HOÀNG HƯNG: VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC” – PHẦN I – HỒI ỨC SAU 40 NĂM KHÉP LẠI VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC” (1985-2025) (6)

 GIỚI THIỆU: HOÀNG HƯNG & VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC”

PHẦN I

HỒI  ỨC SAU 40 NĂM KHÉP LẠI VỤ ÁN

 “VỀ KINH BẮC” (1985-2025) (6)

HAI NĂM Ở XÀ LIM BỘ

Không ảnh B14 (Google map)

Nằm trong địa phận xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì Hà Nội, bên con sông Tô Lịch nước đen ngòm và hôi thối.      

Nguyên là “Trại an trí” của chính quyền Quốc gia (Bảo Đại) giam giữ các nhà hoạt động của Việt Minh. (Bạn Bùi Xuân Bách ở Boston, Mỹ cho tôi biết đó dường như từng là dinh cơ của họ Bùi, có thời từng là nơi tụ họp văn nhân Hà Thành làm báo trước 1945).

Sau 1954, nó là trại tạm giam của Cục An ninh điều Bộ Nội vụ (Công an). Bị đưa về đây là những người sau thời gian tạm giam ở cấp tỉnh, thành, được xếp vào những vụ thuộc hàng “trọng án về an ninh quốc gia”. Các “nhân vật” cộm cán của các trọng án đều từng ở đây. Khi đi “cung”, tôi thấy có chiếc xe command-car cũ kỹ trong sân khu vực nhà “làm việc”. Sau được cậu “tự giác” nói đó là xe của Tướng Đặng Kim Giang trong vụ án “Xét lại” năm 1967. Cũng có lần tôi trông thấy một ông già to béo thâm thấp mặc quần áo nâu đi cung, sau được cậu “tự giác” mách cho biết đó là Giám mục Nguyễn Văn Thuận đi gặp đại diện của Toà Thánh Vatican. Những năm 2000, nhà văn Dương Thu Hương và Tiến sĩ Sinh học Hà Sĩ Phu cũng bị giam ở đây.   

Vụ án VKB vậy là được xếp vào loại “trọng án”! Thật vinh dự không ngờ! Hai người “chủ mưu” và “đồng phạm” là Hoàng Cầm và tôi được chuyển về đây cùng lúc. Sau đó ít lâu, tôi được người “tù tự giác” đưa cơm hàng ngày mách cho biết Hoàng Cầm ở dãy… (tôi đã quên tên dãy) và có nhà thơ Phan Đan cũng mới bị đưa về trại này. Vậy là vụ này đã được mở rộng ra với những đối tượng có liên quan đến việc chuyển tác phẩm ra nước ngoài & liên lạc với các nhà văn hải ngoại chứ không chỉ riêng VKB của Hoàng Cầm. Phan Đan là một “nhà thơ chui” ở Hà Nội, vốn đã bị công an Hà Nội “làm việc” vì viết và lưu hành những bản thảo thơ “ngoài luồng” của chính mình, sau 1975 lại liên lạc thân thiết với nhà văn Nguyễn Hữu Hiệu khi ông này ở Sài Gòn và sau này khi ông ta đã vượt biên sang Mỹ; anh cũng chơi với nhà thơ Hà Thúc Sinh thông qua tôi. Thơ Phan Đan sau này được biết đến ở chương “Thơ của nhà thơ F.” trong tiểu thuyết “Thiên sứ” của Phạm Thị Hoài (xuất bản năm 1988), nhân vật bé Hon trong tiểu thuyết mang đúng tên con gái của Phan Đan, chắc là ghi dấu mối quan hệ tình cảm đặc biệt của hai người. Anh quan hệ với tôi từ khoảng đầu năm 1980 khi đưa vợ con vào sống tại Sài Gòn, tôi đã giúp đỡ anh ít nhiều về vật chất. Tuy chỉ học trung cấp Xây dựng, nhưng anh say mê văn học, rất chịu đọc sách và có thiên phú biến những ý tưởng trong sách thành ra của mình và rao giảng một cách rất thuyết phục cho các văn nghệ sĩ trẻ vốn… lười đọc! Có lần anh phỏng vấn tôi vài câu về quan điểm viết lách, nói là sẽ gửi cho một tờ báo tiếng Việt ở Mỹ, và cũng có lần thổ lộ sẽ tìm đường vượt biên.

