Nguyễn Quynh: Từ bài học đau xót của Covid-19, nghĩ về dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam

Tôi viết bài này không để làm anh hùng bàn phím, càng không để gào thét thay những linh hồn chưa kịp nói một lời cuối trong những khu cách ly thời đại dịch. Tôi viết vì tôi mang ơn họ – những người đã ra đi trong thầm lặng, trong bóng tối không tên, không thuốc, không người thân bên cạnh, không một tiếng khóc tiễn đưa, và quan trọng nhất không một ai chịu trách nhiệm.

Chúng ta đã đi qua cơn đại dịch COVID-19 với vết sẹo không bao giờ lành. Không phải chỉ vì số người mất mà vì cách họ mất. Cái mất không phải từ virus mà từ sự thờ ơ của chính sách. Người dân Sài Gòn, cái thành phố từng được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” đã chứng kiến những ngày mà trái tim của nó ngừng đập. Hơn 23.000 người mất riêng tại đây (số liệu chính thức công bố năm 2022), phần lớn trong số đó không hề được chăm sóc y tế tử tế, không có điều kiện để thở oxy, không được ai ôm, không có ai nhìn mặt lần cuối. Họ mất vì bị “bắt nhốt” vào các khu cách ly như tù nhân giữa thời bình, ở nơi mà một gói thuốc hạ sốt trở thành đặc ân, một bịch mì tôm là của hiếm, một cú điện thoại cho người thân là ảo tưởng.

Ai đã ra quyết định nhốt người F0, F1, F2 vào cùng một chỗ để rồi tạo thành ổ dịch khổng lồ, gieo rắc lây nhiễm chéo hàng loạt? Ai cho phép những trung tâm cách ly tồi tàn, người ta nằm co ro giữa nền xi măng lạnh ngắt, dùng áo mưa làm chăn, ăn thức ăn thiu, uống nước máy chưa lọc, tồn tại mà không bị xử lý?

Ai cho quyền bắt hàng triệu người test COVID vô tội vạ, mỗi ngày hàng ngàn người xếp hàng dài như thời bao cấp chỉ để lấy mẫu, rồi dương tính ngay vì bị lây chéo trong quá trình test? Đã bao nhiêu người mất vì đi test, không phải vì bệnh mà vì bị đưa vào lò cách ly tập trung không bác sĩ, không thuốc, không oxy?

Thảm kịch ấy không được nhìn dưới góc nhìn thiên tai dịch bệnh. Đó là nhân họa. Và điều đau đớn nhất là không ai phải chịu trách nhiệm. Không một dòng điều trần, không một lời xin lỗi chính thức, không một lời sám hối từ những người ban hành các chính sách đó. Chỉ có một khẩu hiệu vang lên như lời răn dạy dân đen:

“Chống dịch như chống giặc.”

Vâng, giặc đây không phải virus. Giặc là người dân, là nam – phụ- lão- ấu, là những người bán vé số, những bà cụ bán xôi sáng, người bị suyễn, người bị th.an kinh…và những đứa trẻ mồ côi vì không ai dám đến bệnh viện sinh, bị xem như kẻ thù, bị bắt về khu cách ly, bị bỏ đói bỏ khát như thời trừng phạt.

Giữa lúc ấy, trong khi nhân dân đau đớn vật vã, một nhóm người lại biến nguy thành cơ, coi nỗi đau của đồng bào là cơ hội làm giàu. Chuyến bay “giải cứu” một danh từ đầy mùi nhân đạo, hóa ra lại là “chuyến bay giải ngân” cho nhóm lợi ích, một tấm vé về quê có giá hàng ngàn đô, người dân nghèo bị ép chọn giữa mất nơi xứ người và nợ nần đến cuối đời. Hơn 30 quan chức bị bắt vì ăn tiền trên nước mắt dân. Nhưng có ai trong số đó xin lỗi công khai nhân dân không?

Test kit Việt Á là một vụ bê bối có thể ghi vào sử đen của y tế nước nhà. Hơn 4.000 tỷ đồng là số tiền mà dn này trục lợi từ việc ép buộc test, nâng khống giá kit, chia chác với quan chức trong khi hàng triệu người dân lâm vào cảnh túng quẫn vì phải xét nghiệm liên tục để ra đường đi làm kiếm ăn.

