẽ ban đầu. Hơn nữa, người làm công tác giáo dục phải luôn ý thức rằng: Người Thầy chính yếu là Chúa Thánh Thần đang hoạt động trong tâm hồn mỗi người, còn chúng ta chỉ là cộng sự viên của Ngài mà thôi. Nên ngay trong lúc làm công tác giáo dục và ngay cả những đối tượng bị coi là “mất dạy” đi nữa (theo ngôn ngữ của một số người), thì ta vẫn phải tôn trọng phẩm giá một con người trong em.” (Tr. 26)
Để kết thúc các trang về trẻ em bất hạnh, tác giả kể lại một cuộc đi thăm một mái ấm, nằm trong giáo xứ Đông Quang, quận 12, thuộc TGP Sài Gòn, do một thầy dòng gốc Don Bosco coi sóc. Trong cuộc thăm viếng này, tác giả đã thấy gì và có những cảm nghiệm thế nào?
Trước hết, tác giả nói đến không gian và môi trường của mái ấm này: Căn nhà tọa lạc trên miếng đất không rộng lắm, nhưng từng phòng, từng ngóc ngách trong khuôn viên căn nhà, rất ngăn nắp và sạch sẽ, do chính các em sắp xếp, lau chùi và gìn giữ.
Các em đủ mọi thành phần và độ tuổi khác nhau từ 5 đến 18 tuổi. Các em được giáo dục về y thức kỷ luật, giữ gìn căn nhà chung và tinh thần tự quản rất cao. Nhưng điều đáng nói và trân trọng là quan điểm rất đặc biệt của Thầy Giám Đốc: Không phải Thầy chỉ nuôi và dạy các em để trở thành một người bình thường trong xã hội. Nhưng Thầy tin mạnh mẽ vào bản chất tốt lành và khả năng đặc biệt của mỗi em. Từ đó, Thầy hướng dẫn và khơi dậy trong các em ước vọng vươn cao, Thầy đã làm cho các em xóa đi những điều bị nhiều người coi là xấu xa hay không ra gì ở các em, bằng những điều đem lại sự đam mê và hy vọng vào một tương lai tốt đẹp, một mục tiêu hữu ích cho chính em và cho cả xã hội. Niềm hy vọng ấy Thầy thực hiện theo phương châm: “Ngũ bách đinh lập thạch”. Theo Thầy giải thích: 500 lần lập đi lập lại, chắc chắn như đinh đóng sẽ làm thành sự vững chắc như bàn đá, và quả thật Thầy đã thành công. Có một em hiện đang học lớp 8, em mê game đến độ ngồi suốt ngày đêm, bỏ ăn, bỏ ngủ. Gia đình phải gửi em vào trong ấm này, nhờ thầy giúp. Khi mới đến, em là một đứa trẻ bạc nhược, mắt lồi ra, ngơ ngác và không còn sức sống. Thầy đã dùng tình yêu, sự tin tưởng và làm cho em cũng tin vào những điều tốt lành mà em có thể làm được. Hiện nay, đứng trước máy vi tính, em không còn bị lôi kéo, vì em nhận ra cái xấu xa trong đam mê chơi game, nó tàn phá tuổi trẻ và đánh mất quĩ vô giá là thời gian. Vốn liếng vô giá ấy chính Thiên Chúa đã cho em để em đầu tư và tìm được hạnh phúc sau này khi em phục vụ cho người khác và xã hội. Bây giờ em là một học sinh ngoan, học giỏi…
Theo ước nguyện của thầy, ngoài công việc của thầy đang làm, sẽ mở rộng hơn chương trình “Cai nghiện game” mà theo thầy nó còn nguy hiểm hơn những loại nghiện ma túy khác.
Tác giả Nguyễn Thanh Nghị kết luận cuộc viếng thăm mái ấm này: “Tôi đã quan sát các em sinh hoạt, các em tuy rất đa dạng, nhưng tự tin, nhanh nhẹn, nề nếp. Đặc biệt là bữa ăn: khi cùng nhau dọn bữa, lúc cầu kinh trước, sau bữa ăn và cùng nhau thu dọn khi ăn xong. Quả thật, các em đã trưởng thành nhiều mặt, rất đáng tôn trọng.” (Trích bài: Này là Người, tr.28)
Sau thành phần trẻ em, tác giả đề cập đến người nghèo khổ bệnh tật. Ông suy niệm từ Thánh kinh, như Thánh vịnh, Tân ước đến Tông huấn Giáo hội tại Á châu của ĐTC Gioan-Phaolô II.