Phan Đan được trả tự do đúng ngày tôi bị đưa đi trai cải tạo Thanh Cẩm, có lẽ vì được ông chú vợ là tướng Dương Thông, Tổng cục trưởng An ninh bảo lãnh. Sau “Đổi mới”, anh lại đem vợ con vào Sài Gòn. Khi đó tôi đang phụ trách tạp chí Seaprodex của Bộ Thuỷ sản, tôi đã đưa anh vào làm chân sửa bài, rồi mạnh dạn gợi ý anh thử viết bài về kinh tế. Anh nói chưa từng có kinh nghiệm về lĩnh vực này! Biết anh cực thông minh, tôi giao cho anh 2 tuần lễ đọc các bài viết về kinh tế của báo Tuổi Trẻ để “học”. Thật bất ngờ! Ngay khi bài đầu tiên của anh đăng trên tạp chí Seaprodex, trưởng ban kinh tế báo Tuổi Trẻ là Trần Trọng Thức gọi điện tới hỏi: “Phan Đan là ai mà có bài viết hay quá?”. Vậy là tôi yên tâm bố trí anh là cây bút chủ lực của tạp chí. Khi tôi chuyển qua báo Lao Động, tôi đã cử anh thay mình phụ trách tạp chí. Cuối đời, anh sang Mỹ sống với con gái là bác sĩ, giảng viên một trường đại học lớn của bang Washington.

Nhà thơ Phan Đan

Gần đây đọc được cuốn hồi ký “Tắm máu đen” của Võ Đại Tôn, người đã từ Úc xâm nhập vào VN qua đường Thái, Lào để “làm cách mạng”, có nhiều năm nằm ở B14, tôi mới biết được sơ đồ trại này, gồm 4 khu buồng giam đánh số A,B,C,D. Vậy là tôi đã được chuyển qua đủ 4 khu.

Sơ đồ B14 theo hồi ký của Võ Đại Tôn

Tuy gọi là “xà lim” (từ tiếng Pháp “cellule”, nghĩa là “buồng giam riêng”) nhưng phải nói các buồng giam ở Xà lim Bộ không đến nỗi đen tối ngột ngạt như ta thường hình dung (như ở Hoả Lò). Thời gian phải đi “làm việc” dài khoảng hơn một năm, tôi được ở trong khu “sang” nhất: hai dãy đối diện nhau qua một lối đi nhỏ gồm những căn liền kề khoảng 10m2, gồm một sân nhỏ và một phòng giam nhỏ xíu. Ban ngày cửa phòng được mở để người tù có thể ra sân rửa ráy, tắm giặt ở bể nước; mỗi ngày có tù “tự giác” vào thay bô vệ sinh, đưa cơm hai bữa trưa và chiều; hết giờ hành chính thì cửa bị khoá lại. Căn bên phải tôi là một cô gái, chỉ nghe tiếng nói, không bao giờ thấy mặt. It lâu sau căn đối diện có một cô gái mới vào, một cô người Tàu.Có lần tình cờ ra sân đúng lúc cô quản giáo mở cửa căn ấy, tôi thoáng thấy cô và nghe quản giáo nói chuyện khá thân mật với cô. Cậu “tự giác” cho tôi biết cô người Phòng Thành, Quảng Tây, bị bắt khi thâm nhập vào nước ta có lẽ làm gián điệp. Cô thường nghêu ngao hát tiếng Tàu.

Tôi có một bài thơ viết về người “bạn tù” này:

Cô em mới đến

Em ở đâu vào?
Em từ dãy nào qua?
Em tội gì?
Em ở đây đã bao lâu?