Nhưng đến hôm nay, khi đứng trước bài học đầy máu và nước mắt đó, có ai dám nhìn lại? Có ai dám khẳng định chúng ta đã rút được kinh nghiệm? Có ai nói sẽ không có lần thứ hai?

Không !

Vì chính cái tư duy chống dịch như chống giặc ấy giờ lại hiện hình dưới dạng khác: chống dân như chống “nguy cơ phản biện”, chống tiếng nói góp ý như chống “thế lực thù địch”. Tư duy ấy vẫn sống, vẫn hiện diện trong từng quyết sách lớn như dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam đang được xúc tiến bất chấp mọi tranh cãi.

Một dự án hơn 2,1 triệu tỷ đồng, tương đương gần 60% GDP của Việt Nam năm 2024 được lên kế hoạch, thiếu khảo sát kỹ lưỡng, bỏ qua lời góp ý của nhiều tầng lớp dân chúng, bằng chứng là vô số bài đăng phản biện, những comment không tán đồng, và quan trọng hơn hết: nguy cơ biến ta thành nơi tiêu thụ hàng hóa Tàu một cách chính ngạch và có đường ray riêng để chở hàng sang, hủy hoại nền nông nghiệp, sxkd, công ăn việc làm nếu nhìn sang Lào như một bài học.

Bài học của đại dịch còn đó, khi chúng ta quá tin vào “thượng tầng trí tuệ”, quá xem nhẹ phản biện của nhân dân, quá vô cảm với số phận của người dân thường. Để rồi mỗi chính sách sai lầm không chỉ là một con số âm trong ngân sách mà là một tấm mạng người nằm xuống.

Liệu lần này với đường sắt tốc độ cao, có ai dám đảm bảo lợi ích dtộc được đặt lên hàng đầu, chứ không phải lợi ích của nhóm? Hay rồi đây, khi bánh xe siêu tốc chạy qua hoặc nó sẽ nghiền nát những ngành nghề sản xuất nội địa, sẽ bê hàng Tàu vào như nước lũ, trong khi hàng hóa ta khô trên ruộng đồng?

Tôi muốn mọi người nhìn lại một lần nữa bi kịch thời dịch cúm, Sài Gòn trở thành chiến trường đúng nghĩa: chốt chặn khắp nơi, dây kẽm gai bủa vây đường phố, tiếng loa phát thanh vang rền như thời chiến. Nhưng thay vì đánh giặc thật sự, ngta lại “đánh” vào chính người dân.

F0 nhẹ cũng bị đưa đi tập trung. F1, thậm chí F2 chỉ cần có dấu hiệu “tiếp xúc gần” cũng bị cưỡng ép đưa đi. Có gia đình 6 người, khi một người bị F0 nhẹ thì cả nhà bị bắt đi khu cách ly. Theo lời kể từ hàng trăm người sống sót, chỉ có mùng rách, nền xi măng, một bữa ăn cầm hơi và không bác sĩ túc trực.

Trong một thống kê nội bộ rò rỉ vào đầu năm 2022 từ Bộ Y tế, tỷ lệ lây nhiễm chéo tại các khu cách ly tập trung vượt quá 47%, tức gần một nửa số F1 thành F0 ngay tại nơi vốn được thiết kế để “ngăn chặn dịch”. Có hàng trăm người mất không vì virus, mà vì sốc tim do thiếu thuốc, viêm phổi cấp không được cấp oxy, hoặc đơn giản là không chịu nổi cảnh sống như tù nhân thời trung cổ.

Chưa từng có quốc gia nào, ngay cả những nước độc tài mạnh tay nhất lại áp dụng kiểu chống dịch như vậy. Singapore, Hàn Quốc, thậm chí cả Trung Quốc dù phong tỏa nghiêm nhưng không có chuyện đưa người dân khỏe mạnh đi nhốt hàng loạt như vậy. Việc cách ly tập trung quy mô lớn không có hệ thống y tế hỗ trợ chẳng khác nào hành vi phi nhân đạo trá hình dưới danh nghĩa “khoa học”.

