Khải Triều: PETRUS DƯƠNG KIM QUỚI

PETRUS DƯƠNG KIM QUỚI

Thơ: Bóng Thánh giá trên bờ biển Đông

Trèo lên Núi Cúi, 200 bài thơ (100 bài thể Haiku và 100 bài Lục bát)

Ba truyện dài: Chín Ngưu – Hai Cào -Tư Kiểng

       Tên họ:      Phêrô Dương kim Quới             

       Bút danh:  Petrus Dương Kim Quới

       Biệt danh: Thầy Quới

       Sinh:        20/5/1943, tại Sóc Trăng.

       Tiểu Sử Petrus Dương Kim Quới (In ở Truyện Tư Kiểng, 2025)

 -1953:   Học lớp vỡ lòng đặc biệt trường Lasan Khánh Hưng Sóc Trăng.

-1954-1958: Petit Séminaire tại Phnom Penh, Tiểu Chủng Viện Sóc Trăng, Gp Cần Thơ.

-1958-1974: Học và Dạy trong hệ thống trường Dòng Lasan Việt Nam.

-1984-2008: Giảng dạy Đại Chủng Viện T. GiuseXuân Lộc và các Dòng Tu:

-Tập viện Lasan, Tân Cang, Hố Nai,

-MTG Thủ Thiêm, MTG Xuân Lộc, MTG Chợ Quán, MTG Gò Vấp,

-Đức Bà Truyền Giáo, Thủ Đức,

-Nữ Tỳ Thánh Thể, Bình Đa, Biên Hòa,

-Nữ Tỳ Chúa Giêsu Linh Mục, Hố Nai và Duyên Lãng,

-Đa Minh Thái Bình, Gx Hà Nội,

-Đa Minh Hải Phòng, Tam Hà, Thủ Đức,

-Đa Minh Mân Côi Monteils, Long Khánh và Bình Triệu,

-Con Đức Mẹ Phú Cường, Bình Dương,

-Khiết Tâm Bình Cang, Nhatrang,

-Đức Mẹ Hiệp Nhất, Bắc Ninh (học tại Lasan Mai Thôn, Saigon),

-Nữ La San Việt Nam (học tại Lasan Mai Thôn, Saigon) …

-1989-2006: Dạy học Trường THPT Dân Lập Văn Hiến, Tp Long Khánh, Đồng Nai.

-1968-2010: Dạy Sáng Tác Thơ

-Trường Lasan Pellerin, Huế;

 -Đệ Tử Viện Lasan, Thủ Đức; 

 -Trường Lasan, Kontum;

 -Trường Lasan Bá Ninh, Nhatrang;

 -Giáo xứ Xuân Đường, Long Khánh, Đồng Nai;

 -Dòng MTG Gò Vấp;

 -Dòng MTG Chợ Quán, Ba Thôn, Tp HCM;

 -Giáo xứ Tân Mai, Biên Hòa.

 -2021:  Dạy Sáng tác Thơ Trường Âm Nhạc Tiến Dũng (Nhạc sĩ Ngọc Kôn).

TỪ THẬP NIÊN 1980:

-Vẽ minh họa bộ sách Hồng Ân Huấn Giáo Gp Xuân Lộc;

-Giúp Đức Cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh trong việc trang trí nội thất Tòa Giám Mục, Quần thể Nhà Truyền Thống và Đại Chủng Viện Xuân Lộc, tượng đài Đức Mẹ Núi Cúi…

-Thiết kế hệ thống cổng với tường rào trước và sau của nhà thờ Chính Tòa Xuân Lộc và các tượng đài (Núi Đá Đức Mẹ, đài Đức Mẹ La Vang, đài các thánh Tử Đạo VN, đài La Pietà …)

-Từ năm 2011:  Tham gia cuộc thi Sáng Tác Thơ – Truyện – Ca Khúc, giải Văn Hóa Nghệ Thuật Đất Mới của Giáo phận Xuân Lộc, do Đức Cha Đa Minh Nguyễn Chu Trinh thành lập, đoạt giải nhiều năm liền, được Ban Giám Khảo đánh giá:

 * “Điêu luyện về kỹ thuật, trau chuốt về ngôn từ, tư tưởng sâu sắc, cảm xúc dạt dào, và cách viết điêu luyện, vốn văn hóa sâu rộng, kết thành những trường ca với vẻ đẹp riêng …”     

                                                    –  Lm. Tâm Anh Nguyễn văn Tăng

                              (Nguyên Trưởng Ban Văn Hóa Giáo phận Xuân Lộc)

        ** “Điều thú vị ở những bài thơ của DKQ là cảm hứng thơ dào dạt, bút lực mạnh mẽ, ngôn ngữ thơ phong phú, tri thức văn hóa giàu có, và không ít bài, ngòi bút DKQ đã lấp lánh nét tài hoa’’…

                                                     –  Bùi Công Thuấn

                         (Cao học Văn – Phê bình văn học – Hội VHNT Việt Nam)

Hiện tại, tham gia mục Thơ Truyện của nguyệt san Thánh Nhạc Ngày Nay của nhạc sĩ Ngọc Kôn, TGP Sàigòn…và tiếp tục làm thơ, viết ca khúc, viết truyện, viết Thư Pháp để hưởng nhàn trong buổi cuối đời…

Petrus Dương Kim Quới với Khải Triều

Trong số những vị hiện diện trong cuốn sách này, có lẽ anh Dương Kim Quới là một người bạn thân tôi gặp trễ nhất, chỉ từ năm 2015. Năm này cũng là một năm đáng nhớ của Nhóm sưu tập ở Giáo phận Qui Nhơn, do Lm Trăng Thập Tự chủ biên, cũng là một năm Tủ sách Nước Mặn cho ra đời tập thơ Có Một Vườn Thơ Đạo, Tập 5: Bay Tới Cõi Thiên Đàng. Năm 2015 còn là năm ghi dấu thi sĩ Hàn Mạc Tử 75 năm qua đời, 1940-2015. Sau cùng, tập thơ Có Một Vườn Thơ Đạo số 5 đã ra mắt tại Trung Tâm Mục Vụ Sài Gòn cũng trong năm 2015. Những nhà thơ có mặt trong tập thơ này, đều được mời gặp nhau tại đây, nhóm sưu tập ở Qui Nhơn có vào tham dự. Sau thánh lễ là một liên hoan thanh đạm, mỗi nhà thơ được tặng 5 cuốn.

Lúc tôi đang ngồi tại bàn với mấy nhà thơ lạ, gặp nhau lần đầu. Ngồi bên cạnh tôi là một người đã có tên tuổi ở trang Dũng Lạc và nay đóng góp cho việc hình thành nên CLB Đồng Xanh Thơ Sài Gòn…, Bất chợt tôi nghe có tiếng người vừa đi tới bàn tôi ngồi gọi: Anh Khải Triều. Tôi nhìn lên thì người ấy cười hiền từ rôi bước đi luôn. Lúc đó tôi đang cầm trên tay một tập sách rất mỏng, có tựa đề là Hát nói trên đỉnh Núi Cúi tác giả là Pêtrus Dương Kim Quới. Về nhà, mở tập Có Một Vườn Thơ Đạo, tìm xem có ai giống với người đã gọi tên mình, thì bất ngờ, đập ngay vào mắt tôi là Dương Kim Quới. Chỉ một lần gọi tên điểm một nụ cười hiền, tôi cảm xúc tập Hát Nói Trên Đỉnh Núi Cúi, và quyết định đưa anh vào cuốn Những Nhà Thơ Công Giáo Việt Nam Hiện Nay, sau đó gửi biếu anh cuốn này.

Trong Dòng Suối Thơ Đạo Của Petrus Dương Kim Quới

Trong cuốn Những nhà thơ Công giáo Việt Nam hiện nay, tôi chỉ giới thiệu Pêtrus Dương Kim Quới ít bài trong tập Hát nói trên đỉnh Núi Cúi, vì lúc đó chúng tôi chưa có chia sẻ gì với nhau về chuyện văn chương, nên tôi có tài liệu về anh bao nhiêu thì làm bấy nhiêu, không có nhiều để chọn lựa. Bây giờ thì tôi có nhiều hơn, cả thơ và văn. Đặc biệt về thơ, Pêtrus Dương Kim Quới, có hai bài, một bài biểu hiện tính cao trọng trong đời sống dâng hiến và sứ mạng cứu độ của những Alter Christus, và một bài thuộc tính trào phúng, tự đùa với mình khi tuổi 80.

ĐÔI TAY ẤY

Thương tặng cháu PHAOLÔ LÊ ĐÌNH VĨNH TOÀN.

Mừng ngày thụ phong Linh Mục, 25/5/2024, tại Nhật…

Từ đây sống đời chủ chăn,

Sống đời từ bỏ mọi sự,

Quyết theo Thầy Chí Thánh…

BƯỚC CHÂN TÔNG ĐỒ,

.

Đôi tay ấy như dấu chỉ hồi thơ ấu,

Nhỏ xíu thôi mà sáng tỏ như ngày:

Tâm đạo sâu, sinh đạo rõ, trí đạo dài,

Đường vận may chạy hoài lên ngón giữa…

.

Đôi tay ấy mở bừng, ngày theo Chúa,

Được xức dầu theo phẩm trật Men-ki-sê-đê,

Dấu thánh ấn để lên đồi Can-vê,

Từ Bê Lem, trải về theo đỉnh Núi…

.

Đôi tay ấy đưa cao bên giếng rửa tội,

Đổ nước lên đầu, mặc áo trắng, xức dầu,

Biết bao lần, biết bao kẻ đâu đâu

Được cứu rỗi bởi đôi tay đổ nước.

.

Đôi tay ấy mở ra ban ơn phước,

Làm dấu thánh xóa tội kẻ phàm nhân,

Đỏ như máu được tẩy trắng trong ngần.

“Sự gì con mở, trên trời cũng mở…”

.

Đôi tay ấy cho người đời hơi thở,

Chúa Thánh Thần ngự xuống bảy ơn thiêng,

Ban Thêm Sức giữ đạo như tổ tiên,

Tuyên xưng Chúa tận cùng khắp bờ cõi…

.

Đôi tay ấy bao ngày đêm mong mỏi

Chỉ Giêsu, chỉ Chiên Thiên Chúa tối cao,

Khắp Galilê, khắp đồi núi giảng rao,

Là sự thật, là đường, là sự sống.

.

Đôi tay ấy bao nhiêu người trông ngóng,

Phút cuối đời được ơn thánh trao ban,

Lúc lâm chung được của ăn đi đàng,

Được xức dầu, được phúc lành toàn xá.

.

Đôi tay ấy ngày cau trầu hoa lá,

Ban nhẫn vàng đôi hôn phối gửi trao,

Cho trọn đời trọn kiếp sống bên nhau,

“Chúa liên kết, loài người không tháo gỡ!”

.

Đôi tay ấy như đôi tay của Chúa,

Như phép thần, tấm bánh trắng rượu nho,

Phút nhiệm mầu thành Mình Máu Đức Kytô,

Ôi, cao cả huyền siêu, đôi tay ấy!

.

Đôi tay ấy ngàn năm đôi tay ấy,

Tấm áo đơn, một chiếc gậy theo Thầy,

BA LỜI KHẤN, cho cuộc sống đổi thay,

Cho xứng danh tông đồ, Alter Christus!…

.

Đôi tay ấy như bãi cỏ dài xanh mướt,

Ngóng trời cao cho Nước Chúa công trình,

Bao mơ ước ươm mầm bao tâm tình,

Bao đền đài cho cánh đồng truyền giáo…

.

Đôi tay ấy như mây trời loan báo,

Đặt tim mình cho THỪA SAI THÁNH TÂM,

Bao ước nguyện nơi NHA TRANG xa xăm,

Xây thánh đường BA LÀNG, dựng mái ấm BA MẸ…

.

Đôi tay ấy bao ơn lành già trẻ,

Khi đưa lên ban lời chúc “Đi Bình An”,

Trông diệu huyền cùng thập giá giăng ngang,

Để như Thầy, trần không về Núi Thánh !…

.

Bác Petrus Dương Kim Quới

Nhà thơ công giáo Việt Nam, giáo phận Xuân Lộc

(GIA ĐÌNH HAI BÁC CHÚC MỪNG)

Bài dưới đây, ta cười với ta thôi, ngoài kia đời cười cũng mặc đời.

Khi Ta Tám Mươi Tuổi

Có Người Ước

Mình Thượng Thọ Tám Mươi

.

Mới tám mươi tuổi đã thấy già,

Nếu còn sống nữa chắc thành ma,

Nhưng cầu xin Chúa cho con sống,

Để con bỏ hết cái gian tà…

.

Mới tám mươi tuổi, vẫn thích đùa,

Chỉ hết sân si, hết hơn thua,

Một đời trần tục, gì cũng biết,

Thế giới bên kia, có biết chưa!…

.

Mới tám mươi tuổi đã lãng rồi,

Nếu còn sống nữa chắc quên thôi,

Quên người thân thuộc, quên chòm xóm,

Xin đừng quên Chúa, ôi, Chúa ôi!…

.

Mới tám mươi tuổi đã mắt mờ,

Nếu còn sống nữa chắc lơ ngơ,

Lù mù mọi thứ như ảo ảnh,

Xin được thấy Chúa thật như mơ…

.

Mới tám mươi tuổi đã thích nằm,

Nếu còn sống nữa chắc hơn trăm,

Nằm  như Giuse mộng thấy Chúa,

Mau rời Ai Cập dù xa xăm…

.

Mới tám mươi tuổi liệt một bên,

Nếu còn sống nữa, chắc hai bên,

Xin cho bên phải ‘’U-NHƯ- KỸ’’,

Làm thơ dâng Chúa thay hai bên!…

.

Mới tám mươi tuổi đã hết tiền,

Nếu còn sống nữa, chắc thành tiên,

Cơm tiền áo gạo thôi đong đếm,

’Sống gởi thác về’’ với HOÀNG THIÊN…

.

Mới tám mươi tuổi đã ăn kiêng,

Nếu còn sống nữa, chắc ‘’nhập thiền’’

Trí lòng thanh luyện trong sám hối,

Để về ‘’đồng cỏ’’ với CHỦ CHIÊN!…

.

Mới tám mươi tuổi đã xe lăn,

Nếu còn sống nữa, hết tung tăng,

Xin còn tỉnh táo lăn chầm chậm,

Từ từ lăn tới Đấng Toàn Năng!

.

Mới tám mươi tuổi chia gia tài,

Nếu còn sống nữa, chia gì đây!

 Chỉ còn… một lỗ thật vuông vức,

Chia cho quan lớn với quan… tài!…

.

Mới tám mươi tuổi đã ăn mừng

’Thượng Thọ’’ làm chi cho bâng khuâng,

Xin Chúa cho con càng thêm tuổi,

Càng thêm khôn ngoan như TIN MỪNG!…

.

Mới tám mươi tuổi, thấy cô đơn,

Nều còn sống nữa giống cây đờn,

Ai treo đâu đó chờ tiếng hát

‘’DE  PROFUNDIS’’*, về THIÊN SƠN!…

.

Mới tám mươi tuổi, thấy hôn mê,

Một mình lặng lẽ nghe tỉ tê

Bài ‘’TỪ VỰC SÂU, KÊU XIN CHÚA’’…

’XIN CỨU THOÁT CON khỏi cơn mê!

Xin cứu thoát con, ôi lạy Chúa…

’LIBERA ME, DOMINE’’… **

(20/5/2023 – Sinh nhật lần 80)

                               ——————————————————————

CHÚ THÍCH: * Tiếng La tinh, DE  PROFUNDIS,‘’ Từ Vực Sâu’’, (thánh vịnh 129).

** Tiếng La tinh, LIBERA  ME. DOMINE, ‘’Xin Cứu Thoát Con, Lạy Chúa’’

(ca khúc cuối Thánh lễ An Táng)

Bóng Thánh Giá trên bờ biển Đông

Đây là những bài thơ, tác giả viết về 11 địa danh thuộc Giáo hội Công giáo Việt Nam.

1.Bóng Thánh giá Nhà thờ Sở Kiện

2.Bóng Thánh giá Nhà thờ Lớn

3.Bóng Thánh giá Nhà thờ Trung Linh

4.Bóng Thánh giá Nhà thờ Phú Nhai

5.Bóng Thánh giá Nhà thờ La Vang

6.Bóng Thánh giá Nhà thờ Trà Kiệu

7.Bóng Thánh giá Nhà thờ Nhọn

8.Bóng Thánh giá Nhà thờ Mằng Lăng

9.Bóng Thánh giá Nhà thờ Đá

10.Bóng Thánh giá Nhà thờ Núi Cúi

11.Bóng Thánh giá Nhà thờ Đức Bà

Có hai điều chúng tôi muốn nói đến trong 11 Nhà thờ tác giả Pêtrus Dương Kim Quới đã dừng lại để kể lại đôi dòng lịch sử từ thuở đầu cho đến nay. Đây là những nơi còn in dấu ấn sâu đậm thời cấm cách, thời tử đạo. Bóng Thánh giá sẽ vẫn hiện diện và tồn tại mãi trên bờ biển Đông này!

Tác giả Pêtrus Dương Kim Quới cảm xúc về tinh thần sống đạo ở những nơi này, suốt dòng lịch sử trăm năm. Đọc xong, dù lần thứ nhất, tôi đã cảm động bởi tác giả đã biểu hiện sự sâu sắc, thấu hiểu lịch sử của từng miền, từng nơi: Bóng Thánh Giá vẫn phất phới bay trên bờ biển Đông trong mọi biến cố, mọi hoàn cảnh, dù trong bão tố cấm cách, gông cùm và máu đào của các Đấng Anh Hùng Tử Đạo đã đổ ra thấm sâu vào lòng đất Kẻ Chợ, Nam Định, Trà Kiệu, Biên Hòa, Bà Rịa. Ở mỗi bài, mỗi Nhà thờ, tác giả kèm theo hình ảnh của nơi đó, ít nhất mỗi nơi có 3 bức hình, như vậy 11 Nhà thờ có 33 hình. Có nơi có đến 4 hoặc 5. Đặc biệt, Nhà thờ Lớn, có hình thành Cổ Loa, nhà giam Hỏa Lò; Nhà thờ Trung Linh, có hình Đức cha Giuse Vũ Duy Nhất, hàng giáo sĩ Giáo phận Bùi Chu tĩnh tâm năm 2000, nhà thờ Trung Linh chụp chiều ngang soi bóng bên hồ nước, hình toàn cảnh mặt tiền nhà thờ Trung Linh, soi bóng hình dưới nước; Nhà thờ La Vang, có hình tháp nhà thờ cổ, đài Đức Mẹ La Vang; Nhà thờ Trà Kiệu, có hình một buổi lễ, một đoàn thể nam, mặc quần áo dài thâm, đầu quấn khăn đống, hai tay giơ cao. Còn phía trên, đoàn thiếu nữ nặc áo dài đỏ, quần dài trắng, tay cầm bó hoa đang tiến lên, một con dấu ghi: Trung Tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu, Giáo Phận Đà Nẵng, và một hình khác ghi: Sự tích Đức Mẹ Trà Kiệu v.v…

Điều thứ hai: trong 11 Nhà thờ Bóng Thánh Giá Trên Bờ Biển Đông, mỗi nơi đều là những dòng thơ tác giả đề cập đến đôi dòng lịch sử của nơi đó, trước khi vào bài, đều cónhững câu thơ mở, chung cho tất cả. Ở đây, chúng tôi trích dẫn một số bài và chỉ in ở đầu bài thứ nhất, còn các bài sau, chúng tôi xin phép tác giả không in lại nữa.