Không có tiếng trả lời

Lát sau em hát
Bài hát tiếng Tàu

Tiếng Tàu ta đã quên từ lâu

Có cô quản giáo
Chuyện trò với em
Bảo hạt đậu của em đã mọc thành giá
Dặn em chải chấy
Mỗi ngày

Lát sau em bắt đầu

Hỏi gióng lên trời những câu vớ vẩn
Rồi tự trả lời
Rồi em lại nghêu ngao
Bài hát tiếng Tàu

Nhà ta xa xôi lắm
Nhà em còn xa hơn
Đường về hai đứa cùng mù mịt
Thôi thì cùng hát lên

Tiếng Tàu ta quên
Nhưng bài hát Tàu ta nhớ

Hát đến mệt nhoài thì đi ngủ

Nửa đêm chợt tỉnh
Nghe tiếng khóc tỉ tê

Ta ngồi như chết
Tường cao bốn bề

Tôi đến đây đã hai tuần lễ mà không có tiếp tế của gia đình. Cơm tù ở đây khá hơn Hoả Lò nhiều, gạo không đến nỗi hẩm, lượng cơm với tôi là hơi thừa (nghe cậu “tự giác” nói tiêu chuẩn của tôi 15kg gạo/tháng tức là còn hơn tiêu chuẩn 13kg của người bên ngoài), thức ăn chủ yếu là lạc rang tẩm muối và có hơi nước mắm, đếm được khoảng 50 hột mỗi bữa; và 1 bát canh với cọng rau muống già và chút váng dầu thực vật. Nhưng không hiểu sao sau 10 ngày thì chân tay tôi bắt đầu run! Cậu “tự giác” nói là do thiếu muối! Cũng lạ, nhà tù làm gì đến nỗi thiếu muối, hay là họ cố tình cho thiếu để “hành” tù nhân mới đến cho “biết thế nào là lễ độ”?

Đến lúc tôi run bắn, mệt đến không chịu nổi nữa thì nhận được “quả tắc” của gia đình. Quả nhiên, với muối vừng, ruốc thịt của nhà gửi vào, chỉ sau mấy bữa là tôi hết run, tỉnh người ngay!

Và, vô cùng quý báu là bức thư của vợ, và bài thơ của con gái Hoàng Ly viết cho bố (khi con 7 tuổi). Đó là lần duy nhất tôi khóc trong cả thời gian tù.

Trong đêm thơ mang tên “Cha và con và… Thơ” mà Viện Pháp (Institut de France) ở Hà Nội (còn có tên là l’Espace) tổ chức cho 2 cha con tôi vào ngày Các Nhà Thơ Quốc tế năm 2008, lần đầu tiên bài thơ ấy được công bố qua giọng đọc của con gái.

Khi bố đi công tác

Hẹn mấy tháng sẽ về

Nhưng đã qua ngày hẹn

Mà bố vẫn chưa về

Trước lúc bố đi xa

Con chúc bố mạnh khoẻ

Giờ chưa thấy bố về

Sao chưa về hả bố

Giờ sắp đến tết rồi

Bố không về trước tết

Thì cả nhà không vui

Con mong chờ bố

Về nhanh mau nhanh

Con rất thương nhớ bố

Khi bố đi vắng nhà

Trên đường xa đường dài

Chắc bố mệt lắm đấy…

Hoàn cảnh sống trong B14:

Về chế độ ăn uống, như đã nói, nếu có gia đình tiếp tế đều đặn thì sống được, nếu không thì chắc chắn sẽ phù nề vì thiếu vitamin và kiệt sức vì thiếu muối! Nước nôi thì trong thời gian thẩm vấn, ở khu A có bể nước riêng ở ngoài sân từng căn, tha hồ ra tắm giặt trong giờ hành chính. Khi hết cung, chuyển qua dãy xà lim đúng nghĩa thì mỗi tuần được ra tắm một lần ở bể nước chung cuối dãy (Hoàng Cầm kể đã có lần toan đâm đầu xuống bể này tự tử).

Hai mùa đông ở đây, tôi không bị cái rét hành hạ, vì nằm trên bệ cao, tôi lấy hết chăn, quần áo rét mà gia đình gửi cho rải lên chiếu. Nhưng mùa hè thì nóng phát sợ! Lúc nào cũng mồ hôi đầm đìa ướt nhẹp quần áo, quạt tay phành phạch hết cả ngủ. Nhiều đêm tôi phải cởi trần truồng ra ngủ, được một lúc thì bị lính gác đi tuần gọi dậy bắt mặc lại quần áo!      