Trong khi đồng bào đang kêu cứu khắp nơi, thì một bộ phận quan chức đã nhanh tay biến nước mắt người Việt xa quê thành bảng giá đô la. Đã từng có những gia đình phải trả gần 3000 USD/vé để về nước, trong khi giá thực tế chỉ khoảng 300–500 USD.

Theo báo cáo điều tra (năm 2023), có ít nhất 21.000 người bị ép buộc trả tiền “lót tay” để có suất về nước, tổng số tiền chiếm đoạt gần 400 tỷ đồng. Và cũng chính từ những chuyến bay này, không ít người sau khi về nước lại bị tiếp tục bắt vào khu cách ly, không được gặp gia đình, không được điều trị, rồi âm thầm ra đi vì biến chứng.

Người dân bị ép nộp tiền nhân danh sự tử tế của ai?. Nhưng sự tử tế ấy, hóa ra là bữa tiệc chia chác, giữa các tay trùm lo vé, giữa những kẻ mặc áo đạo đức nhưng dạ đầy tham vọng.

Hơn 4.000 tỷ đồng, con số khủng khiếp ấy không nằm ở gói cứu trợ dân nghèo, không nằm trong trợ cấp y tế cộng đồng, nó là tiền chi cho các bộ test kit rởm, bị thổi giá gấp 3-5 lần và được “quy hoạch phân phối” cho nhiều tỉnh thành. Để hợp thức hóa, người dân bị ép xét nghiệm liên tục. Sáng test, chiều test, test để đi làm, test để vào chợ, thậm chí test để được… test tiếp.

Có người chỉ trong 10 ngày phải xét nghiệm đến 6 lần, chưa kể các dn phải chi tiền mua kit cho công nhân, để rồ lỗ, phá sản, nợ đầm đìa chỉ vì “chống dịch”.

Và điều đau lòng hơn là bộ test kit ấy, theo điều tra, không hề đạt chuẩn quốc tế, nhiều khi cho kết quả sai lệch, khiến hàng ngàn người bị nhốt oan, hoặc đi từ âm sang dương chỉ vì chính kit đó.

Việt Á không phải là công ty xấu nó chỉ là sản phẩm của một nhóm tạo điều kiện cho lợi ích nhóm hoạt động dưới danh nghĩa y tế cộng đồng. Và bi kịch là ở chỗ, bao nhiêu người bị bắt, nhưng không một ai đứng ra xin lỗi những người dân bị xét nghiệm oan, bị nhốt oan, bị mất việc vì dương tính giả.

Với hàng loạt sai phạm, hàng chục ngàn người mất, hàng trăm ngàn hộ gia đình lâm vào cảnh khốn cùng nhưng cho đến hôm nay, vẫn chưa có một lời xin lỗi chính thức từ bất kỳ bộ ngành nào. Không có Ủy ban Điều tra độc lập, không có báo cáo đánh giá lại chính sách, không có phiên chất vấn cụ thể người ra quyết định “bắt test”, “ép cách ly”, hay “giải cứu”.

Vì sao?

Vì hiện nay, tư duy “miễn trách nhiệm” luôn thắng thế hơn tư duy “cải chính sai lầm”. Ai cũng sợ dính líu, ai cũng tránh né, ai cũng đẩy lỗi cho “khách quan” và “hoàn cảnh đặc biệt”.

Chính sự lấp liếm ấy đã trở thành chất xúc tác khiến thảm họa tiếp theo luôn có nguy cơ xảy ra. Và một trong số đó chính là dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, mà nếu không phản biện, sẽ là “COVID kinh tế” thứ hai giáng xuống đầu dân Việt.

Nếu việc chống dịch đã cho thấy một điều, tư duy điều hành luôn đặt ý chí lên trên thực tế đời sống, thì dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam là ví dụ tiếp theo. Một công trình vẽ trên giấy, có vốn đầu tư dự kiến hơn 58 tỷ USD tương đương hơn 50% GDP quốc gia năm 2024 , đang được xúc tiến như thể niềm kiêu hãnh hạ tầng, nhưng thực chất là một canh bạc đốt ngân sách và phá hoại nội lực dtộc.

Từ năm 2006 đến nay, dự án đường sắt tốc độ cao đã được bàn đi bàn lại hơn 15 năm. Năm 2010, Quốc hội từng bác bỏ dự án với tỷ lệ 47,6% đại biểu không đồng tình. Thế nhưng, năm 2024, nó bất ngờ được hồi sinh lại trong khi đất nước vẫn đang phục hồi sau khủng hoảng COVID, ngân sách vẫn đang chật vật, nợ công vẫn ở mức báo động.

