HOÀNG HƯNG: VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC” – PHẦN I – HỒI ỨC SAU 40 NĂM KHÉP LẠI VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC” (1985-2025) (4)

 GIỚI THIỆU: HOÀNG HƯNG & VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC”

PHẦN I

HỒI  ỨC SAU 40 NĂM KHÉP LẠI VỤ ÁN

 “VỀ KINH BẮC” (1985-2025) (4)

6 THÁNG TRONG HOẢ LÒ

“Maison Centrale” (Nhà [giam] Trung tâm) từ thời Pháp, có tên tiếng Việt là Hoả Lò, do nó được xây trên đất làng Hoả Lò, cái làng chuyên sản xuất ấm và hoả lò (một loại bếp đun) bằng đất. Nhưng với những ai đã từng vào đây thì nó không hổ danh, vì nóng bức kinh người, mà nước tắm thì quí như vàng!

Dưới chế độ VNCDCH và CHXHCNVN, Hoả Lò là trại tạm giam của thành phố Hà Nội một thời gian dài, là nơi giam những người bị bắt để lấy khẩu cung, trước khi có án. Sau khi được toà án xử thành án thì tù nhân sẽ được chuyển đi các “trại cải tạo” nằm ở các tỉnh. Hoặc nếu được coi là thuộc vụ án chính trị quan trọng thì sẽ chuyển lên Trung tâm thẩm vấn Bộ Nội vụ ở ngoại thành Hà Nội.

Toàn cảnh Hoả Lò (ảnh trên mạng)

Chiều muộn 17/8/1982, chiếc xe bít bùng nhỏ đưa tôi vào đó. Sau khi làm thủ tục kiểm kê và thu giữ đồ đạc cá nhân trong đó có “tang vật vụ án” là tập thơ VKB chép tay của Hoàng Cầm, tôi được đưa vào một phòng giam nhỏ, trong đó đã có sáu bảy người tù. Mấy người trung niên ra dáng “cựu cán bộ công nhân viên” và mấy cậu đầu trọc nhìn thấy ngay là dạng tù lưu manh!

Một cậu đầu trọc ra lệnh cho tôi nằm xuống, lấy chân dận mạnh mấy cú vào ngực tôi khá đau! Cậu bảo đây là đòn “chào buồng”, thủ tục bắt buộc đối với mọi “ma mới” nhập trại! Để biết thế nào là lễ độ với các “sĩ quan”, “đại bàng” ma cũ!

May mà một anh ra dáng “cựu cán bộ” đã nói cậu ngưng lại, và hỏi: “Anh bị bắt vào đây vì tội gì?”

Tôi trả lời: “Tội lưu truyền văn hoá phẩm phản động, là tập thơ của nhà thơ Hoàng Cầm!”

Thế là anh nói tôi ngồi dậy! Không biết vì Hoàng Cầm nổi tiếng hay vì tội “chính trị” được coi là “sang trọng” ở chốn “ngoài vòng pháp luật” này?

Cậu trọc đầu có vẻ tiếc rẻ. Cậu thật thà nói: “Những người ở buồng này là đã có án, chờ ngày đi “bọp” (trại cải tạo). Anh có gì cho tôi làm kỷ niệm không?” Tôi chẳng có gì ngoài chiếc khăn mùi xoa trong túi quần, liền móc ra cho cậu! Cậu đành nhận vậy!

Anh “cán bộ” hỏi kỹ hơn câu chuyện của tôi, và cho biết mấy anh “cán bộ” đây là phạm nhân trong vụ cháy lớn các nhà kho ở Cảng Hải Phòng mấy năm trước, nay đã thành án.

Đêm đầu tiên trong đời tù của tôi đi qua một cách… bình thường không ngờ, tôi chỉ thao thức ít phút rồi cũng chìm vào giấc ngủ sau một ngày quá nhiều sự cố!

(Hoàng Cầm cũng bị đưa vài phòng giam này vào ngày 20/8, và được những người ở đây kể là tôi đã vào đây chiều 17/8).