Thí dụ:
-Chúa Giêsu khi thấy người bệnh thì chạnh lòng thương rồi chữa lành cho họ (Lc 5, 12-13)
-Trong đền thờ, Chúa chứng kiến cảnh người giàu và người nghèo bỏ tiền vào hòm dâng cúng. Người giàu bỏ vào những đồng tiền dư thừa của họ, trong khi một bà góa nghèo bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm là tất cả những gì bà có (Lc 21, 3-4). Hay một người nghèo khổ khác là La-za-rô, được ngồi trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham, còn người phú hộ phải vào chốn cực hình, chỉ vì quá thờ ơ không quan tâm gì đến người nghèo khó ngay tại cổng nhà ông (Lc 16, 19-31). Ông không có điều phúc mà thánh vịnh 41 nói đền: “Phúc thay kẻ lưu tâm đến người nghèo khổ: trong ngày hoạn nạn, sẽ được Chúa cứu nguy.” (TV 41, 2)
Những dòng trích dẫn trên đây, tác giả đều rút ra từ Tân ước. Chúng ta thấy hai hình ảnh người giàu và người nghèo khổ nổi lên sự mâu thuẫn trong cuộc đời ở trần thế của họ. Nếu suy nghĩ đơn giản, người ta sẽ thấy Chúa khinh chê của cải. Đó là sự sai lầm. Thiên Chúa không khinh chê của cải vật chất, song Chúa muốn người có của, có tiền bạc hay người có khả năng về y khoa hay về văn hóa giáo dục như tác giả nói đến, phải biết dùng những cái mình có đó mà giúp đỡ người nghèo khổ và bệnh tật (Tr. 30) Trong Tân ước, Chúa Giêsu đã nói: “Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao! Quả vậy, con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.” (Lc 18, 24-25). Hãy nhớ đến người thanh niên đến gặp Chúa Giêsu hỏi làm thế nào để có sự sống đời đời, mặc dù anh ta đã giữ cách nghiêm chỉnh các giới luật. Đức Giêsu nói thẳng: “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy bán hết tài sản và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời… Nghe lời đó, người thanh niên buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.” (Mt 19, 21-22)
-Chính Chúa Giêsu đã sống cuộc đời nghèo khó, đến độ “sinh ra trong hang bò lừa, sống trong một gia đình mà người cha nuôi làm nghề bị coi là thấp kém trong xã hội thời đó, và nhất là chết trần chuồng trên thập giá và phải nhờ người có tấm lòng quảng đại là ông Giuse người A-ri-ma-thê, mới có huyệt để mai táng.” (Trích bài: Này là Người, tr. 31)
-Còn thánh Giacôbê thì khuyên các tín hữu của mình: “Anh em thân mến của tôi, anh em hãy nghe đây: nào Thiên Chúa đã chẳng chọn những kẻ nghèo khó trước mặt người đời,để họ trởnên giàu đức tin và thừa hưởng vương quốc Người đã hứa cho những ai yêu mến Người hay sao? Thế mà anh em, anh em lại khinh dể người nghèo” (Gc 2, 5-6)
Tới đây, chúng tôi tưởng như vấn đề người nghèo khó, bệnh tật đã được giải quyết như thế nào đối với nhân chủng học, theo quan điểm của Kitô giáo, trong phạm vi một bài nghiên cứu nằm trong một cuốn sách hơn 160 trang giấy, nhưng không, tác giả Nguyễn Thanh Nghĩ đã muốn đi xa hơn, đi tới điểm cuối cùng của suy nghĩ hay của tư tưởng khi ông gặp được một cảm nhận sâu sắc của ĐTC Gioan-Phaolô II về con đường Đức Giêsu đã chọn trong Tông huấn Giáo hội tại Á Châu ban hành năm 1999, Dức Thánh Cha đã chỉ ra một trong những nguyên nhân đem lại kết quả chưa khả quan trong công cuộc truyền giáo tại Á Châu, đó là người ta mới phục vụ người nghèo bằng cách cố gắng làm thỏa mãn những nhu cầu của họ, nhưng những người mang Tin Mừng của Đức Kitô chưa thực sự sống với họ và trở nên nghèo như họ (Bài: Này là Người, tr.31)
Và cuối cùng, những người nghèo khổ được đồng hóa với chính Đức Kitô, như lời Ngài đã dạy trong trình thuật ngày phán xét chung: “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ; các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần chuồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã không thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã không đến thăm. Bấy giờ những người ấy cũng sẽ thưa rằng: Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà phục vụ Chúa đâu? Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng: Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy.” (Mt 25, 42-45) …
Đoạn 3 về người già và đoạn 4 về người tội lỗi, tác giả Nguyễn Thanh Nghị cũng đã dành cho hai thành phần này những suy nghĩ và những trân trọng đáng quý. Bắt nguồn từ một nguồn suối tôn giáo mặc khải chảy xiết trong cõi lòng mình, và từ một lịch sử năm ngàn năm văn hiến đầy tính chất nhân văn của dân tộc Việt, tác giả khởi đi từ thực tế xã hội, cả tục ngữ, ca dao để suy nghĩ về người già trong gia đình, ngoài xã hội. Tác giả còn có những nhận xét chín chắn, cụ thể và góp ý về những thái độ không nên có của một số người, nhất là các thành phần trẻ trong xã hội, cả trong gia đình đối với người già và người già bệnh tật. Chúng tôi trích dẫn vài dòng, trước hết là về người già.