Bạn tù

Tôi ở một mình được khoảng một tháng thì họ đưa một người vào ở chung phòng. Phòng luôn có 2 cái chõng tre nhỏ dành cho 2 người. Cậu thanh niên trông thông minh, nhanh nhẹn, khoẻ mạnh. Ít phút sau là hai người chúng tôi biết rõ “lý lịch” nhau. Hoá ra cậu là người không xa lạ với giới văn học Hà Nội. Cậu tên Hùng, con của nhà báo Lữ Giang, báo Chính Nghĩa của Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Yêu nước. Cậu biết rõ các nhà thơ Trần Lê Văn, Vân Long… là bạn của bố. Cậu bị bắt vì tham gia một vụ lừa đảo gì đó; đã có án, vì ông bố quen Tướng Dương Thông Tổng cục trưởng An ninh nên cậu không phải đi “bọp” (trại cải tạo) mà được thi hành án gần nhà.

Cậu được tiếp tế khá giả, cung cấp cho tôi thuốc lá hút thoải mái, chia sẻ thức ăn cho tôi khá tươm tất.

Từ khi cậu vào, bắt đầu có sự liên lạc giữa cậu với cô gái ở căn bên cạnh (không biết tội gì, chắc cũng một kiểu “gián điệp”?). Không được phép chuyện trò, họ toàn bày tỏ “tình cảm” với nhau bằng những cú gõ, “xạt” tay vào tường, một kiểu “đánh morse” không lời! Những buổi trưa cô gái ra sân tắm, cậu cũng ra sân, nghe ngóng từng âm thanh bên kia tường một cách mê mẩn! Tôi đã ghi lại mối “tình tù câm” này trong một bài thơ:

Một ngày

Nhớ đôi bạn tù trẻ tuổi ở T. L.

Buổi sáng lanh canh
Em ca cốc rộn ràng
Lại bắt đầu một ngày bên nhau
Chào em cô hàng xóm vô hình

Rồi mở cửa
Thay bô
Đóng cửa
Rồi mở cửa
Đi cung
Giữa hỏi đáp
Ú tim
Mèo chuột
Vẫn lởn vởn một bóng dáng vô hình.
Rồi về phòng
Mở cửa
Đóng cửa.
Rồi mở cửa
Cơm
Đóng cửa
Mời nhau bằng lanh canh bát đũa
Ta cùng ăn qua vách bữa cơm tù

Sau tiếng nước rửa bát phút im lặng thiêng liêng trước giờ em tắm.
Rồi róc rách dè dặt em kỳ cọ cố nhẹ nhàng như xấu hổ anh hết nóng bừng lại lạnh toát trong ngừng thở
Em phơi áo vù con chim bay lên

Rồi mở cửa
Tự khai
Sa mạc giấy
Lạc đà chữ
Chỉ vẩn vơ một bóng dáng vô hình.
Rồi về phòng
Mở cửa
Đóng cửa
Rồi mở cửa
Cơm
Đóng cửa

Mời nhau bằng lanh canh bát đũa
Ta lại cùng ăn qua vách bữa cơm tù

Rồi nôn nao chờ bóng tối
Giờ của thông linh giờ của chúng mình.
Anh gõ trước nhé cạch cạch cạch em cạch cạch cạch anh cạch cạch/ cạch cạch cạch em cạch cạch/ cạch cạch cạch rồi anh xoa xạt xạt em xạt xạt anh xạt xạt xạt em xạt xạt xạt những tín hiệu không lời ríu rít dồn dập xoắn xuýt cuống quít.
Bức tường bốc cháy
Đêm bốc cháy
Những mảnh đêm rơi
Lả tả
Rã rời

Tiếng khóc nửa đêm
Là nhận dạng của em

(Năm 2008, trong đêm Thơ mang tên “Cha và con và thơ” do Viện Pháp ở Hà Nội tổ chức cho tôi và con gái Ly Hoàng Ly, lần đầu tiên tôi công bố bài thơ này qua màn trình diễn rất ấn tượng trước hơn 200 khán giả, và được báo chí tường thuật, kể cả báo của Công an Hà Nội).