Nhưng đây mới là “phòng chờ” nằm ở khu ngoài của Hoả Lò, cùng với các phòng hỏi cung. Sáng hôm sau tôi được đưa vào khu trại giam chính thức bên trong. Ranh giới giữa hai khu là cái cổng sắt to cao ngất. Qua cửa, là cái sân rất rộng. Lúc ấy đúng vào giờ tù nhân ra sân ăn sáng! Đập vào mắt tôi là dăng dăng những hàng tù nhân đầu trọc lốc, mình xăm trổ, xương xẩu, chân tay nghều ngào như củi khô! Ấn tượng đầu tiên ấy được ghi lại về sau trong bài thơ “Vào”

Vào

Cánh cửa sắt đen kịt
Đóng sầm sau lưng tôi
Bỗng ào ào náo loạn
Như một bể dầu sôi.
.

Những cái đầu trọc lốc
Vươn theo từng bước đi
Những bộ xương đen đúa
Bốc lên mùi tử thi.
.

A! Địa ngục là đây
Ta bắt đầu kiếp quỉ
Sao dễ dàng quá nhỉ
Chỉ một bước một giây
Bước qua cánh cửa này
Kiếp người đã xa lắc.
.
Giật mình nghe tiếng quát:
– Cởi hết áo quần ra!

18/8/1982

Có một hình ảnh là lạ khiến tôi phải chú ý: giữa đám tù trẻ lưu manh, lại có một ông già râu tóc rất dài, có thể nói là có phong thái “tiên phong đạo cốt”! Sau tôi mới biết đó là Nguyễn Chí Thiện, một giáo viên đã bị đi cải tạo sau 1954 vì giảng bài “chống chế độ”, lần thứ 2 vì làm thơ, rồi vì đem bản thảo tập thơ “Hoa địa ngục” vào Sứ quán Anh mà bị vào tù lần thứ ba. Các công an trong trại thường nói nhạo ông là “tỷ phú không tiền” vì nghe nói tập thơ của ông đã được xuất bản ở nước ngoài! Họ nhốt ông chung với đám tù lưu manh cốt để mượn tay chúng trừng trị ông! Có biết đâu, chỉ sau ít ngày, ông đã chinh phục tất cả phòng giam với tài kể chuyện của mình! Sau khi kể hết các pho truyện Đông truyện Tây mà ông đã đọc, ông bắt đầu… sáng tác ra chuyện để kể cho bạn tù nghe mỗi tối sau giờ đóng cửa phòng giam!(Ông được trả tự do năm 1991 và sau đó sang Mỹ, chết ở Mỹ năm 2012).

Sinh hoạt trong phòng giam

Phòng giam của tôi là phòng số 18, ngay mặt đường Hoả Lò, là phòng dành cho các “cán bộ công nhân viên phạm tội lần đầu” (nhưng cũng có khoảng ¼ là tù hình sự, chắc là họ bố trí vào đó để khi cần thì sử dụng để “dằn mặt” những người tù hiền lành trên). Vuông góc với nó, là phòng dành cho nữ tù nhân, nằm ở mặt tiền phố Hai Bà Trưng. Ở giữa là bốt gác của cảnh sát trại giam. Sau khi Hoả Lò bị phá để xây Hanoi Tower, trại tạm giam của thành phố Hà Nội chuyển ra ngoại thành, thì phòng giam số 18 vẫn được giữ nguyên làm vật chứng lịch sử của Maison Centrale, vì đây là nơi nhiều nhà cách mạng Cộng sản lừng danh từng bị giam giữ, như Trường Chinh, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Lương Bằng… Những năm 1960, nơi đây cũng giam giữ 60 phi công Mỹ, trong đó có John Mc Cain.

(Hoàng Cầm bị giam ở phòng số 20, phòng này đã bị phá khi xây Hanoi Tower).

Hàng ngày, cửa sắt lớn của phòng giam được mở ra khoảng 7 giờ sáng. Sau thủ tục “điểm danh” (cai tù bước vào, đọc tên ai thì người ấy phải “đọc rõ số giam” của mình); sau đó người tù ra sân đánh răng rửa mặt chớp nhoáng. Suốt giờ hành chính cửa cứ mở để lâu lâu có người bị gọi đi “cung”; rồi tù ra ăn trưa, ăn chiều (2 bữa cơm của nhà tù phát). Còn lại, suốt thời gian ở trong phòng giam người tù phải tuyệt đối im lặng. Đến khoảng 5 giờ chiều, cửa đóng xầm lại, là bắt đầu thời gian “sinh hoạt tự do” cho đến lúc có kẻng đi ngủ (khoảng 9 giờ tối). Phòng giam bắt đầu thành một cái chợ với 200 con người đã phải âm thầm nhịn nói suốt ngày!