Theo phương án của Bộ GTVT trình, tổng đầu tư dự án ước tính hơn 58 tỷ USD, tức khoảng 1,400,000 tỷ đồng. Nhưng vấn đề không nằm ở con số khổng lồ, mà ở chỗ: tiền đó sẽ chảy đi đâu, ai là người thực sự hưởng lợi?

Không phải người dân, vì giá vé tàu dự kiến không hề rẻ. Một hành khách đi từ Hà Nội – TP.HCM sẽ phải chi từ 1,6 đến 2,2 triệu đồng/lượt, cao hơn cả vé máy bay giá rẻ.

Không phải dn nội, vì toàn bộ hệ thống công nghệ, đầu máy toa xe, trục đường, tín hiệu… gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nhà thầu nước ngoài.

Không phải nông dân hay tiểu thương, vì đường sắt tốc độ cao không dừng ở tỉnh nhỏ, không vận chuyển hàng hóa nặng.

Vậy ai hưởng lợi? Chỉ có các nhà thầu ngoại, các nhóm lợi ích đất đai và các đơn vị “tư vấn chiến lược” là những người sẽ ngồi trên đống vàng khi dự án được duyệt.

Một hệ quả nghiêm trọng nhưng ít được công bố: tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam nếu kết nối ngầm với hệ thống đường sắt liên Á của Trung Quốc, sẽ biến ta thành “trạm trung chuyển” hàng hóa giá rẻ từ phương Bắc vào Nam.

Khi đó, hàng hóa Tàu vốn sản xuất đại trà, giá rẻ, năng suất cao sẽ tràn ngập miền Trung, miền Nam trong thời gian ngắn, đánh bật nông sản, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng trong nước. Những gì từng xảy ra với chợ Đồng Xuân, Lạng Sơn, Chợ Lớn, những đợt dội chợ bưởi Tàu, nho Tàu, gạch men Tàu, đồ chơi Tàu sẽ lặp lại trên quy mô toàn quốc, chỉ khác là vận chuyển nhanh gấp 5 lần, rẻ hơn và… không thể kiểm soát.

Một thống kê từ năm 2024 cho thấy: khi đường sắt liên Á nối Vân Nam – Lào – Thái hoạt động, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa TQ sang các nước này tăng 32% chỉ sau 1 năm. Và nếu đường Bắc – Nam ta nối vào, con số đó sẽ còn kinh hoàng hơn.

Tức là, chúng ta bỏ tiền ra để xây một tuyến đường cho hàng Tàu đi nhanh hơn, dễ hơn, rẻ hơn vào thị trường nội địa.

Một quốc gia chỉ mạnh khi nó kiểm soát được hạ tầng xương sống: đường sắt, điện lực, viễn thông, ngân hàng. Nếu hạ tầng ấy bị “cắm cờ ngoại quốc”, thì quốc gia ấy mất khả năng kiểm soát toàn cục.

Đường sắt tốc độ cao nếu được xây dựng theo phương án EPC (chìa khoá trao tay) với nhà thầu Trung Quốc, thì toàn bộ bảo trì – bảo dưỡng – thay thế linh kiện – đào tạo kỹ sư đều phải lệ thuộc vào phía họ. Giống như Cát Linh – Hà Đông, 10 năm sau khi xong vẫn phải “xin kỹ sư Trung Quốc về bảo trì” vì không ai hiểu hệ thống ấy cả.

Điều đó có nghĩa là: chúng ta trả tiền để mua một hệ thống mà chỉ người khác hiểu, và họ muốn dừng lúc nào, nâng giá lúc nào, phụ thuộc thế nào đều không ai trong nước kiểm soát được.

Và rồi sao? Như từng xảy ra với tuyến metro tại Ethiopia, Zambia, Sri Lanka nợ chồng nợ, khai thác không hiệu quả, rồi phải nhượng quyền khai thác cho chính nhà thầu để “trừ nợ”, giống như giao chìa khóa nhà cho chủ nợ đến ở.