LỜI MỞ

                                     Bóng Thánh Giá từ thuở xa xưa ấy

                                    Thuở cách ngăn Đàng Ngoài với Đàng Trong,

                                    Thuở còn thờ cha, thờ mẹ, thờ lung tung,

                                    Thuở còn thờ ông thờ bà, thờ bao vị thần thánh…

                                    Thì thuở ấy, “người đi đạo’’ đã phải chạy trốn tránh

                                    Ở Sở Kiện, ở Trà Kiệu, ở La Vang,

                                    Ở La Mã Bến Tre, ở Tắc Sậy Hoang Tàn…

                                    Bóng Thánh Gía thuở còn “mang gươm đi mở cõi’’…

                                    Chiều Can-Vê bóng đổ từ Xứ Lạng đến Đất Mũi,

                                    Dọc dài Bờ Biển Đông trên con cháu tiên rồng,

                                    Từ Ải Nam Quan xuôi dòng sông Cửu Long,

                                    Từ ruộng vườn lên thác ghềnh nương rẫy…

.

                                    Bóng Thánh Giá từ thuở xa xưa ấy,

                                    Đã đổ dài trên con cháu Lạc Long,

                                    Bao Thánh Đường vươn cao tả hữu Sông Hồng,

                                    Bên Sông Thái Bình, Sông Mã, Sông Cả…

.

                                    Về miền Trung bên dòng Hương Giang êm ả,

                                    Tới xứ Quảng, bên Non Nước, bờ Sông Hàn,

                                    Bóng Thánh Giá cứ thong thả đổ qua đèo Ngang,

                                    Đèo Cù Mông, đèo Cả, đèo Rù Rì Nha Trang,

                                    Trên vườn nho, trên đàn cừu Phan Rang,

                                    Thơm ngào ngạt “nước mắt quê hương” Phan Thiết…

.

                                    Bóng Thánh Giá trên rừng cây xanh biếc,

                                    Rừng cao su, rừng lá, vườn sầu riêng,

                                    Vườn chôm chôm, vườn cà phê bạc tiền,

                                    Trải dài miền Đông, Sông Đồng Nai ấn tượng…

                                    Trên sông Sài Gòn uốn mình như chim phượng,

                                    Bóng Thánh Giá âm thầm uốn lượn tới miền Nam,

                                    Trên Sông Tiền, Sông Hậu, các Sông Vàm,

                                    Trên ruộng đồng khắp Miền Tây Sông Nước

.

                                    Bóng Thánh Giá…

                                    Ôi, Ngàn Năm Bóng Thánh Giá

                                    Đổ Nhẹ Trên Non Sông ,

In Đậm Xứ Sở Âu Cơ Lạc Long, 

                        Dọc Dài Bờ Biển Đông

Trên Đất Nước Tiên Rồng!..

                                  Petrus Dương kim Quới

Bóng Thánh Giá Nhà Thờ Lớn

        Bóng Thánh Giá chiều Can-vê nắng đổ,

                                  Trời Núi Sbao phủ Âu Á Tây Đông,

                                  Tới nước Nam, tới “xứ sở tiên rồng’’,             

                                  Trên Bắc kỳ, Trung kỳ, trên toàn Nam bộ…

.

                             Bóng Thánh Giá Nhà Thờ Lớn nắng đổ

                             Trên lăng mộ, trên khắp các quảng trường,

                             Trên Hồ Tây, trên Hồ Hoàn Kiếm thân thương,

                             Trên Đền Ngọc Sơn, Tháp Bút, Chùa Trấn Quốc …

.

                             Khắp kinh đô, Bóng Thánh Giá cao ngất,

                             Từ nhà thờ Cửa Bắc, nhà thờ Thái Hà,

                             Từ nhà thờ Hàm Long đến nhà thờ thật xa,

                             Nhà thờ Phùng Phoang, nhà thờ Làng Tám…

.

                             Bóng Thánh Giá trên nhà thờ Đình Quán,

                             Đổ trên Bắc Từ Liêm, Kỳ Đài, phố cổ Đường Lâm,

                             Rồi nhà thờ Giảng Võ, nhà thờ Pháp Vân,

                             Trên ba sáu phố phường, thắm màu Văn Miếu…

.

                             Bóng Thánh Giá trên sân cỏ kỳ diệu,

                             Trên khán đài, trên sân khấu ánh đèn,

                             Khắp Thăng Long thấy RỒNG TRỜI bay lên,

                             Sông Hồng Hà uốn mình như nhập thế…

.

                             Bóng Thánh Giá chiều Can-vê lễ tế,

                             Khắp dương gian sấm chớp tung nấm mồ,

                             Màn đền thánh xé toạc đến kinh đô,

                             Nhà Thờ Lớn trải dài Bóng Thánh Giá…

.

                             Trên Chùa Một Cột, Gò Đống Đa, Đền Bạch Mã,

                             Chợ Đồng Xuân, Hồ Trúc Bạch, Cầu Long Biên,

                             Ô Quan Chưởng, Hoàng Thành xưa đảo điên,

                             Bóng Thánh Giá ngân dài theo Bài Ca Đạo …

                             .

 Chuông Nhà Thờ rền vang khu Đấu Xảo

Nhà Hát Lớn, Ga Hàng Cỏ, Thành  Cổ Loa,  

Ngã ba Đền Bà Kiệu, nhà tù Hỏa Lò,

Phố Hàng Đào, Chùa Báo Ân, Đền Bạch Mã…

.

Nhà Thờ Lớn nắng đổ dài Bóng Thánh Giá

Cùng Hồng Hà phù sa lan tỏa khắp mọi miền,  

Cho phì nhiêu, cho màu mỡ linh thiêng,

Màu nước sông Thẫm Màu Hoàng Hôn Núi Sọ!…

                                       Petrus Dương kim Quới

Bóng Thánh Giá Nhà Thờ Trung Linh

                      BóngThánh Giá NhàThờ Trung Linh nắng đổ

                   Xưa thật xưa trên giáo phận Bùi Chu,

                   Hơn ba trăm năm thời Đức Cha PALLU,

                   Có Dòng Tên, Dòng Đa Minh, có Đức Cha Thập               …

.

                   Bóng Thánh Giá cùng các Mục Tử hội nhập,

                   Từ Trung Linh cánh đồng truyền giáo bao la,

                   Mở trường Thử,  trường Kẻ Gỉảng, trường Thánh Gia,

                   Mở Chủng Viện, qui hoạch Nhà Dòng, Nhà Phước…

.

                   Bóng Thánh Giá thời bắt đạo Tự Đức,

                   Phá bình địa nhà thờ, nhà xứ, nhà chung,

                   Cho người ngoại quản thúc người giáo khốn cùng,

                   Kytô hữu bị thích chữ ‘’Tả Đạo’’ bên mặt…

.

                   Bóng Thánh Giá vẫn trải dài trước mắt,

                   Dòng Mân Côi cùng tín hữu Trung Linh

                   Nguyện cùng Thánh Đaminh Trần Duy Ninh

                   Thương Chủng Viện cho cánh đồng truyền giáo…

.

                   Trung Linh thấm máu hai bốn Anh Hùng Tử Đạo,

                   Bóng Thánh Giá trên mấy trăm giáo xứ Bùi Chu,

                 ‘’Trung thành mến Chúa sáng ngàn thu,
                     Đức tin hun đúc thành nhân chứng’’…

.

                   Từ Trung Linh nhìn bốn phương tám hướng,

                   Phương hướng nào cũng thấy, ít nhất, một nhà thờ,

                   Thấy tháp chuông cao vút thật nên thơ,

                   Bóng Thánh Giá Trời Bùi Chu “phủ sóng’’!…

.

                 “Hỡi người Galilê, sao còn đứng đó trông ngóng’’,

                   Chúa sống lại, từ huyệt đá Gôn-gô-ta,

                    Người Về Trời…

                   Bóng Thánh Giá thiên thời, địa lợi, nhân hòa …

                   Từ Bùi Chu,

Lúa Chín Vàng Cánh Đồng Truyền Giáo!…


Bóng Thánh Giá Nhà Thờ Trà Kiệu

                   Bóng Thánh Giá Nhà Thờ Trà Kiệu đại pháo nổ,

                   “Người Đàn Bà” đứng trên nóc chở che

                    Khỏi bom đạn quân Văn Thân bắt đạo khắt khe,

                   Giáo dân hô khẩu hiệu “Giêsu-Maria” khí thế…

.

                   Bóng Thánh Giá từ La Vang lặng lẽ,

                   Vượt truông Nhà Hồ, vượt phá Tam Giang,

                   Vượt đèo Hải Vân đến Đồ Bàn hiên ngang,

                   Cùng Đức Mẹ dang tay ôm Trà Kiệu…

.

                    Trung Tâm Thánh Mẫu huy hoàng kỳ diệu,

                   Với các đền đài tuyệt mỹ dưới trời xanh,

                   Thời vương quốc Chămpa Sư Tử Thành,

                   Núi đồi sông nước nên thơ và tráng lệ…

.

                    Bóng Thánh Giá trải đi bao thế hệ,

                   Từ đồi Bửu Châu đến sông Thu Bồn,

                   Đến Hòn Ấn, Hòn Gành, Bến Giá, Hàm Rồng,

                   Với dòng Tên, dòng Phanxicô làm mục

.

Bóng Thánh Giá giáo dân bản xứ,

Nhớ Đàng Trong lại nhớ Đàng Ngoài,

‘’Nhớ mồng hai, nhớ tháng hai,

Hội Đền Trà Kiệu ai ai cũng về’’,

Thừa Sai Truyền Giáo Ba-lê

Ước gì Trà Kiệu như quê hương mình…

Đèn treo trước gió rung rinh,

Cũng không chao đảo mối tình Giêsu…

Kiên trung Trà Kiệu phiêu lưu

Cùng Bóng Thánh Giá thiên thu sao trời…

Mau Về Trà Kiệu Mà Coi!…

Bóng Thánh Giá Nhà Thờ Mằng Lăng

Nhà Thờ Mằng Lăng đổ dài Bóng Thánh Giá,

                   Trên vựa lúa miền Trung bát ngát Phú Yên,

                   Trên dòng Sông Ba qua cầu Đà Rằng rất duyên,

                 ‘’Con Sông Lau Sậy’’ dưới Bóng Thánh Giá

.

                   Đến Chiêm Thành một vùng xa lạ,

                   Xứ Chăm-pa nghiêng ngã điêu tàn,

                       “Sông Ba chảy xuống Đà Rằng,

                    Ai thương Xứ Nẫu cho bằng Phú Yên”…

.

                             Ngồi chơi đàn đá Tuy An,     

                   Dưới Bóng Thánh Giá ca vang Chúa Trời…

                        Ngắm Ghềnh Đá Đĩa chơi vơi,

                   Như xếp bàn tiệc hồi thời ‘’Rồng Tiên’’ ,

                        Tuyệt tác kỳ diệu thiên nhiên,

                   Cùng Bóng Thánh Giá Phú Yên gọi mời…

                        Bãi biển Long Thủy thảnh thơi,

                   Nhà thờ Chợ Mới rạng ngời đồng xanh,

                        Trà Kê dân tộc an lành,

                   Nhà thờ ấn tượng như tranh núi rừng…

                   Bóng Thánh Giá theo tiếng chuông tưng bừng,

                   Từ nhà thờ Mằng Lăng vang ra biển lớn…

.

                   Trên nhà thờ Tuy Hòa lúa xanh mơn mởn,

                   Bóng Thánh Giá dợn sóng trên ruộng đồng,

                   Đèo Cù Mông, đèo Cả bên bờ biển Đông,

                   Dọc Trường Sơn sông suối cùng đá màu phong phú…

.

                   Trên bãi Xép, bãi Yến ngàn năm sóng vỗ,

                   Kè chắn sóng Xóm Rớ, biển Phú Thường,

Trên Hải đăng Đại Lãnh, Tháp Nghinh Phong,

                   Trên Tháp Nhạn, trên nhà thờ Gò Duối…

.

                   Bóng Thánh Giá trên Gành Đèn gió thổi,

                   Ngọn hải đăng dẫn lối Vịnh Xuân Đài,

                   Vùng biển Vũng Chào thấy đường về nhà ngay,

                   Như về quê thật cuối trời sớm tối…

.

                   Nào ai biết Bóng Thánh Giá làm nên tên tuổi

                   Anh hùng Thầy Gỉảng Anrê Phú Yên,

                   Từ Mằng Lăng máu tử đạo linh thiêng,

                   Bóng Thánh Giá trổ sinh ‘’muôn ngàn bông hạt’’!…

Bóng Thánh Giá Nhà Thờ Đức Bà

           Bóng Thánh Giá Nhà Thờ Đức Bà cứu độ,

          Hơn trăm năm sương gió không mỏi mòn,

          Đây bảo tàng tồn tại cùng cháu con,

          Đây Thánh Giá vươn mãi với nước non…

          Đây  Thánh Giá,

         “ba cây đồng trụ’’ vượt không gian,

          Từ Sài Gòn về Tiền Giang,

          Đến Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, An Giang,

          Rồi đến hải đảo Phú Quốc Kiên Giang

          Cho ruộng đồng óng ánh

       màu Thánh Giá rạng rỡ tận Hậu Giang… 

.

Từ Sài Gòn Bóng Thánh Giá hiên ngang

          Cùng Mẹ Vô Nhiễm thương mến giang san,

          Trải đến Bình Chánh lên cao tốc miên man,

          Băng qua bao cây cầu dài ngắn bên đàng,

Cầu Rạch Miễu, Mỹ Thuận, cầu Cái Răng,

Cầu Vàm Cống,  cầu Cần Thơ tất bật…

Như là THÁNH GIÁ bắc cầu về Thiên Quốc…

.

Bóng Thánh Giá nhà Thờ Đức Bà ngây ngất,

Hòa hợp phù sa màu mỡ Cửu Long Giang,

Cho phì nhiêu ngon ngọt miền Tây bạt ngàn,

Ruộng nương xanh ngát, vườn tược mênh mang, 

Rừng tràm um tùm, rừng đước dọc ngang,

Tiếng thánh ca tha thiết,

Tiếng cầu kinh da diết,

Dưới Bóng Thánh Giá yên bình,

Cho một vùng truyền giáo

Thâm sâu lòng đạo…

.

Ôi, Bóng Thánh Giá Nhà Thờ Đức Bà tuyệt hảo,

Đổ dài tận Năm Căn Gành Hào,

Dọc bờ Kinh Xáng, Đầm Dơi, Gò Quao,

Trên Nhà thờ Bô Na, Trà Lồng, Trà Cú…

Cho những con người lam lũ

Trên Cánh Đồng Thừa Sai Năm Nào

Chín Vàng Hạt Lúa Phúc Âm Truyền Rao!…

                                   Lời kết

            Bóng Thánh Giá

                             Ôi, ngàn năm bóng thánh giá…

                             Đổ nhẹ trên non sông ,

In đậm xứ sở Âu Cơ Lạc Long, 

Dọc dài Trên Bờ Biển Đông

Trên đất nước Tiên Rồng,

Từ Lạng Sơn đến Cà Mau Đất Mũi,

Cho quê hương như thêm tuổi,

                            ‘’Càng lớn lên,

      càng thêm khôn ngoan và ân sủng’’,

           và… thêm… Bóng Thánh Giá

                              Trên Bờ Biển Đông!…

                               Petrus Dương kim Quới

Tập Thơ: Trèo Lên Núi Cúi

Trèo lên Núi Cúi, gồm 200 bài thơ ngắn, 100 bài theo thể Haiku và 100 bài Lục bát.

Xin trích mấy đoạn. Trước hết là Lời Mở:

                      Thơ HAIKU

như tiếng ru khơi nguồn

giữa trời đất mênh mông sâu lắng…

.

                   Thơ LỤC BÁT

như tiếng hát khai hoang

giữa ruộng đồng bát ngát xa xăm…

.

HAIKU nhìn trời, nhìn đất…

     Thiên nhiên và cõi lòng ta với ta…

LỤC BÁT ngắm ruộng, ngắm đồng…

     Cảnh vật và tâm hồn ta với mình!

..

                 “Tức cảnh sinh tình’’… TRÈO LÊN NÚI CÚI!

Đức Mẹ trinh khiết chắp tay cúi đầu,

Giữa trời đất bao la,

Giữa núi đồi thanh vắng nguy nga,

Giữa tinh vân kỳ vĩ hằng hà,

Bên hồ Trị An xanh biếc La Ngà…

Trên vạn vạn trái tim nhân thế lệ sa…

Đang ngây ngất cùng ĐỨC MẸ thiết tha…

… bằng làn điệu HAIKU của đất nước Phù Tang,

êm nhẹ như nhập thiền trên ngọn Phú Sĩ Sơn,

     và bằng tiết tấu LỤC BÁT của xứ sở Tiên Rồng,

khoan thai như tiếng hò trên dòng sông Cửu Long…

2

Đức Mẹ Núi Cúi

                                       Lưng lửng trời xanh

“Giáo phận Hiệp hành’’

.

Trèo lên Núi Cúi mà coi,

                                  Đức Mẹ Núi Cúi như trời rạng đông,

                                      Trèo lên Núi Cúi mà trông,

                                  Đức Mẹ Giáo Phận non sông hiệp hành!

8

Bụi trên Núi Cúi

                                                Mờ ảo nhân gian

                                                Lầm than

.

Bụi trên Núi Cúi, ai ơi,

                                           Nhân gian che lấp bụi đời cỏ cây,

                                                Bụi trên Núi Cúi đong đầy

                                           Mẹ ơi, có thấy kiếp này bụi không!…              

13

                                                 Hoàng hôn Núi Cúi

                                                Đàn cò trắng bay ngang

                                                Đức Mẹ cúi nhìn giang san

.

