Khải Triều: ĐỖ ĐÌNH DUYỆT

Đỗ Đình Duyệt với Khải Triều

Bài này lúc đầu có nhan đề là Việt kiều dỏm, đưa vào sách này thì tên cũ không dùng nữa. Nhưng toàn bài thì nguyên bản cũ.

  “Việt kiều dỏm” là mấy chữ đầu tiên hai bạn già chúng tôi nghe ông lái xe ôm gán cho mình, khi chúng tôi vừa từ trên một xe bus của hãng hàng không  Jetstar Pacific, dừng bánh tại một địa điểm trên đường Trần Quang Khải, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, để hành khách xuống xe. Chúng tôi từ chối lời mời của mấy ông lái xe ôm, ngay chỗ chiếc bus đậu, cho nên một ông thấy bộ dạng hai bạn già chúng tôi có vẻ “bụi”, nói theo  dân Sài-Gòn là “Tây ba-lô”, nên đã “xổ” ra mấy tiếng “Việt kiều dỏm”  cho bõ ghét.

Mà quả thật, chúng tôi sắm vai “Tây ba-lô” trong chuyến về Hà Nội vài ngày, dịp Tết Quý Tỵ (2013), không phải là du lịch, vì đây là một ngẫu hứng, một bất ngờ, nghĩa là cả hai chúng tôi đều không có dự định trước. Nhưng thật ra chỉ có người bạn tôi là Việt kiều thôi, còn tôi thì vẫn là một người tự vác thập giá của thân thể mình đi lầm lũi trên quê hương đau nhức. Cao Thế Dung đã viết về tôi như thế từ năm 1969 trong tác phẩm Thi ca và thi nhân của ông. Bây giờ, sau 44 năm, tôi vẫn thế. Lời của Cao Thế Dung như một lời nguyền về tôi. Tôi cám ơn ông. Cao Thế Dung có thể sai ở đâu đó, nhưng với tôi, lời ấy không sai. Những lần về quê, tôi đều đã đặt chân xuống Hà Nội nhiều lần rồi, khi thì về bằng xe lửa, xuống ga Hàng Cỏ, khi thì xe bus của Jetstar Pacific dừng bánh ở 14 Đào Tấn. Lần này họ đổ khách xuống Trần Quang Khải. Chúng tôi đã đặt chỗ trước ở một khách sạn gần Hồ Gươm, phố Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, nên chỉ cần đi bộ một đoạn đường Trần Nguyên Hãn, khoảng 5 hay 10 phút là tới rồi.

Được người lái xe ôm khoác cho cái áo “Việt kiều dỏm”, có lẽ người bạn đồng hành với tôi đã có những tiếng cười thỏa thuê, thư giãn với bạn bè hay người thân khi trở về Hoa Kỳ, coi lời ấy như một câu chuyện dọc đường, kể cho nhau nghe. Hai chúng tôi có chung một điểm giống nhau, đó là việc chúng tôi nên một với nhau qua biến cố ngày 30/4, nên một với nhau trong tâm thức Việt Nam đau thương. Bạn tôi chắc chắn không bao giờ tự coi mình là một Việt kiều, điều này chỉ làm anh buồn, anh bị xúc phạm, bị người đồng chủng khước từ, coi anh như người ngoại chủng. Tôi cũng nên đồng hành với anh trong thân phận những con người “lạc lõng” trên chính mảnh đất ngàn năm văn hiến của mình. Anh trở về nơi này, sau gần 50 năm biệt ly. Anh trở về, vì anh còn mang tâm thức Việt Nam, nhớ những gì thân yêu nhất trong cuộc đời của một người Việt Nam, có nguồn có cội, 5.000 năm lịch sử, có một chiến công lẫy lừng trên Bạch Đằng giang. Một người Việt Nam ý thức rõ rệt mình có một lịch sử “hiếm” như thế, “vàng son” như thế, không ai đánh gục họ được.

Sau những ngày trở lại Sài-Gòn, ngồi hồi tưởng về chuyến đi này, tôi vẫn còn bâng khuâng. Vì chuyến đi, đối với cả anh bạn và tôi, đều không trọn vẹn, còn vương vấn khi đứng trước khu nhà cũ của gia đình anh ở phố Hàm Long. Bịn rịn, bồn chồn, lưu luyến! Rồi anh kéo tay tôi về phía nhà thờ lớn, định tâm vào viếng Thánh Thể mà cũng là để tìm lại hình bóng ngày thơ bé của mình. Cũng trên mảnh đất này, từ xa xưa lắm, tổ tiên dòng họ Đỗ đã sống tại đây. Ngày xa xưa ấy là làng Chân Cầm, nay là Ngõ Huyện. Thế hệ sau cùng cư trú ở đây gồm có gia đình Đỗ Đình Đạo, anh em thúc bá với Đỗ Đình Duyệt. Ông Đạo bị bà Thụy An đầu độc chết, theo dư luận từ nội bộ VNQDĐ, do ông và một số chiến hữu đã chống lại quyết định chia cắt đất nước vào năm 1954.Nhưng sáng hôm ấy, nhà thờ còn đóng cửa, chúng tôi bèn ghé vào trường Dũng Lạc xưa, cạnh đó. Người bảo vệ có tuổi tiếp chúng tôi niềm nở, kể cho chúng tôi những thay đổi, dẫy nhà phía trong thì làm mới, còn phía ngoài, giáp với con ngõ vào nhà xứ, vẫn để nguyên. Ông nói, nhiều người đi xa trở về cũng đều tới đây thăm hỏi chuyện cũ chuyện nay. Tôi thầm hỏi, không rõ người bạn tôi lúc đó, có nhớ đến một hình bóng quá thân thiết, quá anh hùng và xuất chúng, mà cuộc đời của vị này đã gắn liền với mảnh đất thiêng chúng tôi đang đứng đây hay không. Bởi vì, ngay lúc gọi điện cho tôi, nói là anh đang có mặt ở Việt Nam, anh đã nhắc đến hình bóng này. Cho nên, tôi chắc anh không quên, vì tính danh của vị này đã nổi lên một cách mạnh mẽ, kiên cường, giữa cái thời đổi thay quyền lực tại Hà Nội cũng như trên toàn cõi Việt Nam, cái thời mà những tiếng nói ở đài phát thanh, báo chí có lúc đã dồn dập, liên tiếp chuyền đi một lời da diết : “Ai ơi! Đừng phân chia Nam Bắc Trung”! Nhưng tôi nhớ ngay đến chính bạn tôi đây, lần đầu tiên trong gần 50 năm trường, trước Tết Quý Tỵ, anh gọi điện cho tôi. Nghe tên anh: “Duyệt đây, Đỗ Đình Duyệt đây…”.Tôi bất ngờ quá, vượt qua giây phút mệt mỏi của tuổi già, tiếng tôi như vỡ òa trong máy : “Đỗ Đình Duyệt! Anh đang ở đâu ? Còn nhớ Zarathustra đã nói như thế không?” Tôi hỏi anh ngay chuyện này, vì là cái mốc thời gian, đánh dấu sự cách biệt giữa hai chúng tôi, từ đó đến nay.–“Duyệt đang ở Việt Nam. Vẫn nhớ Zarathustra đã nói như thế, ngày anh cưới vợ mà, một đám cưới hiếm có ở Sài-Gòn ngày đó. Ông Khải Triều ơi, ông có biết “Thằng khùng, thanh gỗ ngang trên cây thập tự giá không?” – “Biết mà! Linh mục Nguyễn Văn Vinh.”- “Đúng rồi! Không ngờ thế đấy. Gặp nhau sẽ nói nhiều” – “Vậy thì hay rồi, có thể đến nhà tôi tâm sự trọn một đêm nhé.” – “Ý tưởng hay đấy”.

Mấy ngày sau, Đỗ Đình Duyệt đến nhà tôi. Trong lúc hàn huyên, tôi nói anh nghe, ngày 14 Tết Quý Tỵ này, tôi đi Hà Nội mấy ngày, ở một khách sạn  gần Hồ Gươm, phố Lý Thái Tổ. Nghe nói thế, Duyệt hơi tư lự, chỉ nói là “hay đấy”, rồi tôi chở anh về nhà người thân dưới Xóm Mới.

Tôi về Hà Nội dịp Tết Quý Tỵ, không phải là dự tính của tôi, mà theo sắp xếp của con gái. Một chiều nọ đi làm về, nó vừa cười vừa nói cho tôi biết, “Ba có một tin vui.”. Tôi hỏi ngay là tin vui gì, ba làm gì còn tin vui nào nữa, ngoài cái vui của ba là hoàn tất bản gia phả của họ hàng. Nó nói là “con đã đăng ký cho ba về Hà Nội mấy ngày, 14 Tết khởi hành, một tuần sau, khi con và hai cháu ở ngoài quê trở về. Ba chuẩn bị đi nhé”. Tôi mắng con gái mấy câu, chuyện gì liên quan tới ba thì phải bàn với ba trước. Ba mới về dịp tháng 8 vừa rồi, nay lại về là sao. Nhưng tôi chợt nhớ đến việc lập bản gia phả của họ Nguyễn chúng tôi, còn một vài chi tiết cần kiểm tra lại, nên tôi nói, thôi cũng được. Ba còn gia phả, chưa xong.

Còn về Đỗ Đình Duyệt, một hôm anh gọi điện cho tôi, nói là muốn đi Hà Nội, làm sao để cùng đi chung một chuyến máy bay với tôi thì tuyệt quá. Lúc đó con gái tôi cũng có nhà, nghe chúng tôi nói về việc đi Hà Nội, nó nói với bác Duyệt cho nó biết vài chi tiết trên cái visa, năm sinh của bác. Rồi nó bắt liên lạc ngay với hãng máy bay mà nó đã đăng ký vé cho tôi, nhất là để bác Duyệt đi cùng chuyến ra Hà Nội với tôi. Mấy phút im lặng, vì đại diện hãng máy bay kiểm tra chuyến bay của tôi, xem còn chỗ không. Được cho biết là còn chỗ, con gái tôi mừng quá, vì bỗng dưng tôi có bạn đồng hành, nó an tâm rồi. Bác Duyệt được báo ngay, có chỗ cho bác trong cùng chuyến ra Hà Nội với tôi. Còn chỗ ngồi trên máy bay thì có thể đổi cho người khác để chúng tôi ngồi cạnh nhau. Bác Duyệt cũng thấy vui, tiếng cười vang lên trong điện thoại.

Việc hai bạn già chúng tôi đi Hà Nội như vậy, là chuyện bất ngờ. Một bất ngờ khác là chuyến đi của chúng tôi nửa chừng thay đổi.

Chúng tôi ra Hà Nội sáng thứ bảy, 23/2 dl, tức 14 Tết Quý Tỵ. Vừa bước vào tiền sảnh của khách sạn, một nữ nhân viên hỏi ngay: “Có phải bác Tuy?”- “Vâng, tôi là…, có phòng cho chúng tôi chưa?” Chúng tôi trao cho họ giấy tờ tùy thân, sau đó họ đưa chìa khóa phòng cho chúng tôi. Nhận phòng xong, tôi ngả lưng ngay xuống giường nằm nghỉ. Còn Duyệt, có lẽ anh đã quen với những chuyến đi xa, nghỉ ở khách sạn, đơn giản và gọn gàng, không rườm rà như tôi, bận tay bận chân nhiều như tôi. Anh khoác sau lưng cái ba lô cũ kỹ, đựng mấy món vật dụng, một bộ quần áo thay đổi đã bạc màu, giống như da thịt trên thân thể chúng tôi. Duyệt đeo ba lô trên lưng, còn tôi thì tay cầm cái túi xách và vài món vật dụng. Thấy tôi hơi lỉnh kỉnh trong một chuyến đi xa như thế này, như mang theo bình xà bông để cạo râu với dao cạo Gillette 2 lưỡi, nghe nói dùng một lần rồi bỏ, nhưng tôi thì dùng đến 4,5 lần, anh bảo, cái lằn xanh trên lưỡi dao thay cho xà bông, có chất nhờn, dễ cạo. Quần áo thì, một bộ mặc trên người, áo bỏ thõng ra ngoài, và một bộ dự phòng. Như thế, với tôi cũng là đơn giản hết mức. Vì ngay từ đầu, chúng tôi không có hành lý gì để gửi. Chuyến đi càng nhẹ nhàng càng thư thái. Có lẽ vì thế mà chúng tôi được kể vào hàng ngũ “Việt kiều dỏm”.

Tuy nhiên, hai con người với hai vóc dáng bình dị hết mức cộng với hành trang trên vai, chúng tôi chẳng có tí gì để được xếp vào thành phần Việt kiều, cho dù là “Việt kiều dỏm”. Chúng tôi còn kém xa những đồng bào trong nước, khi họ đi làm hay khi đi du lịch, sống tại các thành phố đầy vẻ văn minh trần trụi.Vì vậy, nghĩ đến mà vui, cái vui của tuổi già.Vì mình được làm bạn đồng hành với bạn hữu, những người viễn xứ “u uất nỗi bơ vơ” (thơ Vũ Hoàng Chương)

Sau giấc ngủ êm ả, hai chúng tôi ra phố tìm một chỗ ăn trưa. Cửa tiệm ăn chúng tôi bước vào là một địa điểm ăn có tiếng tại khu vực đó, như lời một trong hai thiếu nữ ngồi cùng bàn với chúng tôi nói thế. Hai chúng tôi rời xa Hà Nội lâu lắm rồi, nay vì nhớ mà trở về…Vừa lạ lẫm mà lại như gần gũi. Vừa ghét mà lại như thân thương. Phải chăng Thăng Long hay Hà Nội này, cũng là giòng máu di duệ của Bách Việt! Còn được bao nhiêu!

Rời tiệm ăn, chúng tôi trở ra phía hồ Hoàn Kiếm, nhẹ bước hết một vòng, thỉnh thoảng dừng chân ghi một vài tấm hình, Duyệt gọi là “Hình ảnh người Thăng Long”. Sau đó, Duyệt kéo tôi đi qua một vài phố cổ, từ Lò Sũ xuống Bà Triệu, qua Lý Thường Kiệt rồi tới phố Hàm Long. Anh dừng lại ở một góc phố này, nói vài lời về hình bóng cũ của nó. Anh nói nhỏ, khu nhà tôi trước kia đây… Anh lặng lẽ rời gót…Mái nhà xưa của anh nay không còn. Chỉ thấy những hình ảnh xa lạ, những kẻ xa lạ. Anh cũng là kẻ xa lạ đối với mảnh đất này. Xa lạ trước ngôi nhà của mình! Anh đâu còn thấy một dấu chân xưa nào của anh nơi đây nữa!Ngày hôm sau Chủ nhật, Duyệt đi Vĩnh Phúc Yên, tôi đi lễ ở nhà thờ lớn. Chiếc taxi chở chúng tôi dừng lại trước cửa nhà thờ, tôi xuống xe, còn Duyệt tiếp tục cuộc hành trình dài. Sau lễ, một đứa cháu đưa tôi về quê, dự tính ngày thứ năm, tôi sẽ lên Hà Nội cùng Duyệt đi thuyền trên một đoạn sông, có di tích bãi cọc của trận Bạch Đằng. Thế nhưng, mấy ngày sau, vào một buổi chiều, lúc tôi đang ngồi trên bờ một con mương câu cá,

(trước khi đi, một cô cháu nói là để cháu lấy cái giỏ cho cậu. Tôi bảo, “cậu đi câu không cầu được cá”. Nó cười: “Chẳng có ai như cậu.”),

thì chuông điện thoại reo. Có tiếng của Duyệt…Tôi nghe hình như anh có chuyện gì đó, phải trở về Mỹ ngay, nhưng không rõ nên tôi nói: “Tôi đang câu cá ở ngoài ruộng, gió lớn quá không nghe rõ. Tối anh gọi lại.”

Tôi bỏ ngang việc câu cá, trở về đợi điện thoại của Duyệt. Sau bữa cơm tối, giữa lúc các con cháu của anh chị tôi có mặt, Duyệt gọi điện cho tôi. Đúng là anh phải về Mỹ gấp. Hai ngày vừa qua, anh đã phải xoay sở để có vé về Mỹ. Mọi chuyện đã xong. Anh hỏi tôi có giữ phòng ở khách sạn không, nếu cần thì anh sẽ giữ lại.Việc thứ hai là anh còn một tí việc nhờ tôi giúp, trao cho người thân của anh ở Xóm Mới, tôi đã tới nhà hôm trước. Việc này, anh gửi văn phòng khách sạn, nhờ họ trao lại cho tôi. Duyệt cũng liên lạc với con gái tôi trong Sài-Gòn, nó bèn gọi điện cho một đứa cháu tôi ở Hà Nội, nhờ đến khách sạn đó ngay, gặp ông Duyệt. Ông đưa cái gì thì nhận, rồi mang về quê cho ông. Đứa cháu tôi trở về, mừng quá, vì “đã gặp ông bạn của ông”.

Tôi kể chuyện này ra, vì nó mang một kỷ niệm trong tuỗi già của hai chúng tôi, cũng rất khó quên trong ký ức của mỗi người. Vì lúc còn trẻ, hai chúng tôi cũng đã có những việc, không lừng lẫy gì, nhưng cũng gọi được là một nỗ lực của tuổi trẻ. Trong chiến tranh và trong các thế lực, chúng tôi không đứng bên lề.

Trở về quá khứ.

Tạm lấy cái mốc thời gian tôi và Đỗ Đình Duyệt gặp nhau qua Đỗ Tất Phú, là vào năm 1963. Nay tròn 50 năm, trước đó vài năm nữa là con số lẻ. Số lẻ này dành riêng cho Phú, tức Đỗ Ngọc Trâm.

