Khải Triều: PHỔ ĐỨC

(1940-2013)

 Tên thật Lê Phước Độ, sinh tại Sài Gòn ngày 27 tháng 01 năm 1940 (nhằm 19 tháng Chạp Kỷ Mão-giờ Ngọ). Quê cha: Văn-Ly Điện-Bàn, Quảng Nam. Quê mẹ: Cai Lậy, Vĩnh Long. Xuất thân trường Hồ Ngọc Cẩn, Gia Định (1958). Thực nghiệp Hỏa xa (1959-1962). Công chức Bộ Chiêu Hồi (1963-1964). Giảng viên Bộ Thanh Niên (Hòa Cầm và Đông Ba 1965). Biên tập viên Tổng Bộ Thông Tin (1966-1968).

Diễn viên ngâm thơ Ban Tao-Đàn và Thi Nhạc Giao Duyên Đài Truyền thanh Sài Gòn (1963-1967). Cùng thi sĩ Đinh Hùng ra tuần báo thơ đầu tiên tại Việt Nam: Tao – Đàn Thi –  Nhân (1967). Cộng lực với nhà văn Hoàng Xuân Việt ra tuần báo Nhân-Xã và thực hiện chương trình Vấn Đề Của Chúng Ta trên truyền thanh và truyền hình. Hợp tác với nữ văn sĩ Nguyễn Thị Vinh qua các giai phẩm:  Văn Hóa Ngày Nay, Tân Phong, Đông Phương. Cộng tác với Thượng tọa Thích Đức Nhuận trên Nguyệt san Vạn Hạnh, Hóa Giải. Năm  1969 Tổng Thơ ký Nguyệt san Tin Sách-Tiếng nói của Trung tâm Văn Bút Việt Nam. Cuối năm 1969 nhập ngũ, phóng viên báo chí quân đội, Cục Tâm lý chiến. Năm 1972 cùng danh ca Mộc Lan, nhà văn Hồ Trường An chủ trương Nhạc chủ đề trên vô tuyến truyền hình.

Trong 18 năm chủ trương cơ sở xuất bản Nhân Chứng, in gần 30 tác phẩm, hầu hết là thi ca và hợp tuyển văn thơ của hơn 100 tác giả hiện đại.

Đã xuất bản:

-Cung điệu ngàn phương (1963)

-Vòng thời gian (1964)

-Tiếng ca quê hương (1965)

-Linh hồn cỏ biếc (hợp tác với nữ sĩ Hoàng Hương Trang (1966)

-Hiện thân (1967)

-Nói cho con (1968)

-Giấu mặt (1969)

-Ba mươi hai bài lục bát (1970)

(Trích trong tập Tiếng thơ, 2001 của Phổ Đức)

Những tập thơ của Phổ Đức trên đây, xuất bản trước năm 1975, may ra chỉ còn tại nhà của ông. Còn chúng tôi thì không còn, sau biến cố ngày 30-04-1975. Hiện nay chúng tôi chỉ còn lưu trữ mấy tập thơ của Phổ Đức:

-Thơ-Những dòng sông đều chảy (2001)

-Hai mươi thế kỷ thơ (2001)

-Thơ của đời (2002)

-Những dòng thơ tưởng niệm (2000)

Phổ Đức Với Thơ Của Đời

Nhà thơ Phổ Đức có khuynh hướng, mỗi khi thực hiện một tác phẩm thi ca nào đó, ông đều đưa cả thơ của bạn hữu vào. Trường hợp hai tập thơ chúng tôi ghi ở trên đây: Hai mươi thế kỷ thơ, Thơ của đời thì khác. Tập Thơ của đời, ông viết về bạn hữu hoặc những vị ông kính trọng. Còn tập Hai mươi thế kỷ thơ, ông viết về nhiều đề tài trong cuộc sống của con người mà các bậc tiền bối từ những thế kỷ trước, đã trải qua và đã ghi lại trong mấy câu thơ. Đến tập Những dòng thơ tưởng niệm, Phổ Đức vừa đăng thơ của mình mang ý nghĩa “tưởng niệm”. Nhưng, bên cạnh đó, ông cũng in thơ của nhiều người khác hướng về “tưởng niệm” Như nhà thơ Thư Linh viết về Hiếu Chân khi nghe tin nhà báo này qua đời, như Ý Nhi viết bài Chiêm bao gặp Xuân Quỳnh, như Trần Hữu Nghiễm có bài Thăm lăng Mạc Cửu. Như vậy, Phổ Đức đã có công sưu tầm những bài của các vị khác, với một yếu tố là những bài này đã tạo nên trong ông niềm cảm xúc. Vì thế, những tập thơ của ông rất phong phú, đa dạng. Riêng về tập Hai mươi thế kỷ thơ, Phổ Đức cảm xúc về một bài nào đó của bất cứ tác giả nào, sống ở thời kỳ nào, thuộc về bất cứ một đề tài nào mà bài ấy đã chọn để sáng tác, ông tìm xem có tác giả nào khác cũng viết về đề tài ấy không, như “lao lý” hoặc “nhớ nhà”… Có hai tác giả hay chỉ có một tác giả đầu tiên ông gặp thì ông sẽ viết bài của mình, luôn luôn là ở cuối cùng. Nhưng đấy là công việc ở những trang sau. Chúng tôi giới thiệu cùng độc giả mấy bài thơ trong tập Thơ của đời trước.

Qua những dòng thơ này, độc giả sẽ nhận ra những cảm xúc của nhà thơ Phổ Đức dành cho những người ông gặp gỡ trong đời, dù họ ở trong bậc sống nào, thì ông vẫn rất chân thành và đồng cảm với họ.

Trước hết, tác giả viết về thi sĩ Vũ Hoàng Chương và Bùi Giáng:

Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương

Không tu tiền hết phải ăn chay

Thi bá chẳng ngờ vận khốn thay

Văn bút lụi tàn thương giáng ngọc

Tao đàn hiu hắt nhớ đôi tay

Mây đen bao phủ trăng vừa khuất

Gió chướng chuyển vòng nắng cũng bay

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương sống mãi

Sao “vèo” đáy nước lạnh chân mây.

Vũ Hoàng Chương sinh ngày 05-05-1916 tại Nam Định, từ trần tại Sài Gòn ngày 06-09-1976. Nhà thơ Phổ Đức viết mấy lời thơ này như một cử chỉ khóc Vũ Hoàng Chương ở thời kỳ “gió chướng” và “mây đen bao phủ”.

Dừng Bước Rong Chơi

(Tiễn biệt thi tài Bùi Giáng)

Chuồn chuồn châu chấu đã về

Vĩnh Trinh đất Quảng sơn khê mãi tìm

Phồn hoa phố thị cũng chìm

Ngũ Hành Sơn ngóng bóng chim cuối trời

Bước chân mục tử rong chơi

Chất đầy hệ lụy vai đời tồn sinh

Đạp trên thế thái nhân tình

Mặc ai khôn dại một mình ta điên

Thơ thần, rượu thánh, tay tiên

Ngữ ngôn phù thủy xuôi miền Cửu Long

Thu Bồn, Trung Phước chờ trông

Gót chân Sáu Giáng phiêu bồng đến nơi

Ta nằm đợi hứng giọt người

Hỡi bao kiều nữ xin mời đến thăm

Trăng khuya đất ấm ta nằm

Hương trời còn đọng trăm năm cõi về.