                    Hoàng hôn Núi Cúi, ai ơi,

                                           Trị An xanh thẳm cho trời lên cao,

                                                Đàn cò về tổ lao xao,

                                           Giang san có Mẹ biết bao là tình…

17

Em bé ơi

                                                Quỳ gối cúi đầu

                                                Mẹ biết làm sao

.

Quỳ trên Núi Cúi, bé ơi,

                                           Cúi sâu sát đất bầu trời xuống chân,

                                                Người lớn ngẩng mặt bâng khuâng,

                                           Thương bé ngàn lần, Mẹ biết làm sao…          

.

18

Một làn gió nhẹ

                                                Không nghe tiếng cầu kinh

                                                Một nữ tu quỳ lặng thinh

.

Một làn gió nhẹ trên cao,

                                           Nhà nguyện Thánh Thể một màu trắng tinh,

                                                Không nghe thấy tiếng cầu kinh,

                                           Nữ tu thinh lặng, lặng thinh với Người….

21

        Nắng xuân Núi Cúi

                                                Ngàn hoa thắm bóng Mẹ

                                                Nhẹ thật nhẹ

.

                        Trời cao Núi Cúi nắng xuân,

                                           Đức Mẹ phủ bóng trần gian mai vàng,

                                                Ngàn hoa tươi thắm ngỡ ngàng,

                                           Đức Mẹ Vô Nhiễm nhẹ nhàng sắc xuân…

.

23

             Mưa xuân giăng giăng

                                                Ướt tiếng nguyện cầu

                                                Đoàn người cúi sâu

                            Mưa xuân nhè nhẹ giăng ngang

                                           Làm cho ướt tiếng trần gian nguyện cầu,

                                                Mẹ ơi, gió thổi qua mau,

                                           Đoàn người tha thiết cúi sâu nghẹn lời…

26

                                                Núi Cúi gió xuân

                                                Muôn hoa mỉm cười

                                                Bài thánh ca về trời

.

                      Trèo lên Núi Cúi đón xuân,

                                            Mà nghe e ấp như tuần trăng chơi,

                                                Thánh ca văng vẳng bầu trời,

                                            Mà nghe “gió thổi, hoa cười với trăng’’!

27

Lên Núi Cúi

                                                Đường dốc quanh co

                                                Quên hết sầu lo

.

                         Đường lên Núi Cúi quanh co,

                                            Mây trời gần xuống sầu lo tan liền,

                                                Đường lên Núi Cúi nghiêng nghiêng,

                                            Đức Mẹ tay chắp linh thiêng giữa đời

Tập Thơ: Trên Đỉnh Núi Cúi

(100 bài thể Haiku và 100 bài Lục bát)

                            LỜI MỞ

                       Trên Đỉnh Núi Cúi

    Ta thấy Đạo giữa Đời,

                       Thấy cõi thiên giữa cõi trần,

    Thấy điều thánh thiêng giữa điều phàm tục…

    Nghe tiếng hát thiên thần giữa giọng ca trần thế!…

    Nghe tiếng kèn Micae giữa tiếng “khóc lóc nghiến răng’’!…

.

    Trung Tâm Hành Hương giữa trung tâm du lịch… tâm linh,

    Đức Mẹ trắng tinh giữa ánh đèn ngũ sắc huyền ảo,

    Đức Mẹ chắp tay cúi đầu giữa đám người cười nói lên hình,

    Tượng đài linh thiêng giữa báo đài săn lùng ‘’du-túp’’,

    Ảnh tượng nhà thờ giữa trăm ngàn bonsai hoa kiểng,

  . 

       Cõi trần… ‘’mô… chúng sanh… tội lỗi… tội lỗi!…’’

    Nhưng mà…

 ‘’Tội của cõi trần là tội hồng phúc’’!

    Vì giữa cõi phàm tục có Bà Tiên Maria Vô Nhiễm

    Luôn Chắp Tay Cúi Đầu Trên Đỉnh Núi Cúi

    Đức Mẹ Mang Cõi Thiên Đến Giữa Cõi Trần…

    Để Người Phàm Sống Tốt Đạo Đẹp Đời!

                                      Petrus Dương kim Quới

                                      Ôm chân Đức Mẹ Núi Cúi

                (Mùng 4 Tết Giáp Thìn  2024)

Dưới đây là một vài đoạn trích, thể loại Haiku và Lục bát, cả Đạo và Đời, hay Cõi Thiên và Cõi Trần.

115

                                    ĐẠO

                                                Cúi đầu quì gối khoanh tay

                                      Bóng áo thâm trong mây

                                      Hoa cười gió thổi bay bay

                                      Ma sơ quì gối khoanh tay,

                                  Chung quanh Đức Mẹ trên mây giữa trời.

                                      Áo dòng tung gió chơi vơi,

                                  Để cho hoa cỏ thắm tươi nụ cười…

116

ĐỜI

                                                Không mặc áo dòng, mặc áo thường

                                      Mẹ cúi nhìn thấy thương

                                      Đàn chim sáo bay ngang thánh đường        

.

                                      Hành hương Núi Cúi đầu xuân,

                                  Quí ngài vui vẻ lâng lâng áo đời. 

                                      Đức Mẹ tay chắp mỉm cười,

                                  Nhìn đàn chim sáo tuyệt vời bộ lông…

119

                                    ĐẠO

                                      Đàn bồ câu trắng bay về

                                      Trên đầu đoàn quân xanh Legio Mariae

                                      Cất cao bài MAGNIFICAT say mê

                                                .

                                      Đàn bồ câu trắng bay quanh

                                  Tượng đài Đức Mẹ hiền lành nên thơ,

                                      Quân binh cứ ngỡ Tabo,   

                                  Cất cao bài hát tung hô Thánh Thần…

120

                                    ĐỜI

                                      Bầy két xanh bờ Trị An

                                      Đoàn thanh niên sao vàng

                                      Về Núi Cúi tham quan

.

                                      Xanh xanh bầy két lưng trời,

                                  Bay về Núi Cúi cho đời bình yên,

                                      Tham quan hòa nhịp thanh niên,

                                  Sông hồ rừng núi hồn thiêng sao vàng!…

139

                                                ĐẠO

                                                            Đường quanh co        

Lên Núi Cúi trăng mờ

Mẹ chắp tay đứng chờ

                             .                 

Đường lên Núi Cúi quanh co,

                                          Chắp tay Mẹ đứng, Mẹ chờ đợi em,

                                                Trần gian sớm tối êm đềm,

                                           Cúi đầu Mẹ nhớ những đêm trăng mờ

140

                                                ĐỜI

                                                            Núi Cúi đêm thanh

                                                            Trăng tròn lên nhanh

                                                            Đức Mẹ trắng tinh

.

                                                Đêm thanh Núi Cúi hữu tình,

                                            Trăng tròn dịu mát lung linh bầu trời,

                                                Đức Mẹ tay chắp sáng ngời,

                                            Làm sao lên ảnh tuyệt vời nhân gian!

LỜI KẾT

                             Trên Đỉnh Núi Cúi

    Đạo giữa Đời,

                            Cõi thiên giữa cõi trần,

    Điều thánh thiêng giữa điều phàm tục…

    Tiếng hát thiên thần giữa giọng ca trần thế!…

    Tiếng kèn Micae giữa tiếng‘’khóc lóc nghiến răng’’!…

.

    Trung Tâm Hành Hương giữa trung tâm du lịch… tâm linh,

    Đức Mẹ trắng tinh giữa ánh đèn ngũ sắc huyền ảo,

    Đức Mẹ chắp tay cúi đầu giữa đám người cười nói lên hình,

    Tượng đài linh thiêng giữa báo đài săn lùng ‘’du-túp’’,

    Ảnh tượng nhà thờ giữa trăm ngàn bonsai hoa kiểng,

    .

    Cõi Phúc giữa cõi trần…    

 ‘’Tội trần tục, tội hồng phúc’’!

    Giữa cõi phàm, có Bà Tiên Maria VVô Nhiễm

    Luôn Chấp Tay Cúi Đầu Trên Đỉnh Núi Cúi

    Đức Mẹ Mang Cõi Thiên Đến Giữa Cõi Trần…

    Để Người Phàm Sống Tốt Đời Đẹp Đạo!

                                                      Petrus Dương kim Quới

                                               Dưới chân Đức Mẹ Núi Cúi

                         (Mùng 4 Tết Giáp Thìn  2024)

Nhà thơ Pêtrus Dương Kim Quới đã sử dụng hai thể thơ đặc thù của hai dân tộc Việt Nam và Nhật Bản để nói lên tâm tình của anh với Đức Mẹ Núi Cúi. Đó là thể thơ Haiku của Nhật Bản và Lục bát của Việt Nam. Thể Haiku, như những đoạn thơ được dẫn trên những trang trên đây, Dương Kim Quới đã chỉ dùng có ba dòng chữ mà lại rất ngắn, dòng thứ ba chỉ có ba hay hai chữ, nhưng hàm súc, đưa người đọc đi xa hơn ngôn từ, ở đây, câu nói quen thuộc trong thi ca “ý tại ngôn ngoại” được đầy đủ nhất.

Thí dụ, tập Trèo lên Núi Cúi, xin trích 3 trong số 100 câu thể Haiku:

Mẹ chắp tay cúi đầu

                                      Con quì gối ngước mắt

                                      Ngây ngất

.

Núi Cúi tạnh mưa

                                      Mấy giọt nước long lanh bàn chân MẸ

                                      Trần  thế

.

Bụi trên Núi Cúi 

                                      Mờ ảo nhân gian            

                                      Lầm than

.

Còn những câu Lục bát, tác giả đã uyển chuyển, khôn khéo và cũng nhẹ nhàng như nhành

liễu hay như tiếng tơ rung của lời ca dao trong đêm thanh vắng.

Tại sao tác giả lại sử dụng hai loại thơ này để mô tả hình ảnh Đức Maria trên đỉnh Núi Cúi, vẽ lên một bức tranh kỳ diệu giữa chốn thiên nhiên tuyệt mỹ, có dòng sông Trị An và những sinh hoạt của con người, của muôn loài nơi chốn này? Đặc biệt là những cuộc hành hương đến bên Mẹ Núi Cúi, của các dòng tu, chủng sinh, các đoàn thể Công giáo, của những người ngồi xe lăn, của người khuyết tật, người bệnh và người khó nghèo, của vị linh mục già ngồi tòa giải tội. Tất cả, con người và cả chim muông tụ về bên Mẹ, vì đó là thánh thiện, nhiệm mầu. Và sự nhận thức của tác giả, đã đạt tới mức thâm hậu về những tinh túy của Haiku và Lục bát trong việc ông nhập hồn vào cảnh trí Núi Cúi và ông đã dùng hai thể loại này để sáng tác, ca tụng, chiêm bái Mẹ Maria trên Núi Cúi.

Ba Truyện: Chín Ngưu – Hai Cào – Tư Kiểng

Tác giả Pêtrus Dương Kim Quới

Truyện dài CHÍN NGƯU của tác giả Pêtrus Dương Kim Quới đã đoạt Giải Nhất đồng hạng với Truyện dài Hành Trình Trở Về Của Một Chú Mèo, của tác giả Giuse Phạm Hồng Đức, trong cuộc thi Sáng Tác Nghệ Thuật Văn Hóa, do Ban Văn Hóa Giáo Phận Xuân Lộc tổ chức, lần Thứ 12-năm 2024. Lễ trao giải diễn ra tại hội trường Tòa Giám mục Xuân Lộc, sáng Chúa nhật ngày 10-11-2024. Đức TGM Phó TGP Huế Giuse Đặng Đức Ngân, Trưởng Ban Văn Hóa HĐGMVN về chủ sự. Đây cũng là dịp kỷ niệm 20 năm, Đức cha Đa Minh Nguyễn Chu Trinh chịu chức Giám mục Chính tòa Giáo phận Xuân Lộc, ngài ở cương vị này từ năm 2004-2016. Và đây còn là dịp Ngài đề xướng lập Giải thưởng VHNT Văn Hóa Đất Mới tại Gp Xuân Lộc lần thứ 12 năm 2024.

Trong Lời Mở, tác giả viết: “Theo lời kể của thân phụ tôi, Chín Ngưu và Hai Cào là những nhân vật có thật…Hai Cào là đúng chú Hai Cào chuyên nghề cào cỏ cho ông nội của tôi, dược ông nội nuôi trong nhà như con cháu…Hai Cào, Chín Ngưu và các nhân vật cũng thật 90%, chỉ hư cấu 5% cho “phải đạo” khi viết truyện…Chín Ngưu võ nghệ

cao cường, đặc biệt có ngón nghề “Phác Thiếp” vang danh một thời, một đêm có thể phác xong một mẫu cỏ lác!… Chín Ngưu nhà nghèo, hai vợ chồng chỉ có một bộ đồ là có thật…

Đả Hổ là thật…có ông ngoại và cậu Tư của tôi tận mắt chứng kiến Chín Ngưu hạ con cọp trong đám lau sậy phía sau nhà tối hôm đó…

Tôi chỉ hư cấu chuyện dạy giáo lý của Chín Ngưu thôi “cho phải đạo”, vì đây là truyện võ sư dạy giáo lý!…

Cha Núi cũng là thật, đúng tên luôn. Tên cha là Nguyễn Kim Núi

Chuyện Cha với thiếu nhi vẽ bức phông để làm Tuồng Thương Khó cũng là thật…

Bác Ba Phi cũng là thật…được lồng vô cho nó “miền Tây sông nước” và thêm tiếng cười cho đúng kiểu sư phạm thôi!…

Các nhân vật khác cũng chính là bà con lối xóm ruột thịt của nhà tôi…

Đây là chuyện kể của thân phụ tôi…trong chòi…trong nhiều đêm làm rẫy sau 1975…ở Ngã Ba Ông Đồn, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai…

Tôi nghĩ, tôi có một di sản thân phụ để lại rất vô giá về các mẩu chuyện miền Tây sông nước thời Pháp thuộc…

Độc giả thân mến,

Đọc truyện Chín Ngưu…mà tưởng như đang đọc Hồ Biểu Chánh xa xưa với giọng văn rất “Nam bộ”, đồng thời lại có hình bóng của Cha Piô Phúc Hậu miệt Năm Căn hôm nay, thì tôi thấy đã lắm rồi, vì đúng ý!… Cha Núi ngọt ngào, bình dị, tình Cha sở và con chiên thân tình, gần gũi… Tin Mừng là đây!…

Tôi cũng muốn khơi dậy ngọn lửa Sư Phạm Giáo Lý cho thời buổi @ hôm nay… Tôi chỉ viết bằng hai ngón tay bên phải thôi, vì bị tai biến… nhưng không bỏ cuộc…

Giáo xứ CT, 22/9/2023

Tác giả

Chúng tôi đã trích hầu hết Lời Mở của tác giả Dương Kim Quới về truyện Chín Ngưu của mình, chỉ còn 6 dòng chữ nữa là hết lời mở. Trong những lời mở trên đây, tác giả của truyện Chín Ngưu đã nói đến nguồn gốc hay xuất xứ của truyện, nói đến sự kiện, nhân vật chính và người tận mắt chứng kiến khi sự việc xảy ra, từ việc thân phụ của tác giả mướn Chín Ngươi phát cỏ ở ruộng nhà mình, đến việc Chín Ngươi giết hổ v.v…, tất cả đều là thật. Việc Linh mục Núi, Trần Kim Núi cũng là thật tại họ đạo Trà Lông và đầy đủ hình ảnh, từ đám cỏ lác ở ruộng, cái chum chứa nước ngọt để ở sân nhà, hình ảnh người nông dân mang trên vai cái cào cỏ, rồi việc làm cỏ lác trên ruông (8 hình). Sang đến việc đả hổ, tác giả cũng kèm theo mấy ta6mj1 hình mô tả Chín Ngưu tung người lên cao trong trận chiến với hổ. Cuối cùng là cái da hổ được căng rộng ra, cho thấy Chín Ngưu đã thắng, đã giết được hổ.

Truyện Chín Ngưu có 6 Chương:

Chương 1: Sa cơ thất thế

Chương 2: Thay lông đổi cánh

Chương 3: Mưa thuận gió hòa

Chương 4: Lại gặp bước cheo leo

Chương 5: Lại ra phượng hoàng

Chương 6: Võ sư dạy giáo lý

Đi vào nội dung truyện Chín Ngưu, chúng tôi xin dẫn đoạn nhân vật Chín Ngưu phác cỏ lác trên miếng đất một mẫu chỉ trong một đêm, trong khi bình thường ra thì phải mất mười ngày mới xong. Trong đoạn trích dưới đây, độc giả sẽ thấy, ngoài Chín Ngưu là nhân vật chính, độc giả còn gặp nhân vật Hai Cào, cũng là một nhân vật chính trong một truyện ngắn mang tên Hai Cào, và sau đến là Cha Sở Trần Kim Núi và một vài vai phụ khác, đặc biệt là Bà Ba Cá Rô. Độc giả đã gặp những nhân vật này trong Lời Mở của tác giả Pêtrus Dương Kim Quới, nên chúng tôi chỉ dẫn một đoạn như vừa nói mà thôi.

Trước hết là việc thân phụ nhà văn Dương Kim Quới mướn Chín Ngưu làm cỏ ở ruộng nhà mình, ông phải làm thế nào để Chín Ngưu bắt tay vào làm, mặc dù việc này đã nói với Chín Ngưu rồi, song không thấy Chín Ngưu động tay. Bất ngờ ông Hai Cào nói, nếu muốn Chín Ngưu làm, thì…phải trả tiền trước và chửi cho dữ, chửi cho hay.

Dưới đây là lời kể của tác giả:

Bữa nọ, Ba tôi tới nhà kiếm Chín Ngưu nhờ phác cỏ lác ở phần ruộng mới khẩn. Nhà ổng cũng gần nhà ông ngoại, cách chừng chục công ruộng

Phía sau nhà ổng và nhà ông ngoại còn lau sậy mịt mùng

Ba tôi gọi:

-Anh Chín ơi!

Không nghe trả lời. Ba gọi lại:

-Anh Chín ơi, có ở nhà hông?

Cũng không nghe trả lời… Ba gọi thêm lần nữa, to hơn:

-Anh Chín ơi, anh Chín… Anh Chín ới ời!!!

Giờ mới nghe lên tiếng thật to:

-Ơi!… Đang tắm… Ai đó… chiều tới đi!…

Ba tôi sực nhớ… Thôi, chết, nãy giờ không thấy bà Chín ở nhà… ổng đâu dám bước ra!…Bả mặc hết đồ đi rồi!!!