Vì cùng quen các nhà văn, nhà thơ nên hai chúng tôi nhanh chóng thân tình, tâm sự chuyện gia đình và văn chương nghệ thuật không phải giữ kẽ. Tôi hay kể và giảng cho cậu nghe những tác phẩm triết học, văn học Mỹ mà tôi mới được đọc ở Sài Gòn.

Một buổi sáng, trong khi cậu được gọi ra ngoài, anh “tự giác” vào thay bô nói nhỏ với tôi: “Nó là “dích” [tay sai, chỉ điểm của công an] đấy! Sáng nào sau khi anh đi cung là nó cũng đi “báo cáo” đấy!”

Tôi hơi trờn trợn, cảm giác giống như biết rằng hoá ra hàng ngày mình vẫn sống với một con rắn! Nhưng nghĩ lại thì cũng chẳng sợ quái gì, vì mình có gì đâu mà phải giấu giếm!

Sau hơn một năm liên tục đi “cung”, chắc cũng chẳng còn gì để nói, tôi được chuyển vào một khu có mái che kín, chia thành các “xà lim” đúng nghĩa, tức là một căn phòng giam bé tí chỉ có một ô cửa sổ nhỏ xíu, một bệ xi măng cao để nằm, nền xi măng bên dưới chỉ rộng đủ cho cái bô vệ sinh và nhận cơm. Cửa bằng gỗ bịt kín phần dưới, phần trên là hàng chấn song.

Mỗi tuần một lần, tù nhân được quản giáo đưa ra bể nước to ngoài sân đầu hành lang để tắm rửa, tất nhiên chỉ có nước lạnh bất kể mùa hạ hay mùa đông. 

Trong xà lim mà tôi chuyển đến đã có sẵn một người thanh niên tuổi chạc cậu Hùng nhưng đen và rắn rỏi hơn.

Cậu nhắc tôi mới nhớ là đã từng có thời gian ngắn ở cùng phòng 18 Hoả Lò. Cậu tên Tuấn, người Hải Phòng. Vốn là thợ máy tàu Hải quân, cậu phục viên ít lâu thì bị bắt vì làm máy trưởng con tàu vượt biên nổi tiếng có đến 200 người, mua bãi của Giám đốc Công an Hải Phòng. Không may là tàu sắp ra đến phao số Không (bắt đầu hải phận quốc tế) thì accu bị hư. Có mấy chiếc tàu đánh cá gần đó chạy đến chào bán accu, hoá ra họ làm chỉ điểm cho lính Biên phòng bờ biển!

Đang bị giam trong trại giam Trần Phú (Hải Phòng) thì cậu bị đau ruột thừa, được đưa ra bệnh viện Việt-Tiệp mổ. Vừa mổ xong, đang đêm cậu trèo đường ống nước trốn, nhưng sức yếu nên mới chạy được một đoạn thì bị bắt lại và chuyển lên Hà Nội. Cậu đã có án, nhưng gia đình “chạy” cho không phải đi “bọp” (trại cải tạo) mà vào đây! Đồ tiếp tế của cậu rất phong phú! Cậu chia sẻ cho tôi thoải mái. Cậu dạy tôi cách đun nấu trong xà lim: dùng bao nilon làm nhiên liệu, tha hồ đun nước hãm trà, luộc lại bánh chưng! Lạ một cái là cai ngục coi như không biết (mùi nilon cháy khét lẹt, sao giấu được?) vì không thấy ai đến ngăn cấm. Ngày Tết, chúng tôi còn chia quà cho các xà lim bên cạnh bằng cách: buộc túi quà vào một sợi dây, quăng ra hành lang chênh chếch sang phía xà lim bên. Người bên đó dùng cây đũa kéo dây vào là lấy được quà.

Tuấn thường say sưa kể về các chiến công “sát gái” của mình từ các cô gái trẻ ngây thơ chưa biết mùi đời đến các bà chủ nạ dòng vớ được trai tân! Cậu rất tự hào về của quí của mình, lại còn ra sức thuyết phục tôi dùi lỗ ở chỗ da quy đầu để “xỏ mắt dê” nhằm tăng cường hiệu quả chiến đấu “khiến các cô các bà không thể nào quên!”