(Ga Sài Gòn-Thu Mậu Dần)

Nhà thơ Bùi Giáng sinh tại Duy Xuyên, Quảng Nam ngày 17-12-1926, mất tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn ngày 07-10-1998.

Ở miền Nam Việt Nam trước đây, có ông Đạo Dừa. Nhà thơ Phổ Đức đã nhớ đến ông và đã có mấy lời về vị tu hành này như sau:

Về Thăm Bến Tre

tưởng niệm ông Đạo Dừa

Về thăm Cồn Phụng xứ Dừa

Nước song vẫn va7y6 người xưa xa rồi

Sóng trào, phà lướt mây trôi

Chơ vơ dấu cũ đât trời bao la

Đạo Dừa như huyền sử ca

Chuột mèo lồng đựng chung hòa niềm tin

Sau khi đất nước “hòa bình”

Người bao lao lý dứt tình chia xa

Nhân tài lịch sử quê ta

Rụng theo thời cuộc như hoa gió lùa

Bến Tre da trắng nước dừa

Về thăm Cồn Phụng nhớ mùa Tự Do!

“Đạo Dừa” là tên gọi ông Nguyễn Thành Nam (1910-1990), cũng là danh xưng một “tôn giáo” do ông sáng lập tại Bến Tre, miền Nam Việt Nam. Cũng đã có một số tín đồ. Hiện nay tại Cồn Phụng, vẫn còn di tích nơi ông Đạo Dừa ngồi tu ở trên một cái tháp, do chính ông dựng.

Ngẫu hứng

Tặng Tuệ Sĩ

Bao năm cuối bài đầu ghềnh

Vẫn tin dân tộc trổ cành tự do

Tâm hồn trong sáng như thơ

Xá gì lao lý đợi giờ phục hung.

Kính Tặng Thi Sĩ Y Sa

Cửa thiền

Tình rót hư không

Chảy vào tâm thức

Sầu đong chập chờn

Chuyện ngàn năm

Thoáng chiếc hôn

Y Sa thi sĩ

Nhập hồn Chân Như

Khóc Phan Lạc Giang Đông 

Tiễn đi lần cuối chia xa

Ngày về chẳng lại sơn hà buồn trông

Mất rồi Phan Lạc Giang Đông

Cánh tay đã gãy má hồng lệ tuôn

Nhớ ngày cùng Vũ Phan Trường

Anh em kết nghĩa tìm đường tồn sinh

“Dòng sông vẫn chảy” (*) chung tình

Thi ca thế giới rạng danh xứ người

Ngày mai đất nước xanh tươi

Thuyền Giang Đôngt xuôi giữa trời Tự Do.

Ga Sài Gòn ngày 16-11-2001

(*) Những “Dòng sông đều chảy” (All Rivers Have Been flowing), dịch ra Anh văn của Lưu Bá Bắc đã được Ban giám khảo giải Thi ca Quốc tế chọn vào tranh chung kêt trong 10 ngàn thi sĩ. Thơ Đông là 1 trong 10 bài vào chung kết. Anh đã đọc bài tham luận trước 750 thi sĩ của các quốc gia trên thế giới về tham dự và Phan Lạc Giang Đông đã được kết nạp hội viên danh dự Thi ca Quốc tế và bằng khen của Tổng thống Hoa Kỳ, Bill Clinton.

Mừng Sinh Nhật Phan Lạc Hoàng Anh

Mắt tròn đen nhánh long lanh

Trán cao da trắng thông minh tuyệt vời

Tháng tư nhật nguyệt chung đôi

Mười một ngày đẹp chào đời tồn sinh

Đông-Nga cha mẹ hữu tình

Hoàng Anh tiếng hát đầu cành líu lo

Lớn lên yêu nhạc, họa, thơ

Nổi danh Phan lạc sáng bờ thời gian

Mỹ Tửu Hành

 Thơ Phổ Đức tặng Lê Duy và bằng hữu

Em hãy cùng ta nâng cốc cạn

Uống cho say đủ lãng quên đời

Năm mươi năm viết tình chưa chán

Chan chứa thơ còn lấp lánh môi

.

Em nở hoa cười ta bỗng say

Say trong nhan sắc trổ thơ đầy

Bạn bè còn đó ai tri kỷ?!

Hãy lại cùng ta cạn chén này!

.

Thời đã thế – ta đâu phải thế!

Được gần em thấy lại mùa xuân

Thơ ta dù viết ngàn câu nữa

Cũng đổ không đầy mắt mỹ nhân

.

Mỹ tửu nhân hề vọng cố nhân!

Đời ta bao lớp bụi phong trần

Áo thơ dẫu ố màu tang hải

Nghĩa khí vẫn còn đọng chữ “tâm”

…..

(Tiết xuân Tân Tỵ ngày 25 tháng hai (19-03-2001)

Bài tặng Phạm Trần Anh

Hai mốt năm qua trọn nghĩa tình

Mặc ba đào sóng gió chông chênh

Vẫn vững tay chèo khi nước ngược

Thuyền vẫn đến bờ khi gió lên!

.

Xưa nay đời luận chi thành bại

Ngọn bút rung lên xóa hận thù

Hồn rượu núi sông say Tổ quốc

Đối mỹ nhân hề chí trượng phu!

Ga Sài Gòn – Lập đông 1998

Đại Nam Văn Hiến

Nhân Chứng, Tao Đàn cuốn hút tôi

Đại Nam Văn Hiến sáng danh rồi

Thế Phong mài bút công khai dựng

Văn Học Truyền Hình nghĩ cũng vui

.

Còn gì năm tháng dưới trăng sao

Từ lúc sinh ra mở mắt chào

Đến lúc bỏ đời còn tác phẩm

Của người liêm sỉ sống thanh cao

-Nhân Chứng: Cơ sở xuất bản do nhà thơ Phổ Đức lập

-Tao Đàn: Chương trình văn nghệ, ngâm thơ phát thanh tại Đài Phát thanh Sài Gòn thời VNCH do Thi sĩ Đinh Hùng chủ nhiệm với sự cộng tác của Phổ Đức.

-Đại Nam Văn Hiến: Cơ sở xuất bản dạng Ronêô (tránh kiểm duyệt của chính quyền thời Đệ I VNCH) do nhà văn Thế Phong lập.

Lên Bảo Lộc Thăm Vợ Chồng Sơn Núi

lộc châu

đồi núi

chập chùng

lên thăm Sơn núi

mịt mùng dốc cao

.

đồi thông

gió rít rì rào

tọa sơn mây phủ

Bờ Lao ngất trời

.

chè xanh

nương rẫy

xanh tươi

cà phê trĩu hạt

gọi mời khách thăm

.