Ba tôi vội nói tiếp:

-Bảy Sển đây. Nhờ anh Chín phác cho mẫu lác ở đám ruộng hai lăm, nghe…

-Nghe rồi, ngày mốt phác… về đi…

Ba tôi bỏ về thật lẹ… cũng không dám hỏi bà Chín đi đâu…

Tội nghiệp hai ông bà lắm… có một bộ đồ!…

Hai ngày sau… Ông Nội chờ Chín Ngưu tới để biểu Ba tôi dẫn đi phác cỏ lác ở ruộng 25. Chờ hoài… chờ hoài…Mặt trời lên tới ngọn tre rồi mà cũng không thấy… Ba tôi mới hỏi Chú Hai đang cào cỏ:

-Hai Cào ơi, sao tới giờ mà chưa thấy anh Chín Ngưu vậy…?

-Phác cỏ hả, anh Bảy?

-Ừ, phác đám lác ở ruộng 25, á!

-Có trả tiền trước cho ổng chưa?

-Gì, trả tiền trước là sao?

-Là… trả tiền trước, chớ sao! Trả trước, ổng mới làm, -anh Bảy ơi! Đó là “Luật 9-Ngưu” mà!

Thế là hư sự rồi!… Giờ đi trả tiền… chậm mất một ngày !… Chịu vậy!

Hôm sau, cả nhà chờ Chín Ngưu tiếp… chờ tiếp… chờ hoài… chờ hoài… Mặt trời qua ngọn tre… Ba tôi lại hỏi Chú Hai đang cào cỏ:

-Anh Hai ơi, hôm qua trả tiền trước cho Chín Ngưu rồi… hẹn bữa nay… mà vẫn hổng tới… là sao, anh Hai?

Chú Hai cười quá trời:

-Anh Bảy hổng biết “cái tật lớn hơn cái tội”, hả!… Ổng có cái tật là “nghe chửi mới làm”!

-Trời, gì kỳ vậy!…

Chú Hai giải thích tiếp về cái tật của Chín Ngưu:

-Chửi một lần, chưa chắc gì làm đâu, có khi phải hai ba lần, còn phải chửi cho ngọt, chửi cho hay nữa!… Nhờ chị Ba Cá Rô đi chửi giùm cho. Bả chửi nghe đã lắm!!!

-Có chửi tục hông?

-Không có, Bả chửi “tanh” thôi, kiểu chửi “thức mà tanh” (thanh mà tức)! Gọn gàng, dễ hiểu, dễ cảm, dễ “tói ức” (tức ói)!

Ba tôi ngạc nhiên… Chú Hai biết nhiều chuyện ngộ quá!… Đành phải nhờ chị Ba Cá Rô thôi…

Đến chiều, chờ ổng đi tắm ngoài sông về cho chắc ăn. Chiều nào ổng cũng lội qua bên kia sông tắm, còn mang theo cái lu mái đầm để lấy nước sạch về xài. Cái lu mái đầm đựng gần hai trăm lít, thường đựng nước mưa để uống. Nhà giàu thì có tới mấy chục cái để vòng vòng quanh nhà, nắp sành đậy kín đàng hoàng….

Chín Ngưu kéo cái lu đầy nước từ bên kia sông qua bên này, kéo lên bờ, rồi vác về nhà, khỏe re, bình thường mà… đã nói ổng mạnh như trâu mà!

Ba tôi, Hai Cào, chị Ba Cá Rô chờ sẵn ngoài hàng ba nhà ổng, vừa thấy Chín Ngưu vác cái lu nước bước vào, chị Ba đã mắng xối xả:

-Ê, Chín Ngưu… mạnh như trâu mà cũng lì như trâu, cứng đầu như trâu, đúng là Ngưu Trâu Mã Ngựa

Khuyển chó dương dê,

Kê gà mắc dịch

Ngỗng vịt phao câu

Cái đít cái đầu

Lộn lên lộn xuống

Như cọng rau muống

Lộn xuống lộn lên

Chín Ngưu đang tá hỏa, đầu nổi đom đóm, chưa biết chuyện gì…., mà con mẹ nào chửi vần, chửi đối, chửi khoái lổ tai dữ…, thì chị Ba đã quýnh thêm mấy chưởng võ mồm tới tấp nữa, nghe như rao lô tô, nhịp điệu suông sẻ, rào rào như mưa đá:

Chín Ngưu mắc dịch

nhận tiền trước,

phác cỏ sau…

sau cái mồ,

sau cái mả,

sau mông bả,

sau lưng bà,

sau đống chà…

sau đống rác,

sau tiền bạc,

sau cái cầu,

sau cái ao.

sau mắc dịch!…

đen thui đen thít

đen thịt đen da

đánh ba ngày

chẳng khóc chẳng la…

đụng một cái…

la vang cả làng!…

 Chín Ngưu nghe tới đó, sửng sốt bỏ cái lu xuống, ngắt ngang:

-Thôi, nghe đã rồi, bỏ “sau.. sau…” đi, khỏi ca tiếp, ngày mai phác… về hết đi… Ngày mốt có đất làm, muốn làm gì thì làm… Về đi!…

Hai Cào cười quá trời quá đất, cười quên vợ con, cười say hơn rượu… cười như hát bội!…

Hai Cào không ngờ chị Ba đúng là chửi “thức mà tanh”, có vần điệu “tói ức”, hay thiệt!… Bái phục, bái phục!…

Sáng hôm sau, thấy Chín Ngưu tới, ai cũng mừng. Nghe chửi hay mới chịu làm! Hai Cào mau mắn réo chị Ba Cá Rô:

-Chị Ba ơi, anh Chín tới kiếm chị mắng vốn gì nè…

Chín Ngưu sợ quá, lật đật la to:

-Thôi khỏi!… Bảy Sển ơi, đi coi đất, đi…

Mọi người cười vui vẻ tiễn Chín Ngưu vô ruộng 25…

Chín Ngưu cầm theo cái phảng và cái cù nèo. Cái phảng đựng trong cái vỏ làm bằng hai miếng tre, cột bằng dây mây, trông như thanh gươm báu.

Ba tôi cầm theo một gói cơm lớn bành ki, một gói cá khô nướng, trứng vịt luộc, muối tiêu, dưa leo, ấm nước 4 lít…

     Chỉ cho Chín Ngưu coi chỗ mẫu đất cỏ lác xong. Ba tôi để lại đồ ăn rồi về nhà….

Chiều lại, không thấy Chín Ngưu về… Chắc là còn làm ráng cho hết ngày. Ông Nội nói “phác giỏi cũng phải mười hôm mới xong một mẫu”… Hồi đó tính mẫu mười công, công mười hai tằm. (nghĩa là một công bằng một ngàn bốn trăm mét vuông, một mẫu bằng mười bốn ngàn mét vuông. So với bây giờ, một công bằng một sào tư, một mẫu bằng một hecta tư)…

Sáng hôm sau, Ba tôi và ông Nội ngồi uống trà, rít điếu thuốc rê, vừa nói chuyện ruộng nương, vừa có ý chờ Chín Ngưu đi phác cỏ tiếp.

Chờ hoài không thấy. Ông Nội sốt ruột hỏi Ba tôi:

-Sao không thấy Chín Ngưu đi phác tiếp?…

Ba tôi cũng tưng tức, không biết Chín Ngưu giở chiêu gì nữa đây… Chắc là Hai Cào biết… :

-Anh Hai Cào ơi, vô đây hỏi chút!

Hai Cào đang cào cỏ gần đó, chạy vô…

-Anh Hai, sao không thấy Chín Ngưu đi làm nữa vậy?

Hai Cào cũng ngạc nhiên… suy nghĩ… suy nghĩ… nhớ lại… nhớ lại… rồi sực nhớ Chín Ngưu hôm đó có nói “Ngày mai phác… về hết đi… Ngày mốt có đất làm, muốn làm gì thì làm…”

Hai Cào tự thắc mắc: “Ai cũng biết phác một mẫu cỏ lác phải mười ngày mới xong, phải mất mười ngày công… mà sao Chín Ngưu nói mai phác, mốt có đất làm… vậy là ổng phát có một ngày xong!”

Hai Cào liền nhắc lại câu nói của Chín Ngưu hôm bữa bị chị Ba chửi cho mọi người suy xét. Ba tôi nghĩ chắc ổng tức quá nói lộn… nói đại…

Ông Nội thì đăm chiêu nhìn hàng cau trước nhà nói nhỏ nhỏ:

-Bảy Sển, coi bộ Chín Ngưu “phác thiếp” đó!

Chưa ai hiểu Ông Nội nói gì, nghe xa lạ quá, nên ai cũng bâng quơ lơ đãng… Chặp hồi, Hai Cào lải nhải một mình:

-Có nghe đồn ở đâu đó, có người “phác thiếp” nhanh lắm, một ngày phác mấy công luôn… chớ… một đêm mà phát cả mẫu thì…

Ba tôi giờ mới hiểu chuyện, xen vào:

-Có thể lắm!… Hèn chi con thấy Chín Ngưu có cái phảng dữ dằn lắm…

Hai Cào cũng nhớ ra:

-Đúng rồi! Cái phảng của Chín Ngưu như thanh bảo kiếm. Ổng làm cái vỏ bao kỹ lắm, cái cù nèo cũng trông rất sắc sảo.

Ông Nội nghe mấy ý kiến có lý, mới kiểm chứng:

-Thôi, Bảy Sển với Hai Cào chạy vô ruộng coi cho chắc…

Sau đó, tác giả Dương Kim Quới viết về việc mấy người này, thêm chị Ba cá rô, vào ruộng kiểm tra xem Chín Ngưu đã phác cỏ lác chưa. Và ba người này đã tới nơi. Ông Bảy Sển, chủ miếng ruộng 25 cỏ lác um tùm…

Hai Cào nhìn trân trân… Chị Ba nhìn trân trân… Ba tôi chỉ, rồi cũng nhìn trân trân…  lác đứng sững còn nguyên, chỉ rạp xuống lem nhem vài lối…

Vậy là chưa phác gì cả…Trời!… Tiêu rồi!… Ngủ thiếp thì có! Đúng rồi, “phác thiếp” là ngủ thiếp!… Mọi người ngao ngán bỏ về. Không ai nói tiếng nào nữa!…

Đi ngang cổng nhà thờ, lòng buồn thiu… Chợt thấy bóng Chín Ngưu. Chị Ba la to:

-Ê, Chín Ngưu!

 Ba tôi vội bụm miệng bả, sợ bả chửi Chín Ngưu tiếp!… Đây là nhà thờ. Chín Ngưu đang nói chuyện với Cha Sở… Gì vậy ta!?… Cha Sở cũng vừa nhìn thấy Ba tôi, Cha liền gọi:

-Bảy Sển, vô Cha hỏi chuyện chút…

Ba tôi “Dạ”, rồi đi thẳng vô phía nhà Cha. Ở đây người ta kêu Cha Sờ là Ông Cố, Ông Cố Núi. Cha Sở tên là Núi. Ba tôi đứng trước mặt, chờ Ông Cố hỏi chuyện. Hai Cào và chị Ba cũng vô theo.

Nhà Ông Cố ở cũng đơn giản, ba gian hai chái, vừa để ở (ngủ nghỉ), vừa tiếp giáo dân, vừa giảng dạy giáo lý, vừa sinh hoạt với các hội đoàn. Nhà lợp lá xé, vách dừng lá xé, nền lót gạch tàu…

Ông Cố hỏi về chuyện phác cỏ lác năm chục công đất Nhà Chung. Đất này Ông Cố dành cho mấy gia đình tá điền nghèo thuê giá rẻ như cho không, mong giúp họ đỡ tiền mướn đất điền chủ rất nặng… Các tá điền thường cuối mùa phải đong lúa cho chủ hết, may thì còn đủ ăn qua ngày…

Ông Cố lo phác cỏ cho kịp mùa lúa năm nay, mới hỏi Ba tôi:

-Cha có ý nhờ Chín Ngưu phác cỏ lác đất Nhà Chung. Sẵn có Anh Bảy, Cha nhờ nhắn với Ông Hương Năng, Ba thằng Thiên giùm…

Ba tôi, đang tức Chín Ngưu, nói với Ông Cố:

-Dạ,… nhà con cũng nhờ Chín Ngưu phác đám đất gần đất Nhà Chung… Ổng hẹn bữa hôm qua phác…, mà có phác gì đâu! Tụi con vừa đi coi đất về đây!…

Chín Ngưu liền la lên:

-Phác rồi mà! Mới phác suốt đêm hôm!… Mới về tới đây, Ông Cố cũng mới kêu vô, chưa kịp nói gì!…

-Anh nói sao, chớ cỏ lác còn nguyên, tụi tôi nản quá, bỏ về để tính sổ với anh đây!

-Các anh thấy cỏ lác còn đứng phơi sương chớ gì!?

-Y vậy!… Chán anh ghê!… Chừng nào mới chịu làm đây!?

 Ông Cố thấy sao căng dữ, mới thử dò xét xem sao:

-Sao Chín Ngưu không giữ lời vậy?

-Dạ, con làm rồi mà!… Mấy người này thiệt tình!…Phải hỏi đầu đuôi trước sau chớ!

 Chị Ba nhịn nãy giờ, liền cất cao giọng “Cá Rô”:

-Ê, Chín Ngưu, Lừa Cha lừa Thầy

Lừa Thầy lừa bạn

Coi chừng đại hạn

Chòm xóm láng giềng

Kêu là Chín điên

Hô phác cỏ lác

Mà chỉ khoác lác

Đằng sau đống rác,

Đằng sau tiền bạc,

Đằng sau cầu ao…

  Chín Ngưu nghe ca đến bài cũ hôm kia, nên vội ngắt ngang:

-Thôi đi!… Mấy người trở vô trỏng coi lại đi! Nếu chưa phác, tui sẽ phác không công cho Ông Cố!

Ông Cố, tuy chưa biết chuyện “phác thiếp”, nhưng nghe Chín Ngưu cứng rắn quyết liệt, nên hòa giải:

-Được rồi… được rồi… Giờ Cha góp ý thế này:

Chút nữa mọi người vô xem đất lại, Anh Bảy qua hướng đông, Anh Hai qua hướng tây, Chị Ba qua hướng bắc, mỗi người thử nhổ cỏ lác lên coi là biết liền…

Ý hay…. Mọi người bay đi coi thử ngay xem sao…

Hai Cào nhổ hướng tây: từng mảng lác nhẹ nhàng tróc ra, bên dưới như lạn da cá lóc… kinh ngạc… kinh ngạc!…

Chị Ba ở hướng bắc, khom lưng, nắm chặt bụi cỏ lác, gồng người lấy đà, nín thở nhổ lên thật mạnh… Chị Ba bật ngửa, chỏng cẳng lên trời: đâu có cọng rễ nào còn dính xuống đất đâu mà lấy gân cho cố !!!

Ba tôi không nắm nhổ, mà lấy chân đạp ngang, cỏ lác bật trơ gốc rể ra!… Lúc đó mới nghe Hai Cào ở đằng kia la lên:

-Chín Ngưu ơi, là Chín Ngưu!… Ông phác có một đêm mà xong một mẫu sao!!! Đường phác còn bén hơn xủi cỏ bằng dao nữa!…

Chị Ba Cá Rô cũng “nhảy lên bờ” kéo gân cổ:

-Chín Ngưu! Chín Ngưu! Ông “phác thiếp” hả!…

Ba người tụ lại, ngồi xuống bờ đê dưới gốc cây bần. Hai Cào liền nói với Ba tôi:

-Anh Bảy, điệu này tôi cào té khói luôn cho lác nằm xuống, chớ để vậy nó sống lại, á!… Hay là anh cho trâu cày luôn, ngập nước cỏ lác chết thành phân luôn…

Ba tôi nói để về kể cho Ông Nội biết cái đã…

Ông Nội chăm chú nghe, ngạc nhiên, hớp miếng nước trà, quay qua Chị Ba hỏi:

-Hôm bữa Bảy Sển nói Chị Ba có nghe người nào đó nói “phác thiếp” chỗ đất cỏ lác gì đó… Chị có nhớ là nghe ai nói hông?

Chị Ba cố nhớ… cố nhớ… lâu quá rồi… ở… đám giỗ… ở đám giỗ… đám giỗ Ông Ngoại…

-Dạ, nhớ rồi, ở đám giỗ Ông Ngoại con, thằng Kiểng, con ông bán khoai lang. Bốn cha con sống trên ghe. Vợ mất sớm. Ba anh em, thằng Thời hai mươi, thằng Kiểng mười tám và đứa em gái út mười sáu tuổi.

Thằng Kiểng giỏi võ lắm. Nó nói mấy người “phác thiếp” võ nghệ cao cường lắm, thường chuyên dùng đại đao. Cây đại đao nặng trên năm mươi ký…

Ông Nội tôi gật đầu :

-Tao thấy nó chiều chiều vác cái lu nước hơn trăm lít ở bờ sông vô nhà…

 Ba tôi nhìn Hai Cào và Chị Ba rồi chen vô:

-Mới chiều hôm kia, tụi con thấy ổng đang vác cái lu đầy nước, lật đật bỏ xuống khi nghe Chị Ba chửi ổng…

Hai Cào thấm thía: Chín Ngưu vác cái lu hơn tạ thì cầm cây đại đao hơn năm mươi ký là đúng như thằng Kiểng nói rồi: thứ nhất giỏi võ, thứ nhì chuyên dùng đại đao, kết luận: biết “phác thiếp”…, vì cây phảng chỉ nặng hai ba ký là cùng, Ổng tha hồ phác…

   Ông Nội khen Hai Cào:

-Chà, bữa nay Hai Cào nói nghe hay dữ!… Có lý, có lý!… Nếu quả thật Chín Ngưu phác một đêm xong một mẫu như vậy, thì nó đúng là cao thủ… chớ không vừa!…

À!… Mà nè… Bảy Sển, thưởng cho nó gì đi,… Hay là… nói với Má bay soạn cho hai vợ chồng nó vài bộ đồ bà ba đen mặc… May thêm cho mỗi đứa một bộ mới…

Mọi người yên tâm về vụ phác cỏ lác miếng ruộng 25…, lật đật kéo nhau lên Ông Cố Núi…

Truyện Hai Cào

Tác giả Pêtrus Dương Kim Quới

Theo tác giả, truyện Hai Cào làTruyện tâm lý võ nghệ có thật ở các họ đạo sông nước miền tây thời Pháp thuộc…”. Một vài nhân vật trong truyện Chín Ngưu, độc giả cũng sẽ gặp lại trong truyện Hai Cào, như Cha Núi, và những người thân trong gia đình của tác giả.  Trong truyện Chín Ngưu, nhân vật Hai Cào chỉ là phụ, còn ở truyện mang tên ông thì ông trở thành nhân vật chính với võ nghệ cao cường, bộc lộ trong cuộc đấu võ trên sân khấu với một võ sĩ người Miên sang thách đấu.