Rồi sẽ đến giờ “văn nghệ”! Những kẻ có tài lẻ hát hò được vinh dự phục vụ buồng! Chủ yếu là hát “nhạc vàng”! Tôi không quên được một người tù lái xe rác ngà ngà say rượu lỡ cán chết một người đi đường ban đêm, anh có giọng nam trung với bài tủ là “Gửi người em gái miền Nam” của Đoàn Chuẩn:

Cành hoa tim tím đắm say hương xuân nồng

Rừng đào phong kín cánh mong manh như hoa lòng

Một cậu chuyên “cắt bom” (ăn cắp đồ chở trên xe đạp bằng cách cắt dây buộc đồ đàng sau xe) giọng nam cao với bài “Bài Thánh ca buồn”:

Bài thánh ca đó còn nhớ không em

Noel năm nào chúng mình có nhau…

Tôi đã học thuộc bài hát này ở Hoả Lò và nó sẽ giúp tôi và những bạn tù bị chuyển đi trại Thanh Cẩm gần 3 năm sau có bữa ăn sáng nóng hổi đầu tiên từ các cha cố bị giam giữ ở đó!

Là một “ca sĩ” có giọng hát nghe được, từng học thanh nhạc từ năm 12 tuổi với nữ ca sĩ nổi tiếng một thời là Minh Đỗ, từng là đội trưởng đội ca thiếu nhi Hà Nội từng được vào Phủ Chủ tịch mỗi tối thứ 7 để phục vụ Bác Hồ tiếp khách là các chuyên gia Trung Quốc đang giúp Việt Nam xây dựng miền Bắc, là trưởng ban văn nghệ trường cấp 3 An Dương Hải Phòng đêm đêm dẫn học sinh ra hát hò động viên các chiến sĩ phòng không trên ụ pháo, tôi đã góp phần tốt đẹp trong những tối văn nghệ Hoả Lò; và nhờ thế, nhanh chóng được chuyển từ thân phận “ma mới” phải nằm ngủ dưới sàn xi măng, gần “nhà mét” (nhà vệ sinh) hôi thối lên bệ cao ở giữa phòng, tức là được hưởng tiêu chuẩn của “sĩ quan”, “đầu gấu”!

Cùng với tôi, còn có anh Phạm Sông Tương, nghệ danh là Tương Giang, làm việc ở Ban Văn nghệ đài Tiếng nói VN, tổ dân ca, ca cổ. Anh can tội làm những bài thơ “phản động” và bị chính vợ mình tố cáo với công an! Biết thế, anh đem chồng bản thảo của mình đi gửi thì bị bắt giữa đường. Thật tình tôi thấy tinh thần anh không được bình thường, những bài thơ “phản động” của anh phần lớn ngồ ngộ, kiểu như:

“Tên tôi là Phạm Sông Tương

Suốt ngày chửi mắng coi thường cấp trên

Tiến lên ta quyết tiến lên

Tiến lên ta gọi cấp trên bằng thằng”!

Anh không có ai “tắc” (tiếp tế), nên bữa ăn nào tôi cũng chia sẻ với anh đồ ăn mà gia đình tôi gửi vào. Anh chuyên phục vụ phòng bằng các bài hát chèo.

Một người nữa là một thanh niên, ca sĩ của một đoàn văn công địa phương nào đó, không rõ bị bắt vì tội gì.

Không thể quên được những tối “văn nghệ” Hoả Lò! Đặc biệt nhất, có lẽ chỉ có một lần trong lịch sử nhà tù này, là những tối “hát đối” của chúng tôi với tù nhân nữ ở phòng bên!

Nhân tiện kể một chuyện kỳ quái diễn ra trong những buổi tối sau khi đóng cửa phòng. Phòng tôi có một tay “đầu gấu” to con, không biết phạm tội gì nhưng chắc là trọng án, triển vọng tù mọt gông, nên rất ngỗ ngược, không biết sợ ai. Chiều chiều cứ đóng cửa phòng là hắn trèo lên lưng chừng cửa sắt, từ trên ấy có thể nhìn sang “nhà mét” của phòng nữ. Hắn treo mình ở đấy để theo dõi tất cả những nữ tù nhân thay đồ lót, tắm rửa, và vừa nhìn vừa… công khai thủ dâm. Mọi người im lặng cho hắn hưởng cái đặc quyền kỳ quái ấy. Theo hắn kể, thì nhiều tù nhân buồng nữ biết việc ấy, nhưng cũng đồng loã, thậm chí còn cố tình “biểu diễn” cho hắn xem! Thật đúng với câu thành ngữ “b… tù cu hãm”, đúng hơn nữa phải là “l… tù cu hãm”.