*Về người già
Trước hết, tác giả nhận xét về những mất mát của người già, như: sức khỏe, sự tự lập “khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già”. Người già còn mất sự tự tin và có mặc cảm tự ti. Rồi tác giả suy nghĩ về sự tự lập: nếu hiểu chữ tự lập một cách rộng rãi hơn, chúng ta sẽ không thấy quá phiền khi phải nhờ vả vào người khác hay khó chịu vì đã bị người nào đó nhờ vả mình. Ngay cả khi còn trai tráng, liệu ta có thể làm tất cả mà không phải nhờ vào người khác không? Chẳng hạn, ta đâu có thể tự làm ra chiếc xe để đi đây đi đó; ta cũng không tự trồng dâu, nuôi tằm kéo tơ, se sợi, dệt thành vải và may thành áo để mặc, và đâu thể tự chăm sóc, chữa trị khi bị đau bệnh. v.v vì con người luôn cần sự liên đới và mang tính xã hội. Nên sự tự lập có nghĩa là không cố tình ỷ vào người khác, chứ không phải không cần đến ai. (Tr. 34)
Tuy nhiên, sau đó tác giả cũng nhìn sang một khía cạnh khác, đó là “có nhiều người mang nặng óc thực dụng, họ chỉ đánh giá trị một người trên những gì người đó đang cống hiến, nên nhìn người già với con mắt thiếu kính trọng, đôi khi còn khinh thường hay hắt hủi, khiến người già càng thêm cô đơn và mang mặc cảm nặng nề hơn.” (Tr. 35)
Bên cạnh thái độ của một số người không có nhân bản này, ca dao Việt Nam còn đó từ bao đời đã nói gì về người già, sao những người kia không biết?
Thí dụ: “Uống nước nhớ nguồn”, hay “ai mà phụ nghĩa quên công, thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm”, hay “trọng xỉ hơn trọng tước” nghĩa là trọng người có tuổi hơn trọng người có chức quyền (Tr. 37)
Đấy là tình trạng đáng buồn và phổ biến ở bất cứ xã hội nào, nhất là tại các quốc gia theo xã hội chủ nghĩa trước đây, bởi họ đề cao sức sản xuất: Tất cả cho sản xuất, giá trị ở một con người được đánh giá theo số lượng sản xuất. Vì vậy, người già, người cao tuổi đã mất sức lao động, tất nhiên là không làm ra tài sản vật chất nữa, nên hầu như không còn giá trị gì. Họ bị đẩy vào quên lãng!
Đặc biệt, tác giả Nguyễn Thanh Nghị dẫn lại một chứng từ của ông Bénézel Bujo, người Cộng hòa Dân chủ Công-gô đã viết như sau: “Đối với người Phi Châu, chẳng phải chỉ là bóc lột mà còn là sát hại khi người ta tìm cách loại bỏ người già ra khỏi ký ức của mình, không để các ngài sống bên cạnh mình và trong gia đình mình. Ai quên người già thì cũng quên luôn lịch sử đã đi trước mình và đã từng cống hiến cho mình những điều kiện giúp mình sống được trong ngày hôm nay.” (Trích trong: Điểm dừng chân của cha Phêrô Đặng Xuân Thành, trang 13)
Đặc biệt với các Bậc Sinh thành, lời khuyên trong Huấn ca rất rõ ràng: “Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ thì tích trữ kho báu.” (Hc 3, 3-4)
Rồi ông lại như muốn bổ sung cho trọn vẹn để không cón trăn trở hay áy náy. Ông viết: “Dân tộc nào cũng vậy, trước khi có chữ viết để có thể ghi chép lại những tập tục hay những điều phải làm hay nên tránh trong đời sống. Những kinh nghiệm quí báu này luôn được truyền lại từ người già, những người đi trước đã trải qua và tích lũy bằng nhiều gian nan đau khổ đôi khi bằng cả mạng sống. Có thể nói, người già là một kho tàng cho người trẻ học hỏi và cho bước phát triển của một dân tộc.
Trong ca dao Việt Nam cũng có những câu nói về giá trị của người tuổi già, như: “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ.” (Tr.38)
Để có thể làm thay đổi được một phần nào tình trạng nhìn người già một cách lệch lạc đối với một số người, tác giả Nguyễn Thanh Nghị trở về nguồn suối Thánh kinh và ông thấy ở đó hình ảnh của những người già được Thiên Chúa yêu mến tín nhiệm các ngài như thế nào.