Đỗ Tất Phú và Đỗ Đình Duyệt cùng một số bạn hữu khác đều là những đảng viên chiến sĩ trẻ thuộc Tổng bộ Yên Bái, một tổ chức trí thức trẻ của VNQDĐ, do Đỗ Tất Phú và Đỗ Đình Duyệt vận động thành lập. Phú giữ vai Chủ tịch, Duyệt phó chủ tịch, Phạm Nam Sách ủy viên Tuyên huấn và một số ủy viên khác, như Nguyễn Cái Thế, Nguyễn Tường Uyển, Lưu Thái Hưng, Đỗ Đức Thịnh, Quách Trọng Phụ v.v…Tổ chức này có khuynh hướng độc lập, không thuộc hệ phái nào, nhưng có liên hệ mật thiết với gánh Chủ Lực do Lê Hưng lãnh đạo, trong đó có Chu Tử Kỳ.

Trong cái đêm ngủ tại nhà tôi, Đỗ Đình Duyệt đã nhớ lại đám cưới của tôi vào đầu tháng 12 năm 1971, tiệc cưới tổ chức tại Trường Đại học Thành Nhân, tiền thân của nó là Viện Khoa học Giáo dục Sài-Gòn, góc đường Hùng Vương-Nguyễn Tri Phương, do Tiến sĩ Mai Tâm, Sư huynh dòng Lasan Taberd làm Viện trưởng. Duyệt kể, trước khi anh và Lưu Thái Hưng bước vào phòng tiệc, hai anh đã phải đi tới đi lui khu vực đó mấy lần, nghe ngóng xem bên trong có động tĩnh gì không, rồi mới vào. Bởi vì, thời gian ấy, mật vụ của chế độ đang ráo riết theo dõi dư luận xôn xao về việc ông Nguyễn Bảo Kiếm, án tử hình khiếm diện trong vụ đảo chính ngày 19/2/1965 truất phế Tướng Nguyễn Khánh, có thể hiện diện trong một cuộc hội ngộ thân hữu nào đó mà họ không nắm được địa điểm và thời gian. Khi ấy, hình ảnh ông Kiếm treo khắp Sài Gòn – Chợ Lớn, với số tiền thưởng lên tới hàng chục triệu đồng cho ai bắt được hay chỉ nơi ẩn nấp của ông. Một người trong thân thuộc của Đỗ Đình Duyệt, phong thanh nghe nói anh sẽ có mặt trong buổi hội ngộ thân hữu ấy, đã gợi ý anh nộp “cái đầu” Nguyễn Bảo Kiếm để nhận lãnh món tiền thưởng khổng lồ này. Cái “buổi hội ngộ thân hữu” mà nhà đương cuộc ngày ấy muốn biết, không ngờ lại là bữa tiệc cưới đơn giản của vợ chồng chúng tôi.

Tôi nghe chuyện này mà thót giật mình. Ngày đó tôi hoàn toàn không biết đến dư luận ấy. Lúc tôi đi gặp ông Nguyễn Bảo Kiếm mời dự tiệc cưới của tôi, ông chỉ nói với tôi là đừng nói cho ai biết ông có mặt. Và tôi đã hoàn toàn giữ im lặng, cho mãi khi ông bước vào phòng tiệc cùng với Bác sỹ Trần Kim Tuyến, Luật sư Phạm Kim Vinh v.v…

Đỗ Đình Duyệt không nói ra điều này, chắc chắn nó cũng chìm xuống hố thẳm của đời tôi thôi. Như thế đủ biết, lời Kinh thánh nói không thể qua đi, cho dù một dấu phẩy.

“Không có gì che giấu mà sẽ không bị lộ ra, không có gì bí mật mà người ta sẽ không biết.” (Lc 12,2)

 (Ngày 13/5/2013)

Những tư liệu về chiến tranh và những cuộc vận động chống quân Nguyên trên đât Tàu

Trước ngày hai chúng tôi ra Hà Nội, anh Duyệt đã đưa cho tôi một cục USB, nói là “cho” tôi. Rồi từ Hà Nội, anh về Mỹ, vì người bạn thân, ông Lê Thiệp mất. Tôi trở lại nhà trong Sài Gòn và mở USB ra xem. Phải nói là tôi vui, rất vui vì đó là những vấn đề lịch sử anh viết theo thể loại văn chương, như anh viết trong lời bạt (Afterword):

“Kể chuyện và nghe chuyện là việc giản dị về những gì đã xảy ra chung quanh cuộc đời của một người con gái Việt-nam của một thời chiến tranh dựa trên bối cảnh lịch sử kháng Nguyên đời nhà Trần vào thế kỷ XIII, nhưng làm cái việc phối ngẫu giữa văn chương với lịch sử là phong phú sáng tạo bao gồm những dữ kiện khô khan bất biến không hẳn đã giản dị một khi ta tôn trọng những tiêu chuẩn chính xác và trung thực. 

     Sự góp nhặt lại một số chi tiết, những chất liệu bàng bạc đâu đó trong đời sống hàng ngày liên quan tới phong tục, tập quán, ngôn ngữ bình dân v.v. trong những sinh hoạt thường tình của xã hội đương thời biểu hiện qua vài mẫu sống tiêu biểu trong hoàn cảnh chiến tranh. Cảnh ngộ và cảm xúc của những mẫu sống đã chia xẻ với nhau những bước thăng trầm trong giai đoạn lịch sử ấy không nhất thiết phải giới hạn vào một dân tộc nào mà đã được đặt trên căn bản con người, nhân bản.

     Sự hưng vong của một quốc gia không chỉ xảy ra trong một sớm một chiều mà có nguồn rễ sâu xa, vì vậy ba bốn chương đầu khô khan nặng phần về những vận động lịch sử rộng rãi tản mạn, dễ làm nhàm chán, nhưng sự nhàm chán đó lại có mối tương quan mật thiết đến bối cảnh lịch sử của câu chuyện”.

Có 10 đề tài trong phần này, nhưng vẫn là chuyện lịch sử, có liên quan chặt chẽ với nhau. Tôi gọi đây là tiểu thuyết lịch sử, cho dù tác giả của nó là Đỗ Đình Duyệt không “đặt tên” cho nó, mà chỉ xếp nó ở dưới cái tên là “bo files”. Lời bạt cho truyện này cũng thế, tác giả không đặt ở đầu hay sau truyện, mà tôi bắt gặp ở một đoạn khác trong USB. Các việc khác cũng thế, tác giả không xếp chúng thành chương, thành mục theo cách làm thông thường của các nhà nghiên cứu hay nhà văn.

Theo đó mà suy, hình như tác giả không mấy để ý đến việc in “truyện” này ra giấy để phổ biến rộng rãi, bởi vì sau những biến cố lịch sử tại quê nhà và những thăng trầm được-mất trong cuộc đời, tác giả thấm sâu lẽ sống ở đời, qua bài ca nhịp phách trong hang động của nhân vật Lão Ngũ, người Bạch y nước Đại Kim bị Hốt Tất Liệt đánh chiếm, ông mất nước. Gặp Mạc Tăng Thốn ở Dữu Lý hoạt động bí mật chống quân Nguyên, nên lão theo Mạc Tăng Thốn về Đại Việt tham gia vào trận kháng Nguyên và đã thắng trên sông Bạch Đằng. Đỗ Đình Duyệt mượn nhân vật Lão Ngũ cất lên bài ca với nhịp phách để nói lên tâm trạng của mình sau biến cố ngày 30-4-1975 tại Sài Gòn (?)

Tôi mang truyện này lên sách mà không hỏi tác giả trước, đó là một lỗi lớn. Mong anh từ nơi ẩn dật xa xôi, xin miễn chấp.

Sau phần này là các đề mục: “bài đọc thêm”, “bổ túc”, “phụ chú”. Ngoài ra, có hai bài văn, tựa đề: “trên đường đi làm” của Đỗ Đình Duyệt, bài sau là của Lê Thiệp, có nhan đề “Kim thiền thoát xác”, có bóng dáng Đỗ Đình Duyệt ở đấy. Sau đó, tôi còn đọc thấy một vài bài văn ngắn của tác giả tập truyện này. Anh cũng viết “Một thoáng nhìn về lịch sử Việt Nam và cuộc chiến tranh Đông Dương cận đại”. Còn những phần khác, như: văn hóa cổ, lịch sử biên niên từ huyền sử nguồn gốc dân tộc Việt cho đến nhà Nguyễn năm 1945. Sau huyền sử, là chính sử có 29 đoạn, đánh từ số 1 đến 29, các mục nhỏ thì dùng “abc… r” để phân định bài viết (sơ lược). Ông nhắc đến Tần Thủy Hoàng ở Tàu, năm 214 tcn (đoạn 3), Trưng Trắc, Trưng Nhị khởi nghĩa năm 40 (đoạn 6).

Đoạn 22, tác giả đề cập tới Nhà Trần (1225-1400), triều đại mà tác giả dùng làm bối cảnh lịch sử để viết quyển tiểu thuyết của mình, gồm 10 Chương, chúng tôi giới thiệu với độc giả dưới đây.

22] Nhà Trần (1225-1400) Tổ tiên nhà Trần là người đất Mân Việt đến ở hương Tức-mặc, phủ Thiên-trường đã nhiều đời. Trần Cảnh được vợ nhường ngôi năm 1226, tức vua Trần Thái-tông. Ngoài việc bình định biên giới với Chiêm-thành, Thái-tông đã đẩy lui quân Mông-cổ trong lần xâm lược do tướng Ngột-lương-hợp-thai chỉ huy vào đầu năm 1258. Sau đó Thái-tông nhường ngôi cho con là vua Trần Thánh-tông. Nhà vua phong cho em là Chiêu-minh vương Trần Quang Khải làm tướng quốc thái uý để cải tổ quân đội. Nguyên chủ Hốt-tất-liệt nhiều lần gửi sứ giả sang Đại Việt đòi hỏi những yêu sách quá đáng nhưng Thánh-tông một mực không nhượng bộ.

Năm 1277, thượng hoàng Trần Thái-tông mất. Năm sau, Thánh-tông truyền ngôi cho thái tử Khâm tức vua Trần Nhân-tông. Năm 1279, nhà Đại Nguyên thôn tính Nam Tống. Hốt-tất-liệt đòi hỏi Đại Việt dành đường và cung cấp binh lương để đánh Chiêm, bị thẳng thừng bác bỏ. Nhân-tông triệu tập bô lão ở hội nghị Diên-hồng để định kế chống giặc, và họp các tầng lớp quý tộc để thao dượt quân sĩ.

Năm 1282 tướng Toa Đô đem thuỷ quân đánh Chiêm. Quân Chiêm rút vào rừng sâu thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Ngày 24-8-1284, Nguyên chủ cử Thoát Hoan và A-lý Hải-nha cầm 50 vạn quân sang đánh Đại Việt. Tháng 6-1285, quân Nguyên bị đẩy lui ra khỏi nước.

Cuối năm 1287, Hốt-tất-liệt lại cho Thoát Hoan cầm quân sang đánh Đại Việt lần thứ ba. Đầu năm 1288, đại quân của Thoát Hoan bị phá ở Vạn-kiếp và toàn bộ thuỷ quân của Ô-mã-nhi bị huỷ diệt trên sông Bạch-đằng. Sau ba lần đại bại ở Đại Việt, quân Mông-cổ không trở lại đất nước này nữa. Đầu năm 1292, Nhân-tông nhường ngôi cho thái tử Thuyên lên ngôi, tức vua Trần Anh-tông. Năm 1306 Đại Việt gả công chúa Huyền Trân cho Chiêm vương Chế Mân.

Năm Nguyên Phong thứ 3 (1253) nhà vua cho mở rộng Quốc tử giám thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc. Ba mươi thiên Đại Việt Sử Ký là bộ quốc sử đầu tiên do Lê Văn Hưu soạn dưới triều đại này. Nhà Trần từ Thái-tổ truyền xuống được 12 đời kéo dài 175 năm thì bị ngoại thích soán ngôi.

Ở đoạn 29, tác giả viết về thời Nhà Nguyễn (1802-1945) rồi chuyển qua giai đoạn Việt Minh-Cộng sản cầm quyền. Đoạn 29 có những tiểu mục, ghi từ “a-r”. Chúng tôi trích hai tiểu mục “g và r” ở đoạn này, liên quan đến Cộng sản Việt Nam và Trung Cộng:

g) Cộng Sản Bắc Việt đã duy trì thái độ mềm mỏng trước những hành vi phi lý quá đáng của một đồng minh bất khả tín trong cuộc tranh chấp lãnh hải để cố tránh cho mối bang giao giữa hai nước trở nên căng thẳng chỉ vì Trung Cộng từng là thế lực lớn nhất đứng sau lưng Bắc Việt trong cuộc chiến Đông-dương lần thứ hai. Thái độ hiếu chiến thiếu tư cách của Bắc-kinh trong việc lấn chiếm các quần đảo ở Biển Đông là một sự vi phạm thô bạo luật pháp quốc tế, Hiệp định Geneve về Đông-dương năm 1954, và sự đồng thuận trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển ngày 10 tháng 12, 1982 với những điều khoản quy định rằng các quốc gia ven biển có chủ quyền lãnh hải không quá 12 hải lý (22,2 km) tính từ đường thẳng góc tiếp giáp với đất liền, và có quyền tài phán về những nguồn tài nguyên kinh tế như đánh cá, khai thác hầm mỏ và dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế không rộng quá 200 hải lý (370.4 km) tính từ đường thẳng góc tiếp giáp với đất liền. Ngoài phạm vi lãnh hải của một nước, đại dương thuộc về hải phận quốc tế mà mọi quốc gia trên thế giới đầu được hưởng dụng quyền lợi hải hành.

r) Tư cách hung hăng thái quá của một nước khổng lồ cần năng lượng trên đường tìm kiếm tài nguyên tại các vùng biển đã gia tăng tình trạng căng thẳng trong vùng và trong cộng đồng thế giới, và riêng Việt Nam trong vùng Biển Đông hiện đang bị trực tiếp đe dọa phần lớn là do hậu quả tai hại bắt nguồn từ thái độ khuất tất của Hà-nội đối với những hành động ngang ngược bất kham của Trung Cộng. Tuy nhiên, Cộng Sản Việt Nam bất quá cũng chỉ là một chính quyền tồi tệ của một thời; còn dân Việt với truyền thống yêu nước thương nòi ngàn năm chống chủ nghĩa bành trướng, kể cả đế quốc Mông-cổ và Mãn-thanh từng chinh phục và đô hộ Trung Hoa, vẫn tồn tại mãi mãi để đương đầu với những tham vọng mù quáng của Trung Cộng. (Hết trích)

Ở phần “phụ chú”, tác giả ghi về thời gian thời cũ. Như: lịch ta xưa chỉ có 10 tháng; một ngày ta xưa chia thành 12 giờ, một giờ xưa bằng hai tiếng bây giờ.

Cũng xin nói: tất cả những bài, (lịch sử và văn) có trong cục usb mà Đỗ Đình Duyệt trao cho chúng tôi đều là song ngữ, Việt văn và Anh văn.

HAI DÒNG VĂN CHƯƠNG CỦA ĐỖ ĐÌNH DUYỆT

  1. DÒNG VĂN CHƯƠNG LỊCH SỬ

Đề mục trên đây là của chúng tôi đặt. Khi chúng tôi mở cục USB ra, thì chữ đầu tiên là “bo files”, sau đó những đề tài có đánh số từ 1 đến 10. Những đề tài được ghi bằng 2 thứ tiếng, tiếng Việt và tiếng Anh. Ở một chỗ khuất, tác giả nói đến 3/10 đề tài đầu tiên, ông dùng chữ Chapter, nghĩa là Chương sách. Vậy 10 đề tài chúng tôi nói đến là 10 chương của một quyển tiểu thuyết lịch sử. Tác giả cũng không nói đến điều này, chúng tôi đọc và thấy lôi cuốn bởi nội dung của nó. Còn tên của tiểu thuyết này thì quyền của tác giả, nhưng ông đã không ghi gì khác, chúng tôi chỉ có thể gọi đây là tiểu thuyết lịch sử vì suốt 10 Chương đều là những vấn đề lịch sử ở triều đại nhà Trần, Quốc hiệu Đại Việt, mỗi chương, tác giả đều ghi rõ thời điểm sự việc xảy ra.

Mười đề tài hay 10 Chương như sau:

1.Cơn gió bụi (The Storm)

2.Côn-minh (Kunming)

3.Dữu-lý (Youli)

4.Một cánh hoa (A petal)

5.Thôn Lữ-dạ (Lữ-dạ hamlet)

6.Con ngựa cái già (The old mare)

7.Đường ra cửa biển (Out of the coast)

8.Khói sóng (The smoking waves)

9.Dấu xưa (The old spices)

10.Hồ điệp (The butterfly)

Đây là dòng văn chương thứ nhất của Đỗ Đình Duyệt. Dòng văn thứ hai là mấy bài văn ngắn, để rải rác chứ không có một chỗ riêng biệt. Trước hết xin đề cập đến dòng lịch sử.

Cuốn tiểu thuyết lịch sử, lấy bối cảnh ở Côn-minh, ở Dữu-lý, Thôn lữ-dạ v.v…Sau cùng, truyện khép lại trên đất Chiêm Thành, khi một phái đoàn của triều đình Đại Việt sang đưa công chúa Huyền Trân về cố quốc, sau khi vua Chiêm là Chế Mân, chồng của Công chúa qua đời. Tại đây, một sự việc xảy ra rất thống thiết: một công nương của nhà Lý sau khi đã kinh qua bao nhiêu chặng đường khổ nạn bởi quân của Hốt-tất-liệt tiến đánh Đại Việt, đã tự nguyện lên giàn hỏa, chết thay cho Huyền Trân, Công chúa của nhà Trần. Đấy là truyện, Đỗ Đình Duyệt viết.

1.