động người

 vách dựng

tối tăm

gió lên làm quạt

giường nằm trăng sao

.

mộ con

bên cổng

đón chào

kỳ hoa dị thảo

lao xao mỉm cười

.

thiên tài

về núi

rong chơi

vợ hiền tần tảo

quanh đời suối reo

.

đêm nằm

đọc sách

trăng treo

trường chay

chồng vợ

bản nghèo chim ca

đất trời

rừng núi bao la

bước chân lạc phố

còn xa nẻo về

.

thiền môn

dưới gốc Bồ Đề

lánh xa vọng động

sơn khê ẩn mình

.

đời khôn

phố thị chen chân

ngu ngơ ca hát

lâm tuyền

dưỡng tâm

.

về đây

“tịnh khẩu”

yên thân

lửa nuôi tịnh mịch

quen lần hư vô

…..

….

lời ru

vượn hót

đêm dài

bên đêm nguyệt động

trôi ngoài thời gian

.

mộng du

trên đỉnh mùa xuân

bước chân tục tử

đến gần tà dương

.

hoàng hôn

giăng kín Đại Lào

chở đầy tâm sự

mấy bao chàng về

.

Sơn núi

trở lại

Sơn khê

Qua cầu Đại Giác

nằm kề tịch liêu!

Phổ Đức

Tháng Giêng năm 2001

Trong hơn 20 năm tôi quen với anh Phổ Đức, sau năm 1975, qua anh Phan Lạc Giang Đông, tôi đã nhận ra cá tính rất dễ gần gũi của anh, đó là sự hiền lành, tôn trọng những khác biệt nơi mọi người. Chính vì những điều này mà nhà thơ Phổ Đức đã thực hiện được   những Tuyển tập thơ, anh mời gọi được nhiều nhà thơ, thuộc các khuynh hướng văn học, lứa tuổi khác nhau, cả nam và nữ, đứng chung trong một tuyển tập, anh ghi trên đầu bìa sách là Nhiều Tác Giả, mỗi tập có khoảng trên, dưới  50 nhà thơ. Có người góp 1 bài, có người 10 bài. Mỗi năm ra một tập. Anh tự đứng ra xin giấy phép xuất bản và hợp tác vơi nhà in. Bên Hoa Kỳ cũng có nhà thơ Như Hoa Lê Quang Sinh cũng thực hiện được những công trình văn học, tức các Tuyển tập thơ. Tập tôi nhận được do một ngưới bạn mang về cho, có nhan đề: Cụm Hoa Tình Yêu, Tập Thứ XI 2005. Bìa mầu nâu đất, chữ in ở bìa và gáy mạ vàng, quý phái. Mục lục ghi 168 tác giả, 693 trang, không tính bảng Mục lục.

Quả thật, đấy là những sự kiện đáng quý và trân trọng của những nhà thơ Việt Nam sau biến cố năm 1975, nay đã nửa thế kỷ.

Trở lại với nhà thở Phổ Đức, hầu như suốt mấy chục năm, ông miệt mài với thơ, sáng tác thơ cho mình và tặng bạn hữu cùng trong nghiệp văn chương, chữ nghĩa. Qua những trang thơ này, Phổ Đức thể hiện tình cảm của mình với bạn hữu. Ông hiểu cuộc đời, hiểu khuynh hướng sáng tác văn chương của bạn hữu. Những bài thơ được trích dẫn trên đây từ cuốn Thơ của đời, đã biểu hiện rõ điều này, dù với người chỉ có 4 câu như Tuệ Sĩ, dài hơn một chút như Y Sa, 8 câu và nhiều nhất là Sơn Núi tức nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, sau năm 1975, nhà thơ này bỏ Sài Gòn, đem gia đình lên Bảo Lộc sống với cà phê, trà như một “ẩn sĩ”, và Phổ Đức đã rất thành công qua những lời thơ mô tả về cuộc sống của gia đình và nhất là con người Nguyễn Đức Sơn, theo quan điểm của ông.

Phổ Đức với Tập Hai Mươi Thế Kỷ Thơ

Sài Gòn 2001

Mở vào trang sách bên trong, ngoài trang tựa đề sách, độc giả gặp ngay trang in tất cả 170 tác giả có bài trong sách, xếp theo thứ tự A, B, C.

Chính xác thì đây là tập thơ xướng họa giữa các nhà thơ và Phổ Đức là người cuối cùng họa lại bài ấy. Đề tài là thiên nhiên, bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, những vấn đề trong cuộc sống của con người, như tình cảm cha mẹ, bạn hữu, tình yêu, nhớ nhà, trở về, làm thơ tặng bạn. Ngoài ra, còn lịch sử, huyền sử, tình sử, lao lý, ngẫu hứng, thi sĩ, người tình, khai bút xuân, chán, buồn, hoài niệm, vô thường v.v…Hai mươi thế kỷ thơ với 170 nhà thơ, 593 bài, chắc chắn không phải là tất cả, cũng chưa phải là nhiều. Nhưng, chỉ với sự làm việc miệt mài và âm thầm một mình, nhà thơ Phổ Đức đã cho thấy sự đam mê thi ca biết chừng nào. Còn phải kể đến tập Việt sử ca là một trường ca về lịch sử Việt Nam, từ đời Hồng Bàng đến nay gồm 60.000 câu. Một tập khác nữa là Một đời làm thơ, hồi ký (5 cuốn) (Chân dung – Tác phẩm 510 tác giả Văn Nghệ Sĩ Việt Nam mà ông ghi là Quý, Yêu, Thích nhất).

Dưới đây là mấy đoạn trích dẫn:

Về Ngẫu hứng, xin ghi lại đây ba bài: 1 là của Nguyễn Du (chữ Hán), số thứ tự bài là 214, sách trang 90; bài 2 là của Vũ Hoàng Chương, số thứ tự bài là 215, trang 90, bài 3 và cũng là bài cuối là của Phổ Đức, tên bài là Hồng Lĩnh quê người (chỉ quê của Nguyễn Du), sô thứ tự bài là 216, trang 90.

Ngẫu Hứng – 214

Nguyễn Du

Long Vĩ giang đầu ốc nhất gian

U cư sầu cư hốt tri  hoan

Đặt nhân tâm kính minh như nguyệt

Xử sĩ môn tiền thanh giả sơn

Trầm thượng đôi thư phù bệnh cốt

Đăng tiền đẩu tửu khởi suy nhan

Táo đầu chung nhật vô yên hỏa

Song ngoại hoàng hoa tú khả san!

Niềm Vui Đến Tình Cờ! – 215

Vũ Hoàng Chương dịch

Long giang lều cỏ nhện tơ giăng

Buồn đến cùng vui chợt biết chăng?

Khuôn cửa nằm cao xanh ở núi

Gương lòng thoát tục sáng như trăng

Sách trên gối dở thân gầy hạc

Rượu trước đèn tôn nét trẻ măng

Bếp lạnh sớm chiều riêng cúc giậu

Hoa ngôn từ mắt xuống chân rang!

Hồng Lĩnh Quê Người! – 216

Hồng Lĩnh quê Người sương khói giăng

Thiên tài đất nước hiện đây chăng?!