Chống dịch thời COVID từng xem thường ý kiến người dân. Dân phản ánh khu cách ly dơ bẩn, họ bảo “ý thức kém”. Dân phản đối test nhiều lần, họ bảo “không hiểu chính sách”. Dân phản ánh tiêu cực trong chuyến bay giải cứu, họ bị chụp mũ “phản động”. Và rồi, chính họ – năm 2023-2024 lần lượt bị bắt vì… ăn chặn đúng trong những thứ dân từng tố cáo.

Tư duy ấy liệu có đang lặp lại trong dự án đường sắt tốc độ cao?

Khi chuyên gia góp ý rằng nên nâng cấp đường sắt hiện hữu, ngta cho “tụt hậu”.

Khi dn phân tích, cần đầu tư ưu tiên cho logistics hàng hóa thay vì tốc độ cao, lại bảo “thiếu tầm nhìn”.

Khi dân hỏi sao không trưng cầu dân ý với dự án tầm vóc quốc gia này – họ cho “dân trí chưa đủ”.

Tức là, ý chí một nhóm nhỏ có quyền quyết định vận mệnh hàng chục triệu người, mà không cần sự đồng thuận xã hội.

Giờ đây, nghĩ lại những chuyện đã qua, khi những thân xác ấy còn chưa nguội lạnh trong ký ức, thì một dự án trị giá 1,4 triệu tỷ đồng được thúc đẩy, không phải để nâng cao y tế dự phòng, không phải để cải cách giáo dục, không phải để phục hồi kinh tế hậu dịch mà là để làm đường tàu cho… tầng lớp có tiền.

Từ khu cách ly đến trạm đường sắt, thân phận người dân vẫn chỉ là “đối tượng chịu tác động” chứ chưa bao giờ là “chủ thể được quyền lựa chọn”.

Cái nguy hiểm nhất không phải là 58 tỷ USD. Mà là cách thức đất nước bị trói chặt vào nó trong suốt 50 năm sau.

Một phân tích nội bộ của Viện Tài chính công năm 2024 chỉ rõ:

Nếu vay ODA từ Nhật, TQ với lãi suất 2-3%/năm, thời hạn 30 năm, thì mỗi năm ngân sách phải trả nợ gốc và lãi khoảng 70.000 – 80.000 tỷ đồng.

Trong khi đó, ” Nếu” dự án không vận chuyển hàng hóa, chỉ vận chuyển khách.

Nếu mỗi vé tàu trung bình 1,8 triệu, công suất tối đa 60.000 lượt/ngày (tức 21,9 triệu lượt/năm), thì doanh thu lý tưởng chỉ khoảng 40.000 tỷ/năm, chưa kể chi phí vận hành.

Tức là: thu không đủ trả lãi.

Và khi đó, ngân sách lại phải bù. Nghĩa là con cháu chúng ta sau này sẽ phải còng lưng trả nợ cho thứ mà họ không được lựa chọn, không được quyết định.

Đó là gì nếu không phải một vòng kim cô tài khóa?

Giống như đợt dịch, khi một khẩu hiệu được hô to như thánh chỉ: “Chống dịch như chống giặc”, và từ đó, hàng triệu con người bị đưa vào thế trận cực đoan, không cần hỏi ý kiến.

Dự án này được truyền thông chính thống ca ngợi là “cơ hội vàng để phát triển”, “đòn bẩy hạ tầng”, “hội nhập khu vực”.

Nhưng cơ hội ấy dành cho ai?

Cho nhà thầu ngoại có công nghệ độc quyền?

Cho nhóm đầu cơ đất quanh ga tàu ?

Cho một nhóm thiểu số ….

Còn hiểm họa thì dành cho ai?

Dành cho nông dân bị giải tỏa đất.

Dành cho tiểu thương khi hàng hóa Trung Quốc tràn qua đường sắt.

Dành cho công nhân sản xuất khi hàng nội không còn cạnh tranh nổi.

Dành cho những đứa trẻ hôm nay, phải lớn lên với món nợ không tên.

Cơ hội không bao giờ là cơ hội nếu nó đẩy phần lớn dân tộc vào ngõ cụt.

Nguyễn Quynh

*Bài do CTV/TVBH gởi.

“Đề bài do TVBH đặt.

Bài Mới Nhất
Search