Cơn gió bụi

Khởi đầu mảng văn chương này, trước hết tác giả kể chuyện về các bộ lạc Mông cổ xâm chiếm lẫn nhau, bộ lạc nào mạnh thì thắng. Cuối cùng, tác giả kể về nhân vật Thiết-mộc-chân. Đứa bé này đã chào đời đúng vào lúc chiến tranh giữa các bộ lạc bùng nổ gay cấn. Người cha là Dã-tốc-cai, thủ lĩnh của bộ lạc Khất-nhan, bị người Thát-đát đầu độc vào năm 1158 để trả thù ngày trước ông đã tập kích bộ lạc của họ, giết nhiều người và cướp đi Kha-ngạch-luân, sau này là mẹ của Thiết-mộc-chân. 

Mất người cầm đầu, dân chúng bỏ đi gia nhập những bộ lạc khác. Lúc đó Thiết-mộc-chân mới có chín tuổi, sống với một bà mẹ nghiêm khắc cứng rắn, ba em trai, một em gái, hai em trai cùng cha khác mẹ, cùng một ít đàn bà con trẻ và gia nô còn trung thành.

Dưới sự chăn dắt của người đàn bà Kha-ngạch-luân trên mảnh đất khô cằn cực khổ, nhất là vào mùa đông khắc nghiệt. Dâu rừng, chồn cáo, rắn chuột là nguồn thực phẩm chính lúc có lúc không đã giữ cho những người hoạn nạn ngặt nghèo này sống sót. Thuộc dòng dõi quý tộc, nhưng Thiết-mộc-chân lớn lên trong một hoàn cảnh gian truân cực kỳ thiếu thốn. Trong suốt thời niên thiếu vận động chống lại kẻ thù, người thanh niên này đã nổi tiếng về lòng can đảm và đức tính cương nghị qua các cuộc tập kích bất ngờ táo bạo; tập hợp được một số người dần dần gây dựng lại bộ lạc của mình.

Ở tuổi trưởng thành, Thiết-mộc-chân cắt máu ăn thề kết nghĩa huynh đệ với Trát-mộc-hợp, một thanh niên quả cảm, cùng nhau sáp nhập được thêm một số bộ lạc làm vây cánh cho hai người. Bộ lạc Thát-đát suýt bị họ tiêu diệt. Hai anh em kết nghĩa liên tục chiến thắng các bộ lạc Miệt-nhi-khất ở phía tây năm 1197, và bộ lạc Nãi-man ở phía tây nam năm 1199. Năm 1200, Trát-mộc-hợp bất ngờ đoạn tuyệt tình huynh đệ, liên kết được nhiều bộ lạc thù nghịch với Thiết-mộc-chân, và được bầu làm đại hãn năm 1201.

Đỗ Đình Duyệt kể tiếp:

Thành-cát-tư-hãn Thiết-mộc-chân ngồi trên lưng ngựa trước cửa đại trướng với các cận tướng một bên là Mộc-hoa-lê, một bên là Triết-biệt, và Tốc-bất-đài. Bốn người con trai đứng sau lưng ông là Truật-xích, Sát-hợp-đài, Oa-khoát-đài, và Đà-lôi đều là con của người vợ cả, Bột-nhi-thiếp, của bộ lạc Hoằng-cát-lạt. Lúc đó vào mùa xuân năm 1211, ông đang tiếp đón phái bộ sứ thần nhà Đại Kim đến báo tang vua Chương-tông băng hà, Vệ vương lên ngôi tức hoàng đế Hoàn-nhan Vĩnh-tế.

Đã từng gặp gỡ và coi thường Vệ vương trước đây khi vị thân vương này đến ra mắt ông với tư cách sứ thần nhà Đại Kim, Thành-cát-tư-hãn ném tầm mắt về hướng Hắc-long-giang, dòng nước cuồn cuộn ngăn cách giữa thế giới sa mạc của ông và một vùng Trung Nguyên bao la bát ngát. Với thái độ ngang tàng của một con người xưa nay chưa hề biết kiêng nể bất kỳ đối thủ nào trong cái thế giới gió cát của mình, ông thở dài khinh miệt, không đếm xỉa gì đến sự có mặt của các sứ thần, “Thiên tử phải là một nhân vật siêu phàm do trời định, cái ngữ ấy làm sao có thể thế thiên hành đạo được!”

Tiếng ông vừa dứt thì những đám mây đen đột nhiên cuồn cuộn kéo đến cùng lúc với một trận bão cát vần vũ dấy lên. Cả một vùng trời đất Mông-cổ bỗng nổi cơn gió bụi thổi những búi cỏ bồng cuộn tròn ngoài sa mạc lăn về phía một chân trời xa lạ u ám mịt mùng ở phương nam.

Chỉ với mấy dòng chữ, Đỗ Đình Duyệt đã báo hiệu trước cuộc trường chinh của Thành-cát-tư-hãn tiến vào các quốc gia Hồi giáo hùng mạnh và ông đã tiêu diệt ở bất cứ đâu vó ngựa của ông tiến tới. Tuy nhiên, Thành-cát-tư-hãn cũng chỉ là con người.

Ngày 25 tháng 8 năm  1227, Thành-cát-tư-hãn qua đời.

Cho đến khi chết, Thành-cát-tư-hãn đã thống hợp được hai mươi lăm bộ lạc Mông-cổ dưới quyền lãnh đạo của ông, chinh phục hoặc hủy diệt nhiều xứ sở từ Hoàng-hải phương đông đến  tận Lý-hải ở phương tây. Hậu duệ của đại hãn sau này còn tiếp nối con đường huỷ diệt của ông dài rộng hơn thế nữa, xuống đến tận vương quốc Đại Việt ở Viễn Nam.

Kết thúc Chương này, tác giả đề cập đến cuộc tấn công Đại Việt của Thoát Hoan.  Ông viết:

Hoàng tử Thoát Hoan được tấn phong làm Trấn-nam vương cho cuộc nam chinh. Ngày 27 tháng 1, 1285, Thoát Hoan dẫn năm mươi vạn quân vào địa giới Khâu-ôn, giao chiến với quân phòng thủ của Hưng-đạo vương Trần Quốc Tuấn. Quân Toa Đô ở dưới nam cũng đồng thời tấn công Ái-châu trên đường tiến quân ra bắc.

Trong bốn tháng đầu, quân Nguyên đánh chiếm gần hết lãnh thổ miền bắc, cho đến khi quân Đại Việt khởi sự phản công từ tháng 5, 1285 đến ngày 24 tháng 6, 1285 thì kết thúc với lực lượng đại quân Nguyên bị phá vỡ ở mặt trận Tây-kết. Tướng Toa Đô bị giết, Trấn-nam vương đại bại chạy về nước.

Sự thảm bại của Thoát Hoan là một đòn chí tử không thể chấp nhận được đối với vị hoàng đế của các hoàng đế, người luôn luôn tự phụ là một chủ tể bất khả chiến bại, Hốt-tất-liệt nổi giận ra lệnh cho Khu mật viện phải kiểm điểm kỹ lưỡng lại toàn bộ nguyên nhân thất bại ấy để chuẩn bị một kế hoạch chu toàn cho cuộc thảo phạt Đại Việt lần tới.

2

    Côn-minh

Đại Nguyên, niên hiệu Chí-nguyên thứ hai mươi bốn

Đầu tháng mười năm đinh hợi là tháng 12 dương lịch 1287

Chương này tác giả đề cập tới những sự việc xảy ra dưới thời kỳ của nhà Đại Nguyên năm thứ hai mươi bốn. Đầu tháng mười năm Đinh Hợi, tức tháng 11 dl.

Tác giả lược qua địa lý vùng Vân Nam:

Phía nam núi Vân-lĩnh trong vùng Hoa Nam có giống người Thái cư ngụ, với những bộ tộc người Bạch-y chiếm thành phần đa số của những sắc tộc đa dạng. Người xứ ấy gọi vua là chiếu. Thoạt tiên có sáu chiếu gồm Mông-huề, Việt-thác, Lãng-khung, Đằng-đạm, Thị-lãng và Mông-xá. Chiếu Mông-xá ở phía nam nên còn gọi là Nam-chiếu; giống như vùng nam dãy Vân-lĩnh được gọi là Vân-nam.

Năm đinh tỵ,1257, Mông-kha thân dẫn đại quân xuống nam theo đường Tứ-xuyên, sai Hốt-tất-liệt vượt Trường-giang tấn công Ngạc-châu để phong toả phía bắc nhà Nam Tống, và đại tướng Ngột-lương-hợp-thai từ Đại-lý đem quân vào đánh Đại Việt ở phương nam.

Trong cuộc nam chinh lần này, phế vương Đoàn Hưng Trí cùng với vương thúc là nguyên soái Đoàn Phúc cầm đầu hai vạn quân Hợp-lạt-chương người Thoán, Bặc, làm lực lượng tiên phong cho Ngột-lương-hợp-thai vượt qua biên giới Đại Việt.

Sau chín ngày xâm nhập lãnh thổ Đại Việt, ngày 24 tháng chạp năm đinh tỵ, niên hiệu Đại Việt Nguyên-phong thứ bảy đời vua Trần Thái-tông,quân Ngột-lương-hợp-thai bị phá vỡ ở Đông bộ-đầu phải rút chạy về phương bắc. Đoàn Hưng Trí chết trên đường về Đại-đô; từ đó con cháu suy vi, tuy sau này có một số âm thầm vận động kháng Mông nhưng không có thành quả.

Sau đó, tác giả chuyển sang việc mô tả cảnh trí Côn Minh. Nơi đây sẽ là một địa điểm  hoạt động tình báo của Đại Việt, mục đích là xâm nhập vào hàng ngũ quân Nguyên, khai thác tin tức về âm mưu tấn công Đại Việt từ sau thất bại ở Đông-bộ-đầu. Trong Chương này, tác giả sẽ giới thiệu một vài nhân vật tiêu biểu cho lòng quả cảm yêu nước đóng vai trá hàng hoặc âm thầm, chấp nhận gian khổ để phục vụ Đại Việt trước mưu đồ xâm lăng của quân Nguyên. Độc giả cũng sẽ nhận ra ngòi bút văn chương của Đỗ Đình Duyệt trong việc xây dựng các nhân vật của mình trong các chương kế tiếp. Độc giả cũng sẽ thấy kỹ thuật xây dựng truyện của ông. Xen vào nội dung lịch sử, Đỗ Đình Duyệt còn bất ngờ chuyển qua những đề tài trong dân gian, chẳng hạn tục đàn bà con gái Trung quốc bó chân.

Chương 2 này lấy đề tài là Côn Minh, tác giả nói đến cảnh trí ở đây, đồng thời cũng là nơi dựng các lều trại của quân Nguyên, trước khi tiến đánh Đại Việt. Đỗ Đình Duyệt viết:

Côn-minh là thủ phủ của Vân-nam, còn được gọi là Xuân-thành vì khí hậu ôn hòa, thời tiết lúc nào cũng tươi mát như trong tiết lập xuân; cỏ cây quanh năm xanh tốt làm cho cảnh sắc núi non sông nước càng thêm phần cẩm tú. Từ nghìn năm trước, các bộ tộc trong vùng đã thành thạo sử dụng nông cụ bằng đồng thau và thuần thục chăn nuôi trâu, bò, ngựa, cừu, dê, lợn, chó, và gia cầm.

Tuy khí hậu ôn hoà, đất đai màu mỡ nhưng dân chúng ở đây được hưởng cảnh thanh bình trù phú thì ít mà phải đóng góp nặng nề cho chiến phí thì nhiều kể từ thời Tần Thuỷ Hoànggồm thu lục quốc, mở rộng lãnh thổ xuống phía nam sông Dương-tử. Đến năm Nguyên-phong nhà Hán, Hán Vũ-đế sai tướng Quách Xương xuống Vân-nam lập quận Ích-châu, Côn-minh từ đó trở thành địa điểm xung yếu trong vùng địa đầu giữa các đoàn quân nam chinh từ phương bắc đổ xuống, và những cuộc đối kháng từ phía nam đẩy ngược lên.

Thế nhưng, Côn-minh cũng là nơi dừng chân của quân Nguyên trong cuộc tiến đánh Đại Việt. Tác giả mô tả những cánh quân của quân Nguyên đóng tại Côn-minh:

Vài tháng nay, nhiều cánh quân viễn chinh Mông-cổ bắt đầu xuất phát từ miền bắc, một cánh sáp nhập với quân Bắc Hán của Giang-hoài, Giang-chiết, Giang-tây, Hồ-quảng di chuyển đến Quảng-tây để cùng Động binh người Trang bản xứ bổ sung vào đại quân của Thoát Hoan cho mặt trận đông bắc chinh phạt Đại Việt. Quân Bắc Hán là số quân Bắc Tống trước đây đã đầu hàng quân Mông-cổ.

Cánh thứ nhì sang Khâm-châu, Liêm-châu hội binh với quân Lê của Hải-nam và những dực thủy quân dưới quyền Ô-mã-nhi thành một lực lượng dự trù đổ bộ vào miền nam Đại Việt bằng đường biển. Những cánh quân còn lại theo lộ Trùng-khánh kéo thẳng xuống, hạ trại ở phía nam ngoại thành Côn-minh, cùng với quân tân phụ, quân Hợp-lạt-chương và những đội quân Mông-cổ đã đóng sẵn tại đây, sửa soạn cho mặt trận tây bắc, do tướng quân Ái Lỗ chỉ huy. Cả ba cánh quân đều được đặt dưới sự tiết chế của Trấn-nam vương Thoát Hoan.

Sinh hoạt của dân chúng tại Côn-minh khi có mặt quân Nguyên

Thoáng chốc, Côn-minh bỗng trở thành một thủ phủ quân sự với đoàn quân viễn chinh đông đảo kéo về liên tục. Dân chúng tuy không thích chiến tranh, nhưng sự có mặt của quân nhân khiến họ vừa có thái độ chán ghét vừa hoan nghênh vì những người lính mới đến đã làm cho tình trạng buôn bán thêm phấn chấn.

Mới sáng tinh sương, cổng thành vừa rộng mở, trên đường đã tấp nập kẻ ngược người xuôi. Hàng đoàn nông phụ gồng gánh thịt thà rau cỏ nặng trĩu bước nhanh dưới ánh mặt trời ấm áp. Tiếng nói cười ồn ào vui vẻ của họ át cả tiếng bánh xe bò cũ kỹ kẽo kẹt nghiến trên con đường cái quan cát sỏi bụi mù. Tới khu vực đóng quân, hàng trăm nông phụ rời đường cái đi vào doanh trại quân Thoán, Bặc. Những nông phụ khác tiếp tục đi thẳng đến chỗ đóng binh của quân tân phụ.

Quân tân phụ là tàn quân của nhà vong Tống sau trận đánh cuối cùng trong vùng biển Tân-hội. Nhà Nam Tống mất, nhiều cựu chiến binh yếm thế đã chọn đời sống ẩn dật; một số khác không nơi nương tựa trở thành thổ phỉ nhũng nhiễu khắp nơi khó lòng dập tắt. Để ổn định tình trạng bạo động và phạm pháp lan tràn, quan quân địa phương phải nhờ cựu Tống tướng Lưu-vĩnh Tử-tài chiêu tập, tổ chức những tàn binh ấy thành đội ngũ trợ chiến cho quân đoàn viễn chinh.

Năm đinh sửu, 1277, thượng hoàng Trần Thái-tông mất. Cuối năm sau, Trần Thánh-tông nhường ngôi cho thái tử Khâm tức vua Trần Nhân-tông. Nhân việc truyền ngôi này, Nguyên chủ lấy cớ sai thượng thư Sài Thung sang Đại Việt trách cứ về việc vua Trần tự ý lên ngôi mà không xin phép thiên triều, bắt nhà vua phải sang chầu. Đã đến lúc phải sẵn sàng cho cuộc chiến, vua Nhân-tông từ chối không đi, chỉ phái Trịnh Đình Toản và Đỗ Quốc Kế đem phương vật đi theo Sài Thung sang cống.

Trịnh Đình Toản nhờ đồng liêu Phạm Tá Phiên lúc ấy đang coi vùng Tam-đái giúp thu xếp tìm kiếm voi và quản nô. Họ Phạm từng làm việc khá lâu với Chiêu-văn vương Trần Nhật Duật trong vùng biên cương nên khá am tường về người phương bắc, nhân đó Trịnh Đình Toản mới xin với triều đình cho phép Tá Phiên cùng đi. Chiêu-văn vương cũng nói vun vào nên đề nghị của Trịnh Đình Toản được chấp thuận.

Đầu năm kỷ mão,1279, Sài Thung hướng dẫn sứ bộ Đại Việt về đến Quảng-tây thì được tin nhà Nam Tống đã mất bèn vội vàng để sứ thần Trịnh Đình Toản và Đỗ Quốc Kế ở lại Ung-châu, chỉ dẫn theo Phạm Tá Phiên và thuộc cấp Mạc Tăng Thốn chịu trách nhiệm trông coi các thành viên khác của sứ bộ và bọn nô dịch đem cống phẩm sang Đại-đô. Cùng đi trong chuyến này có hai anh em tượng nô là Chu-lang, Lập-chí của thị tộc Tần-hữu và một thầy mo họ Vu tên Lâm Tuyền người vùng Mù-cang-chải.

Đã nhiều lần nhà Nguyên đòi Đại Việt phải cống phương vật gồm cả voi và tượng nô nhưng vua Trần trả lời rằng tượng nô không chịu rời bản thổ, nếu ép buộc thì họ trốn vào rừng, không bắt buộc được. Lần này sang sứ, Sài Thung nặc nặc đòi vua Nhân-tông phải sang gặp Hốt-tất-liệt và phải cống voi với quản nô, triều đình đành nhượng bộ gửi quản nô đi với điều kiện là họ sẽ sang đào tạo tượng nô người Mông-cổ cách điều khiển voi; xong việc, nhà Nguyên phải trả họ về quê quán.  