Trước hết, Thiên Chúa muốn tuyển chọn một dân tộc để thực hiện chương trình cứu độ con người. Chúa không gọi một người còn trẻ, nhưng đã gọi Apraham, một người quá già, 75 tuổi và vợ ông là Sara, cũng già nua và son sẻ, để đến vùng đất mới và Chua hứa sẽ cho ông trở thành cha của một dân tộc lớn được Chúa chúc phúc (x. St 12, 1.3)
Vì con cái Israel trái luật Chúa, nên Chúa trao họ vào tay người Phi-li-tinh bốn mươi năm. Khi Thiên Chúa muốn cứu dân Israel khỏi tay người Phi-li-tinh, thì Chúa dùng một cặp vợ chồng đã già là ông bà Ma-nô-ác ở Xo-rơ-a thuộc chi tộc Đan, sinh một con trai, đó là Samson. Đứa trẻ lớn lên và Thiên Chúa chúc lành cho nó. Chúa đã dùng Samson làm thủ lãnh Israel hai mươi năm trong thời gian chống lại quân Phi-li-tinh(x. Tl 13, 2-3)
– Sang Tân ước, cha mẹ của Gioan Baotixita lại đã già, bà mẹ là Elisabeth thì son sẻ (Lc 1, 5-25)
-Rồi khi cha mẹ của Hài nhi Giêsu đem con mình lên Giê-ru-sa-lem dâng cho Thiên Chúa, theo luật, thì ông Simeon và bà Anna là những người đã cao tuổi nói tiên tri về Chúa Giêsu và Đúc Mẹ sẽ chịu nhiều đau khổ như thế nào (x. Lc 2, 25-32)
-Ở thời đại chúng ta, ĐTC Gioan XXIII mở Công đồng Vatican II, một biến cố lớn, được coi như một lễ Hiện Xuống mới của Chúa Thánh Thần thổi Thần Khí của Người trên Giáo hội. Công đồng Vatican II, một Công đồng vĩ đại trong mọi chiều kích: từ khâu chuẩn bị, số nghị phụ tham dự và nhất là nội dung của cuộc đổi mới, mà nửa thế kỷ sau vẫn chưa triển khai hết nguồn thánh sủng Chúa Thánh Thần ban cho Giáo hội qua Công đồng. Thế mà, Thiên Chúa không chọn một vị Giáo hoàng trẻ tuổi, nhưng lại chọn vị Giáo hoàng đã quá già và rất hiền lành mở Công đồng trọng đại này. Đó là ĐTC Gioan XXIII, sinh ngày 25-11-1881 ngài được bầu chọn làm Giáo hoàng ngày 28-10-1958 ở tuổi 77 và đăng quang ngày 08-11-1958…Sau gần 4 năm chuẩn bị, ngày 11-10-1962, Công đồng đã được khai mạc bằng bài diễn văn rất quan trọng, trước 2.449 nghị phụ, lúc đó Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã là cụ già 81 tuổi. (Trích bài: Này là Người, tr. 42)
Thành phần cuối cùng trong Phần III của bài: “Này là Người” là: Xét lại quan điểm về một số thành phần bị coi thường, là “Người tội lỗi”. Ông đưa ra bốn khía cạnh, bắt đầu từ xã hội Do Thái thời cũ, rồi lòng bao dung của Chúa Giêsu đối với người tội lỗi, đến Giáo hoàng Phanxicô hiện nay và cuối cùng là chúng ta, người Kitô hữu. Ở mỗi khía cạnh, tác giả Nguyễn Thanh Nghị đều có những dẫn chứng tiêu biểu đối với những vấn đề ông đã nêu ra và muốn giải quyết, như chúng ta đã thấy từ đầu của bài này. Riêng phần này, chúng ta có thể gác lại hai khía cạnh 1 và 2, tức cái nhìn khắt khe của người Do Thái đối với người tội lỗi trong xã hội của họ thời cũ và ngược lại với lòng bao dung của Chúa Giêsu đối với thành phần bị loại trừ và bị khinh bỉ này. Quý độc giả và chúng tôi tìm hiểu xem hai khía cạnh sau, 3 và 4, tức là ĐTC Phanxicô đương kim nghĩ gì về người tội lỗi và sau cùng là người Kitô hữu ngày nay.
Với ĐTC Phanxicô, tác giả đã ghi lại những trung tâm cải huấn vị thành niên, những nhà tù, tại Rome hay gần Vatican, từ năm 2013 đến năm 2019. Như năm 2019, Ngài đến trung tâm cải huấn Velletri, tại đây Đức Thánh Cha gặp gỡ 557 tù nhân, nhân viên, cảnh sát và một số lãnh đạo địa phương. Theo tác giả, Đức Phanxico “đã xác định về sự tôn trọng phẩm giá con người, cho dù họ đang là những tội nhân. Vì thế, Đức Thánh Cha đã đến các trại tù và những trung tâm cải huấn để thực hiện nghi thức rửa và hôn chân các tù nhân” (Tr. 45)
Còn với người Kitô hữu, hãy nhớ mình cũng là kẻ đầy tội lỗi, nên phải có cái nhìn bao dung. Họ (tội nhân) cũng yếu đuối như chúng ta, và đôi khi họ bị đẩy vào con đường tội lỗi, họ là nạn nhân của xã hội, nạn nhân của sự ích kỷ của con người. Và một cách gián tiếp nào đó, biết đâu họ là nạn nhân của chính chúng ta, khi ta đang sống co cụm, ích kỷ, thiếu cảm thông và chia sẻ với anh em. (Tr. 46)
Nhận xét về toàn tập “Này là Người” của Nguyễn Thanh Nghị
Những trang trên đây, chúng tôi đã giới thiệu với quý vị độc giả bài thứ nhất trong số 5 bài của tập sách: “Này là Người” của Nguyễn Thanh Nghị. Sách mỏng 165 trang, nhưng lại rất dầy, rất “nặng ký” về mặt nội dung. Cụ thể là về mặt tinh thần, mặt thiêng liêng Kytô giáo. Về hình thức, chúng tôi không bỏ một mục nào theo cách bố cục của tác giả, chặt chẽ và cần thiết để diễn tả dược tinh thần của các phần được đưa ra. Vấn đề nào, Nguyễn Thanh Nghị cũng đi rất xa, tìm về cội nguồn cho đến thực tại và kế nữa là quan điểm và lập trường của ông, không ngoài Kinh thánh và huấn quyền của Giáo hội. Có chỗ, tác giả còn dẫn chứng cả bên ngoài, để vấn đề đang nói đến thêm dồi dào. Chúng tôi coi đây là mẫu mực để quý vị hiểu được cách biên luận của Nguyễn Thanh Nghị trong các bài tiếp theo trong tập sách “Này là Người” của ông.