Dưới đây là lời kể của tác giả Dương Kim Quới.

Chú Hai Cào lớn hơn Ba tôi vài tuổi, không vợ con, không nhà cửa, quê ở tuốt trên núi Ba Thê, miệt Óc Eo, vào đây làm thuê làm mướn… Ông nội tôi thấy thương, nuôi Chú trong nhà mấy năm nay… Chú Hai không biết cày cấy, không biết gặt đập… không có nghề gì hết. Chú chỉ làm có mỗi một việc cho Ông Nội là…cào cỏ! Trong nhà, ai cũng kêu chú là Hai Cào. Mấy thanh niên kêu chú là “M. Hai Cào”(mơ-xừ/mông-xừ Hai Cào), cho nó Tây một chút. Chẳng ai biết tên thật của Chú…

Chú Hai Cào hiền lành chất phát, ít nói, làm việc gọn gàng sạch sẽ. Chú nhỏ con, cân nặng chưa được năm chục ký. Sáng nào Chú cũng đi lễ nhà thờ. Tan lễ, Chú ghé núi Đức Mẹ Lộ Đức, lần hột thật yên lặng, thật lâu. Xâu chuỗi của Chú bóng lưỡng đen mun thật đẹp…

Đêm nào Chú cũng ngồi chầu rìa ở các sân tập võ, ngồi kiểu số bốn, hai tay ôm hai đầu gối, ngóng coi người ta tập các thế võ, vô tư, bâng quơ với gió đồng ruộng, lơ đãng với rặng tre xì xào kẽo kẹt xa xa. Chú còn không thèm múa theo một động tác võ nào, không thèm nói chuyện với ai… Rồi khuya khuya, Chú lặng lẽ về nhà ngủ… trong thanh bình, yên giấc đến sáng … 

Thế rồi, ngày nọ nghe thằng mõ trên huyện loa loa “Có võ sư người Miên về thủ đài, thách đấu”! Võ sư Miên này cao to lắm, nặng gần tạ. Ông ta thách đấu với mọi người, bất kể ai, bất kể tuổi tác, cao thấp, mập ốm…, bất kể môn phái nào. 

Hồi đó, có hai luật khi đấu trên võ đài thôi: chảy máu, thua; té, thua; chết, bỏ! Khi thượng đài, ai cũng ở trần, mặc quần đùi, chân không, tay không (không đeo găng, không cầm vũ khí)… Người ta lập võ đài ở sân Nhà Việc của ông huyện. Bên dưới võ đài, có để sẵn hai cái hòm! Thời pháp thuộc, người Pháp chủ trương “vui chơi để quên nước” mà!… Ai thi đấu phải có người bảo lãnh trước mặt ông huyện, và ký giấy cam kết.

Chú Hai Cào thích quá, rủ Ba tôi và Dượng Năm, đêm nào cũng đi coi. Dượng Năm là người có học, biết tiếng Tây. Ba tôi cũng biết chút đỉnh, làm cai cho ông Huyện Sỹ, ở vùng Năm Căn, Cạnh Đền, Chắc Băng, miệt nhà thờ Ông Huyện Sỹ… 

Thời đó, ai cũng thích võ nghệ… Thanh niên mà không tập võ, không xem đấu võ thì dở ẹt và quê lắm! Ba tôi và mấy ổng mới có hai mấy tuổi hà! Ba tôi học Thiếu Lâm Chánh Tông Bắc Phái với ông Thầy người Tàu, gồm bốn huynh đệ, mà ba tôi là đại sư huynh, là truyền nhân. Ba tôi khổ luyện được ngón chân cái (bẻ gãy ba lần rồi đăng thuốc võ) và thiết bán chỉ (ngón trỏ co lại như cùi chõ, cứng như sắt). Hai ngón này công phá tấm ván một phân bể nát… Ba tôi có biệt danh là “bốn trong một” (đánh một đòn bốn cú).

Chú Hai Cào thì ốm yếu mà mê coi võ dữ lắm…

Võ sư người Miên cũng trạc tuổi vậy, nhưng trông dềnh dàng đen ngòm, tóc tai bồm xồm thấy ghê như ông kẹ, không biết thuộc môn phái nào, nghe đồn là có bùa “dô cà thay”, chặt không đứt, bứt không rời, bắn không lủng, trúng không đau!…

Để coi có ai dám đấu với chả không!..

Hôm trước ngày mở màn, khi chuông nhà thờ rung kinh chiều, người ta đã đổ về sân Nhà Việc của ông huyện đông đen, coi võ đài, coi mặt “Ông Kẹ” võ sư Miên ra sao, chớ chưa phải là ngày mở màn. Ai cũng nôn kéo đến xem trước!

Ông Cố Núi là Cha sở họ Trà Lồng, rất thích văn nghệ và võ nghệ. Thấy Chú Hai Cào đi ngang, Cha kêu Chú lại hỏi chuyện và nói gì đó… Chú Hai gãi đầu gãi tai, cười quá trời :

-Dạ, con mà thượng đài thì bỏ Ông Cố lại, ai nuôi!

Cha Núi cũng cười:

-Khỏi lo!… Chú mày cứ thử coi có “cào” được chả không!…

Hình như Cha Núi biết Chú Hai có nghề mà dấu hay sao á!… Nhưng Chú Hai cứ cười, lật đật về nhà rủ ba tôi, chạy nhanh tới sân Nhà Việc… Dọc đường, còn  hú thêm Dượng Năm:

-Anh Năm ơi, đi!

Dượng Năm hỏi lại:

-Ai vậy!… Đi đâu?

-Hai Cào!… Coi đấu võ!

Dượng Năm náo nức:

-Hai Cào hả…, đi liền! Chờ lấy mấy cái bánh ú ăn chơi!

-Ừ! Nhanh lên, có anh Bảy nữa!

Dượng Năm xách một chùm bánh ú chạy ra…

Ba người rảo bước nhấp nhô trên bờ ruộng. Ếch nhái giật mình, nhảy chủm chủm xuống nước. Đòng đòng thơm quá. Gió thổi mát dưới chân. Trăng tròn chiếu vằng vặc trên hàng cau thăm thẳm

Chưa tới nơi mà đã thấy người ta treo mấy cái đèn măng-sông bốn góc võ đài sáng trưng. Ông huyện, mặc bộ đồ bà ba trắng láng bóng, hai tay để chéo sau lưng, thảnh thơi đi qua đi lại ngoài hàng ba Nhà Việc, ngó tới ngó lui…

Thiên hạ nhốn nháo quanh quanh, dáo dác, cười cười nói nói om sòm, cố xem ông võ sư người Miên ở đâu… Xôn xao nhộn nhịp dữ! Ai cũng chen nhau đứng quanh sát võ đài…

Chiều hôm sau, chưa chi Chú Hai Cào đã đi ngang nhà thờ khi chuông vừa rung kinh chiều. Lại gặp Ông Cố Núi… Biết Chú Hai lật đât đi xem võ, Ông Cố Núi lại ngoắc tới nói gì đó… Và Chú Hai lại gãi đầu gãi tai, lại cười thật đơn sơ:

-Dạ, con chết liền á!…

Cha Núi cũng cười vui vẻ:

-Chết hả , Cha làm phép xác cho!!!

Chú Hai lại cười cười, chạy ù tới nhà, kéo ba tôi đi. Dượng Năm cũng cầm sẵn xâu bánh ú, chờ ở bờ sông. Bữa nay có thêm Út Ngọng đi chung nữa. Vui ơi là vui! Út Ngọng đi trước, tung tăng như con chuồn chuồn tát nước bằng đuôi! Đèn nhà ai leo lét lốm đốm giữa đêm tối mênh mông…

Thằng Ngọng (nhìn xâu bánh ít Dượng Năm đang cầm), nó vừa chảy nước miếng là bốn người đã đến võ đài…

Trăng sáng trưng. Đèn sáng trưng. Hai con mắt thằng Ngọng cũng sáng trưng. Nó rảo mắt tìm võ sư Miên. Bà con bu quanh võ đài đông đen, làm sao biết ông nào là Miên, ông nào là Việt! Nhiều người từ xa đến, thấy cũng ngâm đen như Miên! …

Chặp sau, ba tôi chợt thấy một người leo lên võ đài, liền kéo xoay đầu thằng Ngọng:

-Ổng kìa, dữ dằn hông!

Út Ngọng mở to mắt, la lớn:

-Ời ơi! Ự dữ! Ai dám ánh! “Vai ăm ấc ộng, ân ười ước ao!”(Trời ơi! Bự dữ! Ai dám đánh! “Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao!”)

Nghe thằng Ngọng đọc thơ, Chú Hai cười thật vui:

-Trời, Út Ngọng, mày đọc thơ Từ Hải nữa hả!

-Dạ, âu iết! Ông Ố dạy á! (Dạ, đâu biết! Ông Cố dạy á!)

 Ông Cố Núi có dạy chữ chút đỉnh cho mấy thiếu nhi ở nhà thờ. Ngài hay đọc kinh thánh hoặc đọc thơ Kiều làm ví dụ… Út Ngọng cũng thuộc ít ít… Lâu lâu nó còn chế thơ Lục Vân Tiên ngọng nghịu làm hề:

-“Vân Iên ồi dựa ốc dừa,

Dừa ô dớt uống, ể ầu Vân Iên!”

(Vân Tiên ngồi dựa gốc dừa, Dừa khô rớt xuống, bể đầu Vân Tiên)

Nghe Út Ngọng tả võ sư Miên, tuy ai cũng cười, mà ớn ớn… Liền sau đó, lại thêm một người mặc đồ tây trắng nhảy lên võ đài. Út Ngọng nghĩ, đấu võ, sao mặc đồ bảnh dữ! Dám lên đấu với ông kẹ sao!

Chú Hai và Ba tôi thấy vậy mới nói nhỏ với Út Ngọng:

-Trọng tài đó, ông!

 Hèn chi ổng còn đeo bao tay trắng và chải đầu láng o… Ổng xức bri-dăng-tin bóng hơn dầu dừa má tôi chải tóc nữa!

Kẻng đánh ba hồi chín tiếng. Ông huyện đội nón tây, mặc bà ba sa-ten trắng, một tay chống gậy đứng dậy, một tay giơ nghiêng nghiêng về phía trước như mái nhà, ra lệnh bắt đầu võ đài!… Trọng tài đứng nghiêm, quơ hai tay một vòng, rồi rút về thủ ngang hông, cúi chào khán giả… Bà con vỗ tay rồi la ó rân trời…

Võ sư Miên ngông nghênh bước thình thình ra đứng giữa. Ông ta nhảy lên, để cho rớt cái thân bao tạ xuống rung rinh võ đài, đứng trung bình tấn, hai tay thục hai quả đấm thôi sơn vào không khí nghe vù vù, miệng phun phèo phèo như thổi bùa, hai con mắt liếc ngược liếc xuôi như cọp rình mồi… Bà con la ó vỗ tay vang rền đồng ruộng… Dữ thiệt! Chắc đánh coi đã lắm…  

Chú Hai chỉ mỉa mai:

-Trời! Ổng đánh lủng không khí mấy lổ luôn á, Ngọng!

Người ta tưởng Chú Hai pha trò với thằng Ngọng cho vui … trong khi võ sư Miên tiếp tục hì hục tung tam cước vào phía mấy cây dừa thị uy…. Ghê thiệt! Ai bị đá trúng chắc văng xuống đất hộc máu chết tại chỗ!…

Hai Cào lại mỉa mai:

-Trúng mới chết! Chứ chỉ trúng không khí thì…!

Chú Hai nói bỏ lửng… Bà con đang coi giò coi cẳng võ sư Miên… Bà con đang chờ coi một bài quyền để đoán ổng thuộc môn phái nào… Bà con đang chờ coi ai đó dám thượng đài hạ ông kẹ này không…, người ta nhốn nháo bàn tán xôn xao!…

Kẻng lại đánh hồi thứ hai. Bà con hướng mắt về ông Huyện, rồi quay lên võ đài, nhìn tả nhìn hữu… chẳng thấy gì lạ! Tưởng có ai lên đấu! Nhưng vẫn chỉ có trọng tài và ông kẹ đang nghênh nghênh cái mặt thách thức! Ông kẹ lại tung một đá thẳng ra trước mặt, nghe vèo một cái như voi phun nước…

Cứ hết đấm rồi đá khiêu khích, võ sư Miên không thấy ai lên đấu, ngạo mạn văng tục một câu:

-“… mẹ…, thằng nào ngon lên coi!…”

Chẳng ai tức, chẳng ai thèm để ý tiếng chửi thề… Bà con chỉ chờ coi quyền cước cho đã mắt! Chỉ có mình Hai Cào tức!!!

Nảy giờ lâu quá, bà con toàn nghe bàn tán, toàn nghe chửi thề, toàn thấy nhốn nháo đứng ngồi qua lại lộn xộn… Chán quá! Thôi về cho rồi!

Thằng Ngọng nản lòng… Ba tôi thúc cùi chõ xúi bậy Hai Cào:

-Anh Hai lên chơi đại đi!

-Dập mật chết tại chỗ á, cha! – Hai Cào lơ đãng trả lời.

Dượng Năm cũng từ từ mất hứng:

-Về, Dượng Bảy ơi…

-Ừ, về… khuya rồi… mai coi! Về Ngọng ơi…

Chú Hai Cào quay lại ném cái nhìn khinh thường vào mặt võ sư Miên, rồi níu tay thằng Ngọng dùng dằng theo Ba tôi và Dượng Năm ấm ức bỏ về ngủ… mà trong bụng cứ mong có người tỉ thí với ổng, nói thầm “Tức quá! Hỏng lẽ…mình ra tay!…”

Kết truyện

Mấy lời nói cuối cùng của nhân vật Hai Cào trên đây đã đưa đến quyết định là ông quyết lên võ đài đấu với võ sĩ người Miên, bởi ông này đã ngạo mạn và xúc phạm đến dân tộc mình. Vì thế, ngay buổi sáng hôm sau, Hai Cào đã kéo ông Bảy Sến, Năm Châu và cả thằng Ngọng đi thẳng lên ông Huyện, ký giấy xin đấu. Tác giả kể lại việc này như sau:

“Mới thấy bốn người bước vô sân, Ông Huyện đã tằng hắng lên tiếng:

-Đi đâu đó, anh Năm Châu…, bộ bảo lãnh đấu võ hả?… Mấy cái ông nông dân này, hết muốn sống rồi sao? Thấy hổm nay có ai dám hông!!!

Hai Cào tức tối từ đêm qua, nhanh nhảu thưa:

-Dạ thưa, chính tôi xin đấu đây… chớ thấy nhục quốc thể quá, Ông Huyện ơi!

Ông Huyện chưng hửng, nhìn Hai Cào trân trân, phang cho mấy câu:

-Giỡn chơi hả, Hai Cào! Bảy Sển xin đấu còn nghe được, người ta con nhà võ! Hai Cào chỉ có cào cỏ thôi thì cào ai! Ông là hậu duệ của Trư Bát Giới chắc!

Hai Cào cướp lời:

-Dạ thưa, cào ông kẹ Miên chớ ai! Tôi dư sức cào nó mà!

Ông Huyện can ngăn:

-Dư sức cho nó hạ thì có!

-Dạ thưa, Ông Huyện tin tôi đi!

-Làm sao tin được! Nó to như con voi, còn chú mày to như châu chấu!

-Dạ thưa Ông Huyện,  châu chấu Lý Thường Kiệt ngày xưa đã đá bay quân Tống voi… Dạ thưa, “cân tài chứ không cân thịt!…”

Vừa nghe câu đó, Ông Huyện đứng bật lên, quay lại Hai Cào, dõng dạc nói:

-Hay! Nói hay lắm, Hai Cào! Phải vậy chứ! … Cậu mà nói thêm được một câu danh ngôn nữa là Huyện ta cho cậu đấu liền đêm nay…

Hai Cào khoái quá, mà đang đay nghiến trong lòng bởi lời chửi bới ngạo mạn“chó chết, chó cắn…” của tên Miên khốn kiếp, nên Hai Cào sổ luôn cho ông Huyện nghe một tràng danh ngôn:

-“Tôi phải cỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém con cá kình”! Đứa nào nhục mạ dân Việt, đứa đó phải bị hạ gục dưới tay con cháu Bà Triệu!!!

Ông Huyện giật mình ngưỡng mộ, tâm đắc và hãnh diện, khảng khái nói nhơ tuyên ngôn:

-Giỏi cho con cháu Bà Triệu, giỏi cho người dân của huyện ta!…

Chú Năm Châu vô ký liền bây giờ đi…. Hay lắm, Hai Cào! Phải vậy chớ, cho nó biết tay! Có gì, Huyện ta lo…“Nam quốc sơn hà Nam đế cư!”… Thằng mõ đâu, mau loa loa trận đấu võ tối nay liền… :“Hai Cào và võ sư Khầm-Ong, người Miên!”

Ba tôi không tin nỗi, Chú Hai ở chung nhà mà! Có bao giờ thấy Chú có một dấu hiệu nghề võ gì đâu, ốm yếu quá, cào cỏ còn không đủ sức!

Dượng Năm hồi nảy miễn cưỡng ký kết…. giờ ân hận quá…  Thôi tiêu rồi, sắp xa Hai Cào vĩnh viễn rồi!…

Chiều đến, chuông nhà thờ ngân vang. Chú Hai Cào vừa ăn cơm với Ông Cố Núi đi ra… Sáng giờ, Chú Hai đi luyện công ngoài chòi vịt. Chỉ mình Cố Núi biết chuyện…

Chú Hai Cào tiếp tục thưa Ông Cố trước khi đến võ đài, rất tự tin:

-Dạ thưa Ông Cố, con biết phải làm gì, con sẽ sửa phạt ông kẹ Miên này, mức độ tùy theo cái phách lối của chả…

-Nhớ sửa dạy đàng hoàng,“chỗ lồi lõm phải san cho bằng”, coi chừng nó đánh ăn gian… phần mình, phải trung thực, vì một lạng chân thật bằng một tấn thông minh, còn phải “tha đến bảy mươi bảy lần…” Nhịn được thì nhịn, né được thì né, dĩ hòa vi quí, đừng hạ độc chiêu chết người!…

Chú Hai Cào thương Ông Cố Núi lắm. Nhờ Ông Cố Núi thông thái thường sâu sắc giảng giải mà Chú Hai theo đạo công giáo, bỏ đạo gì đó ở Thất Sơn, rèn được lòng ngay thẳng, ghét điều gian dối ngông nghênh phách lối. Hai Cào nghe lời Ông Cố Núi lắm!…

Tiếng kẻng nổi lên vang dộ… Bà con nôn nao, xôn xao, hồi hộp, ngóng lên võ đài mỏi cổ luôn…

Trên kia, võ sư Miên vẫn hống hách “u như kỹ”! Thấy ghét!