Phạm Tá Phiên nhận xét về Thành-cát-tư-hãn và Hốt-tất-liệt

Ở Chương 2 này, Đỗ Đình Duyệt bắt đầu đề cập đến những nhân vật tình báo của Đại Việt, trá hàng quân Nguyên nhằm lấy tin tức trong hàng ngũ chỉ huy của họ, một phần để trì hoãncuộc tấn công Đại Việt, hầu kéo dài thêm thời giờ, để triều đình Đại Việt có thêm thời gian chuẩn bị tác chiến. Đứng đầu toán tình báo của Đại Việt ở Côn Minh là Phạm Tá Phiên, bên cạnh còn có Mạc-tăng-thốn v.v…Tác giả Đỗ Đình Duyệt còn mô tả một cuộc săn bắn của đoàn quân Nguyên, và tường thuật về cuộc trao đổi giữa Thành-cát-tư-hãn và giáo chủ Toàn-chân-giáo về chiến tranh và đạo lý. Điều này còn thấy trong các Chương khác. Đấy là kỹ thuật xây dựng truyện của không ít nhà văn. Tuy nhiên, những chuyện kể này của Đỗ Đình Duyệt đều có liên hệ với chủ đề của truyện, bằng một kỹ thuật uyển chuyển, điêu luyện. Một điều không thể bỏ qua, đó là ngôn ngữ trong toàn truyện, tác giả sử dụng hết sức nhuần nhuyễn, phù hợp với các sự việc của thời kỳ cách nay cả 7,8 trăm năm.

Phạm Tá Phiên trong đoàn quân đi săn:

Đoàn người ngựa bắt đầu sải nhanh xuống dốc đồi thoai thoải, Ái-lỗ phải kìm ngựa chầm chậm để mọi người theo sau bắt kịp, chẳng mấy chốc đã dừng lại trước đồng cỏ. Viên đại tướng chuyện trò vui vẻ với một bên là tướng Mang-cổ-đái và thân vương A-thai, một bên là Nạp-tốc Lạt-đinh và một người đàn ông quý phái ăn mặc sang trọng, tuổi vào khoảng bốn mươi. Người ấy tên là Phạm Tá Phiên, một cựu thần của Đại Việt đã quy phục nhà Nguyên. Sự có mặt của người đàn ông Đại Việt quý phái này trong đoàn quân viễn chinh trú đóng ở Côn-minh hôm nay bắt nguồn từ một chuỗi sự việc xảy ra trước đây (Đã nói ở trên).

Buổi chiều cuối cuộc săn bắn:

Để chứng tỏ gan dạ, những dũng sĩ tham dự cuộc săn thích chọn các loài hổ, báo, gấu. Bị săn đuổi, những mãnh thú hung dữ ấy ít khi chịu lẩn tránh nên thường gây nhiều thương vong. Tuy nguy hiểm thật nhưng chúng lại dễ trở thành mục tiêu phát xạ.

Là một nhân vật thành danh, Ái-lỗ không cần thiết phải chứng minh lòng dũng cảm nữa, ông đã lựa chọn lợn lòi thay vì kim tiền báo. Giết lợn lòi bằng tên còn khó hơn cả bắn chim bay vì giống thú này phản ứng rất nhanh, nhất là lợn đực đầu đàn da rất dầy. Ngoái lại đằng sau phát xạ trong khi phi ngựa mà bắn lợn lòi vào chỗ nhược thì phải là hạng người có bản lĩnh của một đại cung thủ mới có thể làm được.   

Chư vương A-thai là cung thủ kế tiếp sau khi Ái-lỗ khai mạc. Cuộc săn tiếp diễn cho đến gần tối, khi những con thú nhỏ bé còn sống sót, theo cổ lệ, được Ái-lỗ ân xá. Vòng rào kỵ binh ở bìa rừng được mở rộng trả chúng lại cho thiên nhiên. Ái-lỗ tủm tỉm cười, thầm nghĩ đến lời       Mang-cổ-đái nói về cái “đức hiếu sinh” của mình không hẳn đã là ngoa ngôn. Ngoài dặm xa, rừng đá Thạch-lâm rực đỏ trong ráng chiều tím nhạt giữa một vùng biển cây xanh thẫm.

Trên đường xa, Sài Thung tò mò hỏi về những giống voi, tê giác và về tình trạng dân sóc cảnh sinh sống trên các vùng cao nguyên, Tá Phiên mạch lạc trả lời làm viên sứ thần rất vừa ý hỏi rộng sang lĩnh vực khác liên quan đến mối tương quan giữa Đại Việt với nhà Tống trước đây. Trong lúc trò chuyện, Phạm Tá Phiên bầy tỏ lòng ngưỡng mộ của mình đối với Thành-cát-tư-hãn, và chê Hốt-tất-liệt không bằng nội tổ như thiên hạ vẫn ca ngợi.

“Không bằng ở những chỗ nào? Lãnh thổ của chúa thượng há chẳng rộng hơn là của đức thái-tổ hay sao?” Sài Thung gay gắt hỏi.

Thái-Phiên trả lời rằng Thành-cát-tư-hãn khởi nghiệp từ một nhóm người lèo tèo, lúc nào cũng bị kẻ thù săn đuổi, gây dựng một đại đế quốc từ những bước đường cùng, taytrắng làm nênsự nghiệp. Còn như đế quốc chư hầu của Hốt-tất-liệt từ Hoàng-hải ở phía đông tới Hắc-hải ở phía tây, từ phía bắc sa mạc Qua-bích đến hết vùng Hoa Nam quả có rộng thật, nhưng một khoảnh lớn từ vùng Hoa Bắc trở lên phải kể là được thừa hưởng tổ nghiệp mới đúng.

“Xưa nay ta chưa nghe ai nói chúa thượng không phải là bậc anh hùng cái thế, thân lập thân, bồi đắp bờ cõi ngày càng thịnh vượng,” Sài Thung lắc đầu nói. “Như vậy không phải là đã nối được cái chí của nội tổ hay sao?”

“Không ai phủ nhận đương kim hoàng đế là một bậc quân vương lỗi lạc, tự thuở thiếu thời đã tỏ ra xuất chúng, mọi người đều nhìn nhận là có đủ điều kiện nối nghiệp đại hãn, nhưng giữa thái-tổ và hoàng đế, chí hướng hai ông cháu khác nhau,” Tá Phiên nói. “Thái-tổ động binh đánh Kim để giải ách thống trị cho người dân Mông-cổ; chiếm Tây-liêu vì vương tử Nãi-man đã tiếm ngôi của vương quốc đồng minh này; phạt Hoa-thích-tử-mô vì kiêu căng muốn gây hấn; và diệt Tây-hạ vì đã bội ước liên minh. Thái-tổ biết tại sao ông cần đánh và chỉ đánh khi đã nắm vững tình hình địch, và tự lượng sức mình có thắng được mới đánh. Tàn bạo nhưng minh bạch. Về phần hoàng đế, sau khi lấy Đại-lý và trong khi còn đang đánh nhà Nam Tống, ngài vẫn luôn luôn nhòm ngó các nước phương nam chỉ vì muốn mở rộng thêm cái đế quốc đã quá rộng lớn của mình. Chí hướng ấy quá cao, sợ rằng lực bất tòng tâm.”

“Đức hoàng đế trông về phương bắc, bắc phương bình định; ngoảnh nhìn xuống nam, Trung Nguyên thu về một mối, sự nghiệp lẫy lừng ngoài cõi, sao lại nói là ‘lực bất tòng tâm?” Sài Thung hỏi.

“Sau khi hãn Mông-kha chết, Nguyên chủ phải mất bốn năm mới hàng phục được kẻ nội phản A-lý Bất-kha. Mầm mống nội loạn ở Mạc-bắc còn kéo dài chưa ổn, hoàng đế đã vội tự coi Trung Nguyên là của riêng mình, không chịu triệu tập đại hội quý tộc, tự ý truyền ngôi cho thái tử theo tục lệ Trung Quốc, rời bỏ kỷ cương của tổ phụ, người Mông-cổ ở ngoại biên coi đức hoàng đế như người Hán, sao có thể gọi là ‘bắc phương bình định’ được.

“Còn như ở Trung Thổ, Nguyên chủ chỉ ưu dụng Sắc-mục ngoại nhân, xa cách người bản xứ. Dân tình đói khổ, mà hoàng đế hình như không mấy quan tâm, vẫn cho đánh thuế ngày càng nặng nề để thu vét của dân xây dựng Đại-đô và cung ứng cho các cuộc viễn chinh, nên bốn phương loạn lạc không dứt. Thay vì phải dồn mọi nỗ lực vào việc cải tiến dân sinh, hoàng đế lại tạo ra một số tướng lãnh uy quyền để phục vụ cho mục tiêu của mình, rồi để mặc cho bọn quyền thần này tự tung tự tác trên danh nghĩa trung thành với ngài, kết bè họp đảng, dung túng cho bọn ô lại dưới quyền mặc tình nhiễu hại lương dân khiến cho dân chúng oán sợ triều đình. Sài đại quan nhân chắc cũng đã biết rõ những điều ấy,” Tá Phiên nói.

Nhận xét của Tá Phiên về những tham vọng của Nguyên chủ thì không thể phủ nhận, nhưng nói ông coi thường lòng dân thì có phần miễn cưỡng dù mối quan tâm của ông không xuất phát từ lòng yêu dân. Hốt-tất-liệt nghi ngờ và ghét người Trung Hoa, đối xử với họ từ trí thức đến nông dân như nô lệ. Nhưng là một hoàng đế khôn ngoan, ông vẫn tìm cách thu phục nhân tâm dù chỉ là để củng cố vương quyền. Nhiều cải cách phát triển nông nghiệp, mở mang đường xá với công trình mở kinh Đại vận hà trên vài nghìn dặm từ Tô-châu về đến Đại-đô, khuyến khích trao đổi khoa học kỹ thuật qua con đường Tơ Lụa, mục đích làm cho vương triều thêm giàu mạnh nhưng cũng có ý làm cho dân chúng đỡ đói khổ để bớt nổi loạn. Phạm Tá Phiên cũng biết thế, không hiểu sao ông vẫn cố ý lờ đi, chỉ chỉ trích gay gắt chứ không khoan nhượng. Nghe đến đây, Sài Thung có sắc giận, “hừ” nhẹ một tiếng.

Phạm Tá Phiên vẫn thản nhiên làm như không biết, tiếp tục nói, “Đại nhân có bao giờ tâu lên đức hoàng đế về những tệ trạng ấy chưa?”

Đang sẵn bực mình lại bị chất vấn thêm, Sài Thung lại “hừ” thêm một tiếng nữa.

“Tại hạ nghe nói quan Hình bộ thượng thư Thôi Úc đã tâu trình hoàng đế về việc lộng quyền của A-lý Hải-nha. Nhiều người khác cũng đã nói về tình trạng loạn ly, dân tình đói khổ khắp nơi. Những người có lòng nơi cửa khuyết chắc không thiếu, nhưng có lẽ lời nói phải của họ khó lọt được vào tai Nguyên chủ,” Phạm Tá Phiên cười khẩy. “Thái-tổ tuy hiếu sát nhưng không bao giờ vì trọng chiến quả mà coi thường tính mạng binh chúng, đối với người dưới thưởng phạt công minh, kẻ có công được giao trọng trách dù xuất thân hạ tiện. Ngài có mắt xanh và biết yêu dùng người tài không tiếc họ điều gì nên mới có được một Tốc-bất-đài xuất thân thợ rèn mà trở thành một danh tướng bất hủ, một Triết-biệt là kẻ thù cũ, một Mộc-hoa-lê kiêu dũng. Những lương tướng ấy đã suốt một đời trung thành tận tuỵ với chủ. Được như vậy một phần vì bản sắc anh hùng của đại hãn và một phần vì biết nghe lời nói phải, biết khiêm tốn cầu kiến những bậc đại hiền như Khưu Xứ Cơ đạo trưởng hay Gia-luật Sở-tài. Ý tưởng cao minh của các vị ấy thường không xuôi tai nhưng hợp tình hợp lý nên vẫn được thái-tổ cung kính đón nhận.”

Sài Thung là một con người mục hạ vô nhân, khi đến triều đình Đại Việt, trong lúc gặp gỡ mọi người từ thái uý Trần Quang Khải, Hưng-đạo đại vương Trần Quốc Tuấn trở xuống, thái độ hết sức kiêu kỳ ngạo mạn. Nay thấy một quan chức nhỏ mà nói năng lưu loát, chẳng những biết nhiều hiểu rộng mà còn dám phẩm bình cả đến Nguyên chủ, và thái-tổ của đế quốc vĩ đại Mông-cổ, viên lễ bộ thượng thư rất đỗi ngạc nhiên.

Thoạt nghe qua những điều Tá Phiên chỉ trích, Sài Thung cảm thấy rất khó chịu chỉ muốn xuống tay trừng phạt, nhưng khi Tá Phiên đả kích A-lý Hải-nha, một quyền thần đầy thế lực, thì lại thấy hài lòng vì ông cũng không ưa viên tướng khả úy này. Nhất là khi Tá Phiên nhắc đến chuyện Khưu Xứ Cơ và Gia-luật Sở-tài, khiến ông nhớ lại những điều hai nhân vật ấy đã khuyên bảo, dù nghịch nhĩ không đáp ứng được hết sở cầu của thái-tổ nhưng những lời nói có đạo lý chân thực của họ thường được thái-tổ xưng tụng và đôi khi nghe theo. Ông đã chẳng đang kiên nhẫn chuyên chú lắng nghe những điều chính ngôn nghịch nhĩ của Tá Phiên như thái-tổ ngày xưa đã từng nghe Khưu đạo trưởng và Sở-tài công hay sao? Nghĩ như vậy, Sài Thung hãnh diện ngầm ví mình ngang ngửa với Thành-cát-tư-hãn.

Sài Thung vốn cao ngạo nhưng càng đàm đạo với Phạm Tá Phiên lâu càng thêm phần tương đắc. Sau ông mới biết Tá Phiên là hậu duệ nhà Lý. Về đến Đại-đô, Sài thượng thư tiến cử Tá Phiên với Hốt-tất-liệt. Nguyên chủ ái mộ giữ ông ở lại triều đình.

Ở Đại-đô không bao lâu, Phạm Tá Phiên và Mạc Tăng Thốn đã giao du thân mật với một số nhân vật trong đó có Lễ bộ thượng thư Lưu Tuyên. Anh em Tần-hữu cũng được mọi người quý mến vì khả năng điều khiển voi và thú vật của họ. Nhưng Vu Lâm Tuyền lại là người quảng giao nhất trong bọn vì dân chúng địa phương rất mê tín. Hữu xạ tự nhiên hương, ngay cả những người tai mắt trong vùng thường cho vời Vu Lâm Tuyền đến dinh chỉ cốt được nghe họ Vu phán rằng họ là những người thừa thiên mệnh lãnh đạo quần chúng. Nhiều thuộc cấp của họcũng đã bắt chước làm theo. Phần lớn những người này chỉ giả vờ mê tín với mục đích tạo niềm tin trong quần chúng qua lời họ Vu. Còn dân chúng thực tình bị quyến rũ và tìm đến Vu Lâm Tuyền để nhờ chữa chạy đủ mọi thứ bênh, tin rằng ông có liên hệ với thế giới thần bí của cỏ cây. Say mê tôn kính họ Vu đến nỗi người ta đồn rằng thầy mo Đại Việt có khả năng nghe được và ngửi thấy cả ma quỷ. Sự nổi tiếng ấy đã cho phép họ Vu tha hồ thong dong đi lại khắp nơi.

Tháng hai năm kỷ mão,1279, nhà Nam Tống mất. Trung Quốc trở thành vựa lúa của đế quốc Mông-cổ, và là một căn cứ để trực tiếp tiến xuống miền nam. Tháng tư năm ấy, Khu-mật-viện đề nghị Nguyên chủ cho đánh Đại Việt. Mọi kế hoạch được trù bị, kể từ đó những đòi hỏi của nhà Nguyên càng thêm thúc bách và quá đáng. Cuộc xâm lược xảy ra đến nơi, vua Trần Nhân-tông phải gửi chú họ là Trần Di Ái sang sứ mong trì hoãn một cuộc chiến tranh không thể tránh được.

Di Ái đến Đại-đô, Hốt-tất-liệt liền xuống chiếu phong vị thân vương này làm An Nam quốc vương, sai Bột-nhan Thiết-mộc-nhi đưa về nước, bề ngoài là để giúp dân Đại Việt. Tá Phiên can rằng sẽ không có ai tin vào sự tuyên bố của hoàng đế và thế nào họ cũng sẽ nhất định chống đối bởi vì dân chúng trong nước coi đó là cái cớ lật đổ triều đình Đại Việt và Di Ái chỉ là bung xung thừa hành chính sách thôn tính của nhà Nguyên. Nguyên chủ không nghe. Vừa về đến biên giới, Di Ái bị bắt, đầy làm giáp binh ở lộ Thiên-trường.

Năm giáp thân,1284, Hốt-tất-liệt quyết định đánh Đại Việt, Tá Phiên lại can rằng Trung Nguyên chưa bình ổn vì tình trạng loạn ly ở Hoa Nam còn nhiều rối rắm, và rằng Toa Đô chưa chiếm được Chiêm-thành làm hậu thuẫn như đã dự tính. Điều binh vào lúc này chỉ làm nhọc sức quân. Đúng lúc hay không, một lần nữa Nguyên chủ che tai làm theo ý mình. Năm sau, quân Nguyên nhập cõi và bị đánh bại ở các mặt trận Hàm-tử, Tây-kết.