Những bài còn lại gồm các chủ đề: Ăn chay, Kinh Lạy Cha, Ra đi bình an, cuối cùng là: Để thêm lòng tôn thờ Chúa và yêu mến Đức Mẹ qua Kinh Mân Côi.
Những Kitô hữu thì không lạ gì đối với những chủ đề này, nhưng đấy là nói theo bề mặt thường ngày. Còn bề sâu, bề thần học thì phần nhiều người giáo dân, mặc dù trong các dịp tĩnh tâm của đoàn thể hay cả giáo xứ; trong bài giảng của các linh mục hay chủ chăn lúc là chủ tế, giáo dân cũng đôi khi được nghe nói đến. Giáo dân nói chung có giữ lại được những gì ở mặt thần học trong Kinh Lạy Cha, Kinh Mân Côi, hay tinh thần ăn chay đích thực như Kinh thánh và Chúa Giêsu dạy trong Tân ước, thì cũng tùy ở mỗi người. Vì vậy, ở đây chúng tôi chỉ nói tổng quát về những bài còn lại.
Về việc ăn chay, trước hết tác giả đề cập đến việc giữ chay theo luật, định nghĩaa: thế nào là ăn? Chay là gì? Ăn chay theo luật. Những ngày chay. Tuổi phải giữ chay. Cách ăn chay. Tinh thần đích thực của việc ăn chay v.v…
Những tiểu đề này thuộc Phần I. Còn Phần II là tinh thần đích thực việc ăn chay: Ăn chay là trở về: Trở về căn tính của bản ngã, trở về với Thiên Chúa, trở về với anh em. Ở mục cuối cùng, tác giả chuyển qua việc chia sẻ theo tinh thần ăn chay. Đó là việc bố thí, nói theo cách thông thường. Tác giả nói rằng nhắc lại từ “bố thí” để hiểu rõ hơn trong tinh thần ăn chay (Tr. 64) Rồi ông viết:
-Bố thí không phải là thái độ cho người nghèo với kiểu trịch thượng của kẻ ở một tầng lớp cao hơn ban cho hay thí cho kẻ thấp kém.
-Cũng không phải bố thí cho mọi người biết và để mình được gọi là người đạo đức
-Hay làm bố thí như một loại phong trào ganh đua giữa đoàn thể này với đoàn thể khác trong một giáo xứ… (Tr. 64)
Với Kinh Lạy Cha, tác giả Nguyễn Thanh Nghị phân tích cặn kẽ cả hai phần. Ông nói đến các nhà chú giải kinh thánh và tu đức, đã tốn nhiều thời gian mà vẫn chưa triển khai hết giá trị của Kinh Lạy Cha. Sách Giáo lý Công Giáo dành cả một chương 38 trang nói về Kinh Lạy Cha với chiều sâu thần học, được soạn thảo công phu bởi một ủy ban 12 nhà thần học là các vị Hồng y và Giám mục, được ĐTC Gioan-Phaolô II ủy thác do Đức Hồng y Giuse Ratzinger làm chủ nhiệm, sau này là ĐTC Bênêđíctô XVI. (x. Nguyễn Thanh Nghị, tr. 67)
Đến bài thứ ba trong số 4 bài còn lại là lời chúc của chủ tế cuối các thánh lễ “Ra đi bình an”, tác giả Nguyễn Thanh Nghị suy nghĩ gì về chủ đề xem ra bình thường về phía những giáo dân bình thường và cũng không loại trừ một số tu sĩ, linh mục coi việc “đi tu” là một cái nghề không sợ thất nghiệp mà còn được người đời kính trọng, coi như thành phần cao quý. Phải chăng vì thế mà Nguyễn Thanh Nghị đã để nhiều suy nghĩ vào chủ đề này. Ngoài nghĩa rộng và hẹp của hai chữ “ra đi”, ông còn nói đến “ra đi tốt hay xấu?”hay “không phải mọi cuộc ra đi đều tốt”, “ra đi theo ý riêng tăm tối” , “ra đi theo tiếng gọi của tình yêu”. Rồi cũng có “cuộc ra đi cam go nhất”, như “Ra khỏi cái tôi”. Cũng có “những cuộc ra đi đáng trân trọng”.