Có một chi tiết khiến tôi thắc mắc: Đêm đêm, tôi ngủ ngon lành, nhưng lần nào mở mắt cũng thấy Tuấn ngồi đó, lấy lưỡi lam liên tục phi vào cánh cửa gỗ! Hình như cậu rất khó ngủ.

Cho đến một hôm, cậu hỏi tôi: “Anh còn gì chưa khai với công an không?” Tôi đáp chả còn gì! Cậu có vẻ băn khoăn lắm! Sau tôi mới nghĩ ra: cậu cũng được “gài” vào để tiếp tục “khai thác” tôi. Kế sách này của công an rất thâm độc! Biết được nỗi cô đơn là căn bệnh nặng nhất của người tù, họ dùng ngay những người cùng cảnh ngộ để người tù “dốc bầu tâm sự”! Nghe kể có những phạm nhân nguyên là sĩ quan công an cấp tá, cũng chết vì ngón đòn này của chính công an!

Tuy nhiên tôi rất quý Tuấn! Đúng tính cách người của đất Cảng thật thà, mạnh mẽ, nghĩa tình! Khi cậu chuyển phòng sang khu khác, tôi dặn phòng hờ là nếu thấy Phan Đan ở đó, hãy chia sẻ tiếp tế cho anh ta vì gia đình Phan Đan khá khó khăn! Sau này gặp lại Phan Đan, anh cho biết là đã được Tuấn chia sẻ đồ ăn!

Ra tù, tôi nhiều lần đi tìm Tuấn ở Hải Phòng, Hòn Gai (nghe nói cậu ra đó làm lò gạch), nhưng không có manh mối! Hay là cậu đã lại vượt biên?

Nhân vật thứ 3 cùng giam trong xà lim là một cậu người ở Truồi, gần Huế. Con gia đình cách mạng, đi xuất khẩu lao động ở Tiệp nhưng lạitrốn sang Tây Đức! Bị bắt về đây, cậu mang theo một cây thuốc lá đầu lọc hiệu Dunhill. Vì thế luôn luôn được các cai tù… đến “thăm hỏi”,cho đến khi số thuốc lá đầu lọc hết sạch thì mới thôi! Tôi chia sẻ cho cậu mọi đồ ăn gia đình gửi vào trong các bữa cơm tù. Ít lâu sau cậu chuyển buồng. Chẳng bao lâu, theo tin của “tự giác”, cậu bị phù vì thiếu vitamin, do không có ai tiếp tế!

Nhân vật thứ tư là một anh chàng người Hong Kong mà tôi đã biết tên tuổi qua báo chí từ trước khi vào tù: Lý Hải Hoa (tức Toàn), bị bắt ở sông Sài Gòn khi chở mấy người Việt chống Cộng thâm nhập vào Việt Nam! Vụ này nổi tiếng, tôi từng đọc báo tường thuật rất li kỳ! Cậu nói được tiếng Việt. Cậu kể là mình có một con tàu cao tốc nhỏ, công việc chủ yếu là chở hàng lậu vào các nước Cộng Sản, và từng bị bắt ở Liên Xô, Bắc Triều Tiên. Cậu cho biết nhà tù ở hai nước ấy sướng hơn ở Việt Nam!

Tôi cũng chia sẻ với cậu tất cả đồ ăn của gia đình gửi vào. Cậu cho tôi một ví dụ tiêu biểu về sự “kham nhẫn” của người Tàu: Mỗi bữa ăn, cậu liếm sạch sẽ như rửa bát, không để lại một chút xíu váng dầu mỡ; cậu cắn chắt tất cả những hạt thóc lẫn trong cơm mà tôi thải ra; cậu nhai sạch các vỏ chuối, vỏ khoai lang mà tôi bỏ. Cậu tình nguyện “tẩm quất” cho tôi mỗi ngày cả tiếng đồng hồ. Cậu tình nguyện dạy tôi tiếng Tàu mỗi ngày vài chục chữ! Tôi đã học tiếng Tàu trong 3 năm đại học, nhưng lâu không dùng nên quên sạch; nay học lại với cậu cũng được khoảng nghìn chữ, rồi ra tù không dùng đến, lại quên sạch!