Hai lần can, hai lần hoàng đế nhà Đại Nguyên không nghe; kết cuộc thất bại đúng như Tá Phiên tiên liệu. Nhiều người trong Nguyên triều không ưa thái độ phản kháng ương ngạnh của Tá Phiên, nhưng lễ bộ thượng thư Lưu Tuyên và ngay cả một số quan lại địa phương như Tuyến-kha ở hành tỉnh Hồ-quảng lại tỏ ý thích tính khí bộc trực và nhiều nhận xét xác đáng của ông. Chính họ cũng đã từng cương quyết chống đối và đề nghị hoãn binh vì tình trạng dân tình đói khổ, tài nguyên kiệt quệ sau những cuộc đổ bộ thất bại vào Phù-tang, và gần đây vào bờ biển Chiêm-thành. Có nhiều người khác cũng không đồng tình về quyết định gây chiến của Nguyên chủ nhưng không dám nói ra. Hốt-tất-liệt sau này cũng nhận thấy những điều can ngăn ấy là chính đáng nhưng ông cho rằng những thất bại vừa qua đã thuộc về quá khứ. 

Phạm Tá Phiên với những viên tướng của Hốt-tất-liệt ở Côn-minh:   

Là một giới chức thẩm quyền kỳ cựu dầy kinh nghiệm trông coi một hành tỉnh rộng lớn, bình chương Nạp-tốc Lạt-đinh không hẳn đã ngại Ái-lỗ nhưng hiện nay viên tướng ấy được Nguyên chủ sai điều động mặt trận tây bắc đánh Đại Việt; xích mích giữa hai người trong lúc này là một điều cực kỳ bất lợi. Nạp-tốc Lạt-đinh biết mình lỡ lời thì đã muộn, chưa biết xử trí ra sao.

“Tướng quân và A-lý Hải-nha tướng quân đều là danh tướng đương thời,” Phạm Tá Phiên nói trong lúc Nạp-tốc Lạt-đinh còn đang ở vào tình trạng bối rối. “Nhưng có chỗ khác nhau đúng như quan bình chương đây đã nhận xét. Tướng quân là người dễ tính. Còn A-lý tướng quân sự nghiệp lẫy lừng nhưng khí độ hẹp hòi, một lần xuất quân là một lần tàn sát đẫm máu, thậm chí cư dân trong đất địch đã đầu hàng cũng không được dung tình.”

“Tướng quân một đời dọc ngang trăm trận, trảm tướng, hạ thành không biết đến bao nhiêu mà kể,” Mang-cổ-đái nói, “thế mà vẫn giữ được cái đức hiếu sinh, thật là tuyệt diệu, không như cái gã A…A…”

“Đúng như thế, nhận xét của Mang-cổ-đái tướng quân quả thật tinh tế. A-lý Hải-nha làm gì có cái đức để mà so sánh với người khác,” Phạm Tá Phiên lại nói.

Trước đây Mang-cổ-đái từng có lần bị A-lý Hải-nha hạ nhục trước mặt nhiều người nên để bụng thù ghét, định bắt chước Phạm Tá Phiên so sánh Ái-lỗ với viên tướng đáng sợ ấy để trút bỏ một phần phẫn hận đã tích luỹ từ lâu và đồng thời cũng có ý bợ đỡ thái quá về đức tính của viên tướng này để chiều lòng. Thật là một sự bắt chước vụng về, ông vội bỏ dở câu nói khi chợt nghĩ đến những tướng lãnh quyền thế đương thời trước kia từng ở dưới trướng viên tướng này như Áo-lỗ-xích, Toa Đô, Ô-mã-nhi, Trình Bằng Phi, Phàn Tiếp, Vân Tòng Long. Ông ấp úng ngậm miệng lại nhưng không kịp vì Tá Phiên đã nhanh nhảu tiếp lời nói toạc ra tên của A-lý Hải-nha. Mang-cổ-đái mất bình tĩnh thấy một vài thủ hạ trung cấp cũ của A-lý Hải-nha đứng sau lưng Ái-lỗ đang hằm hằm trừng mắt nhìn mình.

Ái-lỗ tự nghĩ mình có “dễ tính,” so với nhiều người khác, như Tá Phiên nói; nhưng cũng tự biết là mình không có cái “đức hiếu sinh” như Mang-cổ-đái tâng bốc, mặc dầu cả đời sinh sát của ông thật chưa bằng một lần tận diệt dân Đàm-châu và Tĩnh-giang của A-lý-hải-nha. Ái-lỗ vốn biết Tá Phiên ăn nói bộc trực, nhưng không đoan quyết được họ Phạm đã vô tình hay cố ý đỡ lời cho Nạp-tốc Lạt-đinh.

Những điều Phạm Tá Phiên so sánh A-lý Hải-Nha và Ái-lỗ đều không ngoài sự thựcdù không hẳn đã đúng ý của Nạp-tốc Lạt-đinh vì viên quan bình chương này đã thật sự buột miệng lỡ lời. Thực ra, sự so sánh giữa hai viên tướng của Nạp-tốc Lạt-đinh chẳng những gây bực dọc cho Ái-lỗ không ít mà những lời nói miệt thị về dân Đại Việt của ông ta còn làm cho Tá Phiên khó chịu hơn nhiều nhưng không để lộ ra mặt, mặc dầu từ ngày gia đình ông đến ở khách trạm đã được viên bình chương ân cần tiếp đãi nồng hậu.

Nguyên khi đế quốc Mông-cổ chưa diệt được nhà Nam Tống và còn đi lại với Đại Việt thì mọi quan hệ giữa hai nước đều thực hiện bằng con đường Vân-nam. Triều đình Đại Việt đã tạo được mối tương quan thân thiện với viên thú thần người Hồi giáo ở Đại-lý lúc đó là bình chương Trại-điển-xích Thiệm-tư-đinh, cha của Nạp-tốc Lạt-đinh. Thân thiện đến chỗ vua Trần Thái-tông đã kết nghĩa anh em với Trại-điển-xích để tranh thủ sự ủng hộ của viên thú thần này. Do mối tương quan của phụ thân và hoàng đế Đại Việt, Nạp-tốc Lạt-đinh vẫn tiếp tục duy trì một phần tình cảm với người Đại Việt.

Dù sao, Phạm Tá Phiên đã đỡ lời quan bình chương vì tình trạng gay cấn kéo dài chỉ tổ có hại cho tình hữu nghị đang có giữa ông và Nạp-tốc Lạt-đinh trong khi ông đang rất cần viên thú thần này cung cấp tin tức cập nhật hóa về những chuyển động của quân Nguyên để ông có đầy đủ dữ kiện hoàn thành nhiệm vụ tư vấn của mình cho đoàn quân viễn chinh.

       Toàn-chân-giáo

Trong bão tố của quyền lực, của tàn sát chết chóc và hoang tàn bởi chinh chiến, nhà văn Đỗ Đình Duyệt đã tái hiện nhân vật Thành-cát-tư-hãn, một con người đã gắn liền với bão tố sa mạc, không biết trên đầu mình có ai. Nhưng, với ngòi bút của Đỗ Đình Duyệt, ông đã xây dựng một huyền thoại giữa Thành-cát-tư-hãn với Khưu Xứ Cơ, Đạo-trưởng Toàn-chân-giáo, một con người bất tử trong nhân loại khi đối diện với Thành-cát-tư-hãn. Độc giả sẽ nhận ra ngòi bút của Đỗ Đình Duyệt ở chuyện này và các Chương sau, ẩn hiện nghệ thuật kể chuyện lịch sử rất đặc sắc của ông. Chúng tôi cảm thấy bất ngờ khi Đỗ Đình Duyệt chuyển ngòi bút của mình từ đố kỵ, thù hận sang đạo giáo. Đọc đoạn văn chuyển tiếp này, chúng tôi nghĩ, Đỗ Đình Duyệt không chỉ viết những hoạt động tình báo, viết về lịch sử chiến tranh, viết văn tình cảm, lãng mạn, mà ông còn viết về đạo giáo, qua đó ông còn nghĩ đến làm thế nào để người dân được an cư lạc nghiệp. Những điều này đã bộc lộ con người Đỗ Đình Duyệt?

Trong cuộc nói chuyện giữa Thành-cát- tư-hãn và Đạo Trưởng Toàn Chân giáo, Thành-cát-tư-hãn hỏi đạo trưởng Khưu Xứ Cơ về việc làm thế nào để an dân, Xứ Cơ nói lẽ trời hiếu sinh, trăm họ cần phải được an cư lạc nghiệp. Thuận theo quy luật trời đất thì sống, trái với quy luật trời đất thì chết; thuận với dân nguyện thì yên, nghịch với dân nguyện thì loạn. Nước Tần sở dĩ bị diệt vong cũng chỉ vì biện pháp thống trị của họ quá tàn bạo.

Khưu Xứ Cơ tự là Thông-mật, hiệu Trường-xuân tử, người đất Thê-hà, Đăng-châu, năm mười chín tuổi xuất gia tu tại Ninh-hải. Sư phụ của Khưu Xứ Cơ là đạo trưởng Vương Trùng Dương người đất Hàm-dương, học đạo với một dị nhân ở Cam-hà-trấn, sau lên Chung-nam-sơn tu đạo. Năm Đại-định thứ bảy đời vua Thế-tông nhà Kim,1167, ông lập am Toàn-chân ở Ninh-hải, chủ trương Đạo, Phật, Nho tam giáo đồng nhất.

Nói chung, Nho giáo là truyền thống căn bản cấu trúc xã hội, dậy con người về đạo đức và luân lý, chú trọng đến cung cách cư xử giữa vua tôi, thầy trò, vợ chồng, cha mẹ và con cái. Đạo giáo quan niệm con người là một phần tử của vũ trụ, nên sống đơn giản thuận theo cái đạo lý tự nhiên của trời đất. Còn Phật giáo là phần tâm linh của đời sống, coi đời là bể khổ tạo nên bởi dục vọng của con người, vật chất chỉ là huyễn tượng vô thường, vạch ra con đường tu thân giải thoát. Tôn chỉ của ba nguồn tư tưởng lớn khác nhau này đã hoà nhập sâu xa trong mọi từng lớp xã hội dưới thời nhà Tống.

Tại Ninh-hải, Vương Trùng Dương thu nhận đồ đệ gồm Mã Đan Dương tên Ngọc, Đàm Xứ Đoan, Lưu Xứ Huyền, Khưu Xứ Cơ, Vương Xứ Nhất, Hác Đại Thông và một nữ đệ tử là Tôn Bất Nhị. Ngoài việc tận tâm hoằng bá chủ trương của sư môn khắp trong thiên hạ, Khưu Xứ Cơ cùng các đồng môn chư huynh đệ còn là những du hiệp chuyên bênh vực những người bị giày xéo. Là một thiên tài, ông chính thức kiến lập Toàn-chân-giáo, tôn Vương Trùng Dương làm giáo tổ. Từ đó, tiếng tăm Toàn-chân-giáo và Khưu Xứ Cơ lừng lẫy khắp Trung Nguyên.

Năm nhâm ngọ,1222, Thành-cát-tư-hãn hai lần mời Khưu Xứ Cơ khi ông còn đang nhàn lãm trong vùng Hưng-đô-khố sau khi diệt xong Hoa-thích-tử-mô. Mới đầu đạo trưởng thoái thác, viện cớ già yếu bất tài, trước đây nhà Kim nhà Tống cho vời cũng đã không đi được. “…Thiên khí thương hoàng, lão nhược bất kham, thiết khủng trung đồ bất năng đáo đắc…Tiền giả, Kim quốc cập Tống quốc lũ triệu bất tùng…,” ông viết cho đại hãn.

Nhận được biểu khước từ của Khưu đạo trưởng, đại hãn vẫn không ngã lòng, tiếp tục hạ chiếu thư triệu thỉnh, lời lẽ mộc mạc khiêm nhường, “… Tôi chỉ là một đứa con của phương bắc man khai, ăn mặc đơn sơ như những kẻ chăn bò lùa ngựa, cùng với chiến sĩ huynh đệ nằm sương nếm mật, chia ngọt xẻ bùi, một lòng vì đất tổ…”

Sự khẩn khoản của Thành-cát-tư-hãn đã khiến Khưu đạo trưởng, năm ấy bảy mươi ba tuổi, đành phải rời Bạch-vân-quán ở Đại-đô, lên đường viễn du Tây-vực.

Từ cuối hạ năm ấy, hai người đã nói chuyện nhiều về nhân sinh. Lo âu về cuộc sống ngắn ngủi và quyền lực của mình, Thành-cát-tư-hãn đã hỏi Khưu Xứ Cơ về thuật trường sinh, đạo trưởng nói, “Sông sâu cũng có khi cạn, núi cao cũng đến lúc mòn. Núi sông ngàn đời còn không vĩnh cửu, làm gì có chuyện con người bất tử trường sinh. Trong thiên hạ có đạo phái Phương-sĩ quan niệm là uống linh đơn thì có thể thành tiên bất lão. Tần Thuỷ Hoàng và Hán Vũ-đế đã tin vào tà đạo đó mà làm hại sức dân. Vua tôi nhà Đường nhiều người chỉ vì tìm thuốc trường sinh mà bị ngộ độc chết. Trong đời chỉ có phép dưỡng sinh chứ không có thuật trường sinh.”

Nói rồi ông giải thích về thuật dưỡng sinh, rằng người vùng U-yên ăn lạnh trong khi người vùng Thục-hán thích ăn nóng. Người vùng Giang-nam ăn cá, ăn gạo, vùng trung thổ ăn ngũ cốc, vùng thảo nguyên ăn thịt và uống sữa. Phàm những loại thực phẩm đó đều nuôi sống con người, miễn sao biết tiết chế ham muốn, biết sống hoà hợp với thiên nhiên, ăn uống điều độ không nên quá no đủ, ở sao cho giản dị không cần tiện nghi thừa thãi. Đó là điều đại hãn nghe theo. Dẫu sao thì ông vẫn giữ tính căn cơ cố hữu của thuở cơ hàn thiếu thời mồ côi cha khi mỗi miếng ăn là một vấn đề sinh tử.

Nhân khi kể lại lần đi qua cổ thành văn hoá hoang phế Tát-ma-nhĩ-cán, thấy dân chúng bốn phần không còn đến một, đạo trưởng mủi lòng nhắc nhở đại hãn về những cuộc tàn sát hung bạo xảy ra khắp nơi. Thành-cát-tư-hãn hỏi Khưu Xứ Cơ về phép an dân. Xứ Cơ nói lẽ trời hiếu sinh, trăm họ cần phải được an cư lạc nghiệp. Thuận theo quy luật trời đất thì sống, trái với quy luật trời đất thì chết; thuận với dân nguyện thì yên, nghịch với dân nguyện thì loạn. Nước Tần sở dĩ bị diệt vong cũng chỉ vì biện pháp thống trị của họ quá tàn bạo.

Lời khuyên ngay thẳng đó là điều đại hãn khó nghe theo trọn vẹn vì oán thù vay trả là truyền thống, là công lý đời đời của người dân du mục, không bao giờ dung thứ cho những kẻ phản phúc, hoặc ngược đãi và giết hại gia đình mình. Ông đã từng chu diệt các bộ tộc Thát-đát, Miệt-nhi-khất và Nãi-man để thanh toán những mối huyết thù truyền kiếp đó.

“Đại hãn lấy sát phạt để giành thiên hạ, nhưng không thể lấy sát phạt mà trị thiên hạ. Ân và uy phải được thi hành cùng một lúc thì thiên hạ mới được yên ổn lâu dài,” Khưu Xứ Cơ thở dài, khuyên: “Mười năm binh hoả, kẻ thù của ngài đã bị tiêu diệt, người sơn dã này ước mong đại hãn sớm rút quân trở về để cùng thần dân an hưởng thái bình.”

Thành-cát-tư-hãn triệu kiến Khưu Xứ Cơ trên đỉnh Tuyết-sơn quanh năm tuyết phủ, tôn xưng đạo trưởng là lão thần tiên. Sau hơn bảy tháng trường sống bên nhau, ông rút quân theo lời khuyên của Khưu đạo trưởng. Cuối năm nhâm ngọ,*1s hai người sánh vai tiếp tục câu chuyện nhân sinh, cùng với đạo quân tây chinh trở về Mông-cổ. Sau đại hãn xuống chiếu thư nghiêm cấm việc sát phạt cướp bóc. Nhưng còn một việc chót ông sẽ phải làm vào lúc cuối đời; tận diệt đế quốc Tây-hạ vì đã bội ước.

Gia-luật Sở-tài tiến cử Khâu Xứ Cơ với Thành-cát-tư-hãn vì đạo trưởng là người am tường lẽ sinh hoá, hy vọng đạo đức của ông khả dĩ thuyết phục con người lòng dạ sắt đá ấy thoái binh, chấm dứt tình trạng sát phạt. Khi đánh Hoa-thích-tử-mô, đại hãn đã xuống lệnh tàn sát dù chỉ một người trong thành địch chống cự. Sở-tài đã cố khuyên bãi lệnh này nhưng ông không nghe, bảo rằng ông chỉ đem theo có hai mươi vạn quân trong cuộc viễn chinh, ba tháng đầu đã chết hơn một vạn, không đủ quân lưu thủ bảo vệ những thành đã chiếm được, trong khi Hoa-thích-tử-mô còn trên năm mươi vạn nhuệ binh. Nếukhông tàn sát, “sau khi quân đội bỏ đi khôngcó quân lưu thủ để lại, thành nào cũng có thể trở mặt nổi dậy thì lực lượng sẽ bị tiêu hao, làm sao có thể thủ thắng,” ông nói. 

Gia-luật Sở-tài là hậu duệ quý tộc Khiết-đan, cháu tám đời của Đông-đơn vương nhà Liêu. Cha làm thượng thư tả thừa của nhà Kim, năm sáu mươi tuổi mới sinh ra Sở-tài, dùng điển cố “Sở tuy hữu tài, Tần thực dụng chi” trong Tả chuyện để đặt tên, ngụ ý là người có tài của nước Sở nhưng được nước Tần tin dùng. Sở-tài thông thiên văn, địa lý, toán học, Phật, Lão, Trang học, y học và chiêm bốc. Năm ất hợi đời vua Tuyên-tông nhà Kim,1215, ông bị quân Mông-cổ bắt ở nước Kim và được liệt kê là chiêm tinh gia trong đám tù nhân có nghề chuyên môn nên không bị giết.