Một buổi tối, từ bên phòng nữ, nổi lên một giọng hát nữ, xướng một câu hò lục bát! Rồi ngừng lại như chờ đợi!

Phòng tôi ban đầu không ai để ý, nhưng khi bên nữ lặp lại câu hát mấy lần, thì mọi người hiểu là bên phòng nữ “thách đối”, nên nhao nhao yêu cầu tôi với Tương Giang phải đáp lại.

Thế là hai đứa chúng tôi phải thay nhau nghĩ ngay một câu hò lục bát để đáp lại bên nữ.

Tôi không còn nhớ được những câu hò đối đáp hồi ấy giữa 2 phòng, nhưng phải nói thật là bên nữ, chắc là mấy cô thôn nữ ở những vùng quen hát đối, nghĩ rất nhanh những câu hò thú vị khiến 2 chúng tôi mang tiếng là “nhà thơ, nhà báo chuyên nghiệp” mà toát mồ hôi mới nghĩ kịp câu đáp. Và người cất tiếng hò lên câu lục bát mà 2 chúng tôi nghĩ ra chính là anh ca sĩ địa phương nọ.

Với những ai chưa hiểu về lối hò đối đáp như thế, xin tham khảo ví dụ sau đây:

Bên nữ:

Hò ơ…

Đố anh chi sắc hơn dao
Chi sâu hơn biển, chi cao hơn trời?

Bên nam:

– Hò ơ…

Em ơi mắt sắc hơn dao
Bụng sâu hơn biển, trán cao hơn trời

Bên nam:

– Tóc em dài sao em không bới
Để chi dài bối rối dạ anh?

Bên nữ:
Tóc em dài em cái hoa thiên lý
Anh ngó làm gì cho bối rối dạ anh?

Bên nữ:

Khế với chanh một lòng chua xót,
Mật với gừng một ngọt một cay.
Ra về bỏ áo lại đây,
Để khuya em đắp gió tây lạnh lùng.

Bên nam:

Có lạnh lùng lấy mùng mà đắp,
Trả áo cho anh về đi học kẻo trưa

(sưu tầm trên mạng)

Cả phòng hào hứng theo dõi cuộc hò đối đáp và vỗ tay tán thưởng! Thật là những giờ phút xả hơi hiếm có trong cảnh tù đày!

Những anh lính canh trên bốt gác chắc cũng khoái nghe, nên không can thiệp gì hết!

Những tối “hát giao duyên” của tù nhân Hoả Lò kéo dài được khoảng một tuần lễ thì một tối, đang mê mải hò, bỗng có tiếng đập cửa xầm xầm và tiếng quát bên ngoài:

 -Ai cho chúng mày hát hò ầm ĩ thế hả? Im ngay!

Thì ra các tối, người đi đường đứng lại đầy góc phố Hai Bà Trưng-Hoả Lò để nghe tù hát đối!

Chắc là Ban giám thị Hoả Lò hay cấp trên nữa khi biết tình trạng ấy, hạ lệnh cấm ngay!

Từ đấy chấm dứt chương trình giao duyên! Thật tiếc!

Các nhân vật của Phòng giam số 18

Bây giờ nói kỹ hơn về phòng giam số 18 của tôi.

Giờ đây, ai vào thăm Hoả Lò (di tích lịch sử được mở cửa cho khách thăm từ dịp kỉ niệm 1000 năm Thăng Long), đều có thể hình dung cảnh phòng giam này thời Pháp, có 2 sàn bằng gỗ rất cao chạy suốt chiều dài 2 bên tường, bên trên có mô hình khoảng 20 người tù bị cùm chân. Nhiều hồi ký của các nhà cách mạng gọi đây là “địa ngục trần gian”. Nhưng khi tôi bị bắt vào đây, thì phòng chứa đến 200 người, có 2 hàng bệ xi măng rất thấp vẫn có vạch kẻ màu đỏ chia thành 60 chỗ nằm dành cho các phi công Mỹ bị giam thời “chiến tranh phá hoại” của Mỹ (hỗn danh người Mỹ đặt cho Hoả Lò thời ấy là “Hanoi Hilton” – Hilton là tên chuỗi khách sạn lớn của Mỹ). 200 người tù thời CS chúng tôi chen chúc nhau cả trên bệ lẫn dưới sàn, đêm ngủ phải nằm úp thìa vào nhau. Mỗi sáng ra, quét sàn bao giờ cũng thu được đầy vảy từ mụn ghẻ! Không biết nếu Hoả Lò thời Pháp đã là “địa ngục trần gian”, thì thời “ta” nên gọi là gì???