Đầu khe mờ ảo chìm mây biếc

Đáy suối chập chờn nổi boáng trăng

Trước miếu hoang sơ bao liễu trúc

Sau đền hiu quạnh lắm tre măng

Tố Như người hỡi bao dâu bể

Răng rụng tuổi già trơ nướu răng!

Phổ Đức

Vận Nước -217

Mai Sơn Nguyễn Thượng Hiền

Bốn chục năm nay vị nước nòi

Nước nòi chưa mạnh quyết chưa thôi

Đà Long phát trận gươm ba tấc

Nam Định tương bom lửa một mồi

Cha đứa cắn gà cam cõng rắn

Mẹ thằng giày mả dám đem voi

Nào ai mảnh sỹ mưu thâm đó!

Góp sức đun tay để cứu đời.

 Giống Nòi – 218

Nửa thế kỷ qua thương giống nòi

Thăng trầm đói khổ mãi chưa thôi!

Bốn lăm, hai triệu lăn ra chết

Năm bốn cắt chia  lửa loạn mồi

Hỏa tiễn Nga Trung đêm pháo kích

Bom xăng Pháp Mỹ ngày giày voi

Tương tàn cốt nhục đau lòng Mẹ

Lịch sử tối tăm lệ xuống đời.

Phổ Đức

Khóc Hoàng Diệu – 416

Cô thành chống giữ một mình thôi!

Khẳng khái như ông được mấy người!?

Cựu lục nghìn năm gương tiết dọi

Cô thần một chén tấm trung phơi…

Thâu sinh ngày nọ thân còn thẹn

Nghịch tặc năm nay sợ rụng rời!

Nghìn thuở Nùng Sơn nêu chính khí

Anh hùng đến thế lệ cùng rơi!

Vô Danh Thị

Kính Anh Hùng Hoàng Diệu – 417

Thất thủ theo thành phải chết thôi!

Anh hùng bất khuất được bao người

Hiến thân Tổ Quốc danh muôn thuở

Vì nước quên mình dạ  sắt phơi

Hoàng Diệu kiên cường luôn sống mãi

Sỷ liêm Thanh Giản chết không rời!?

Hành Sơn, Châu Đốc gương trung liệt

Hiển Thánh Kỳ đài nhật nguyệt rơi!

Phổ Đức

Thơ Phan Khôi Gửi Vũ Hoàng Chương – 268

Ngừng tim lặng óc bặt giòng tình

Tai mắt như không phải của mình

Thấy dưới ánh trăng muôn khúc nhạc

Nghe trong tiếng ếch một màu xanh

Suối tiên đắm đuối bao cho chán

Khối mộng vờn môn mãi chẳng thành

Thứ ấy từ lâu không có nữa

Ngủ say thức tỉnh dậy buồn tênh.

Thơ Họa Của Vũ Hoàng Chương – 269

Trời vô tâm quá đất vô tình!

Biết gửi vào đâu cái “chính mình”

Tiếng ếch đã trùm lên tiếng sóng

Màu đen lại ngả xuống màu xanh!

Uổng cho thơ dẫu bày trăm trận

Ngán nhẽ sầu khôn phá một thành

Tưởng tới nguồn đào thôi lại tiếc

Con thuyền đêm ấy nhẹ tênh tênh…

Sai Đường – 270

Trăm năm lửa hoạn đốt dân tình

Trái đắng của ai nuốt khổ mình

Cứ tưởng chặt xiềng may sống lại

Nào hay máu nhuộm chết màu xanh

Nghìn sau lịch sử công hay tội?

Nghĩa khí dấu lưu chuyện bại thành

Thế kỷ sang trang đời mở rộng

Kiếp người ngắn ngủi nghĩ buồn tênh!

Phổ Đức

Trông Núi Thạch Bị – 245

Nguyễn Trường Tộ

Gió táp mưa sa chẳng chuyển dời

Núi bia chót vót biết bao đời

Xếp quanh đỉnh núi tròn như đẽo

Đứng chặn ven sông thẳng tuyệt vời

Hầu tước vá trời còn sót lại

Phải rằng lấp bể đến đây thôi

Ví thêm ngọn nữa thành đôi đũa

Đất gọi bàn ăn rượu bể khơi!

Nguyễn Trường Tộ Tiên Sinh – 246

 Biết bao vật đổi cát sông dời

Hiểu rộng nhìn xa tiếng để đời

Yêu nước canh tân thời hủ lậu

Thương dân mở cửa chí cao vời

Hôn quân mê ngủ nghe sàm nịnh

Trí thức đau nhìn nước mất thôi

Kẻ sĩ ẩn thân buồn thế cuộc

Quốc gia thuyền đắm bão trùng khơi.

Phổ Đức

Bị Giam Ở Núi Quan Âm – 264

Phan Bội Châu

Nếu chết xong đi cái cũng hay

Còn ta ta lại thích cho mày

Trời đâu có ngục cho thần thánh 

Đất đá không đường ruổi gió mây

Tát cạn bể đông chèo tắc lưỡi

Mở quang ngàn bắc vẫy đôi tay

Anh em ai nấy xin thêm gắng

Công nghiệp ngàn thu há một ngày!

Người Yêu Nước – 265

Chết để cứu đời sống mới hay

Anh hùng thất thế cũng chao mày

Thơ thời nước mất đừng mơ mộng

Văn buổi tan nhà tránh khói mây

Hãy biến tình yêu thành lửa thép

Nung sôi thù hận thắng cầm tay

Phục hưng Tổ Quốc bằng tranh đấu

Chiến thắng Tự Do phải đến ngày!

Phổ Đức

Tây Hồ Di Thảo – 266

Tây Hồ-Phan Chu Trinh

Dằn vặt sao cho khỏi hội này

Một thân Nam Bắc lại Đông Tây

    Nước cờ đã bí mong toan gỡ

Giấc ngủ đang ngon giở khuấy rầy

Chiu chít càng thương gà mất mẹ

Lao đao chi sá cáo thành bầy

Ớ người chín suối thiêng chăng nhẻ?

Một nén tâm hương chẳng biết đây!

.

Nhớ Tây Hồ Tiên Sinh – 267

Một thân quyết cứu nước non này

Thoát khỏi xích xiềng của bọn Tây

Thất bại ngựa đà sai lối bước

Thành công xe phải đúng đường rầy

Dân đen thức tỉnh còn thưa thớt

Lũ trắng mưu mô đã kết bầy

Chí quyết thời cơ chưa chịu đến

Một mình cô lập tính sao đây!?

Phổ Đức

Cảnh Mỹ Tho – 397

Học Lạc

Trên cảnh Sài Gòn dưới Mỹ Tho

Đâu đâu phong cảnh cũng nhường cho

Lớn ròng chung rạch chia đôi ngả

Cũ mới phân nhau cũng một đò

Phố cất vẽ vời xanh tợ lục

Buồm dong lên xuống trắng như cò

Đắc tình trạo tử quên mưa nắng

Dắn dỏi đưa nhau tiếng hát hò!