Dưới này, Hai Cào cởi đồ ra, chỉ còn mặc cái quần “sà lỏn” đen! Thằng Ngọng tới gần coi có rách lổ nào không… Dượng Năm kéo nó ra, dẹp chỗ cho Hai Cào thượng đài, nhưng còn nghi ngờ lần chót:

-Hai Cào, còn đổi ý kịp đó!

Hai Cào không trả lời nữa, nhanh nhẹn nắm chặt tay Ba tôi và Dượng Năm, xoa đầu Út Ngọng… rồi đột ngột, từ dưới đất phi thân lên võ đài, hạ xuống nhẹ nhàng, đứng trung bình tấn bái tổ, rồi lập tức chuyển sang bộ xà tấn, rút chân lên bỏ bộ kim kê, hai tay dang rộng như cánh đại bàng oai phong, hai bàn tay chụm mười ngón chỉa xuống, ngước mặt nhìn như thọc vào mắt võ sư Miên khiêu khích.

Ông kẹ Miên tức nóng máu, đỏ lên như gà nòi bị phun rượu, sàng ra một bộ chân để tung vào mặt Hai Cào….Nhưng trọng tài thò tay chặn lại… Ông kẹ mím môi sỉ vả:

-Mẹ bà nó… mày chết rồi, thằng chó Việt! Một ngón trỏ thôi, nhóc chó con Việt! Mày muốn chui vô cái hòm nào, bỏ vợ con cho tao hả! Châu chấu đòi đá voi hả, con! – Ổng vừa xỉa xói vừa chỉ vào hai cái hòm để dưới võ đài…

Hai Cào giận run, chạm mạch dân tộc dữ, mà phải ráng nhịn theo lời Ông Cố Núi dặn. Chú nhìn thẳng mặt ổng, nói thật to, đánh đòn tâm lý để nghênh chiến:

-Cân tài chứ không cân thịt!… Cân não chứ không cân mỡ! Chấp mày hiệp đầu: Tao không đánh, không đỡ, chỉ né thôi!!!

Bà con khoái chí thán phục, la lên rân trời:

-Ngon ta, nói hay quá, câu nói hay nhất lịch sử đó, Hai Cào! Câu nói hay nhất lịch sử, Hai Cào ơi, Hai Cào ơi! “Cân tài chứ không cân thịt!!!”…

Rồi họ vỗ tay rào rào như mưa đá rớt trên mái tôn, miệng không ngớt la to “Cân tài chứ không cân thịt, cân tài…!!!”

Còn võ sư Miên tức muốn hộc máu, mặt mày đỏ kè như kỳ nhông lửa, cứ rướng tới như trâu kéo cày vướng rễ cây vì bị trọng tài níu lại, chưa có hiệu lệnh…

Ba tôi và Dượng Năm mất hồn… Hai Cào là “Long Ẩn” thật sao!…

Tiếng kẻng lanh lảnh chát chúa!… Trọng tài dang hai tay đẩy hai người ra hai bên, rồi một tay gặt xuống, giật lên, cho bắt đầu hiệp một!… Bà con la thật to cho thỏa thích… Út Ngọng nhảy lên hứng chí:

-Ú Hai, dứt hạ, dứt hạ!…

-Dứt mà còn hạ nữa sao, Ngọng!- Người ta la thằng Ngọng chơi, chứ ai cũng muốn y như nó nói vậy.

Võ sư Miên đã nhào tới, hai tay quào song ngũ trảo như cọp vồ mồi… Rồi ngã người ra sau đá thẳng gót và sóng bàn chân vào bọng đái Hai Cào như cái dao phay mổ bò, quyết ra một đòn chí mạng!…

Hai Cào lập tức nhảy lui rồi cúi rạp sát đất như con cá đuối, lòn qua háng chả, không thèm đánh… (Thế võ đó mà đánh vào hạ bộ là xong!). Hai Cào hứa hiệp một không đánh mà!

Hai Cào đứng dậy sát mép đài, thủ bộ kim kê, dang tay, một chân trụ, một chân treo, phơi trống toàn bộ ngực bụng…

Nhưng võ sư Miên, già đời, không để bị lừa… Thế võ đó hở mà kín, ai dám tấn sẽ dính đòn của cái chân treo kia vào đầu, ngực, bụng hoặc bị lộn nhào xuống đất…Ông ta hạ thấp người thành hầu quyền, hai tay hai chân cào cào mặt võ đài, nhảy nhảy như khỉ, giơ cái bản mặt quá ngon…

Hai Cào lập tức búng cái chân treo vèo một phát qua đầu chả chơi, xoay luôn một vòng, chân trụ vẫn yên một chỗ, hai tay rút vào ôm ngực, cũng thấp xuống ngồi như khỉ… Ông Miên  liền nhún người nhảy thật cao, hai chân đá liên hoàn vù vù…

 Hai Cào lại mọp sát đất, soạc chân như uốn dẽo, thấp như cá đuối, lại lạng qua háng chả nhanh như sóc, và… lại không thèm đánh…

Thiên hạ vỗ tay quá trời, la ó ủng hộ Hai Cào rung rinh cỏ cây…

Hai Cào sàng hai bước chuyển tới góc võ đài, lại thủ bộ kim kê… Võ sư Miên đá hụt, rớt xuống mặt sàn, nhún thêm hai cú nhảy, xuống trung bình tấn, đấm một lần hai tay vào mặt, ngực, bụng Hai Cào, rồi trở lại bụng, ngực, mặt, xen kẽ cú hư cú thực, thần tốc liên hồi, theo bài quyền “tùa sí mứng” của thiếu lâm (bài đại tứ môn, tức đại tứ trụ).  

Hai Cào nhẹ nhàng ngửa người, thả chân treo ra sau, bỏ hai tay chống đất, đá quẹt ngang hạ bộ bắt chả phải né lùi… Hai Cào chỉ cần chơi đòn hư của bài “dì pế”(nhị bế, tức hai cửa)… để thăm dò kẽ hở!… Chả né lùi thật, nhưng đạp âm ngược lại vào đùi Hai Cào.

Bà con la lên “hồi mã thương!” Nhưng Hai Cào đã né nhanh và lại thủ bộ kim kê bên góc kia võ đài… ẩn hiện như bóng ma… 

Thiên hạ lại la lên :

-Hay, Hai Cào, cứ chơi bộ kim kê đi! Kim kê, kim kê!… Cái thằng nhanh dữ! Sóc, sóc, sóc… Hai Cào ngon a!!!

Võ sư Miên lại hùng hục sấn tới định… Nhưng Hai Cào né không cho chả ra đòn nữa, hạ chân treo vòng ra phải, lạng sang trái, đổi chân trụ, đổi chân treo, vòng ra trái, lạng sang phải, đổi chân trụ, đổi chân treo… liền liền, liền liền… Ôi chóng mặt quá!…

Thằng cha Miên ngó qua ngó lại, quơ tay phải, quơ tay trái, chuyển tấn này, chuyển  tấn kia như con lật đật…theo nhịp của Hai Cào… Nản rồi, không còn biết đánh vào đâu, chả mới un phèo phèo vào mặt Hai Cào, xuất chiêu lần cuối chăng, đánh bùa chăng?…

Nhưng Hai Cào đã ở bên kia mép võ đài, lại thủ bộ kim kê!… Thằng cha Miên tức ói, chống hai tay nhào lộn rầm rầm ba lần trên không khí, lăn xả vào Hai Cào… Nhưng tiếng kẻng vang lên hết hiệp một… Không đánh được cú nào…

Bà con xôn xao bàn tán.

Út Ngọng chạy tới chăm sóc chú Hai. Ba tôi cũng tới bên, mách nước:

-Phải triệt hạ nghe, anh Hai!…

Dượng Năm cũng ghé tai Hai Cào:

-Triệt hạ nghe, Hai Cào…  Xong, tao làm mai cho…

Nói “triệt hạ” không phải là hạ triệt để đâu, mà tiếng lóng là đánh bên dưới, vì vóc dáng chú Hai nhỏ con thấp lùn!…

Chú Hai Cào cảm động, bậm môi, gật đầu, ngồi vận công hít thở, trong khi bà con khoái quá, hãnh diện quá mà không biết làm sao, đua nhau nói tùm lum:

-M. Hai Cào, M. Hai Cào, hiệp hai dứt nó đi!… Hai Cào, tao cho mày chục gà mái dầu… Cho con gởi Chú kí cá lóc nướng trui… Anh tặng mày chiếc xe trâu… Chú biếu mày cặp trâu cui kéo cày… Tao gả con gái cho, Hai Cào, hạ nó đi…, cho mày của hồi môn… thừa kế luôn… mày nói, mày né coi được dữ à!…

Ai cũng hét to thật tình cho Hai Cào nghe!

Ông Huyện cũng đứng dậy bảo thằng hầu chạy ra nói gì đó với Hai Cào và Dượng Năm. Ba tôi nghe được liền gật đầu mấy cái… Ông Huyện ổng bảo nếu hạ nó ở hiệp hai, ổng cất nhà cho ở, mở lò cho dạy võ…, và gã con gái cho…!

Ba tôi nói với Dượng Năm:

-Đánh người chưa xuất chiêu mà không trúng là coi như thua rồi! Anh Hai Cào nắm chắc con gái ông Huyện rồi nghe, anh Năm!…

Tiếng kẻng hiệp hai!… Út Ngọng quạt thêm mấy cái, xoa bóp vai Chú Hai thêm mấy cái, cho nhấp một ngụm nước mưa…

Võ sư Miên, mặt đã biến sắc, cũng nốc một ngụm nước sông, dậm chân rầm rầm bước ra giữa, hai tay nắm chặt, thoi ra phía trước. Trọng tài chặn lại…

Hai Cào chậm rãi bước nhẹ nhàng ung dung, gặt đầu và cùi chõ sang phải mấy cái như đang ôn bài…

Bà con nhốn nháo quơ tay phất nón phất áo như sóng dậy quanh võ đài. Chưa từng có cảnh này ở vùng quê sông nước!

Hai Cào bái tổ, bái bà con tứ phía… rồi lại thủ bộ kim kê, dang hai tay lẫm liệt oai phong. Bà con reo hò vang dội vì đúng ý họ rồi!!!…

Trọng tài dang tay đẩy hai người ra, rồi gặt tay cho bắt đầu…

Võ sư Miên “hùm hổ” đánh võ mồm trước:

-Mẹ bà mày, cái thằng nhái Việt, tổ tiên mày không còn ai to lớn hơn sao. Lãnh án tử nè con, đồ Việt thúi!…

Ông ta định nhảy bổ vào, Hai Cào bình tĩnh xòe tay chặn lại, chưởng ngay cho một đòn tâm lý:

-Ê, đống thịt kia, tao nhường mày thêm ba chiêu. Chiêu thứ tư, tao sẽ hạ mày ngay dưới cái bụng bầu của mày! Liệu mà đỡ!…

Nói xong, Hai Cào tiếp tục chuyển chân trụ bỏ bộ kim kê, dang rộng tay, nghênh mặt chọc tức. Thấp quá, võ sư Miên không sao đấm móc thôi sơn vào mặt được, buộc phải xuất chiêu phi cước dũng mãnh, còn hai tay phòng thủ phần đầu phần ngực…

Ổng đá cú thứ nhất, Hai Cào choàng chân treo ra sau lưng chả, soạc chân trụ dài ra, không đánh trả! Tấn lại, thủ y bộ kim kê!

Ổng bồi tiếp cú đá thứ hai. Hai Cào lại lòn ra sau lưng chả, cú đá trớt quớt…

Ổng nổi khùng, đá vòng cầu cú thứ ba nghe cái vù… Nhưng nhấp nháy đã thấy Hai Cào ở sau lưng, không đánh, bước lui xa thêm hai bước, lại thủ bộ kim kê, nghênh mặt, dang tay chếch lên như đại bàng tung cánh, để hở ngực rộng hơn, dụ chả lần cuối… chờ đúng chiêu thứ tư!… Đá càng mạnh càng chết sớm… dùng hai lực ngược chiều!

Y như rằng, thấy Hai Cào hớ hênh quá, ổng quyết định dứt điểm với cú đá “quỷ kiến sầu” chục thành công lực!… Ổng vừa rút chân phải ra sau để đá tới, Hai Cào bỏ chân treo gài sau chân trụ của chả, cùng lúc cong chân trái ngựa ngang, lấy đà, cong chân phải ngược lại, duỗi chân trái, húc đầu và cùi chõ vào ngực và bọng đái…

Cú đánh ba trong một với uy lực thâm hậu “thần sầu quỷ khốc”, và quá nhanh như súng cành-nông thục!…

Nghe cái “bung!”… Ông Miên bật ngữa cái rầm xuống sàn… xuống sàn… bất động!…

Im phăng phắc như mặt trời đứng bóng… Bà con há miệng chết trân, nhìn chằm chằm vào “đống thịt voi”!…

Trọng tài bay tới đập tay trên sàn, đếm đến mười: không tỉnh dậy!… Trọng tài đứng lên, nắm tay “châu chấu” Hai Cào giơ lên trời: Chiến Thắng!!!

Ba bốn đệ tử của võ sư Miên lập tức nhảy tuốt lên võ đài, bế thốc ổng xuống ghe máy, chạy hỏa tốc ra Cà Mau cấp cứu… Bà con bu quanh bờ sông như tiễn đưa “ông voi vô rừng”…

Nghe đâu ổng tắt thở dọc đường!…

Người ta quay lại võ đài tìm Hai Cào ăn mừng.

Không thấy đâu cả!…

Chú Hai Cào đã lặng lẽ rời đấu trường khi hỗn loạn…

Chú Hai Cào về nhà, bỏ ít quần áo vào túi đệm, xách ra, quỳ trước mặt ông nội tôi bái ba bái…

Ông nội tôi tên Dương Đạo, trong vùng kêu “ông Chệt Chín”, là điền chủ người Tàu, võ sư thiếu lâm. Năm nào bạn bè nghề võ của ông nội cũng họp mặt đồng hương, nhâm nhi nói chuyện đời… Khi cao hứng, mỗi ông đi một bài thảo biểu diễn cho giãn gân giãn cốt. Ông thì xà quyền, ông hầu quyền, ông túy quyền, ông “dì pế” (hai cửa), ông xí mứng (tứ môn=tứ trụ), ông tùa xí mứng (đại tứ môn=đại tứ trụ)… Ông nội thì không đi quyền, mà bước tới đứng trước đầu bộ ván ngựa gõ mun dày cả tấc, xuống trung bình tấn, vận công, hai tay đấm vào đầu ván, làm bật lên rớt xuống rầm rầm ba cái, rồi bái chào, về lại chỗ… Mấy ông kia vỗ tay quá trời!… Ông nội chỉ dạy võ cho hai tá điền để giữ ruộng… Ông nội sống trung trực, chan hòa, đạo đức… Biết Hai Cào bái ba cái là bái biệt, Ông nội lấy làm lạ, chưa hiểu sao… thì Chú Hai đã ứa nước mắt quỳ xuống tạ từ, không cho ông nội nói lời nào:

-Con xin bái biệt… Cám ơn Ông Chín đã nuôi dạy con…

Nói rồi, đứng phắt dậy, quay lưng xách túi đệm chạy mất… Ông nội chưa kịp…, lật đật sai chú Tư tá điền đuổi theo, đưa cho chú Hai chút tiền lộ phí…

Chú Hai quẹo vào nhà thờ, quỳ gối trước mặt Ông Cố Núi:

-Thưa Ông Cố, con sai rồi! Tại nó lăng nhục tổ tiên mình, con nhịn không nỗi nữa… Con xin về Thất Sơn sám hối… Con xa Ông Cố, chứ không xa Chúa đâu!… Con luôn ghi nhớ “Lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn, nào được ích gì!”

Con nhớ luôn bài thơ nữa:

                                    Ai cũng trầm trồ tán dương nhau,

Quên điều truyền dạy thuở ban đầu :

          “Lời lãi thế gian dù tất cả,

Mà mất linh hồn, ích gì đâu!…”

 Hai Cào ra đi biền biệt…

Chú có nhắn Ông Cố Núi nói giùm vài lời từ giã Năm Châu, Bảy Sển và Út Ngọng, là những    “anh em ruột thịt” của Chú… Và Chú cũng nhắn với ông Huyện là chừng nào hết Tây thì Chú về mở võ đường…

Từ đó, M. Hai Cào mất tăm mất tích trên vùng núi Thất Sơn xa xôi…

Nhớ Hai Cào, nhớ câu nói “Cân tài chứ không cân thịt” còn vang vọng khắp các họ đạo miệt ruộng đồng sông nước miền tây!…

Petrus Dương Kim Quới

Truyện Tư Kiểng – Tông đồ thứ 13

Thay lời giới thiệu

Hai anh em Ba ThờiTư Kiểng, sống với em gái Út Dừa và cha là ông Mười Khoai

Đây là truyện của bốn cha con bán khoai lang trên ghe, miệt Trà Lồng Trà Cú… dọc các chợ ven sông, dọc các xứ đạo hai bên dòng Kinh Xáng Quản Lộ-Phụng Hiệp…

Bốn cha con có hai chiếc ghe tam bản, một chiếc chở khoai, một chiếc để nấu cơm và ngủ nghỉ… Hai chiếc đều có mui cong làm bằng lá dừa nước.