HH thăm lại phòng giam số 18 trong dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long

Thành phần tù nhân trong buồng chủ yếu là “cán bộ, công nhân viên phạm tội lần đầu”. Tôi nhớ có một giảng viên đại học, đồng tác giả cuốn từ điển Anh-Việt, một người bà con với chị Tú Quỳnh bạn thân của tôi dạy học cùng trường cấp 3 An Dương Hải Phòng, anh bị bắt trên đường vượt biên; một cựu máy trưởng tàu hải quân người Hải Phòng tên là Tuấn bị bắt vì làm máy trưởng con tàu vượt biên lừng danh 200 người (sau sẽ nằm cùng xà lim Thanh Liệt với tôi một thời gian); một dược sĩ làm thuốc tây giả (tôi nhớ ông này thuộc loại “nhà có điều kiện”, mỗi bữa ăn thường chập vài cái bánh qui (biscuit) vào nhau để cắn nhưng tay vẫn run run nhặt không sót từng hạt cơm thiu rơi khỏi bát; một lái xe rác say rượu đè chết người; một bí thư Đảng uỷ xã có lẽ can tội tham nhũng… Cũng có một số tù “ngoài xã hội” (không đi làm nhà nước),làm ăn bất chính kiểu gì đó (tôi nhớ có một anh chủ quán giải khát ở phố Triệu Việt Vương), ăn cắp: “cắt bom” (cắt dây buộc hàng đàng sau xe đạp), “đột vòm” (lẻn vào nhà người ta), hiếp dâm, buôn thuốc phiện… Lần đầu tiên tôi thấy một cặp “đồng tính nam” (gay) là ở đây, họ thường đưa nhau vào “nhà mét” để… làm gì đó không biết!

Phạm tội mang tính “tư tưởng chính trị” chỉ có tôi và anh Phạm Sông Tương.

Cảnh phòng giam đã được tôi tả lại trong phần “Phản thế giới” của tập thơ Ác Mộng: 

Đêm trắng

Đứa giết người mắt trắng dã
Ca một khúc vọng cổ não nề
Lão làm thuốc tây giả
Run run nhặt từng hạt cơm thiu
Thằng nhóc “cắt bom” ga Hàng Cỏ
Sằng sặc bóp cổ tên hiếp trẻ con
Ba thằng buôn cơm đen
Ngồi nhìn ông cựu bí thư nhảy múa
.
Vào mà xem
Trong nhà “mét”
Đám cưới thằng khoèo lấy thằng thọt.

Lại mà xem
Hai thằng ăn cướp
Bắt chấy cho nhau
.
Đêm hãi hùng
Ta ở đâu đây
Đêm không chợp mắt chờ sáng
.
Sàn xi măng vảy ghẻ rụng đầy

Trong thời kì gần 6 tháng ở Hoả Lò, có hai “nhân vật”tôi rất nhớ vì sự ngộ nghĩnh của họ: một “quản giáo” và một “tù tự giác” (thường là người thân của công an hoặc gia đình có tiền chạy chọt) làm nhiệm vụ giữ trật tự phòng, vệ sinh sân, trung gian giữa quản giáo với tù nhân; người này được ở ngoài với quản giáo suốt ngày, tối mới phải vào phòng.

Tay “tù tự giác” người Cổ Nhuế, mắt lác xệch, thường thích thú kể chuyện tranh nhau… cứt của người làng mình (làng Cổ Nhuế chuyên đi hót phân tươi khắp các phố phường về bón ruộng). Mỗi lần nghe tiếng ai… trung tiện, tuỳ theo độ “thối” của làn hơi mà anh ta bình lớn tiếng: “Chất!” “Chất chất!” “Chất chất chất”. Nhiều nhất là 4 lần “chất”, ý là độ thối cho biết chất lượng thức ăn của người phát! 