Lái Thiêu – 398

Lái Thiêu tố nữ mít thơm tho

Măng cụt chủ vườn nửa bán cho

Hưng Định sầu riêng anh đợi khách

Cầu Ngang dâu chín chị chờ đò

Bình Dương công nghệ nam xanh áo

Thủ Đức nữ sinh trắng tựa cò

Du lịch từng đoàn vui múa nhảy

Bên sông vẳng hát ấm câu hò!

Phổ Đức

Tình Xuân Man Mác – 353

Huy Cận

Không cùng quê quán đất chôn nhau (*)

Nghĩa bạn trời cao với biển sâu

Hai chữ tri âm ta giữ lấy

Nghìn câu phú quý tớ không cầu

Thênh thang vũ trụ chim Hồng hộc

Lồng lộng trùng khơi cánh Hải âu

Tuổi lão hồn thơ nào có lão

Tình xuân man mác mộng ban đầu

Hà Nội 4/7/98

(*) Nơi chôn nhau cắt rốn

Đồng Cảm – 354

Nhạc thơ đồng cảm dễ thân nhau

Kết chặt thâm tình mấy độ sâu

Bể khổ bao người mong vượt song

Đoạn trường bao kẻ muốn qua cầu

Văn Khê khảm ngọc quanh nhà Việt

Huy Cận gieo vàng khắp đất Âu

Thơ, nhạc như tình không có tuổi

Còn nguyên giao cảm lúc ban đầu

Lê Thanh Thái

(Bỏ một bài số 355)

Trường Sinh – 356

Thế kỷ vơi dần mới gặp nhau

Phong ba hệ lụy cũng chìm sâu

Núi cao sừng sững bao quan tái

Sông cạn chông chênh mấy nhịp cầu!

Thế giới chuyển mình Nga, Mỹ, Úc

Hoàn cầu hợp tác Á, Phi, Âu

“Trường Giang” trùng điệp ngày sinh nhật!

Tiền chiến khai thơ lục bát đầu.

Vùng ga Sài Gòn 13/6/98

Phổ Đức

Ngày Xuân Thơ Rượu – 325

Tản Đà

Trời đất sinh ra rượu với thơ

Không thơ không rượu sống như thừa

Công danh hai chữ mùi men nhạt

Sự nghiệp trăm năm nét chữ mờ

Mạch nước sông Đà tim róc rách

Ngàn mây non Tản nước lơ mơ

Còn Thơ còn rượu còn Xuân mãi

Còn mãi Xuân còn rượu với Thơ.

Rượu Bên Thơ – 326

Trăm năm vui nhất rượu bên thơ!

Không rượu chẳng thơ kiếp sống thừa?

Thi sĩ say thơ còn sống mãi

Phú ông mê tiếng chỉ bia mờ!

Công danh chìm nổi như cơn mộng

Sự nghiệp thăng trầm tựa giấc mơ

Thơ rượu – rượu thơ – nguồn cảm hứng

Thi nhân bất tử vẫn còn thơ!

Phổ Đức

Anh hùng dân tộc – 321

Tương Phố

Anh hùng dân tộc có hay không?

Tháng đợi năm chờ mỏi mắt trông

Loạn khắp sa trường phơi vết máu

Thảm bao tâm địa vẫn hơi đồng

Đạn bom xáo trộn bầu trời đất

Tang tóc âm thầm cảnh núi song

Hỡi nước tình quê bao thắc mắc

Muôn vàn tâm sự…dưới trời Đông.

Thế kỷ 21 – 322

Thế kỷ hết rồi có thấy không?

Lòng dân chờ đợi mỏi mòn trông

Tự do kết trái xanh như núi

Dân chủ nở hoa trắng tựa đồng

Độc lập bốn ngàn khai dựng nước

Nhân Quyền hai mốt mở mang song

Bắt tay Thế giới cùng chung bước

Nhật Nguyệt huy hoàng rợp Á Đông.

Phổ Đức

Nàng Sách Của Tôi -145

Đông Hồ

Da ngọc ngà phô giấy nõn nường

Tóc huyền mụn gợn mực yêu đương

Dịu thon lưng uốn đường sông núi

Trinh sạch lòng pha chất tuyết sương

Xiêm áo phong phanh tờ lụa ngỏ

Phấn hồng thoang thoảng bụi hương vương

Nàng thơ kiều yiễm xuân kiều yiễm

Chữ gấm lời hoa gởi bốn phương.

Nàng Thơ – 146

Thi bá mê say được mấy nường?

Gợi bao tình sử chuyện yêu đương

Nụ cười cuốn hút hồn sông núi

Ánh mắt se lòng khách gió sương

Nhan sắc nàng thơ vừa phủ kín

Khiến tài thi sĩ mãi còn vương

Một lần giao hợp đêm kỳ ngộ            

Tài tử giai nhân – thiên nhất phương.

Phổ Đức

Vẫn Yêu Đời – 485

Trần Văn Khê

Giữ gìn truyền thống đã lâu rồi

Máu nóng dồi dào chửa chịu vơi

Lắm lúc xa quê lòng bứt rứt

Đôi khi nhớ bạn dạ bùi ngùi

Thuyết trình Việt nhạc hơi còn mạnh

Biểu diễn Dân ca nhịp chẳng lơi

Cứ mỗi một năm thêm một tuổi

Tuổi cao mặc tuổi vẫn yêu đời!

Paris 17g 31/05/98

Tình Có Còn Chăng? – 486

Ngoảnh lại đa đoan sự đã rồi

Thời gian đong đếm những đầy vơi…

Có sinh có lão đành quy luật

Tri kỷ tri âm cũng ngậm ngùi

Vượt dốc qua đèo đà thử thách

Ngược dòng sóng gió chớ buông lơi

Thiên niên kỷ nữa nào ai biết

Tình có còn chăng giữa cuộc đời?

Vân Trang- Gia Định 30/05/98

Tình ChẳngCạn487

“Sáu chục mùa xuân” quá bước rồi

Biết bao dâu bể nỗi đầy vơi…

Chuyện xưa ôn lại càng lưu luyến

Lối cũ vời trông những ngậm ngùi

Bằng hữu chi giao tình chẳng cạn

Văn chương gắn bó dạ không lơi

Vui câu xướng họa quên ngày tháng

Danh lợi bon chen mặc kệ đời!

Tôn Nữ Hỷ Khương- Sài Gòn 31/05/98

Thăng Long Thành Hoài Cổ -161

Bà Huyện Thanh Quan

Tạo hóa gây chi cuộc hý trường

Đến nay thấm thoát mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước còn cau mặt với tang thương

Nghìn năm gương cũ soi kim cổ

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

Nhớ Huế -162

Chìm nổi bao năm lắm đoạn trường

Chiếc thân cô quạnh giữa mù sương

Chân trời lệ ứa mờ cung nguyệt

Góc biển sóng trào rạng thái dương

Thay lớp Tự do ôm khổ lụy

Đổi ngôi Dân chủ ngậm đau thương

Đứng làm Nhân chứng cơn tao loạn

Bao lớp phong ba dậy hý trường!