Ba tôi kể truyện bốn cha con bán khoai lang mỗi đêm cho chúng tôi nghe, hồi còn làm rẫy Phước Hưng ở Ngã Ba Ông Đồn, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Đêm nào Ba cũng nói là truyện “Thằng Trời  Thằng Biển”, chớ không nói là ‘’Thằng Thời Thằng Kiểng’’!… Đó là bởi vì hai anh em này võ nghệ dữ dằn lắm, mà khó hiểu, không ai biết là thứ võ gì, “bí hiểm như Trời như Biển’’ vậy!… Mà lạ hơn nữa là Ba tôi lại không bao giờ nhắc đến Má của anh em chúng!…

Sau này, tôi mới biết Bà Mười Khoai là ‘’hậu phương vững chắc’’ của mấy cha con… Bà Mười ở nhà chuyên lo thu mua khoai các nơi chở tới… mà đặc biệt chỉ mua khoai lang bí, mà phải là khoai mật mới chịu!… Đó là việc mua bán ở Chợ Nổi Ngã Bảy Phụng Hiệp… Vì cứ kêu là “Khoai Bí’’ hoặc “Khoai Bí Mật” thiên hạ mới coi như vô tình khai báo với Việt Minh là Mười Khoai bán “Khoai Lang Bí Mật!… Mấy cha con cũng chết lên chết xuống với Việt Minh rồi với Tây nữa. Bên nào cũng ghim hai chữ “bí mật’’, mà khoai lang bí mật’’ thì cũng giống giống “cà na lựu đạn’’ hoặc “mìn con cóc’’. Tuần nào cũng bị lục tung hai ghe!… May mà có trời phật phù hộ cho qua truông!

Nhà Mười Khoai cũng có đạo… Chúa Nhật nào cả nhà cũng đi lễ đàng hoàng… Sau này, thằng Thời với thằng Kiểng còn giúp Cha sở Kim Núi lo sinh hoạt với thiếu nhi của họ đạo. Hai anh em cùng Chín Ngưu dạy võ cho một số thanh niên nam nữ… Ngày Chúa Nhật, vợ chồng Chín Ngưu dạy giáo lý thì hai anh em này dạy võ và luyện công… Riêng thằng Kiểng giúp Cha Sở Trà Lồng và Phụng Hiệp sinh hoạt Hàng Đội với Thiếu Nhi… và được các Cha gọi là Tông Đồ Thứ 13

Rồi số phận đưa đẩy, Thằng Tư Kiểng trở thành “võ sư số 1’’ miệt sông nước miền Tây này… Nó đánh thắng hai mươi mấy võ sư trong vùng, thuộc nhiều môn phái, bất kể chiều cao và cân nặng! Chấp hết!… Đến đỗi Ba nó nói rất quyết liệt: “Thằng Kiểng mà thua thì còn anh nó… Anh nó mà thua thì còn em gái nó… Em gái nó mà thua nữa thì còn tui!’’… Nhưng mà mới có mình nó xung trận là đã thắng hết trơn hết trọi rồi!…

Từ đó, truyện bốn cha con bán khoai lang này được Ba tôi kể lại với nhiều tình tiết ly kỳ, hay lắm, hấp dẫn ghê lắm!…

Bởi vậy, Ba tôi mới nói thằng Kiểng đúng thiệt là Võ Sư Tông Đồ Thứ 13…Tông Đồ Nửa Chừng Xuân!…

                                              Petrus Dương kim Quới

                                          Giáo xứ Chính Tòa Xuân Lộc

Xuân Ất Tỵ, 2025

Trên đây là lời giới thiệu nhân vật Tư Kiểng trong truyện này, chuyện kể về cuộc đời của Tư Kiểng, từ lúc bỏ nhà ra đi mới 10 tuổi đầu, gần 10 năm sau trở về. Lúc này Tư Kiểng đã có một võ công cao cường bởi được hai Sư phụ truyền dạy.

Truyện Tư Kiểng có 20 phần, mỗi phần là một đoạn đời của Tư Kiểng, những nối kết chặt chẽ liên tục với nhau. Đọc phần 1 rồi phần 2, phần 3 v.v…không thể bỏ phần nào, vì như thế là thiếu sót. Cho nên, chúng tôi cũng cứ tuần tự mà đọc từ phần 1 đến phần cuối cùng là số 20.

Cứ theo cốt truyện, những sự việc xảy ra thì truyện Tư Kiểng thuộc thời kỳ Việt Minh đã xuất hiện tại miền Tây vào cuối thế kỳ 19 hay đầu thế kỷ 20. Trong truyện này, độc giả sẽ gặp lại nhân vật Cha Núi, ông Bảy Sển, vợ chồng Chín Ngưu, vợ tên là Út Long. Cặp vợ chồng này bây giờ theo lời cha Núi, đã có cơ ngơi, sung túc, có nhà cửa riêng, chứ không nghèo đói như trong truyện Chín Ngưu nữa Độc giả cũng sẽ biết thêm một vài Linh mục, thiết thân với Tư Kiểng từ lúc cậu bỏ nhà ra đi đến khi trở thành một Tông dồ thứ 13, các cha gọi là Tông dồ Giáo dân, có đủ tài năng, phẩm chất đạo đức, rất hiếm. Linh mục Sư rồi linh mục Tú, Linh mục Núi đều quý mến Tư Kiểng, trong suốt cuộc đời của Tư Kiểng. Đến cuối truyện, các cha đã đưa Tư Kiểng vào dạy cho Chủng viện Cù Lao Giêng. Khá ngạc nhiên, Tư Kiểng còn được cha Bình, tên thánh Phaolô, “có dáng làm Giám mục sau này” như lời tác giả Dương Kim Quới nói trong truyện. Cha Bình đi du học ở Pháp về. Trong một khóa học về tâm lý hôn nhân, Tư Kiểng cũng là một học viên, vì cha Bình đã biết Tư Kiểng trước đó, cũng tại một khóa học về tuổi dậy thì, nên cha nhờ Tư Kiểng “lên lớp” thay thế ngài một hai giờ, vì cha phải về gặp Đức Cha, mà qua cái giờ này, Tư Kiểng được khen ngợi quá.

Thế nhưng, cuộc đời của Tư Kiểng đâu có êm ả. Cha Tú dụ được cậu đi tu dòng “khoang cổ”, tức dòng các Sư Huynh. Cậu đã khấn dòng tại nhà tập của Dòng tại Nha Trang. Mấy năm học tập bao nhiêu môn học làm tu huynh, làm người. Cha Tú từ miền Tây ra thăm cậu, hỏi thăm về việc học tập của cậu. Hai cha con nói chuyện tâm tình. Tư Kiểng buồn vì ngày khấn dòng của cậu, gia đình không có ai ra, vì không đủ điều kiện đi lại. Nghe Tư Kiểng nói về chương trình học, các cha giáo đều dạy bằng tiếng Pháp, cậu rất vất vả trong việc tự học môn này, cha Tú còn kinh ngạc. Lớp của cậu cũng đều là người đi tu muộn, mặc dầu đã học một khóa đặc biệt kéo dài 6 tháng tại Chủng viện Cù Lao Giêng dành cho những người tu muộn. Tư Kiểng cũng học khóa này.

Rồi chiến tranh xảy ra, Tư Kiểng vào quân đội hai năm và cuộc đời đẩy đưa, Tư Kiểng không trở về Dòng nữa.  Rồi Tư Kiểng bất thình lình trở về nhà, gia đình mở một bữa tiệc ăn mừng, mời cha Núi và cha Tú, mời bà con lối xóm cùng dư. Mọi người nghe Tư Kiểng kể chuyện mấy năm cách biệt. Trong bữa tiệc, sau khi nghe Tư Kiểng kể chuyện đời mình, cha Núi vá cha Tú baqn2 chuyện về cuộc đời mai ngày của Tư Kiểng, đưa Kiểng vào Chủng viện Cù Lao Giêng dạy…Đấy là nội dung của mấy phần cuối của truyện.

Nhận xét

Thật tình, chúng tôi muốn giới thiệu với độc giả truyện Chín Ngưu thêm ít trang nữa, một nhân vật mà chúng tôi gọi là “huyền thoại” căn cứ vào cuộc đời dựa theo cốt truyện của tác giả Pêtrus Dương Kim Quới, ông bảo đó là sự thật. Chúng tôi cũng biết, ngay ở thời @ này, vẫn xảy ra hàng ngày ở nơi này hay nơi khác, trong xã hội văn minh hay kém văn minh, những sự kiện mang tính huyền thoại. Còn với truyện Hai Cào, chúng tôi chỉ giới thiệu đôi lời mà không trích dẫn một đoạn nào của truyện này. Thế nhưng, như độc giả thấy ở đây, chúng tôi đã trích nhiều. Bởi vì, truyện Chín Ngưu đa dạng mà trong lời mở, tác giả Dương Kim Quới đã nói đến hầu hết các sự thật nơi nhân vật Chín Ngưu, còn Hai Cào thì ít dòng thôi, chỉ nói nhân vật này giúp việc làm cỏ dồng ruông, không nói gì đến võ nghệ của Hai Cào. Vì thế, khi đọc truyện Hai Cào, chúng tôi bị thu hút bởi cốt truyện và lối viết truyện của tác giả Dương Kim Quới, Sau nữa, đây là mảng văn học viết về nông thôn hiếm có trong suốt dòng văn học Việt Nam đã mấy trăm năm. Cho nên, chúng tôi không thể không dẫn nhiều trang của truyện Hai Cào và bớt trích dẫn truyện Chín Ngưu.

Chúng tôi đã trích dẫn nhiều trang cả hai truyện Chín Ngưu và Hai Cào, nhất là với truyện Hai Cào. Nhưng chúng tôi chỉ nói Chin Ngưu là một nhân vật huyền thoại, còn Hai Cào được kể là đặc thù ở họ đạo Trà Bồng, miền Tây sông nước, có dẫy Thất Sơn, một địa danh ẩn dấu nhiều thần thoại về tinh thần và con người. Đọc truyện Chín Ngưu và truyện Hai Cào, chúng tôi cảm động và ngỏ lời tri ân đến tác giả Pêtrus Dương Kim Quới, người đã để lại cho đời, cách riêng cho Giáo hội Công giáo miền Nam hai câu truyện nổi bật lên trong muôn vàn tác phẩm xã hội, văn học và tôn giáo, nhưng không mang một dấu tích lạ lùng, dấu ấn của văn học Nam Bộ, không hề thấy ở đâu. Chúng tôi yêu mến Ông Cố Linh mục Trần Kim Núi, hiện thân của người mục tử nhân lành, ông là sức hút của các giáo hữu xa xưa ấy, là chỗ nương tựa và ủi an. Ông yêu hết mọi người, cách riêng là nhân vật Hai Cào, một giáo dân của ngài lẻ loi, cô độc và khó nghèo, khi rời xa ngài, Hai Cào đã thốt ra lời: “Con xa Ông Cố, chứ không xa Chúa đâu! …Con luôn ghi nhớ “Lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào được ích gì !”

Còn truyện Tư Kiểng, Tông đồ Nửa chừng xuân hay Tông đồ thứ 13, đều là tiếng gọi rất thân thương, trìu mến của các linh mục miền Châu Đốc với Tư Kiểng. Ngòi bút của tác giả Petrus Dương Kim Quới kể chuyện chi tiết, cẩn thận và hấp dẫn, khiến người đọc muốn đọc tiếp phần sau. Qua ngòi bút của tác giả Kim Quới, Tư Kiểng trở thành một nhân vật trong truyện sông nước Nam Bộ, Công giáo rất dễ thương mang trong người tinh thần của một tín hữu Kitô, sống nghèo, giản dị, chất phác, thấy người gặp hoạn nan thì ra tay giúp.

Khi viết về tác giả Pêtrus Dương Kim Quới qua những trang thi ca về Đức Mẹ Núi Cúi, về những câu thơ trong dòng suối Bóng Thánh Giá Trên Bờ Biển Đông và ba truyện Chín Ngưu Hai Cào, và Tư Kiểng chúng tôi thấy lởn vởn trong đầu một ý nghĩ: tác giả Dương Kim Quới có bao giờ trở về thăm xứ đạo Trà Lồng xưa kia không? Bây giờ họ Trà Lồng ngày ấy, đã lên Giáo xứ, có 3690 tín hữu, thuộc Giáo Hạt mang cùng tên, P.Trà Lồng, TX Long Mỹ, Hậu Giang. Với nơi ấy, ông có truyện Chín Ngưu và truyện Hai Cào. Còn hiện nay, ông thắm thiết, gắn bó với Mẹ Núi Cúi và ông cũng đã có hơn 400 bài thơ dâng lên Mẹ Núi Cúi qua hai thể thơ đặc thù, một là thể Lục bát của Việt Nam và hai là thể Haiku của xứ Phù tang.

Đấy là gia tài tinh thần của ông mà ông để lại cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.

Đọc truyện Tư Kiểng, có nhiều đoạn tôi xúc động đến ứa lệ, như lúc Tư Kiểng lên Thất Sơn học võ, qua vai sư phụ, Tư Kiểng nhớ nhà, ngồi ở bậc đá đọc bài thơ nhớ Sóc Trăng hoặc lúc nghe cha Tú, ở nhà thờ Đá trên núi Sam giảng về cuộc đời của thánh trẻ Savio, Tư Kiểng quyết tâm “thà chết chứ không phạm tội”, tôi đã viết email hỏi Petrus Dương Kim Quới: “Nhân vật Tư Kiểng có phải là anh trong cuộc đời không, sao tôi cứ nghĩ đến anh và những dòng tiểu sử của anh, thấy không có khác nhau. Tôi xin phép được “bật mí” nha?” Mấy ngày sau, tôi nhận được câu trả lời của anh. Anh nói, những chương đầu là thật, nhất là mấy chương cuối. Vậy là tôi trích dẫn sau đây bài thơ nhớ về Sóc Trăng và phần sau anh trở về nhà và việc cha Núi, cha Tú bàn bạc với nhau về tương lai của Tư Kiểng., hay là của…Petrus Dương Kim Quới, văn võ song toàn.

Lão Sư Phụ, ngồi trên tảng đá, ngâm nga bài thơ của ai đó về Sóc Trăng, nghe mà não nuột làm sao:

Sóc Trăng ơi, bao tháng ngày lưu lạc,

Mơ ngày về nghe câu hát Dù Kê,

Điệu Lâm Thôn đêm ước hẹn duyên thề,

Mà những lúc xa quê mình vẫn nhớ…

.

Nhớ Mỹ Xuyên, Vĩnh Châu qua Long Phú,

Cù Lao Dung, Mỹ Tú về Ngã Năm,

Nhạc ngũ âm OK-OM-BOK những đêm rằm,

Mùi bánh Pía bao năm mà vẫn nhớ…

.

Chiều Kế Sách, Vũng Thơm sao bỡ ngỡ,

Xuồng êm trôi bông tím nở lục bình,

Đêm Trần Đề gặp cô gái xinh xinh,

Về Xóm Tàu ấm tình ba dân tộc…

.

Bún Nước Lèo mặn mà mắm Bò Hóc,

Vị đậm đà nơi phum sóc chiều hôm,

Gỏi Bồn Bồn chấm kho quẹt hết cơm,

Dưa Hành Tím nồng thơm không phai lạt…

.

Sóc Trăng ơi, khúc tình quê mộc mạc,

Mãi ngọt ngào trong câu hát Dù Kê,

Điệu Lâm Thôn cho ngơ ngẩn lối về,

Miếng Bánh Dứa cho đôi môi say đắm…

.

Ngồi im lặng, dòm xa xăm, dòm thằng Kiểng, dòm quanh quanh… Rồi… bỗng Lão Sư Phụ ngân nga tiếp:

Em thấy không, Sóc Trăng mình đẹp lắm,

Nụ mai vàng khoe sắc thắm chiều xuân…

                                 Người Sóc Trăng thấy thành phố bình an,

                              Thơm lạp xưởng, bánh trung thu, thịt bò nướng ngói…,

                                 Nhớ Xóm Tàu “xám cô giành xực trái xường tại”,

                              Nhớ Xóm Miên

                                             “Dớ, quay bên na, quia bên cay, quay!”…

                              Nhớ đình Năm Ông, nhớ Sài- Ca- Nã,

                                                      nhớ chùa Đất Sét đâu đây,

                              Nhớ nhà thờ, tiếng chuông vàng lanh lảnh…

                                 .

                                 Sài-Ma-Cum nhớ chùa Kh’leang óng ánh,

                                “Tui, nhâm, ngộ” ba dân tộc một nhà,

                              Ta yêu người, ‘’ngộ thậm ái nị’’, nha,

                              Sóc Trăng ơi, ‘’bòn ơi, sa lan on tế’’!

.

                              Ra Đại Ngãi cho Cầu Đen nhân thế,

                              Khoái Lạc Lâm vòng sau chợ ngã nghiêng,

                              Lịch Hội Thượng thỉnh Kế Sách Mỹ Xuyên,

                              Từ Cầu Xéo thẳng Cái Quanh Long Phú…

.

                              Xem ruộng đồng mênh mông màu xanh quê cũ,

                              Tận chân trời bay thẳng cánh chim cò,

                              Mút đầu sông ghe tàu rộn rã ra vô,

                              Cảng Trần Đề, Sóc Trăng nhìn ra chân trời mới…

.

                              Người Sóc Trăng kho bạc tiền thế giới,

                              Rừng vàng Khmer nuôi chí lớp Bôi Thi,

                              Biển chữ Dục Anh cho người Hoa trí tri,

                              Người Sóc Trăng mấy bồ chữ vàng bạc!…

                                .     

                                    Người Sóc Trăng chuyện gì cũng nói thật,

                               Muốn biết đi đâu thì cứ hỏi “tâu na?”

                               Người Sóc Trăng hiền hậu như màu da,

                               Hơi ngâm ngâm lại bảo đen như dân Sóc…

  .

                               Vô trong làng nghe ngũ âm lóc cóc,

                               Múa Lâm Thôn như tiên nữ Apsara,

                               Ngón chân phượng hoàng, đôi tay Hằng Nga,

                               Hát Dù Kê, gái trai thỏa lòng mơ ước.

 .

                               Rằm tháng mười, lễ hội Ók-om-bók,

                               Đút cốm dẹp, thả đèn gió, cúng trăng,

                               Đua ghe ngo, thả đèn nước giăng giăng,

                               Tạ ơn cây lúa, tạ ơn trời, tạ ơn đất…

.

                                 Nhớ Sóc Trăng cho trí lòng ngây ngất,

                                 Biết chừng nào trở lại, Sóc Trăng, ơi!…

(Trích từ truyện Tư Kiểng, Chương 6)

Xứ đạo gặp “Cáp Duồn”

“Cáp Duồn: là một vấn đề gay sợ hãi kinh hoàng cho đồng bào sống gần biên giới Miên. Đây là một nhóm người Miên quá khích, có tâm lý chống lại người Việt. Họ đã gây ra những vụ chém giết, chặt đầu người Việt. Tác giả Dương Kim Quới sinh ra ở Sóc Trăng, sống tại họ đạo Trà Lồng, giáo phận Cần Thơ, đã từng kinh nghiệm về chuyện Cáp Duồn. Sau khi, trong vai Tư Kiểng trở về nhà, sau gần 10 năm tìm thầy học võ, tac giả đã thuật lại một vài lần, cha xứ và toàn họ đạo đoàn kết chống lại Cáp Duồn. Chúng tôi dẫn một đoạn về việc họ đạo chuẩn bị đối phó, khi nghe tin báo có Cáp Duồn.