Bốn đoạn sau, cũng có thể là 4 vấn đề của chủ đề “Ra đi bình an”, tác giả suy nghĩ về lời chúc “bình an” cuối các thánh lễ: bình an trong niềm tin, “ra đi đến với anh em”.
Với chủ đề “ra đi” này, ngoài tinh thần thần học, tác giả Nguyễn Thanh Nghị đã mở rộng đến những cuộc “ra đi theo ý riêng tăm tối”, cụ thể như Giuđa, một tông đồ phản bội, như Titô chú giúp lễ, lỡ tay làm rơi bể lọ đựng nước dùng để tráng chén, bị cha xứ chửi: “hãy cút đi và đừng bao giờ cho ta thấy mặt.” Titô đã ra đi rời khỏi nhà thờ và trở thành nhà độc tài Nam Tư chống lại Giáo hội. Cậu giúp lễ Titô đã ra đi, bước vào vùng tăm tối của sự uất ức và sự hận thù. (x. Nguyễn Thanh Nghị, tr. 109)
Tiếp theo đó, Nguyễn Thanh Nghị, một nhà giáo dục, một nhạc sĩ Công giáo và một thành viên của một “tu hội đời” trầm tư, về một cuộc “ra đi” cam go, khó khăn nhất, đó là thoát ra khỏi cái tôi. Tác giả viết:
“Mỗi người có hai cái tôi: Một là cái tôi thật, được nhìn thấy, có thể đo và cân được, còn cái tôi nữa không cân đo được, cái tôi ấy không nhìn thấy, nó vô hình, nhưng sức mạnh thật khủng khiếp, thường do trí tưởng tượng và tính kiêu ngạo thổi phồng lên.
“Cái tôi ấy còn là những điều đã ăn sâu vào con người làm thành con người với những tính khí và những thói quen trong suy nghĩ, trong việc làm hay những phản ứng. Chẳng hạn: Tính rụt rè khép kín, hay tính khoe khoang tự mãn, tính bảo thủ cố chấp, những nếp cũ kỹ đã ăn sâu không dám thay đổi, những não trạng đã chai cứng vì danh dự, vì dư luận vì những yên ổn giả tạo, hoặc những định kiến về một vấn đề hay về một con người v.v…Cần phải ra khỏi cái tôi thứ hai này, để thấy cái tôi thật của chúng ta rất nhỏ bé, yếu đuối, mỏng dòn và nhiều sai lầm, để biết thông cảm với anh em, biết khiêm tốn và biết chạy đến với Chúa.” (x. Nguyễn Thanh Nghị, tr. 113)
Trong con người thứ hai theo Nguyễn Thanh Nghị, có một cái tính rất nguy hiểm và cũng rất tai hại, chẳng những cho riêng con người có cái tính ấy, mà nó còn tai hại cho những người thân cận của người ấy. Nó còn tai hại cho tập thể mà người có cái tính ấy là một thành viên. Rộng hơn nữa nó cũng gây tai hại cho một giáo hội mà người có cái tính ấy là một giáo sĩ, một chủ chăn. Cái tính nguy hại trong con người thứ hai này, đó là tính kiêu ngạo.
Tháng 10 năm 2017, chúng tôi (KT) về thăm nhà thuộc huyện Phú Xuyên, Tổng Giáo phận Hà Nội. Ngày 19-10-2017, dòng họ tôi có một thầy Phó tế chịu chức Linh mục. Tôi lên Hà nội đến nhà thờ Chính tòa tham dự thánh lễ này.
Sau nghi thức truyền chức Linh mục cho 10 Thầy Phó tế, trong số 10 Thầy có Thầy Phó tế thuộc dòng họ tôi, Đức Hồng y Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội, Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, chủ sự thánh lễ và nghi thức truyền chức này, chỉ nói vỏn vẹn có 30 từ:
“Sau 50 năm làm Linh mục, cha chỉ thấy có một điều cần phải nhắc nhở: khiêm nhường, khiêm nhường, và khiêm nhường. Chúng ta thất bại vì kiêu ngạo”.
Chúng tôi đã giới thiệu với quý vị một cách chi tiết và cẩn thận hầu hết những vấn đề thiết thực đến đời sống của người Kitô hữu và những liên đới với người chung quanh, đặc biệt là bài thứ nhất “Này là Người”. Ở bài này, quý vị đã thấy Nguyễn Thanh Nghị, một con người rất kiên nhẫn, chăm chú, say mê đi tìm chân dung đích thật của con người, từ triết học, thần học đến những thành phần trong xã hội, từ trong lịch sử ngàn năm về con người và thân phận của họ, người già, người nghèo khổ, bệnh tật, người tội lỗi v.v…Chúng tôi trộm nghĩ, những vấn đề này rất nên có trong các chương trình đào tạo chủng sinh hay tu sĩ, nhằm đưa các linh mục, tu sĩ lại gần hơn với các thành phần giáo dân bình thường trong giáo hội vì có cách biệt quá, “giáo sĩ trị” nhiều quá! Mặc dù hình như các nơi này có chương trình cho môn Nhân bản. Nhưng chỉ là nguyên tắc, khô khan, không tạo được cảm xúc nơi người đọc.