Phổ Đức

Huyền Sử – 572

Đinh Hùng

Thời đại hoàng kim đã phục hồi

Ta mừng bạo chúa sắp lên ngôi

Tìm thơ vương giả, Xuân lưu huyết

Mê dáng cung phi, nước ngậm cười

Nhìn suối hư linh tìm thấy mộng

Thiện tâm về ẩn chốn nào vui

Buồn riêng một bóng trăng huyền sử

Sao Thái Hòa xưa rụng xuống người.

Tình Sử – 573

Việt sử ca ngâm, lửa phản hồi

Một trăm chương đã sắp vào ngôi

Ba mươi năm viết, buồn sông núi

Sáu chục ngàn câu, đẹp tiếng cười!

Tổ quốc thăng trầm, trăng ứa lệ

Anh hùng cứu nước, mặt trời vui

Bốn ngàn năm Việt Nam Văn Hiến

Dân tộc tồn vinh bởi sức người!

Phổ Đức

Niềm Tin – 451

Nghiêm Phái Thư Linh

Tiếng vọng khuyên từ thuở hỗn mang

Lạc lòng âm hưởng lỗi cung đàn

Ai quân tử hiểu mình thua cuộc?

Ai tiểu nhân lầm bước kéo thang?

Kém chí thất cơ, đành phải chịu

Hận đời lỡ vận hết mơ màng

Hãy tin…tin chính thân tâm đã

Sự nghiệp lo gì cảnh nát tan!?

Thất Vận – 452

Đỏ đen cờ bạc, cóc cần tài

Lúc khốn đường cùng, trói cả tay

Nên biết ẩn thân chờ vận tốt

Còn hơn chường mặt đón thiên tai

Mười năm đại hạn, mây bao phủ

Một tháng tiểu niên, nắng kéo dài!

Chỉ biết trông chờ cung phúc đức

Trời qua đêm tối phải sang ngày!

Phổ Đức

Bền Chí – 453

Nghiêm Phái THƯ LINH

Sách đốt vì e nỗi bất tài?

Chôn thơ ném bút chịu xuôi tay

Hoa tươi cũng héo trong tao loạn

Lá úa tàn rơi giữa hỏa tai

Vận hạn tới…Trời mây xám phủ

Sắt son bền…mộng triệu xanh đài

Đừng than thở cố gây tin đức

Sẽ có tương lai đẹp vạn ngày!

Chờ Xuân – 65

Ôi hay xuân về trên xứ lạ

Mà lòng ta chửa thấy tầm xuân

Hay là chồi lộc theo băng rã

Cùng khối sương chờ cội Nhật Tân.

Ngô Mạnh Thu

Xuân Đợi – 66

Xuân đến ta nhớ người xứ lạ

Quê nhà sao chửa thấy mùa xuân

Năm mươi năm lòng người băng rã

Ta vẫn mơ một cội Nhật Tân.

Khải Triều

Xuân Sầu – 67

Xuân đến quê hương không tiếng pháo

Hồn ta khao khát thấy mùa xuân

Hai mươi năm nghĩa tình điên đảo

Đâu biết máy đời đã tối tân.

Phổ Đức

Về 03 bài thơ cuối cùng trên đây, kể từ bài “Chờ xuân” số 65 của tác giả Ngô Mạnh Thu, kế đến là bài của Khải Triều và cuối cùng là bài của Phổ Đức, chúng tôi xin nói vài lời về xuất xứ của ba bài này. Trước hết là ông Ngô Mạnh Thu, ông là nhạc sĩ trong Phong trào Du Ca tại miền Nam VNCH, trước năm 1975. Phong trào Du Ca gồm có một sô nhạc sĩ nổi tiếng, trong đó có nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang (Trưởng Phong trào), nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, Ngô Mạnh Thu, Anh Việt Thu, Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn Hữu Nghĩa, Giang Châu v.v…Sau ngày 30-04-1975, nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu sang sống tại Hoa Kỳ. Vào một dịp Têt Nguyên đán, (Chúng tôi quên năm này) ông gửi về cho Phổ Đức và tôi chung một tấm thiệp là một vườn xuân, cảnh đẹp. Bên trong thiệp, ông viết mấy lời chúc tết cả hai chúng tôi. Trang bên, ông ghi bài thơ 4 câu mà Phổ Đức đặt tên là “Chờ xuân”. Ngày Mồng Hai Tết năm đó, Phổ Đức chở vợ đến nhà chúc Tết tôi. Ông trao cho tôi tấm thiệp chúc tết của Ngô Mạnh Thu, nhắc tôi họa lại bài ấy. Tôi đã viết 4 câu như ghi trên đây, rồi gửi Phổ Đức chuyển cho Ngô Mạnh Thu. Phổ Đức cũng đưa cho tôi xem 4 câu thơ của ông. Nay cả ba bài đã vào sách này. Ghi lại việc này, chúng tôi chỉ muốn nói rằng, bất cứ một tác phẩm văn chương nào, thơ, văn cũng đều có một lịch sử ra đời của nó.

Phổ Đức Với Những Dòng Thơ Tưởng Niệm

Thi phẩm này có hai phần, mặc dù tác giả không phân chia rạch ròi như trong các sách biên khảo. Anh cho in những bài thơ khoác áo tưởng niệm xen kẽ nhau, đang là bài của anh viết về sự ra đi của mẹ hay của cha mình; viết về một nhân vật lịch sử chính trị, anh hùng dân tộc nào đó, một thân hữu, một nhà thơ v.v…thì anh lại in những bài của người khác tiếp theo sau.

Trang đầu của tập thơ Những Dòng Thơ Tưởng Niệm, Phổ Đức đã kể ra những danh nhân mà ông gọi là “Nhị thập bát tú”. Đứng đầu là hai Đấng thiết lập ra Phật giáo (Thích-ca Mâu-Ni) và Kitô giáo (Chúa Kitô Giêsu), kế đến là:

-Quan Thế Âm

-Hai Bà Trưng

-Nguyễn Huệ

-Trần Bình Trọng

-Hoàng Diệu

-Nguyễn Trãi

-Trần Tế Xương

-Nguyễn Thái Học

-Khổng Tử

-Lão Tử

-Trang Tử

-Lý Bạch

-Yasunari Kawabata

-Ernest Hemingway

-Nguyễn Du

-Phan Thanh Giản

-Tư Mã Thiên

-Hàn Tín

-Kinh Kha

-Jean Paul Sartre

-Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu

-Nhất Linh Nguyễn Tường Tam

-Tam Ích

-Đinh Hùng

-Nguyễn Hiến Lê

Sài Gòn 1974

Trong danh sách “28 Vì Sao” này, nhà thơ Phổ Đức đã kể đến Đức Phật, Chúa Giêsu rồi đến các anh hùng dân tộc, các triết gia, nhà văn, thi sĩ, biên khảo, nhà chính trị, cả Kinh Kha, được mệnh danh là “tráng sĩ”, nhà sử học. Tất nhiên, đấy là quan điểm của ông nhưng chúng tôi thấy, không kể hai vị thuộc tôn giáo, thì 26 vị kế đó cũng là một “mẫu mực”, một “tấm gương” cho người sau. Nói cách khác, nhà thơ Phổ Đức lập ra bảng danh sách “Nhị Thập Bát Tú” này cũng là một biểu lộ về châu thân anh. Anh đã thể hiện cái châu thân này trong cuộc đời trong gia đình anh và với mọi người. Vì vậy, anh cũng là một tấm gương đáng quý.