Ông Biện cám ơn Năm Xị đã tới báo tin đúng lúc kịp thời… Bây giờ đã biết chắc rồi, nên mọi người cùng nhau sẵn sàng chuẩn bị mau mau để chiến đấu…

Cha Núi nói với Năm Xị:

-Năm Xị nè, anh biết nhà vợ chồng Chín Ngưu, phải hông…, chút nữa, anh đem gấp lá thơ cho Bác Ba Phi và Chín Ngưu…Nói là ở ngoài này mới gặp bốn tên Miên khăn rằn đi trinh sát chỗ nhà cũ Chín Ngưu… Nhớ nhắn Bác Ba trả lời gấp, và… vợ chồng Chín Ngưu ra đây liền, nhớ mang theo binh khí và đồ dùng cá nhân…

Riêng thằng Kiểng lo mượn xuồng đuôi tôm ra Phụng Hiệp gấp liền… như kế hoạch…

Chiều về, trên xuồng thằng Kiểng chất đầy ‘’binh khí’’ và ‘’lương thảo’’ của bà Mười gởi vô cho Cha Núi, và cho cha con nó!…

Nó ghé nhà thờ trao hết cho Cha. Tất cả binh khí gồm chừng chục trường côn bằng ống sắt và vài chục trường côn tầm vông, cùng với dây thun và đạn keo…

Phần nhà nó, nó đem cho ông Mười một roi dây da ba mét, cho anh Ba Thời một trường côn sắt dài mét sáu và cho Út Dừa một cây ‘’đả cẩu bổng’’ đặc biệt mà nó mới chế hôm bữa trước…

Nó cũng thủ cây binh khí siêu nặng mà Lão Sư Phụ trên núi làm cho riêng nó… Sao ai cũng thấy giống ‘’Một Trăm Lẻ Tám Anh Hùng Lương Sơn Bạc’’ sắp xung trận quá!…

Hay là giống ‘’Một Trăm Mười Bảy Anh Hùng Tử Đạo Việt Nam”! đây với Chúa Hài Đồng. ‘’Cầu xin cho mọi sự bình an’’!…

Phần Cha, cơm nước vừa xong, chào biệt mọi người… Cha lặng lẽ vô nhà thờ quì gối trước hang đá… Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ, giơ hai tay nhỏ bé lên trời… Trên nóc hang đá là câu ‘’BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO NGƯỜI THIỆN TÂM’’…

Cha sốt sắng, nhắm mắt, chắp tay cúi đầu, xin Chúa Hài Đồng ban bình an cho họ đạo này và cho mọi nơi miệt sông nước này… khỏi nạn ‘’CÁP DUỒN’’ thảm khốc!…

Cha Núi đã thật lòng nhắc nhở mọi người cầu nguyện liên lỉ.(Trích truyện Tư Kiểng, Ch. 12)

Tư Kiểng nhập Dòng Các Sư Huynh

Một ngày nọ, cha Tú, cha Núi và ông bà Mười nhận được tin vui bất ngờ: Mời ra Nha Trang dự lễ Tư Kiểng mặc áo Dòng Các Sư Huynh La San.

Nhưng mà…, trong ngày Mặc Áo Dòng của Tư Kiểng, có mình Cha Tú ra dự lễ… Hai Cha con ngồi trên Đồi ngắm biển Nha Trang, tâm sự… Cha Tú hỏi:

-Sao, Tư Kiểng, ngoài này mát mẻ… mà có kham nỗi không?

Tư Kiểng, hơi tủi thân vì người nhà không có điều kiện ra dự lễ, nhưng nén lòng bằng ‘’Tinh thần Đức Tin’’ và tinh thần con nhà võ, bình tĩnh thưa chuyện với Cha:

-Dạ, dư sức!… Bề Trên cũng khuyên như Ma Sơ Chúa Quan Phòng khuyên, Cha Bình hồi xưa ‘’Cầu nguyện nhiều lên… Ai xin, sẽ được…’’!

Rồi Tư Kiểng kể chuyện học tập của mình cho cha Tú nghe, bắt đầu từ việc tự học tiếng Pháp:

Trưa nào, Tư Kiểng cũng ôm cuốn truyện hình cao bồi LUCKY LUKE hoặc cuốn SPIROU bằng tiếng Pháp lên nhà ngủ đọc, cầm theo “sổ tay’’, ghi chép các từ vựng mới… vì cuốn truyện này chữ to, dễ đọc, mau hết trang… Chừng nào xuống phòng học thì tra tự điển rồi tự học… Hôm sau đọc truyện đó lại cho thuộc… rồi đọc trang mới… Cứ như vậy… cùng với đọc Phúc Âm tiếng Pháp, ghi chép sổ tay… tra tự điển… học thuộc lòng từ từ…

            Cha Tú biết ‘’ông thầy dòng con này’’ có chí, nên mừng thầm… và yên tâm… Tương lai lắm! Cha Tú ‘’điều tra’’ tiếp:

-Mà… bây giờ, nghe giảng bằng tiếng Pháp lọt lổ tai chưa?

-Dạ, lọt!… Mà… lọt tai này qua tai kia! … Dạ…, vẫn còn ‘’nghe sấm’’ lùng bùng… Khiếp lắm!… Khó lắm! Chắc… kiếp sau mới nghe nỗi!… Mặc dù… tụi con được tạo nhiều điều kiện để trau dồi…

Cha Tú tò mò ‘’chất vấn’’ nữa:

-Ủa…, vậy chớ…, ở Nhà Tập hổng phải chỉ tập tành nhân đức, kinh sách suốt ngày sao!…

-Dạ, đâu có!… Nhà Tập… là tập đủ thứ… ‘Tập Ăn, Tập Nói, Tập Gói, Tập Mở … Dạ, nghenói giống “Tập Lính” gì đó… Riêng cái chuyện “Tập Nói”, là chủ yếu tập nói tiếng Pháp…Tụi con được chia thành nhiều tổ. Mỗi tổ chừng năm sáu người. Mỗi ngày phải giữ thinh lặng, chỉ được nói chuyện giờ thể thao buổi chiều ba lần một tuần… và sau giờ cơm trưa với cơm tối…

-Làm Nhà Tập bao lâu vậy?

-Dạ, hai năm rưỡi, gồm sáu tháng thỉnh sinh trước khi Mặc Áo Dòng… Một năm Tập Nhặt và một năm Tập Thứ Hai…

-Sao Cha thấy giống đi tu Dòng Kín quá vậy!

-Dạ, ai cũng nói vậy!… Giờ cơm thì nghe đọc sách. Sau giờ cơm, được nói chuyện chừng gần hai chục phút… mà chỉ nói chuyện và bàn rộng… về những gì nghe đọc khi ăn cơm!

Khó dữ!…

-Dạ, rồi cũng quen… Trong giờ đó, tụi con được nói chuyện theo tổ, đi tới đi lui, chia hai bên, đâu mặt nhau, nửa này đi tới, nửa kia đi lui… Đầu giờ, tổ trưởng nói “Mời anh A… bắt đầu câu chuyện…’’… Anh A sẽ mở đầu… bằng tiếng Pháp… rồi mọi người tiếp tục câu chuyện tự do, rôm rả… Miễn là tập nói bằng tiếng Pháp!… Ai chẳng nói gì hết thì sẽ bị tổ trưởng trình với Bề Trên…

-Sắp tới, con biết sẽ được học những môn gì chưa?

-Dạ, nghe mấy anh lớn nói là sẽ học nhiều môn lắm… như Luật Dòng, Lịch sử Dòng, Lịch sử Giáo Hội, Kinh Thánh, (học thuộc lòng thêm một trong bốn Phúc Âm), Mầu Nhiệm Chúa Kytô, Thánh Mẫu Học, Tu Đức, Nhân Bản, Thánh Nhạc… Sang năm Tập Viện Hai, thì học một chút Sư Phạm Giáo Lý và Thực Tập vào ngày Chúa Nhật…

Cha Tú nghe các môn học mà nhớ lại mấy năm hồi ở Đại Chủng Viện, học Triết học và Thần học…, mà ngán quá trời!…

Cha Tú chăm chú lắng nghe Tư Kiểng tâm sự, dò xem Tư Kiểng có ‘’vui sống trong Nhà Chúa’’ không!… Cuối cùng, Cha yên tâm… rồi Cha nói mấy lời khuyên tâm huyết:

-Cha không ngờ đi tu Dòng Dạy Học mà cũng nhiệm nhặt dữ quá!… Tốt!… Ráng, nghe!… Phương pháp đào tạo hay lắm đó!

-Dạ, các Đấng nói hoài câu này ‘’Đi tu, chớ đâu phải đi chơi… Dạy học là cho đi, nếu không có thì lấy gì mà cho!… Muốn có, thì phải tu cho kỹ, phải học cho kỹ… Thao trường đẫm mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu!’’…

Cuối cùng, Cha Tú bị đánh động dữ dội… Cha im lặng hồi lâu… Gió biển Nha Trang thổi nhè nhẹ rất dễ chịu… Rồi Cha vui mừng nói mấy lời ‘’trăn trối’’ trước khi ra về:

–                 Áo dòng đã mặc, nút đã cài,

Ráng tu cho trót, mặc hoài chẳng cởi ra!

      Tu Dòng dạy dỗ người ta,

Dạy sao cho họ ‘’bỏ Nhà theo Cha’! …

            Không ngờ Tư Kiểng cũng ‘’trăn trối’’ lại một bài lục bát cho ‘’vừa lòng nhau’’:

–                Cha Bình, Cha Núi, Cha Nam,

Cùng với Cha Tú rủ làm vườn nho…

     Nửa buổi cũng được đỡ cho,

Vườn nho vườn chữ, một bồ ơn thiêng.

     Ráng tu đi khắp mọi miền,

Mai sau dạy học, gieo duyên Nước Trời!

            Sau đó… Cha Tú từ giã Tư Kiểng

(Trích Truyện Tư Kiểng, Chương 18)

1

-Dạ, thưa, bữa nay nhà con quá sức là vui vì “đứa con đã mất, nay tìm lại được’’, thằng Tư Kiểng đã bình yên trở về… Con mời mọi người cùng “Nâng Ly Rượu Mừng’’!…

2

Tư Kiểng ra đứng kế Cha Tú… cúi đầu chào… Bữa nay nó lạ lắm!… Hổng biết giống ai… mà đen dữ!… Nó cũng y như Cha Tú, liền cất tiếng “xổ thơ’’:

            Chiến tranh giặc giã đã qua,

Chồng nơi vợ nẻo về nhà yên vui…

            Cháu con tề tựu đây rồi,

Đứa nam đứa bắc, cũng trôi xuôi dòng…

            Mọi người sum họp bên sông,

Xanh xanh tím tím như bông lục bình!…

                        Con thì chỉ muốn làm thinh,

                  Số phận đưa đẩy để mình bâng khuâng…

                        Số con, số Nửa Chừng Xuân!…

Cha Tú, nghe tâm sự buồn của Tư Kiểng, cũng nao nao… biết nó ‘’mộng không thành’’, nên cũng hỏi nó sơ sơ thôi:

 -Nửa Chừng Xuân là sao vậy, Tư Kiểng?

Tư Kiểng, rầu thúi ruột, trả ‘’lời lẫn vốn’’ với Cha Tú và cả nhà:

-Dạ…, là chưa hết mùa xuân… là gãy cánh đại bàng… là hoa rụng trước Tết!…

Dạ…, là đang tu tập ngon lành… như đang ăn miếng thịt kho rệu chảy mỡ… thì ăn trúng nguyên trái ớt hiểm, cay xé xác, thấu trời xanh… phải bỏ bữa!… Dạ, giặc giã, súng đạn… xé nát cuộc sống rất đẹp của con… Chiến tranh như cơn gió độc, quét tung nếp sống yên lành, đảo lộn tùng phèo mọi trật tự nề nếp…

-Dạ, con buồn thúi ruột… mặc dù… bây giờ ’’hết thúi‘’  rồi, mà… còn đau lắm!…

(Trích từ Chương 18)

Sau thời gian làm Nhà Tập ở Nha Trang, thì Tư Kiểng tiếp tục làm Kinh Viện ở Đalat thêm ba năm… Hồi ở Nhà Tập, Bề Trên rất kinh nghiệm, khuyên Tư Kiểng và cả nhóm phải biết “Tự Học” là chính, để bù vào chỗ lỡ thời của mỗi người trong nhóm đặc biệt này, vì có khi, có nhiều tài năng thiên phú “Không Cần Bằng Cấp”…Nhờ vậy, thời gian đó, Tư Kiểng học lóm (Tự Học) được nhiều về Mỹ Thuật từ các tác phẩm hội họa và công trình kiến trúc của Bề Trên, là kiến trúc sư, là họa sĩ tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Thánh Luca bên Bỉ.

Cha Núi thắc mắc:

-Học dữ vậy, mà sao con nói là Nửa Chừng Xuân?

-Dạ, tại vì đâu có bằng cấp!… Làm Kinh Viện có ba năm, theo luật Dòng, rồi nửa chừng, phải ra trường dạy học năm năm theo luật Dòng, rồi Khấn Trọn… Xong, mới được trở lại học tiếp cao lên…

-Vậy là con chưa hết thời gian đi dạy?…

-Dạ, đúng vậy… Rồi cái… nhập ngũ… rồi phân tán… rồi “rụng bông’’ ngay mùa xuân…, rồi nhập hội Bô-Na-Ven-Tu-Ra, ‘’Ta Ru’’, Tu Ra!…

                                                            Buồn ơi, buồn hỡi là buồn,

                                                     Nửa Chừng Xuân ấy, đau lòng lắm thay…

                                                            Mình thì đâu muốn lung lay,

                                                     Mà sao gió thổi cả ngày lẫn đêm…

                                                            Cây muốn lặng, gió chẳng thèm,

                                                     Để cùng ông Gióp ruột mềm như dưa!

                                                            Bây giờ xin Chúa cứ đong đưa!…

Cha Tú biết là người lỡ thời thì nhiều mặc cảm lắm, sợ Tư Kiểng hoang mang làm hư tương lai, nên dò hỏi thêm để ‘’bạt đao tương trợ’’ một tài năng quí giá của Giáo Hội:

-Vậy từ đó tới giờ, con sống ở đâu và sinh hoạt ra sao?

-Dạ, con sống ở Sài Gòn, thuê phòng trọ… và đi dạy “tứ lung tung’’…

Tư Kiểng im lặng, nhấm nháp miếng khô cá sặc rằn với một hớp đế, rồi kể tiếp:

-Dạ, cũng nhờ mấy năm học ở Đalat, con quen với nhiều Sơ của nhiều Dòng, nên họ cũng biết con có “nhiều tài lẻ’’… Nên sau đó, khi họ trở về Dòng, thấy có nhu cầu, nên mời con về giúp…

-Vậy có ai bắt con xuất trình bằng cấp gì không! – Cha Núi hỏi…

-Dạ… hổng có đâu… miễn là mình đáp ứng nhu cầu nhà Dòng của họ là được!… Dạ…, Bề Trên con, có lần nhắc nhở riêng cho nhóm con là ‘Cần Bằng Lòng, Chớ không Cần Bằng Cấp”! Mình làm sao người ta Bằng Lòng là thành công rồi!… Mình cố gắng học tập, nghiên cứu, tham khảo ý kiến… cho chu đáo… rồi cầu Chúa giúp!

Cha Tú tò mò hỏi:

-Vậy thường họ mời con giúp chuyện gì?

Dạ, thường là giúp về mỹ thuật, như làm nhà Truyền Thống, làm Phòng Triển Lãm, làm Bích Báo, Thiết Kế Cung Thánh… còn nhờ con dạy Cắm Hoa nữa! …

Cha Núi ngạc nhiên quá:

-Trời!… Vừa làm họa sĩ, vừa làm kiến trúc sư, vừa làm “nữ cắm hoa’’ nữa hả!!!… Phải học ở đâu chớ, Kiểng!…

-Dạ, có học… mà học lóm là chính!…

-Học lóm với ai?

Dạ, về Cắm Hoa thì học trong cuốn IKEBANA là Nghệ Thuật Cắm Hoa của người Nhật…, về Họa, thì học với Bề Trên Dòng của con là Bề Trên Thọ, là họa sĩ… Ngài có nhiều bức họa màu nước treo ở nhà cơm… Con học bằng cách “ngắm’’ nhiều lần, mỗi lần ngắm thật lâu… cho nó nhập vào tâm… học cách pha màu đậm lợt, học bố cục…

Cha Tú thì thích xây dựng nhà thờ, nên hỏi:

-Còn thiết kế cung thánh nhà thờ thì học lóm với ai?

Dạ, cũng học ở Bề Trên Thọ về màu sắc, đường nét, bố cục gần xa, đối xứng, bất cân xứng… còn phải đúng thần học và phụng vụ nữa. Còn vẽ thiết kế, thì con học một khóa ba tháng với các anh sinh viên năm cuối Đại Học Kiến Trúc Sài Gòn…

Cha Tú, hiện giờ, làm giáo sư Chủng Viện, phụ trách hai lớp lớn nhứt là lớp đệ nhị và đệ nhứt… Vậy coi như Cha đang có Tư Kiểng trong tay là một bảo bối về Giáo Dục Nhân Bản… Văn Hóa Nghệ Thuật và Võ Nghệ đây rồi… Trong mắt Cha Tú và Cha Núi, Tư Kiểng xuất hiện như một ngôi sao sáng…

Cha Núi hỏi nhỏ Cha Tú:

-Cha thấy sao… Tư Kiểng bây giờ có giống ‘’thần tượng’’ của mình hồi học năm cuối ở Cù Lao Giêng hông?

Cha Tú đã nhớ ra:

-Nhớ rồi… giống Cha giáo sư Paul Phán đa năng tài giỏi… cũng là một “Thầy Đụng’’ siêu hạng… cái gì cũng dạy được mà dạy rất giỏi nữa!…

Cha Núi liền góp ý:

-Vậy sao Cha không kéo Tư Kiểng về Chủng Viện với Cha!… Thử một lục cá nguyệt xem sao!… Liền sau hè năm nay đi!

Cha Tú vui quá… Chúa gởi cho Chủng Viện một kho tàng rồi! Cha liền lĩnh ý Cha Núi: -Dạ, đúng vậy… Cám ơn cao kiến của Cha! (Trích từ truyện Tư Kiểng, 2025, Chương 19)

Khải Triều

Bài Mới Nhất
Search