Vài năm sau, Thành-cát-tư-hãn gặp người trẻ tuổi quý tộc Khiết-đan này, ngỡ ông sẽ hân hoan sau khi Mông-cổ chiến thắng vẻ vang quân Kim bởi vì người Nữ-chân của nhà Kim trước kia đã diệt nhà Liêu của người Khiết-đan, không ngờ Sở-tài lại trịnh trọng nói về nhà Kim vì nội tổ và cha ông đều là công thần trung thành tận tuỵ của triều đại này. Đại hãn rất vừa lòng về bản tính ngay thẳng thật thà của Sở-tài nên từ đó trọng dụng ông.

Ở địa vị được Thái-tổ Thành-cát-tư-hãn ưu ái, Gia-luật Sở-tài có thể giàu sang phú quý tột bực, nhưng là một chính nhân quân tử, Sở-tài công đã sống một đời sống thanh bạch. Sau khi chết, gia tài để lại của ông chỉ vỏn vẹn có một giá sách bụi bậm, một tủ thuốc sơ sài và vài nhạc khí xoàng.

3

Dữu-lý  

Đại Nguyên, niên hiệu Chí-nguyên thứ hai mươi bốn

Trung tuần tháng mười năm đinh hợi nhằm giữa tháng 11 dương lịch 1287

Trong Chương này, tác giả vẫn chủ yếu đề cập đến Nhà Nguyên, chủ soái là Hốt-tất-liệt, như hai dòng chữ trên đây. Tuy nhiên, cũng như hai Chương 1, 2 trước, Chương 3 này, Đỗ Đình Duyệt cũng khởi sự nói chuyện tình báo qua một vài hình thức bí mật để che mắt quân Nguyên. Chẳng hạn cái địa điểm xem mạch, bốc thuốc của một ông già mang cái tên ấn tượng là “Quyết đại phu”. Độc giả sẽ găp cụ “hành động” trong một trường hợp xảy ra tại điểm này để cứu một “đồng chí” của mình đang bị thương tích trầm trọng. Độc giả sẽ thấy những trầm tư của Phạm Tá Phiên, làm sao để những nhân viên của mình không bị lộ, mà lại thi hành trọng trách được trao phó cho mình, liên quan đến vận mệnh của Đại Việt. Ngoài ra, tác giả còn mô tả vài nét sinh hoạt tại Dữu-lý, đời sống nhân sinh tại đây. Hai dịa điểm kinh doanh như phòng mạch của Quyết-đại-phu, và phạn điếm, chỉ có một con số “9”. Chương 3 này là chương cuối tác giả nói đến Đại Nguyên, việc chuyển 3 cánh quân về đây đã xong. Giờ là thời gian đợi lệnh từ  Đại đô để đánh Đại Việt. Vì thế, Chương 3 này cũng là chương có thể gọi là mở màn cho quân tình báo của Đại Việt hoạt động, qua những hình thức bình thường. Như Quyết-đại-phu xem mạch, bốc thuốc, như phạn điếm số “9” v.v…Mấy chuyện xảy ra tại an sinh đường của Quyết-đại-phu hay tại phạn điếm số “9” v.v…chúng tôi cảm thấy như đang đọc những trang tiểu thuyết …trinh thám, hay tình báo.

Tác giả mở đầu bằng việc nhắc đến nguồn gốc lịch sử của Dữu-lý:

Dữu-lý là một thị trấn nhỏ trước kia là thái ấp của một vương tử họ Đoàn thuộc vương quốc Đại-lý ở Vân-nam, dân cư phần lớn là người Thoán, Bặc. Từ Đại-lý mất, con của Hốt-tất-liệt, hoàng tử Hốt-kha-xích, được phong làm Vân-nam vương, và Nhiếp-chỉ Mạch-đinh được cử làm thú thần Vân-nam, nhân đó Mạch-đinh đã đem nhiều di dân đồng hương từ các vùng Tây Á về đây lập nghiệp, một số đến định cư ở Dữu-lý, làm ăn buôn bán phát đạt.

Những kiều dân mới này được nhà Nguyên tín cậy giao cho ưu quyền thu thuế, nộp cho triều đình một định khoản đã quy ước, còn thì được giữ lại. Họ làm giàu cho triều đình nhưng đồng thời cũng làm giàu cho cá nhân; bù lại triều đình bớt được một phần oán trách trực tiếp của dân chúng về vấn đề sưu cao thuế nặng.

Những lãnh tụ của họ được đặc biệt trọng đãi trong số có các bình chương hành trung thư tỉnh Vân-nam là Trại-điển-xích Thiệm-tư-đinh và con là Nạp-tốc Lạt-đinh quê quán xưa ở trung tâm văn hoá cực thịnh Bố-hà-lạp của vong quốc Hoa-thích-tử-mô. Họ chỉ đứng dưới tầng lớp thống trị Mông-cổ nhưng được hưởng đặc quyền quý tộc đứng trên mọi thành phần khác ở Trung Hoa. Tứ dân thứ bậc: sĩ, nông, công, thương của xã hội cũ bị đảo lộn. Sĩ bây giờ hạng chín, đứng dưới con hát ở hạng tám, chỉ trên ăn mày ở hạng mười!

Sau đó tác giả nói đến phòng mạch của Quyết Đại phu và người vợ của ông với cái tục bó chân mà bà đã làm từ hồi còn nhỏ. Tác giả cũng mô tả những nét đặc thù về bối cảnh của thị trấn Dữu-lý thời có mặt quân Nguyên. Nhưng trước hết, xin đề cập đến tục bó chân mà con gái Tàu phải làm từ lúc còn nhỏ và chuyện xảy ra tại phòng mạch của Quyết đại phu:

Dược phòng An-sinh-đường ở phía đông thị trấn Dữu-lý hai hôm nay lại có đông khách đến bốc thuốc sau mấy tháng ế ẩm vì thầy lang già tạ thế. Ngồi sau cái bàn mộc cũ kỹ, thầy lang mới với hàng ria mép và râu cầm thưa đốm bạc cắt ngắn, đôi mày nhíu lại trên cặp mắt chăm chú, luôn tay chẩn mạch viết đơn, thỉnh thoảng trao đổi vài câu với khách hàng. Sau lưng ông, trên tường, có gián vuông giấy nhỏ với hàng chữ nét mực còn tươi: “Quyết đại-phu.” 

Mới trong vài ngày mà người ta đã thì thầm ức đoán khá nhiều về vị lương y mát tay này, đại khái là trên đường lữ du ông ngẫu nhiên dừng chân lại đây chẩn bệnh miễn phí. Tiếng lành đồn xa, thậm chí có những người khá giả chả bệnh tật gì cũng từ các nơi mò đến nhờ ông bắt mạch bổ thuốc.

Ngoài cửa dược phòng, bà chủ, dáng người đẫy đà béo tốt, đang lúi húi đốt vàng mã cảm tạ chư thiên đã đem lại may mắn cho nhà thuốc, cầu nguyện chư thần phù hộ run rủi cho thầy lang ở nán lại lâu hơn. Hình nhân gia súc, đầy tớ và tiền bạc âm phủ cũng được đốt theo để sau đó còn cúng và tiễn đưa ông bà ông vải một thể. Khấn xong, bà phủi tay, khó khăn đứng dậy trên đôi bàn chân bó vải trong lúc mấy thằng nhãi con cầu bơ cầu bất đang lấp ló ở những xó xỉnh giương mắt hau háu thèm thuồng nhìn vào mấy đĩa xôi và con gà luộc mỡ màng mà bà chủ quán bầy tênh hênh ra trước cửa để mua thần đãi thánh.

Là nạn nhân của tục bó chân từ khi còn nhỏ, cả đời bà chưa bao giờ được đi đứng tự nhiên thoải mái như đàn ông, và cũng không bao giờ có thể đi bộ xa nhà. Bàn chân của bà bị bó chặt bằng vải từ năm mới bốn tuổi. Mu bàn chân và gót bị nén cong bẻ gặp lại với nhau ép những ngón nhỏ thui chột quặp sát vào dưới gan bàn chân.

Những năm đầu bị bó chân đau đớn không chịu được, phải ngủ một mình trong một túp lều dựng thật xa nhà để hằng đêm tiếng rên xiết không làm phiền hà đến giấc ngủ của người khác. Oán ghét nhưng không làm gì được vì con gái gốc Hán ở tuổi bà trong thị trấn này đứa nào chẳng bị hành hạ tật nguyền như vậy chỉ vì cha mẹ sợ rằng con gái không bó chân thì lớn lên chẳng có ma nào thèm lấy. Những bàn chân biến dạng méo mó khiến cho đàn bà khổ sở lại được gọi là những gót sen vì chúng tạo cho dáng đi của phụ nữ trở nên quyến dũ yểu điệu dễ làm say đắm lòng người. Bệnh hoạn tật nguyền nhưng những đôi bàn chân bó cột ấy lại là món hàng đắt giá nhất mà đàn ông có thể mua. Đàn bà sắc tộc không bị ràng buộc bởi lề thói xấu xa này thế mà chẳng mấy ai không có lấy ít ra là một tấm chồng; nghĩ đến đây bà lại càng thêm phần cay đắng.

Bà chủ nhà thuốc phải bám lấy cái gậy mới có thể vất vả tập tễnh bước sang tiệm bách hoá bên cạnh. Đây là một cửa hàng lớn chuyên mua bán các loại nhu yếu phẩm cho một số lượng dân cư đông đảo trong vùng, gian ngoài trưng bầy các loại da thú từ cầy hương, cáo, sóc bay đến những tấm da hổ vằn vện, báo tuyết Thổ-phồn, gấu trúc đen trắng tuyệt đẹp. Trà, gạo, muối, đồ sành, tù và thợ săn, kiếm, nỏ và tên độc chứa ở gian trong, hầu như chẳng thiếu thứ gì.

Mấy hôm nay có đồng ra đồng vào, người đàn bà khập khễnh sang đây mua ít lộc nhung, mật gấu, vẩy xuyên sơn thử và hổ cốt để thầy lang bào chế linh dược. Trên đường ra, nhìn những đôi dép rơm rẻ tiền và những chiếc dép cói tốt hơn treo lủng lẳng trên kèo nhà, bà chọn mua một đôi hài xảo để cuối ngày tạ lễ thầy lang. Loại hài xảo tốt này làm bằng cật giang đẫn ở Điền-trì, đan thành những đôi dép êm ái bám đường rất được ưa chuộng. Trước khi trở về  nhà thuốc, bà không quên mua thêm một vò rượu nhỏ cũng là để lại quả ông thầy.

Lúc về đến cửa nhà thuốc thì cả xôi lẫn gà đã biến mất, bà chủ chu chéo ré lên đành hanh đành hói rủa xả bảy mươi đời những đứa khốn nạn nham nhở vi thần phạm thánh thế nào rồi cũng bị sa đáy địa ngục. Bà đem xôi gà ra đây trước hết là để cúng thần cúng thánh về thượng hưởng lấy hương lấy hoa rồi sau đó thì cả nhà bà sẽ hậu hưởng lộc thừa chứ có phải là đem lễ vật ra cúng cái lũ quỷ sống ấy đâu.

Ông lão dẫn con lạc đà ra cửa đông, đi qua chỗ một tên thổ phỉ bị đóng gông và trói chặt vào cây cột dính đầy máu, gân kheo sau đầu gối bị cắt và hai mắt cá đã dập nát. Thỉnh thoảng tên cướp lại giật đầu ra sau đập mạnh vào cột cố ý tự vẫn mong sớm chấm dứt sự hành hạ đau đớn nhưng vẫn không chết được. Người này bị nhốt trong ngục tối đã lâu trước khi được lôi ra đây bêu nắng ở hai cổng chính vào thái ấp đã ba ngày để răn chúng, nhưng người qua kẻ lại dửng dưng chẳng chút mủi lòng, hình như chẳng có ai coi đó là một nghiêm hình.

Từ ngoài cửa đông, một đội lính tuần tra rẽ đám đông tiến đến, thản nhiên vượt qua trước mặt tên thổ phỉ hấp hối, tới trước cửa dược phòng thì dừng lại tò mò nhìn vào đám lửa đốt vàng mã đã sắp tàn. Viên thập phu trưởng xuống ngựa, giao cương cho một người lính rồi bước vào trong.

“Đàm phu trưởng, lâu quá không gặp,” người giúp việc nhận ra chỗ quen biết, ngừng tay bốc thuốc, lên tiếng chào hỏi.

Từ ngoài sáng nhìn vào chỗ tối, người lính tuổi trung niên họ Đàm tên Chí Kính không thấy rõ nhân dạng nhưng nhận được giọng người hỏi. “Hồi này bận quá. Cảm ơn Lương quản lý,” ông nói vọng vào trong.

Trước mặt thầy lang đã có nhiều khách chờ. Đứng ở cuối hàng trong đám bệnh nhân, một người đàn bà gầy gò rách rưới bế con trên tay cho bú, vú vê thỗn thện, mắt nhìn xuống đứa bé gái ốm yếu quặt quẹo da mặt nhợt nhạt vàng ủng như nghệ đang ngồi dưới đất, hai tay bám chặt lấy chân mẹ, cặp mắt mất thần đầy tròng trắng của nó dán chặt vào gấu quần. Người mẹ tấm tức khóc, nước mắt nhiều hơn sữa.

Đám đông thấy Đàm phu trưởng đến liền tránh chỗ. Xưa nay dân chúng vẫn tránh nhìn thẳng vào mặt quan quân để che đậy cảm nghĩ của mình, và nhường bước cho họ là lẽ thường, nhưng viên phu trưởng tỏ ý ngần ngại, nhìn mẹ con người đàn bà, ông nói là mình có thể đợi. Vẻ hiền lành khả ái bất thường của người lính lớn tuổi làm ngạc nhiên những người có mặt, họ bèn dành chỗ ưu tiên cho mẹ con thiếu phụ.

Đến lượt mình, họ Đàm cúi đầu chào lang y, ngồi xuống ghế, lẳng lặng đặt ngửa cánh tay trái lên bàn. Quyết đại-phu cũng không nói năng gì chỉ nhẹ gật đầu đáp lễ, ngước nhìn cặp mắt sưng đỏ và hơi thở ngập ngừng của phu trưởng rồi thò tay ra thăm mạch, nhưng không thấy mạch phù, phải nhấn mạnh ba đầu ngón tay xuống, ngón giữa mới thấy mạch trì đập rất chậm ở bộ quan.

“Trầm án mà trì, thịnh âm quá,” thầy lang lẩm nhẩm một mình rồi bắt mạch tiếp. “Buổi sáng phu trưởng thường đau thắt ngang lưng?” sau cùng ông hỏi.

“Dạ phải.”

“Mới đây tóc rụng nhiều?”

“Dạ.”

“Sáng nào cũng khổ vì húng hắng ho chứ gì?”

“Có.”

“Chắc chỉ vậy thôi?”

“Dạ,” người lính già khâm phục, trả lời.

“Phu trưởng ở trong binh tân phụ?”

“Phải rồi.”

“Bệnh thiên đầu thống của Lưu-vĩnh tướng quân có bớt chưa?” Đàm Chí-kính còn đang ngạc nhiên, Quyết đại-phu đã tiếp. “Dân ở đây có hảo cảm với binh chúng tân phụ nên lão phu mới đến được vài ngày đã phong thanh về bệnh trạng của tướng quân, thiết tưởng chẳng có gì là lạ.”

“Tướng quân vẫn thường bị những cơn rức đầu hành hạ,” người phu trưởng thở dài, cảm động. “Ông có uống thuốc đều đặn nhưng chẳng thấy hiệu quả gì.Tại hạ nghe nói đại phu là một vị lương y có tài trị bách bệnh, thầy có thể bổ thuốc cho tướng quân được không?” ông hỏi.

“Trên đời này có thuốc để trị bệnh nhưng làm gì có thần dược cải được mệnh của con người. Ngoài ra, triệu chứng bệnh trạng bên ngoài nhiều khi giống nhau nhưng nguyên nhân bên trong thường khác biệt,” Quyết đại-phu lắc đầu trả lời. “Chữa triệu chứng chẳng ích lợi gì, chỉ là chữa ngọn, trị bệnh cần trị tận gốc. Con người ta tạng thể khác nhau. Hai người cùng ăn một loại thực phẩm trong nhiều năm; một người thì béo phì còn người kia gầy đét. Dù có cùng bệnh trạng và nguyên nhân chăng nữa cũng không vì thế mà có thể điều trị như nhau được.”

“Ý đại phu,” Đàm phu trưởng nhíu mày suy nghĩ, “tại hạ không hiểu.”

“Nếu lão phu không chẩn bệnh từng trường hợp một thì làm sao biết được nguyên nhân mà ra phương trị liệu?”

“Thật à?”

Quyết đại-phu bật cười, gật đầu.

“Tối nay tôi về trình lên bách phu trưởng, nếu được chấp thuận, ngày mai tôi sẽ đến đây đón đại phu về doanh khám bệnh cho tướng quân,” nói xong Đàm Chí Kính đứng lên vái chào. Thầy lang thảo đơn trao cho quản lý Lương.

Đứng sau quầy gỗ gụ, viên quản lý nhanh nhẹn bốc thuốc từ trong những hàng ngăn kéo nhỏ, chia đều ra trên sáu mảnh giấy vuông trước khi gói lại gọn ghẽ đưa cho họ Đàm.  Người thập phu trưởng trả tiền lấy thuốc rồi bước ra, đi bộ về phía những người lính đang đứng xa xa trò chuyện với đám phu vừa ăn cơm nắm vừa ngồi nghỉ quanh một cỗ quan tài. Mấy người phu khiêng đòn trông mệt mỏi rã rượi trừ con gà sống tượng trưng cho linh hồn người quá cố buộc trên nắp hòm thỉnh thoảng kêu lên quang quác. Họ đã mất nhiều ngày vất vả đem xác từ dưới nam lên đây để sẽ được chôn nhiều ngày sau tại sinh quán của người chết ở tận miền bắc xa xôi hơn nữa. Viên đội trưởng lên ngựa dẫn lính đi về hướng tây thị trấn.