Mấy Bài Thơ Tưởng Niệm Của Phổ Đức:

Mỗi vị trong “28 Vì Sao”, đều là một “điểm sáng” lưu lại cho đời, nhà thơ Phổ Đức đều viết 4 câu thơ, mô tả về “điểm sáng” này.

Thí dụ:

về Lão Tử:

Tranh bá đồ vương cũng hại đời

Sao bằng ngày tháng được rong chơi

Lưng trâu nghe sáo thiên nhiên vọng

Thoát vòng ảo hóa của buồn vui

Trang Tử:

Lòng người ai hiểu được về sau

Vợ chết mà vui chẳng thấy sầu

Danh lợi cũng tan như bọt biển

Con thuyền bào ảnh biết về đâu!?

Trong số “Nhị Thập Bát Tú”, Phổ Đức kể đến hai nhà văn là Nhất Linh và Tam Ích, phải tìm đến cái chết để chứng minh cho sự thật của mình. Tuy nhiên, trong dòng họ của Nguyễn Tường Tam, mãi về sau này, có vị đã bày tỏ về cái chết của ông trong hai tác phẩm hồi ký: Việt Nam một thế kỷ qua, Nguyễn Tường Bách và tôi. Bài viết của Ngô Thế Vinh đăng trên Văn Việt, ngày 25 tháng Chín, 2021. Theo tác giả Ngô Thế Vinh, Nguyễn Tường Bách là Bác sĩ và tôi, là cô giáo Hứa Bảo Liên, người bạn trăm năm của Nguyễn Tường Bách.

Trong bài viết của Ngô Thế Vinh, ông có chép lại một đoạn về cái chết của Nhất Linh, có lời nhận xét về cái chết này của Nguyễn Tường Bách. Xin được dẫn lại:

Cái Chết Của Nhất Linh 1963

“Năm 1948, tháng 7, tin đột ngột về anh Hoàng Đạo mất trên đường xe lửa từ Hồng Kông về Quảng Châu đã làm xúc động tới mỗi thớ tim của những người xa nước. Thì cũng một ngày tháng 7 nhưng là năm 1963, tôi bỗng nhận được một bức điện tín từ Thượng Hải đến, do anh Văn gửi – anh Vũ Đức Văn hiện dạy tại trường Ngoại Ngữ Học Viện. Ai ngờ, trong thư câu đầu là: ‘được tin buồn là anh Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã qua đời.’ Tin này anh Văn cắt từ tờ báo L’Humanité của đảng cộng sản Pháp xuất bản ở Paris, đại ý nói ‘Nhà văn, nhà chính trị Nguyễn Tường Tam do vướng vào một vụ án chính trị đã tự sát. Ông đã từng là Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao trong chính phủ Liên Hiệp Việt Nam năm 1946…’

“Tin bất ngờ đã khiến tôi lặng người, không nén được nỗi đau thương trong lòng. Sao lại có thể như thế được? Một người anh thân yêu, một chiến hữu thân mật trong sự nghiệp văn chương và cách mạng, đã từng sống với nhau bao phút vui buồn, trong an bình cũng như trong gian truân, lưu lạc, có quan hệ không những là ruột thịt mà còn là sinh tử, đương còn hy vọng gặp lại nhau một ngày nào trong tổ quốc – nay đã mất người anh thân yêu, lỗi lạc, một anh tài đất nước, mà không thể về nhìn lại mặt anh lần cuối.” 

Cũng trong cuộc phỏng vấn với LS Lâm Lễ Trinh (2005), Nguyễn Tường Bách – sau 17 năm sống ở Mỹ, cho rằng: “Anh Nhất Linh đã tự mình từ giã cõi đời. Cách giải quyết này, trong thâm tâm tôi không tán thành lắm.” Nguyễn Tường Bách nói rõ hơn, và cho rằng cách chọn lựa của Nhất Linh là đáng tiếc và tiêu cực. Nhất Linh có thể đi ra một nước ngoài dễ dàng, như sang Cam Bốt, khi thời thế thay đổi Nhất Linh có thể trở về, anh Tam đang còn tiềm năng để cống hiến, nhất là về lãnh vực văn chương văn hoá. “Nghe nói trong đám tang anh rất lớn, dân chúng đổ ra đường để tiễn đưa một tinh anh của dân tộc. Nhưng đám tang dù lớn, dù đông tới đâu, cũng chẳng có ý nghĩa gì nữa, khi con người đã qua đời”.

Ngoài ra, Phổ Đức cũng viết về cái chết của Tư Mã Thiên, tác giả bộ sử: “Sử ký Tư Mã Thiên”, vẫn lưu lại cho hậu thế những luận điểm của ông về các ông Hoàng đế và các triều đại chính trị ở Trung Hoa cổ. Ngày nay vẫn chưa có bộ sử nào thay thế được bộ sử của Tư Mã Thiên. Phổ Đức viết về ba nhân vật này cũng là một biểu hiện của tinh thần tôn trọng sự thật trong cuộc đời ông.

Nhất Linh Nguyễn Tường Tam:

Tòa án sinh ra lắm ngục tù

Xử ai khôn dại biết ai ngu

“Đời ta lịch sử sau này xét”

Nghĩa khí dâng cao phải giã từ.

Tam Ích:

Oan nghiệt như vòng siết cổ đau

Nghìn xưa cho đến cả nghìn sau

Ra đi là thoát đường sinh lụy

Sách vở nằm trơ khóc mộ sầu.

Tư Mã Thiên

Nếu chết rũ xong được oán hờn

Thân dù bị thiến nhục nào hơn

Lất lây viết sử ngàn trang để

Vạn đại danh truyền với nước non.

Phổ Đức Với Việt Sử Ca

            Chúng tôi in lại bài viết về cuốn Việt Sử Ca thay cho lời nhận xét về nhà thơ Phổ Đức. Bài này, chung tôi viết từ tháng 8 năm 1995. Phổ Đức đã in vào tập Hai Mươi Thê Kỷ Thơ.

Anh Phổ Đức và tôi chỉ mới gặp nhau cách nay mấy năm, nhưng tôi lại có một cái duyên là được anh trao cho đọc một bản thảo về một vở kịch hơn bốn ngàn câu với 40 màn (kịch thơ) viết về cuộc đời của Đức Phật dươi tựa đề Người Tái Tạo Đời, từ Đản sinh, xuất gia, thành đạo, thuyết pháp đến nhập niết bàn. Nay anh lại gửi tôi cuốn Việt Sử Ca và ngỏ ý nhờ tôi viêt lời bạt. Đã bảo là cái duyên với anh, nên tôi nhận lời. Những trang sách này viết về anh, nên đưa vào đây với một vài sửa chữa và bổ sung.