Quản giáo phòng tôi tên Thắc, người Thái Bình, da ngăm đen, nhìn chung cũng hiền lành, tù nhân quen gọi tắt là “quản Thắc”. Câu cửa miệng mà anh ta rất đắc chí mỗi lần “lên lớp” tù nhân là: “Các anh phải cải tạo để sống có bản lĩnh chứ không phải sống theo bản năng!”. Một lần, ra ăn sáng, tôi thấy mấy “tự giác” xúm quanh anh để ngắm chiếc đồng hồ Poljot (đồng hồ đeo tay của Liên Xô, là món xa xỉ thời thượng ở miền Bắc thời đó) mà Thắc khoe mới có! Tay “tự giác” Cổ Nhuế kêu lên: “À! Quản Thắc hôm nay quyết tâm ăn chơi phá đời!” Thế là cả bọn phá ra cười, cả quản Thắc cũng cười vẻ mãn nguyện!

Chính tay “tự giác” này sau đó bật mí cho tôi là chiếc đồng hồ là do người nhà của tù nhân nào đó đã hối lộ cho quản Thắc để cho người tù được ra chân “tự giác”. Anh gợi ý sao tôi không bảo gia đình “chạy” cho? Tôi ừ hữ, biết chắc là không bao giờ bản thân cũng như gia đình nghĩ đến chuyện đó hay biết cách làm chuyện đó. Và cũng tin chắc là không công an nào dám “ăn” để ban đặc ân cho tù chính trị. Thời đó, mọi tội lỗi liên quan đến “chính trị” đều hết sức đáng sợ, chả ai dám dây!

Tâm trạng trong tù

Ngày đầu tiên của tôi ở Hoả Lò, tôi bắt đầu làm quen với kiếp “thằng tù”! Đầu tiên là với tiếng quát của quản giáo khi chậm chân một chút. Tôi đã tủi thân chảy nước mắt trong bữa ăn trưa ngoài sân đầu tiên ấy.

Bữa cơm đầu tiên tủi cực của tôi trong nhà tù đã được ghi lại trong bài thơ sau:

Bữa cơm đầu tiên

Nhai miếng cơm khô giữa nắng trời
Trệu trạo trong mồm nuốt khó trôi
Bạn giục ăn nhanh không người mắng
Bỗng nghẹn lưng chừng nước mắt rơi

Thôi thế từ nay đoạ kiếp rồi
Tin dữ bây giờ chắc tới nơi
Nhà ta đau đớn chừng nào nhỉ
Tối sầm trước mặt bát cơm rơi

Rồi là nỗi nhớ vợ nhớ con bắt đầu nung nấu, nhất là sau buổi “đi cung” đầu tiên, tay Nhạ trưởng phòng điều tra xét hỏi Sở Công an Hà Nội trao cho tôi bức thư của bố tôi. Họ đã khôn khéo đánh ngay vào tình gia đình để “tù vận”. Bố tôi lúc ấy sắp tròn 80 tuổi. Cụ viết vài dòng hỏi thăm, và khuyên con “thành thật khai báo để được nhà nước khoan hồng”. Bố tôi là nhân sĩ trí thức nổi tiếng của Hà Nội, nhiều khoá là Đại biểu Hội đồng Nhân dân thành phố.

Bao giờ

Thạch thùng tặc lưỡi trên cao
Phòng giam lạnh lẽo chìm vào cõi đêm
Nhà ta giờ đã lên đèn
Bữa cơm giờ chắc đã quen thiếu người
Ta nghe tiếng mắng tiếng cười
Thằng cu nghịch xới cả nồi cơm tung.
Trời ơi sao nhớ quá chừng
Bao giờ tới bữa ngồi trông con đùa
Ngồi đây biết đến bao giờ
Trùm chăn ta đợi cơn mơ đưa về

Những giấc mơ đầu tiên trong tù cũng là mơ thấy vợ con, nhất là hai đứa con nhỏ (con gái Hoàng Ly lúc ấy 7 tuổi, con trai Hoàng Quân mới 2 tuổi). Có đêm mơ thấy đang dẫn 2 con đi chơi thì bị lạc, tìm mãi không thấy con, trong mơ tôi gào lên thảm thiết:

Mơ lạc mất con

Nửa đêm mơ lạc mất con
Tiếng kêu thảng thốt lệ tuôn áo tù
Bàng hoàng biết thực hay mơ
Bừng con mắt dậy nát nhừ ruột gan.
Nửa đời sự nghiệp tan hoang
Con là còn lại với ngàn năm sau.
Trời ơi xin chớ hại nhau
Cha xin gánh hết thương đau kiếp này