Thập phu đội này vừa được đổi phiên, kéo nhau đi qua một quán có tiếng lợn bị chọc tiết kêu eng éc từ phía sau vọng ra, nhưng họ dừng lại trước một phạn điếm khác. Hàng quán trong vùng có chuồng giữ ngựa riêng ở đàng sau cho khách trọ, ngựa của thực khách buộc phía trước, nhưng hồi này lính về đông nên ngựa của thực khách cũng được đem buộc ở máng cỏ đằng sau, dành đường rộng rãi cho quân binh di chuyển.

Dưới đây là một phạn điếm, gọi nôm na là quán thịt chó. Đỗ Đình Duyệt mô tả những người lính vào quán và câu chuyện xảy ra giữa người lính với chủ quán. Đồng thời, qua câu chuyện này, là nghệ thuật kể chuyện của tác giả.  

Phạn điếm ở đây có nơi trương bảng hiệu là tửu điếm hay lữ điếm, nhưng phạn điếm toán lính chọn chỉ vỏn vẹn có một số “9” viết trên cánh cửa. Vì số “9” phát âm là “cửu” trong thổ âm địa phương đồng âm dị nghĩa với tiếng “cẩu” là “chó” nên ai cũng hiểu ngầm ở đây có bán thịt cầy. Hơn thế nữa, số “9” đồng thời còn là phiếm chỉ số nhiều ngụ ý rằng phạn điếm này có một nguồn thịt chó dồi dào bất tận chứ không chỉ giới hạn có chín con mỗi ngày. Người ta ở đây thích ăn thịt chó vì cái mùi vị thơm tho đặc biệt vô song nhưng ít ai chịu gọi là thịt chó, có thèm thì rủ nhau đi ăn “hương nhục,” hay số “9,” hay “tam lục” chẳng hạn. “Tam lục” là ba cộng với sáu, rốt cuộc cũng thành ra số “9,” đều là “mộc tồn” cả. Thông thường thì quán thịt chó để là “hương nhục,” hoặc có khi chẳng cần khoa trương gì cả, chỉ thỉnh thoảng xông tí khói toát ra từ vài dẻ chả chìa vào mũi người ta là đủ. Đói mà hít phải cái ngọn khói quái ác này thì chịu sao cho thấu.

Tất nhiên là không món gì vừa được ưa thích vừa có thể giữ cho người ta ấm áp vào mùa đông hơn là thịt cầy, nhưng những người lính vẫn phải nhẩm tính tiền nong, bàn qua tán lại thêm một hồi lâu rồi mới quyết định bước vào điếm. Trong điếm đã có sẵn vài bàn thương khách đang ăn uống. Điếm chủ đon đả chạy ra vồn vã mời chào, sai tiểu nhị dắt ngựa ra sau. Vừa ngồi xuống ghế, một người lính trẻ mắt lồi râu ria xồm xoàm che kín quá nửa phần mặt dưới, mắt chăm chú nhìn lên tường trên đó có hoạ một ông già gầy gò mặt đen lông mày trắng,mặc áo thâm tay cầm quạt, một chân đứng trên tảng đá, chân kia khoèo vào cây trúc quải chống dưới đất, bên lưng thắt lủng lẳng một bầu rượu. Mấy chữ chiêu bài “chả chìa, dựa mận” nguệch ngoạc viết trên phiến đá dưới chân ông trong hình vẽ.

“Cái lão già mặt sắt đen xì này có phải là ông nội nhà ngươi không?” người lính râu rậm hỏi điếm chủ.

“Dạ không phải.”

“Thế là ông ngoại chứ gì?”

“Dạ cũng không phải,” lão điếm chủ lắp bắp trả lời, tay gãi gãi cái đầu hói. “Đó là tiên ông Lý Thiết Quảng.”

“Thằng cha này nhảm nhí,” người lính quát lên, vươn tay nắm đầu điếm chủ kéo xuống, nói, “Làm đếch gì có tiên ông ăn thịt chó. Chỉ có bọn phàm phu mới ăn tục như vậy. Thà rằng nhà ngươi vẽ hình sư hổ mang Lỗ Trí Thâm đầu đội mũ ni mình mặc áo cà sa lang thang từ Lương-sơn-bạc đánh hơi đến đây ăn thịt chó thì không đến nỗi nào vì hòa thượng phá giới ngả mặn dù là anh hùng đại hảo hán đi chăng nữa thì cũng là người trần mắt thịt, là do từ cái chỗ phàm tục mà ra nên chẳng có gì là lạ; chỉ khác người thường ở cái đầu trọc thôi. Sao ngươi dám vẽ tiên ông ở nơi tục tĩu này?”

“Dạ, dạ,” điếm chủ xuýt xoa trần tình. “Nhưng mà tiên ông thực tình còn thích ăn hương-nhục hơn cả hoà thượng hay đạo sĩ nữa.”

“Thằng này nói láo,” người lính giật giật mớ tóc còn lại trên thái dương của chủ điếm.

“Ai ya! tiểu nhân không dám dối trá, xin tướng công nhẹ tay.”

“Có phải ‘Lý Thiết Quảng’ trong tích bát tiên quá hải không?” một người lính mặt xương xương bỗng hỏi xen vào.

“Dạ chính thị,” điếm chủ lập tức đáp lại. “May quá, phen này tiểu nhân được giải nỗi hàm oan trăm sự đều nhờ vào lòng dạ nhân từ, biết nhiều hiểu rộng, lầu thông kinh sử, thấu triệt thế thái nhân tình của đại nhân. Hỡi ôi! Trên cái cõi đời ô trọc này làm gì có được một nhân vật thứ hai lịch lãm uyên bác như vậy. Tiểu nhân xin hết sức đa tạ.”

Điếm chủ là một lão quê mùa, lâu năm làm cái nghề phải giao tiếp với đủ hạng người từ quan quyền đến dân đen tứ chiếng; tuy chữ nghĩa không có nhưng những lời bợ đỡ lại được trau chuốt nằm lòng. Đang bị người lính râu rậm hà hiếp khốn đốn, câu hỏi bất ngờ của người lính mặt xương biết đâu chẳng giảm thiểu được tình hình căng thẳng. Chết đuối vớ được cọc, chủ điếm liền tự động tuôn những câu nói ấy ra trơn chu chẳng khác gì một bài kệ tụng Văn-thù Sư-lợi Bồ-tát trong Liên-hoa kinh…

Khi Đỗ Đình Duyệt viết về một người nào đó, ngòi bút của ông trở nên tinh tế, sắc nét và chứa ẩn tính nhân bản đáng trân trọng. Tôi chợt nghĩ, Đỗ Đình Duyệt là “ngòi bút nhân bản”. Những trang dưới đây, độc giả sẽ nhận thấy điều này nơi những nhân vất Đàm Chí Kính, ông chủ quán thịt chó, một số lính Mông cổ là khách hàng và bất ngờ, Quyết-đại-phu, thầy thuốc và một hán tử bị trọng thương bởi quân Mông cổ truy đuổi, chạy vào quán và một số nhân vật khác ngay trong phạn điếm này. Sau đó, tác giả chuyển sang tổ chức chống đối quân Nguyên, trong số này có Bạch-liên-giáo.

Đúng lúc ấy bỗng có tiếng đằng hắng cảnh cáo của thập phu trưởng. Trong bọn, Đàm Chí Kính          nhiều tuổi hơn cả, nãy giờ ngồi trầm ngâm nửa theo dõi câu chuyện ồn ào, nửa nghĩ tới việc nhà.         

Thời còn là Tống binh, ông cùng đồng đội đói dài đói rạc vừa đánh vừa chạy khổ sở suốt mấy năm giời, thỉnh thoảng vớ được khoai sống sắn sượng để đỡ dạ là may. Thượng vàng hạ cám, tìm được bất cứ cái gì nhúc nhích hay rễ củ dại nhạt nhẽo vô vị cũng nhét vào dạ dầy. Nạn đói và bệnh tật lúc nào cũng đi đôi. Bà cụ thân sinh ông đã còng lưng vì tuổi tác lại thêm bệnh hoạn mà còn phải nuôi hai đứa cháu nội mồ côi mẹ. Trong tình cảnh thắt lưng buộc bụng ngặt nghèo bữa đực bữa cái ấy, một chén cơm đạm bạc hay một bát cháo nhạt hàng ngày là một điều rất may mắn. Bần bách triền miên đến nỗi chỉ thêm một miệng ăn cũng đủ trở thành đại hoạ cho cả nhà. Niềm tin và tình yêu thương bị lung lạc tận cội rễ, bán vợ đợ con là chuyện thường tình trong cái xã hội quá quẫn bách này. Riêng cái lệ sát nhi là tệ hơn cả. Phần lớn bé gái bị dìm chết vì lề thói nam giới tộc trưởng.

Từ khi nhập quân tân phụ, công việc khai khẩn cày cấy ở đồn điền tuy cực nhọc nhưng nhờ đất đai màu mỡ nên tạm đủ ăn dù không dư thừa để có thể mua áo ngự hàn cho ba bà cháu. Mùa đông năm ngoái mẹ ông chết, ông không khóc. Mùa xuân năm nay, được miễn tô đồn điền trước khi viễn chinh, nhờ thế có dôi ra được đôi chút thì bà mẹ đã mất. Lúc ông sắm áo lạnh mùa đông cho hai đứa con, nhớ lại lúc bó chiếu chôn mẹ, ông khóc.

Tiếng cười đùa ồn ào làm Đàm Chí Kính ngửng đầu lên. Ông biết thằng Trương, người lính râu xồm, từ ngày nó chưa đầy mười lăm tuổi, xin nhập Tống binh vào những năm chót của triều đại vì ở ngoài đói quá. Ngô nghê như con bò tót, không hiểu tại sao nó lại sống dai đến thế. Lớn lên trong lính cùng với bộ râu quai nón càng ngày càng rậm nên bạn bè gọi nó là Trương Râu. Có bụng có dạ, phải cái ngỗ nghịch cứng đầu cứng cổ, hay đùa dai nên nhiều khi thằng Trương Râu hành hạ người ta khốn khổ mà nó không biết. Lỗ Trí Thâm là một trong những anh hùng Lương-sơn-bạc dựng cờ khởi nghĩa thế Thiên hành đạo chống quân Kim từ đời vua Huy-tông1100-1125,  cuối thời Bắc Tống, với tầm hoạt động rộng lớn từ vùng Sơn-đông đến tận Hà-bắc. Là một bậc đại hảo hán, họ Lỗ thích ăn thịt chó, thường giả dạng nhà sư trong lúc qua lại giang hồ, thiên hạ ai lại không yêu kính. Anh hùng cái thế đến như vậy mà thằng Trương Râu còn không tha huống gì cái lão chủ quán già đầu hói này. Nghĩ đến đây, phu trưởng chợt thấy một bà già gầy đét như con chèo bẻo kéo lê cái chổi từ trong bếp đi ra đứng sau lưng Trương Râu. “Có đứa nào gọi món ăn chưa?” thấy không khí nặng nề quá, họ Đàm bèn lên tiếng.

Đã nghe Đàm Chí Kính đằng hắng bây giờ lại nghe ông nhắc nhở bọn nó gọi đồ ăn; ngô nghê như con bò tót chứ thằng Trương Râu cũng biết ngay đó là lệnh gián tiếp của đàn anh phải chấm dứt cuộc vui đang hào hứng. Nhưng liếc thấy thái độ phu trưởng có vẻ buồn hơn là nghiêm, nó cố kéo dài trò chơi thêm được đến đâu hay đến đấy.      

“Không biết mà dám hươu vượn là biết, tội nặng không thể tả được!” Nó vỗ nhẹ lên đầu chủ điếm, làm bộ thở dài, nói, “Lúc đầu nhà ngươi không có tội, lão gia thương quá nhưng không làm sao tha. Có tội đâu mà tha? Mãi sau nhà ngươi mới hươu vượn là giật tóc mai đau hơn giật cái dúm tóc tưởng tượng trên đỉnh đầu, như thế là có tội dối dá, bịa đặt toàn những chuyện dựng đứng. Bây giờ thật sự nhà ngươi có tội thì lão gia mới có thể phát Bồ-đề tâm mà tha cho được.”

Trương Râu vừa thả điếm chủ ra thì bà già từ đằng sau khom mình xuống nghiêng đầu ghé sát mặt nó, nheo mắt hấp háy nhìn thật kỹ rồi ré lên the thé, “Nghe cái giọng ồn ồn lệnh vỡ của mày, bà đã biết tỏng là cái của nợ trời đánh thánh vật này rồi.” Dứt lời bà vụt chổi xuống.                                        

“Thím Há!” sao thím lại ở đây?” Trương Râu nhảy cẫng lên tránh đòn.

“Tao ở đây hay ở đâu thì mặc xác tao,” bà già vung chổi đuổi theo nhưng chưa được ba bước thì “cái của nợ trời đánh thánh vật” đã chạy gần giáp một vòng. Bàn ghế trong điếm đổ lỏng chỏng, mấy thực khách thương nhân sợ hãi nép mình vào một xó. Bất đồ mấy đứa đồng đội của thằng Râu đồng loạt thò tay ra nắm giữ nó lại. “Con chèo bẻo” bắt kịp, phang mạnh một cán chổi xuống lưng thằng Trương làm cả đám ôm bụng phá ra cười thắt ruột.

Đao mẻ chém vào cái lưng trâu của nó chưa chắc đã xầy da tróc vẩy nói gì đến cái cán chổi quèn, nhưng nó vẫn rú lên ôm đầu che mắt chờ đợi đòn kế tiếp, gai ốc mọc đầy mình. Nhớ lại hồi còn nhỏ, cái thằng Tỷ Sứt ở cuối xóm, cả đời bị nó bắt nạt nhưng hễ chơi bịt mắt bắt dê mà sắp sửa bị thằng nhãi con ấy vồ được thì nó rợn cả người, sợ xanh máu mặt. Mãi không thấy bà già hạ thủ, nó bủn rủn tay chân, rên rỉ, “Quất xuống thì quất ngay đi chứ, đừng có dứ dứ, ghê quá!”

Thím Há là láng giềng của nhà thằng Trương Râu. Bà ở vậy vì không kén được người nào vừa ý. Sau khi nó đã vào lính rồi, người chủ góa vợ của quán số “9” muốn tục huyền mới nhờ mối mai lấy người đàn bà này về làm vợ nên nó không biết. Bất ngờ gặp lại nhau ở Dữu-lý, lại đang lúc đắm chìm vào cuộc chơi, Trương Râu nhà ta cả sợ toát mồ hôi hột như đang đứng trước một Bà-la-sát thật. Vẫn chưa có gì xảy ra, nó hồi hộp hé mắt nhìn trộm thấy bà cụ đang thõng hai tay đứng trước mặt. Trò chơi đã đến hồi kết thúc. Thằng râu rậm chán nản cũng buông thõng tay xuống.

“Mẹ mày còn ở Thúy-hồ không?” Nó lắc đầu.

“Chết rồi à?”

“Thằng Tỷ sứt cũng chết rồi!”

Bà lão dụi mắt thở dài chậm chạp xoay mình đi vào bếp. Nét mặt Trương Râu cũng buồn buồn, môi dầy ra. Mọi người giục nhau nhập cuộc nó mới nhìn thấy hai bát chả chìa và một vò rượu lớn đã bày sẵn trên bàn.

Thịt nướng ướp giềng mẻ dậy mùi thơm phức, chưa cần phải đụng đũa cũng đã biết ngay là món thích khẩu. Nhìn thấy đồ ăn ê hề, người lính mặt xương lo xa liền gọi sẵn thêm một vò rượu nữa. Điếm chủ gãi đầu gãi tai nói nhà hàng chỉ còn lại có một bình Hoa-điêu tửu. Nghĩ đến Hoa-điêu tửu Nữ-nhi-hồng hảo hạng là đặc sản của vùng Thiệu-hưng mà mình chỉ được ngửi chứ chưa từng được uống qua trong đời, người lính trẻ tự ái gắt lên, “Ai thèm uống cái thứ rượu đàn bà đó, đem Cao-lương tửu ra.” Cao-lương là rượu ngang rẻ mạt cất bằng hạt kê mà nhà hàng vừa bán sạch, điếm chủ đành sai tiểu nhị đi mua.

Rượu chưa hết một tuần, tiểu nhị đã hớt hơ hớt hải chạy về. Nó chẳng mua được gì vì người ta đang vây đánh một người ở gần hàng rượu. Điếm chủ lẳng lặng bỏ xuống bếp, lát sau ôm lên một bình nhỏ Nữ-nhi-hồng màu ngọc bích, lớn chưa bằng phần ba một vò Cao-lương. Những con mắt háo hức của đám lính tức thời dán chặt vào dải băng điều quấn quanh cổ bình rượu.

“Không có Cao-lương thì thôi, chúng tôi cai đỡ một buổi cũng được,” Đàm Chí Kính chép miệng.

“Phu trưởng cứ yên tâm.” Nhìn vẻ lưỡng lự của người đội trưởng trông có vẻ nghèo nàn này, điếm chủ hiểu ý, nói, “Một vò Cao-lương tuy lớn thật nhưng chẳng thấm tháp vào đâu. Điếm chúng tôi đã cất giữ bình Nữ-nhi-hồng này lâu đời vì không có người mua, bà nhà tôi bảo đem lên đãi các vị.”