Theo sự hiểu biết hạn hẹp của tôi về lịch sử Việt Nam qua thi ca, thì cuốn Việt Sử Ca của nhà thơ Phổ Đức là dài hơi nhất trng ngành lịch sử học Việt Nam từ trước đến nay về loại này, nó vượt quá sự hiểu biết của tôi. Cho nên tôi sợ thất lễ với các bậc thức giả. Nhưng vì mến tấm lòng chân thành của tác giả nên tôi viết mấy lời này cũng với sự chân thành để đáp lại ý muốn của tác giả Phổ Đức.

Từ tập Người Tái Tạo Đời cho đến Việt Sử Ca, nhà thơ Phổ Đức đã chứng tỏ khả năng làm việc của anh rất là mãnh liệt. Anh thường nói với tôi, mình viết được cái gì trong lúc này thì cứ viết, chứ không nhất thiết là phải xuất bản ngay. Đó là một thái độ của sự khiêm nhường, một dấu hiệu của lòng say mê thi ca. Nhưng tôi thì lại mong rằng hai tác phẩm lớn này cần được ấn hành sớm, để độc giả nào có cái tâm hướng về Đức Phật sẽ tìm thấy trong Người Tái Tạo Đời một hướng đi cho cuộc đời của mình. Độc giả nào chọn ngành sử học, thì chẳng những sẽ tìm thấy trong Việt Sử Ca những dòng thơ mang tâm sự của tác giả mà còn như được sống cùng thời với những biến cố, những sự kiện và những nhân vật lịch sử của từng triều đại, từng thời kỳ. Bởi lẽ tất cả những yếu tố này, ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp cũng nối kết lại với nhau để hình thành một chủng tộc, một giống nòi, một văn hóa Việt Nam. 

Chẳng hạn khi đọc đến đoạn kết tác giả viết về nhà Hồ, tôi thấy bất ngờ và hiểu tâm trạng của Phổ Đức như sau:

Đọc sử bài học đáng ghi

Việt Nam tranh đấu khởi đi một lòng

Dù mấy thế kỷ nô vong

Dân ta vẫn đứng thoát vòng Bắc phương

Làm vua chỉ một chặng đường

Đất nước trường cửu nhân quyền tự do

Quên mình vì nước dân lo

Biết rằng Tổ quốc chung cho mọi người

Độc tài chỉ giai đoạn thôi

Bạo tàn cũng đổ dưới trời đất Nam

Đây là bài học ghi lòng

Việt Nam đấu sử còn trong lâu dài

Mong sao đất nở nhân tài

Nước mới bền vững ngày mai huy hoàng

Vì là sử ca với suốt dọc dài lịch sử hàng nghìn năm từ đời Hồng Bàng cho tới nay mà tác giả lại muốn bảo lưu những sự kiện lịch sử của từng thời kỳ và triều đại những nhân vật từ vua chúa tới hàng sĩ phu, trung thần hay nịnh thần, những địa danh hay chiến trận và những nghi lễ, luật lệ phép nước v.v… nên tác giả khó tránh việc gượng ép trong vần điệu thi ca. Tuy nhiên, sơ khuyết này không làm giảm đi chất liệu lịch sử trong toàn bộ tác phẩm này, một công trình lớn lao. Ví dụ viết về vua Gia Long sau khi thống nhất đất nước:

Nguyễn Ánh sau 24 năm

Mới dứt được cả Tây Sơn trong ngoài

Nước nhà thống nhất trăng soi

Bắc Nam một dải tiếng còi xuyên sơn

Niên hiệu người đặt Gia Long

Tên nước người đổi Việt Nam anh hùng

Kinh đô đóng ở Phú Xuân…

Cuối chương XXXVII viết về tình thế Việt Nam từ năm Giáp Tuất về sau, tác giả phóng bút:

Nhân sĩ không có tài cao

Làm sao cứu nước khỏi vào thực dân

Tình hình phức tạp rối ben

Đất nước như một ngọn đèn gió chao

Triều đình ngó trước nhìn sau

Toàn lũ ăn hại rút đầu lòi lưng

Nếu nghe từ trước Canh Tân

Đời sau tránh họa hại dần cháu con

Thuốc sai giết một linh hồn

Nước sai giết cả núi sông đất trời

Văn sai viết giết bao người

Thơ sai hại cả muôn đời về sau.

Đọc Việt Sử Ca của nhà thơ Phổ Đức từ đầu đến những dòng thơ trên đây, tôi thường phải dừng lại để nhớ về chính sử. Nếu độc giả nào có hơi khó chịu vì gặp phải đâu đó những câu thơ gượng ép trong vần điệu thì sẽ được đền bù lại khi tác giả đã đi qua những sự kiện địa danh v.v…Bấy giờ mới là lúc tác giả bày tỏ tâm tư mình, mới là lúc anh thể hiện tính sáng tạo thi ca của anh.

Tháng 8-1995

Vài Lời Cuối Với Anh Phổ Đức

Như chúng tôi đã nói trên đây là, bài viết về Lịch sử ca là thay thế cho nhận xét chung của chúng tôi về nhà thơ Phổ Đức. Thế nhưng, chúng tôi vẫn còn như muốn viết thêm vài lời về anh. Bất cứ tác phẩm nào của Phổ Đức chúng tôi đã đề cập đến trong sách này, vẫn có điều chúng tôi còn muốn bàn đến hay trích dẫn để giới thiệu với độc giả. Bởi một điều: thành phần cầm bút chúng tôi, nếu ngoảnh mặt đi với sự thật hằng phơi bày trước mặt, để bán lương tâm cho điều gian trá, thì cũng có nghĩa những gì chúng tôi đã viết, nay tự mình xóa bỏ.  Phổ Đức đã không làm thế và anh đã có nhiều bạn hữu. Phổ Đức đã ra đi ở tuổi 73. Nghĩa là anh không còn thực hiện được gì nữa, không nói gì được nữa. Những gì anh trao gửi chúng tôi, trách nhiệm của chúng tôi bây giờ là bảo tồn và trao lại cho độc giả. Nay chúng tôi làm việc này, nhưng không trọn vẹn. Cho nên chúng tôi áy náy. Vì thật sự, Phổ Đức đã sống cho bạn văn chương, sống với bạn văn chương. Chúng tôi chưa nói hết những điều này, cũng có nghĩa chúng tôi chưa nói được bao nhiêu những gì anh Phổ Đức dành cho bạn văn chương của mình.

Điều thứ hai chúng tôi học được ở Phổ Đức là, đọc các tác phẩm của anh, nhất là tập Hai Mươi Thế Kỷ Thơ và tập Những Dòng Thơ Tưởng Niệm, chúng tôi như được sống trở lại với các bậc anh hùng dân tộc, các bậc tiền bối về lãnh vực văn hóa, văn nghệ, từ đầu thế kỷ 20 và lên xa hơn một chút nữa. Phổ Đức thật phong phú về điều này và anh trân trọng nhắc đên các vị này.

Anh Phổ Đức! Dù bài viết này chưa đúng tầm của anh, cũng dâng lên anh như một nén tâm hương của tôi.

Khải Triều

Bài Mới Nhất
Search