Cậu kể là gia đình đã sống ở đại lục thời Cộng sản rồi mới chạy sang Hong Kong. Cậu rất phục “Mao chủ xỉ”, coi ông như một Hoàng đế có quyền hưởng một “hậu cung” hùng hậu!

Điều thú vị là cậu luôn nhắc đi nhắc lại: “Bao giờ có dịp sang Hong Kong, xin mời chú đến nhà cháu. Nhà cháu rất giàu có. Gia đình sẽ hậu tạ. Nhà cháu ở số… đường…”. Năm 2007, sang Hong Kong dự Hội nghị Văn bút Quốc tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương, tôi thử tìm địa chỉ ấy, thì… không hề có thật!

Cậu ở với tôi vài tháng thì chuyển đi đâu, từ đó tôi không biết số phận cậu ra sao.  

Trong cùng dãy xà limcủa tôi còn có 3 nhân vật đáng nhớ:

Hai nhân vật ở sát xà lim của tôi, vẫn được tôi “quăng dây” chia sẻ mỗi khi nhận “tắc” của gia đình.

Một cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà, thấy tôi biết tiếng Pháp nên xưng tên là “Diamant” (Kim Cương), an ninh quân đội. Số cựu sĩ quan VNCH bị đưa về trại này chắc hẳn là “thứ dữ” nhưng đến nay tôi vẫn chưa tra cứu được ai có tên Kim Cương!

Một cựu sĩ quan Quân đội Nhân dân VN. Bị bắt trong một vụ án “tổ chức lật đổ chính quyền” mà ông là đầu xỏ của nhóm chỉ có 3 người, người thứ hai là… một thợ xây, người thứ ba là… một thợ cắt tóc! Ông khuyên tôi khi ra tù nên kiếm sống bằng việc… bán phở gánh, mỗi ngày bán được 50 bát là sống khoẻ! Và ông truyền cho tôi “bí quyết” để có nước phở ngon: mỗi thùng nước phở cho vào 2 con cóc, sẽ rất ngọt nước và nhiều đạm! Nghe cũng có lý, vì tôi nhớ ở Hải Phòng, có ông lang nổi tiếng về “cao cóc” – cao dán chữa mọi thứ ung nhọt chính là bố đẻ nhà thơ-nhà biên kịch điện ảnh Đào Trọng Khánh. Ở Sài Gòn có cao cóc ông lang Tạ (Chợ Ông Tạ) do bác sĩ Trương Thìn, Viện trưởng Viện Y học dân tộc thành phố giới thiệu, đã giúp con trai tôi là Hoàng Quân dứt được chứng viêm phổi mạn tính mà Tây y bó tay (cứ nửa tháng cháu phải đi bệnh viện một lần, uống kháng sinh đến xanh xao gày mòn mà không dứt).

Điều thú vị là sau “Đổi mới”, một hôm ông “đảng trưởng” tìm đến nhà tôi chơi, ông mặc quân phục với quân hàm đại tá, và tự giới thiệu là giám đốc một công ty kinh doanh của Hội Cựu Chiến binh! Ông lại đang sống như chồng của bà mẹ (goá phụ) của cậu Hùng – người được cài vào giam chung với tôi thời gian đầu ở B14.

Cách xà lim tôi vài căn, là một bác sĩ, con rể (hay cháu rể) của tướng Chu Văn Tấn, Bí thư Quân khu uỷ Quân khu Việt Bắc (người bị bắt năm 1980 vì toan “vượt biên sang Trung Quốc”). Cứ chiều tối là từ xà lim ấy vọng lên tiếng hát buồn thê thiết! Chỉ hát đi hát lại một bài hát, tôi nghe mãi đến thuộc lòng:

“Chiều biên giới em ơi/ Có nơi nào cao hơn/ Như đầu sông đầu suối/ Như đầu mây đầu gió/ Như trời xanh quê ta…”

Ít lâu sau, đang giữa đêm có tiếng xôn xao từ phía ấy, rồi rầm rập bước chân cai tù: người tù miền biên giới đã chết! Xác anh được đưa đi ngay trong đêm.

(Còn Tiếp)

Bài Mới Nhất
Search