Bài thứ 5 và cũng là bài cuối cùng trong cuốn sách Này là Người, tác giả đề cấp đến vấn đề, “Để thêm lòng tôn thờ Chúa và Yêu mến Đức Mẹ qua Kinh Mân Côi”, tác giả vẫn đi theo con đường nghiên cứu, suy luận và mở rộng như trong các bài trên đây. Chẳng hạn, mở đầu bài, tác giả tìm về Lịch sử và cấu trúc Kinh Mân Côi, sau đó tác giả phân tích về hai phần (tác giả ghi là 2 vế) của Kinh Kính Mừng. Sang đến Phần II, tác giả nói đến Quan niệm đứng đắn về Kinh Mân Côi, Kinh Mân Côi không chỉ dành để sùng kính Đức Mẹ, Kinh Mân Côi và Thánh Thể, Kinh Mân Côi không chỉ dành cho những người ít học và dư thời giờ, Kinh Mân Côi, điệp khúc của tình yêu, Kinh Mân Côi, Kinh của tình yêu
Đừng hà tiện điệp khúc của tình yêu, Hiệu quả của Kinh Mân Côi.
Ngoài Kinh Lạy Cha, tác giả Nguyễn Thanh Nghị tỏ lòng yêu mến cách đặc biệt đối với Kinh Mân Côi (Kinh Kính Mừng), vì hai Kinh Lạy Cha và Kinh Kính Mừng, hầu như không có một giây phút nào trên toàn thế giới, với hơn một tỷ người Kytô hữu, mà không có người đọc trên môi miệng mình. Bởi vậy, sau khi tìm về lịch sử, về nguồn gốc, về cấu trúc của Kinh Mân Côi v.v… rồi qua mục Kinh của tình yêu, đừng hà tiện điệp khúc của tình yêu, tác giả viết, qua một chuyện kể của thánh Đa Minh:
“Chữ Mân Côi chỉ về hoa hồng, loại hoa để bày tỏ tình yêu, chuỗi Mân Côi dịch từ chữ Rosarium có nghĩa là vườn hồng, để chỉ chuỗi kinh được nối kết bởi nhiều bông hoa biểu tượng cho tình yêu. Điều này cũng ăn khớp với câu chuyện do Thánh Đa Minh kể lại: “Một lần từ Fanjeaux đến thành Prouille giảng về kinh Mân Côi và cầu cho dân thành Prouille ăn năn trở lại, có lẽ vì quá khuya nên mọi nhà và cả nhà thờ đều đóng cửa kín mít. Ngài quỳ gối ngoài hè khóc lóc và đọc kinh Mân Côi, rồi ngài thiếp đi trong một thị kiến được nghe Đức Mẹ phán: “Mẹ đã nhận tấm lòng thành kính của con dâng lên Mẹ, như những đóa hoa hồng hái trong mưa ướt”. Thánh nhân ngửa mặt lên nhưng không thấy gì. Ngài tiếp tục đọc kinh Mân Côi. Ngài lại được nghe Đức Mẹ phán: “Hỡi con, con hãy hái cho Mẹ những đóa hoa Mân Côi xứng đáng. Hãy hái cho Mẹ những hoa hồng bất diệt để Mẹ cứu các linh hồn.” Thánh nhân thưa vời Đức Mẹ: “Mẹ chỉ cho con những hoa nào hoàn hảo nhất.” Đức Mẹ trả lời: “Hoa hoàn hảo nhất chính là những kinh Kính Mừng mà con đang đọc.” (Trích từ trong 100 chuyện tích chuỗi hạt Mân Côi, của tác giả Thomas Trần Khắc Khoan, trang 176. Sách của Nguyễn Thanh Nghị, tr. 150)
Để có kết luận cho bài này, tác giả mượn lời của Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hòa, nguyên Chủ tịch HĐGMVN. Trong một bài giảng vào một dịp tháng 10, Đức cha Phaolô đã ví đọc kinh Mân Côi như động tác đong đưa hai tay cho máu lưu thông trong cơ thể. Đức cha nói: “Ai cũng biết các động tác đong đưa hai tay từ trước ra đằng sau và trở lại phía trước. Động tác chỉ có thế, nhưng đong đưa càng nhiều càng tốt cho máu lưu thông. Có ai nói các động tác này giống nhau, việc gì phải đong đưa cả ngàn lần làm chi tốn công, chỉ cần làm một lần cẩn thận thôi, được không? Và Đức cha kết luận: đọc kinh Mân Côi cũng vậy, đừng nói chỉ cần đọc một kinh cẩn thận là đủ. Bởi vì càng đọc, ta càng được Mẹ giúp yêu mến Chúa hơn như động tác đong đưa kia càng nhiều thì càng làm máu lưu thông tốt cho sưc khỏe của ta.”