Xin trời đừng cướp trên tay
Cho tôi sống nốt những ngày chờ trông

Có một bài hát gắn liền với nỗi nhớ thương vợ con của tôi kéo dài suốt thời gian tù; nó luôn văng vẳng trong đầu tôi, gần như hát thầm. Đó là bài “đom đóm” mà vợ tôi thường hát:

“Đom đóm đâu ra chiều hôm thật nhiều
Tiền đồn ven biên anh vừa lên phiên đổi gác
Từng bày đom đóm như thắp sáng kỷ niệm của chúng ta
Ngày xa xưa chơi trò đi trốn nhau
Cho em đi tìm gọi anh Đom Đóm ơi…”

Cảm ơn nhạc sĩ Phương Linh, bây giờ khi viết những dòng hồi ức này, lên mạng tra cứu tôi mới biết ông là tác giả bài hát đã gắn liền với những kỷ niệm buồn của đời tôi!

Sau khi những thương nhớ đã chai dần, tâm trạng tôi chỉ còn là một nỗi buồn triền miên kéo dài, như buổi chiều mùa thu tiếng nước chảy ngoài sân mà ai quên khoá:

Chiều

Một dãy tường cao bóng đổ dài
Chú chim ngơ ngác gọi tìm ai
Chiều tù như muốn dài vô tận
Vòi nước ngoài kia cứ chảy hoài

Sự bi quan ngày càng tăng khi mùa đông đến gần. Mỗi ngày đi cung, nhìn thấy cây bàng trong sân mỗi ngày thêm trụi lá:

Chiếc lá bàng

Những đôi mắt âm thầm
Rõi qua khe cửa
Bao giờ rụng chiếc lá bàng cuối cùng?
.
Sẽ rụng đêm nay
Khi gió bấc nổi
Không. Nó sẽ còn đeo đẳng mãi trên cây
Dai như kiếp sống đoạ đầy
Trong giấc ngủ màu máu
Chiếc lá bàng mênh mông
Thức dậy không còn lá
Bầu trời tím thâm
.
Bỗng rùng mình kiệt quệ
Như vừa ra đi giọt máu cuối cùng

Mỗi đêm, nghe tiếng kêu tuyệt vọng từ những xà lim án chung thân hay tử tù. Đặc biệt ám ảnh là tiếng kêu giọng trầm trầm của một người cứ lặp đi lặp lại:“Trời hãy cứu giúp tôi!”

Nửa đêm

Cứ nửa đêm choàng dậy
Vì giọng hát ồ ồ
Bao giờ cũng một câu thôi:
Trời hãy cứu giúp tôi!
.

Lòng đất vọt ra?

Lưng trời rót xuống?
Xuyên bảy lần tường
Cõi nào vọng lại?
.
Tất cả choàng dậy nghe
Rồi lục tục nằm lại
Người ngáy tiếp
Người trằn trọc
Người rấm rứt
.
Ta cứ ngồi bó gối
Câu hát dội từ ngực xuống chân
Từ chân lên đầu
Âm âm trong tóc.
Chỉ một câu thôi:
Trời hãy cứu giúp tôi!
.

Chỉ một câu thôi

Vào lúc nửa đêm
Trái đất trở mình giữa bầu trời tối đen

Cho đến một đêm, thì không chịu nổi nữa, chính tôi phải gào lên:

Gọi

Tôi gọi giữa đêm. Gọi tiếng xe ngoài đường gọi gió gọi mùi hương gọi ba la bông lông sải cánh con chim dài hai thước gió đánh nhằng nhịt tái tê bầu trời lụn bại. Tôi gọi giữa đêm. Xác xơ chân tóc căng ấn đường tôi gọi. A ha! Nhảy nhót, nghiến răng, xóc lọ. Thổi tắt phụt ngọn đèn trăm nến. Nhắm mắt và mơ đi. Mảnh sân hẹp, tiếng đàn bà xối nước, một củ hành tươi. Có thế thôi. Không không không tôi chán lắm rồi. Chán “điểm”, chán bắt rận, chán đọc rõ số giam. Nửa đêm tôi gọi mộ huyệt âm vang. Tự do! Mi ở đâu?

(Còn Tiếp)

Bài Mới Nhất
Search