Kết luận cuối cùng của việc đọc kinh Mân Côi, là những lời vàng của Đức Gioan-Phaolô II, dịp kỷ niệm 25 năm Ngài ở ngôi vị Giáo Hoàng: “Tôi đã đặt những năm đầu của triều đại Giáo Hoàng trong nhịp sống hằng ngày của kinh Mân Côi. Hôm nay, khi bắt đầu năm thứ 25 trong tư cách người kế vị thánh Phêrô, tôi muốn làm lại cũng một điều đó. Biết bao ơn lành tôi đã lãnh nhận được trong những năm tháng này, từ Đức Thánh Trinh Nữ qua kinh Mân Côi: Magnificat anima mea Dominum”. Tôi muốn dâng lời cảm tạ lên Chúa bằng những lời kinh của Mẹ Rất Thánh của Người, dưới sự che chở của Ngài, tôi đã đặt công việc phục vụ Giáo hoàng của tôi: Totus Tuus! (Tất cả đời con thuộc về Mẹ)” (Tr. 155)
Quyển sách nữa của Nguyễn Thanh Nghị:
THỨC GIẤC TRONG ĐÊM
Khi tác giả Nguyễn Thanh Nghị trao tận tay cho tôi quyển sách này, nhìn qua bìa sách với nhan đề Thức giấc trong đêm, tôi mỉm cười nói nhỏ, như một bài thơ, thi nhân lắng nghe tâm hồn tương tư (bài Đêm Đông của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông).
Nhưng tập Thức giấc trong đêm không phải là tập thơ, mà là những câu hỏi và lời giải đáp mà tác giả đã nghe hoặc đã đọc trong cuộc đời làm con Chúa và đặc biệt, những năm tháng tác giả sinh hoạt trong cộng đoàn Hiệp Hội Sống Tin Mừng Thánh Tâm Chúa Giêsu. Đây là tập sách mỏng khoảng hơn 120 trang, gồm 18 câu hỏi khó, như: Ơn tiền định, cuộc đời tôi quá đau khổ, sao Thiên Chúa lại sinh ra tôi! giá đừng sinh ra tôi có hơn không? Nói Thiên Chúa yêu thương con người, sao Chúa lại để cho sự ác xảy ra? Còn vấn đề hôn nhân giữa người công giáo và người không có đạo; giữa hai người là công giáo, nhưng ở với nhau được vài năm, có con với nhau mà vẫn ly dị. Có một câu hỏi, đọc sách bên Tin Lành đâm ra hoang mang về đức tin và vai trò lãnh đạo của các linh mục. Còn ơn gọi nên thánh, ơn gọi đi tu. Người ta thường nói: “Tu là cõi phúc, tình là giây oan!” Câu này có đúng không? Tại sao Thánh lễ không chỉ là một tưởng niệm mà còn là hiện tại hóa việc dâng mình của Chúa Giêsu lên Thiên Chúa Cha? Cũng còn một vài câu hỏi cho thấy lòng đạo ở những người nêu ra câu hỏi là không phải số ít, nhưng đấy vẫn là sự thật. Hỏi rằng: Tôi vẫn giữ đạo bình thường: vẫn đi nhà thờ, đi lễ, có cần phải vào một đoàn thể nào không? Hỏi: tôi có đứa con rất ngang ngược, phá phách, nói không nghe, tôi muốn từ nó cho hết trách nhiệm, có nên chăng?
Và câu hỏi số 18, cũng là câu hỏi cuối cùng: Làm sao để sống trong niềm tin có Chúa ở cùng?
Tập sách này mang trong lòng nó tinh thần thần học, có vài câu hỏi mang tính Tín lý và Giáo lý Hội thánh Công giáo, cho nên tác giả đã xin phép của Giáo quyền để có Imprimatur, do Giám mục Louis Nguyễn Anh Tuấn ký ngày 13/7/2023.
Như vậy, những câu hỏi trong tập Thức giấc trong đêm, cho dù là những vấn đề vẫn mãi tồn tại trong giáo hội, trong lòng người theo Chúa, ở nơi này hay nơi khác, xuyên suốt thời gian trăm năm và trong thời kỹ thuật số, Internet bùng nổ, những vấn đề trong sách này là những nỗi băn khoăn, những trăn trở rất lớn, rất gay gắt đối với các thành phần trẻ cả một số người lớn tuổi, trưởng thành mà lòng tin còn lỏng lẻo, chưa nói sẽ còn những vấn đề đụng chạm đến căn tính của giáo hội, như linh mục lấy vợ, phụ nữ làm linh mục v.v…
Còn về những giải đáp sau những câu hỏi của tác giả Nguyễn Thanh Nghị, chúng tôi nghĩ rằng sách đã có “chuẩn ấn” (Imprimatur), tức là những giải đáp ấy không có gì trái với giáo lý hay thần học của giáo hội. Tác giả đã dựa vào những tài liệu căn bản và giá trị trong giáo hội. Cho nên, chúng ta có thể tin váo đó. Tuy nhiên, vẫn còn có những suy nghĩ của mỗi người trong các vấn đề khó khăn của riêng mình, không thuộc tín lý và thần học, hay luân lý. Nên ơn Chúa soi sáng vẫn là điều cần thiết nhất, miễn là trong lòng có bình an.
Khải Triều