Dứt câu, điếm chủ đảo mắt gọi tiểu nhị định sai đem thêm thịt luộc và rựa mận nhưng vừa thoáng cái nó đã lỉnh đâu mất, lão vội chạy ra cửa tìm kiếm, thấy người ta túm năm tụm ba chỉ trỏ, mắt dồn cả về hướng một thập phu đội Mông-cổ đang vây bọc một hán tử ở khu cửa đông. Sục sạo mãi lão mới tóm cổ được tiểu nhị lẩn giữa đám đông. Thằng lỏi bị bợp cho mấy bạt tai nổ đom đóm mắt rồi bị lão chủ quán lôi đi xềnh xệch.

Bữa nhậu thịt chó đang diễn ra, tác giả chuyển sang chuyện một hán tử bị thương tích nặng:

Hán tử trạc ngoài hai mươi, đứng giữa vòng vây ngay trước nhà thuốc An-sinh-đường và cửa hàng bán rượu, một tay cầm thanh kiếm gãy, tay kia chỉ là một cánh tay áo nhét vào đai lưng. Máu đỏ từ chân tóc chảy dọc trên sống mũi, nhỏ xuống hàm râu ngắn trở thành màu xẫm đậm trong tia sáng yếu ớt cuối ngày.

Ba lính Mông-cổ đã bị trọng thương, chỉ còn lại bảy, bu quanh người đàn ông như ruồi. Viên thập phu trưởng cũng bị thương nhưng không nặng lắm nên vẫn còn tiếp tục cầm đầu trận đánh. Là những binh sĩ dầy kinh nghiệm chiến trường, họ đã ngưng tấn công, chỉ bao vây chặt chẽ, chờ đợi đối phương kiệt lực vì mất máu. Hán tử một tay cũng biết như thế nhưng vẫn bình tĩnh xoay quanh, mắt xếch ngược long lanh tìm kiếm nhược điểm sơ hở của vòng vây.

Trời xẩm tối, ánh lửa đèn le lói lọt qua song cửa của quán xá bên đường không át hẳn được bóng đêm, mờ mờ soi trên vai những người lính đứng im lìm như những pho tượng đông giá, nhờ đó hán tử dựa vào bóng người trên mặt đất mà theo dõi động tĩnh sau lưng mình dễ dàng hơn. Máu bớt chảy nhưng cũng đã loang xuống đến gấu áo dài.

Đột nhiên, một cơn gió thoảng qua tạt vào những vạt áo lay chuyển những bóng người dưới đất chập chờn như di động. Lợi dụng thời cơ rối rắm, người lính đứng sau lưng hán tử phóng thương đâm tới. Một người đã ra tay thì dù muốn dù không những người lính khác cũng tự nhiên phải đồng loạt xuất thủ. Tuy thiếu một tay, nhưng hán tử vẫn nhanh nhẹn khác thường. Chỉ đợi có thế, ông hạ thấp mình xuống, lách qua một bên, lùi lại, nửa lưỡi kiếm gãy trong tay đã cắm sâu vào dưới bả vai người chiến binh Mông-cổ thiếu kiên nhẫn. Vòng vây hở ra một lối thoát, người thanh niên phấn khởi tinh thần, vụt băng mình nhắm hướng tây mà chạy.

Đội lính Mông-cổ đã để ngựa trong tầu cỏ đằng sau phạn điếm trong lúc đang ăn cơm trước khi xảy ra trận đánh, họ đành lễ mễ chạy bộ theo sau, nhưng chiến y nặng nề không thể đuổi kịp một người vừa mở con đường máu đào tẩu tìm sinh lộ.

Chạy tới xóm tây thị trấn, hán tử bỗng ngập ngừng chậm bước, nhìn hàng nghìn cổ mộ mờ ảo trên bãi tha ma mênh mông trước mặt dài rộng đến tận khu lều trại san sát khắp nơi của đạo quân viễn chinh. Đường cùng, hán tử dáo dác tìm kiếm, chợt thấy một vệt sáng hắt hiu qua khe hở, ông tung cánh cửa khép hờ lao mình vào lữ điếm số “9”.

Điếm chủ và tiểu nhị đang ngồi trong góc, hốt hoảng chạy tọt vào bếp. Giờ đã về  khuya, thực khách chỉ còn mười người lính. Họ là những người quen chiến trận, đột ngột thấy người đạp cửa xông vào liền đẩy ghế xô bàn đứng phắt cả dậy, kẻ thương người đao sẵn sàng nghênh chiến. Đại hán đứng lặng giữa phòng sửng sốt trong khi những người lính từ từ xiết vòng vây.

Sau một chặng đường chạy trốn, máu từ những vết thương vỡ ra chảy xối xả. Thân thể đại hán run rẩy, ông cung tay cắn môi nhưng sức đã kiệt, hai chân lảo đảo rồi không gượng được ngã vật ra trên mặt đất tung tóe máu liền bị những người lính xúm vào trói lại. Họ gỡ lấy tay nải trên người hán tử, lục soát, chỉ thấy một bộ quần áo cũ và ít bạc vụn lộ phí, đem để cả trên bàn.

Cửa điếm lại thêm một lần nữa bật tung ra, đội lính truy tập Mông-cổ ùa vào. “Nó đây rồi,” một người lính chỉ vào hán tử nằm dưới đất, reo lên.

“Xin lỗi, người anh em nói gì tôi không hiểu,” Trương Râu miệng nói, một chân giẫm lên ngực hán tử.

“Tiểu đệ nói thằng giặc này lợi hại lắm. Cảm ơn sự giúp đỡ của huynh đài.”

“Đại ca cảm ơn tôi?” Trương Râu làm bộ ngạc nhiên, chỉ vào ngực mình, hỏi.

“Còn ai vào đây nữa, đại huynh chính là người bắt giữ nó hộ chúng tôi,” người lính Mông-cổ ngửa lòng bàn tay lên trời, trần tình.

“Chúng mình lớn cả rồi, không ai phải hộ ai cái gì cả.” Thằng Trương Râu xua tay, nói, “Nước có nguồn, đất có chủ. Con thịt này là của chúng tôi. Mổ xẻ hay không là do đại ca đây phát lạc.” Nó hất hàm về hướng Đàm phu trưởng.

“Thằng giặc cỏ này đúng là do anh em chúng tôi đang đuổi bắt,” người lính ấy cãi.

“Người anh em đuổi nhưng có bắt được nó không?”

“Chúng ta đả thương nó trí mạng nên bây giờ mới bắt được.”

“Ai bắt mới được chứ?”

“A!” người lính Mông-cổ ngẩn người ra…

Vừa lúc gay cấn này, Quyết đại-phu dìu thập phu trưởng Mông-cổ khập khiễng từ ngoài cửa bước vào. Những vết thương trên người ông ta đã được thầy lang rịt thuốc, tay trái buộc vải treo lên cổ. Sau khi nghe thuật lại sự tình, người phu trưởng tiến đến chào Đàm Chí Kính rồi kéo nhau ra một góc nói chuyện.

Phu trưởng Mông-cổ cho Đàm Chí Kính biết là họ mới bắt đầu bữa cơm chiều thì có hai người song song bước vào điếm, một người là hán tử đang nằm bất tỉnh dưới đất, người kia là hội viên Bạch-liên-giáo mà lính của ông đã bắt hụt bữa trước. Ông lập tức ra lệnh vây đánh, không ngờ hán tử một tay này cực kỳ hung tợn, chống trả kịch liệt cho người kia lại chạy thoát thêm lần nữa. Người phu trưởng Mông-cổ đoán chừng hú hoạ rằng hán tử này cũng có thể là một thủ lãnh địa phương của Bạch-liên-giáo.

Bạch-liên-giáo là một tông phái sáng lập bởi nhà sư Huệ Viễn từ thời Đông Tấn, 317-419 năm Thái-nguyên triều đại Hiếu-vũ đế, 384, đề xướng ngũ giới nghiêm cấm sát sinh, tà dâm, uống rượu, nói bậy, trộm cắp. Vì chủ trương sùng thượng quang minh, tin rằngtâm hồn trongsáng tất thắng lòng dạ hắc ám, Bạch-liên-giáo không khỏi dính líu ít nhiều đến các cuộc nổi dậy của dân chúng chống bạo quyền trong bất cứ thời đại nào.

Mấy năm gần đây, dân chúng Hoa Nam uất hận vì phải chịu phụ dịch nặng nề và bị đè nén bóc lột bởi chế độ hà khắc, tinh thần phản Nguyên bồng bột, trộm cướp nổi lên như rươi. Bần nông vùng dậy nhiều nơi, tháng ba năm quý mùi, tức tháng tư 1283 Lâm Quế Phương, Triệu Lượng Kiềm khởi nghĩa ở Quảng-châu, lập La-bình quốc lấy niên hiệu là Diên-khang. Tháng chín, Khu tướng quân tập hợp được hơn mười vạn người, xưng vương. Thái đại lão, Chung đại lão, Đường đại lão ở huyện Tăng-thành hưởng ứng, đánh chiếm các vùng Bình-khang, Hạ-lý, Đông-đoàn-thôn. Các cuộc nổi dậy gây khó khăn cho quân đội viễn chinh không ít. Dự định đánh chiếm Đại Việt được trù tính từ cuối năm ất dậu 1285 đã phải tạm thời trì hoãn đến bây giờ cũng vì tình trạng nhiễu nhương này. Lo ngại, quan quân địa phương ra lệnh ngày đêm tuần phòng kiểm soát gắt gao, lùng bắt gian tế, tiêu diệt các mầm mống dấy loạn và những phần tử phản Nguyên phục Tống…

Thập phu trưởng Mông-cổ bảo thầy lang cứu tỉnh đại hán dậy. Những người lính cởi trói cho người thanh niên để Quyết đại-phu xem mạch. Lát sau, ông lắc đầu nói máu ra nhiều, mạch kiệt quá, khó sống. Viên phu trưởng chán nản dặn dò thầy lang phải tìm mọi cách cứu chữa người đó cho bằng được. Quyết đại-phu đề nghị cho đem hán tử vào bếp vì ông phải sắc thuốc và cần dùng nhiều nước nóng để xông, trườm rất nhiêu khê, chạy ra chạy vào bất tiện. Mọi người bằng lòng, rồi dục nhau khiêng ghế nối bàn. 

Thịt chó nóng hổi đem ra, rượu Cao-lương tiểu nhị mới đem thêm về mấy vò, hai phu đội cùng bị dở bữa, ngồi lại chén tạc chén thù. Rượu vào lời ra, mới gấu ó với nhau xong là quên. Đời lính bạt mạng, mai mốt chiến chinh mấy ai trở lại; chẳng để bụng gì được lâu.

4.                

Một cánh hoa

Đại-nguyên, niên hiệu Chí-nguyên thứ hai mươi bốn

                                Ngày mười sáu tháng mười ta năm đinh hợi nhằm ngày 22 -11-1287.

Chương này tập trung vào việc những điệp viên của Đại Việt hoạt động trên đất Trung Hoa, như ở Côn-minh, Dữu-lý v.v…khẩn trương về nước để tham gia vào cuộc kháng Nguyên, sau khi Phạm Tá Phiên, tác giả không nói song những diễn biến xảy ra chung quanh ông và các người thân tín bên cạnh ông, chứng tỏ ông là người cầm đầu nhóm này, biết được quân Nguyên, do Thoát Hoan thống lãnh sẽ tiến đánh Đại Việt nay mai. Vì vậy, chúng tôi trích dẫn một vài chuyện nội bộ liên quan đến số điệp viên này trước lúc lên đường về nước. Trong tình hình như thế, tác giả cho thấy nhân vật Phạm Tá Phiên ưu tư về việc nước, việc mình ra sao…

Mở đầu, tác giả vào ngay việc trở về nước:

“Tần-hữu lão tứ huynh,” sau một chút tư lự, Tá Phiên nói.

“Xin Phạm đại huynh cứ chỉ bảo,” Thọ-huy nắm hai tay vào nhau, trả lời.

“Tiểu đệ lại sắp phải phiền huynh trưởng thêm một phen khó nhọc. Xin tứ huynh dẫn dắt tệ quyến về nương náu ở Quyết-hoa-thôn để Mạc hiền đệ có thể rộng đường về tiếp tay với Chiêu-văn vương và Triệu tướng quân.

“Việc này tiểu đệ không thể vâng lời đại huynh được,” Tăng Thốn xen vào phản đối. “Đại huynh ở lại thì chị và cháu biết trông cậy vào ai. Tiểu đệ, trên song thân phụ mẫu đã mãn phần, dưới chưa có vợ con ràng buộc, xin phép được thay thế đại huynh ở lại, quyết không làm nhục sứ mệnh đại huynh giao cho.”

“Cảm ơn hiền đệ có ý thương tôi mà nói như vậy. Sở dĩ tôi cần ở lại cũng vì nhiều lẽ. Trước hết, chúng ta vừa gửi anh em Tần-hữu chạy trạm để báo cáo về kế hoạch chuyển quân tối hậu của địch. Kế hoạch ấy giờ đã bắt đầu thực sự tiến hành. Đại quân Thoát-hoan và Áo-lỗ-xích vừa rời Ngạc-châu, ngày một ngày hai sẽ đến Lai-tân. Khi đại quân của họ tới châu Tư-minh ở mặt trận đông bắc thì cánh quân của Ái-lỗ ở Vân-nam, và Ô-mã-nhi ở châu Khâm sẽ đồng thời khởi binh vào biên giới của chúng ta cả đường biển lẫn đường bộ. Vì vậy, trong khi chờ đợi Thoát Hoan và Áo-lỗ-xích đến châu Tư-minh, mấy ngày nay tôi phải dự họp tham mưu liên miên cũng chỉ là để duyệt xét lại kế hoạch hành quân của mặt trận tây bắc trước khi xuất quân. Hiện nay, bất cứ lúc nào Ái-lỗ hay Nạp-tốc Lạt-đinh cũng có thể cho người mời tôi đến gặp họ. Người ta còn biết tôi có mặt ở đây thì sẽ không để ý nhòm ngó đến sự đi lại của hiền đệ và mẹ con nó. Nếu hai vị khởi hành ngay tối nay, một khi chuyện vỡ lở thì mọi người đã có đủ thì giờ xa chạy cao bay rồi.

“Ngoài ra, nhiều năm qua chúng ta đã cùng nhau ngậm đắng nuốt cay trong trách vụ, nhưng tủi nhục nặng nề nhất là phải sống chung với một lũ hàng thần phản quốc. Ngu huynh có lúc tưởng đã chịu thua cái định mệnh khắc nghiệt dành cho mình, nhiều khi muốn buông xuôi, gạt hết mọi ưu phiền. Chính hiền đệ đã giúp cho ngu huynh vượt qua được những lúc yếu lòng ấy. Một ngày tủi nhục đằng đẵng như ba năm dài, huống chi đã bảy năm mấy rồi còn gì!

“Sức người có hạn; ngu huynh tự liệu không còn đủ sức chịu đựng lâu dài hơn nữa. Tuy nhiên, chúng ta có thể quên mình chứ không thể làm ngơ trước nhiệm vụ mọi người đã tín nhiệm ủy thác và trông đợi. Giao gánh nặng cho hiền đệ và quyết định ở lại là tôi đã lựa chọn lấy cái dễ cho mình. Xin hiền đệ hãy vị tình anh em mà nhường điều dễ làm ấy cho tôi. Hiền đệ dẫu sao còn trẻ có sức chấp nhận chịu đựng nhẫn nhục bền bỉ hơn người. Sẵn sàng đương đầu với những nghịch cảnh sau này để tiếp tục làm việc ích quốc lợi dân mới là một lựa chọn khó khăn, hiền đệ có thể cáng đáng được mà không hề nao núng. Chúng ta cần nhiều can đảm hơn khi chọn lấy cái sống thay vì cái chết,” nói đến đây, Tá Phiên đột nhiên đứng dậy hướng vào Mạc Tăng Thốn, chắp tay vái dài một vái.

“Đại huynh …,” Tăng Thốn cũng vội đứng lên đáp lễ.

“Chúng ta không còn nhiều thì giờ nữa,” Tá Phiên khoát tay ngắt lời Tăng Thốn. “Hiền đệ và Tần-hữu huynh trưởng có thể bắt đầu giúp mọi người chuẩn bị yên cương và hành trang để khởi hành trước khi trời quá tối. Đừng quên báo cho Di quân phu trưởng biết hiền đệ dẫn nhà tôi và cháu về thăm quê ngoại ở Cát-thủy. Trước khi trực chỉ hướng nam về biên giới, nhớ đi vài chục dặm về phía đông đông bắc vì Cát-thủy ở Giang-tây, đừng để người ta nghi ngờ, đồng thời tìm cách chuyển tin về hoàn cảnh của chúng ta cho nhạc mẫu của ngu huynh để bà tự liệu.”

“Đại huynh.” Tăng Thốn mím môi nhìn Tá Phiên, lưỡng lự hồi lâu mới tiếp được lời, “Cung kính không bằng tuân mệnh, nhưng xin đại huynh chấp nhận cho một điều.” Tăng Thốn lại ngừng thêm một lúc. “Còn nhớ năm xưa trên đường cùng Sài Thung từ Ung-châu đến Đại-đô, đại huynh đã liều mình quyết liệt chỉ trích Hốt-tất-liệt hy vọng ý mình sẽ qua Sài-thung mà lọt vào tai Nguyên chủ, biết đâu ông sẽ chẳng cân nhắc hơn thiệt mà dẹp bỏ tham vọng thôn tính Đại Việt. Hốt-tất-liệt nghe hay không nghe, chúng ta đằng nào cũng không cầu sống, nhưng đại huynh chẳng những không bị Nguyên chủ giết mà lại lọt vào mắt xanh của ông ta ngay từ buổi gặp gỡ đầu tiên. Diễn biến bất ngờ ấy đã đưa đẩy anh em mình đến một cảnh ngộ trớ trêu, thâm nhập được vào lòng địch để mưu lợi cho đất nước nhưng lại là mối bất hạnh riêng cho chúng ta.

“Vừa rồi, lợi dụng lúc dân chúng Trung Nguyên lâm vào tình trạng khốn cùng vì sưu thuế nặng nề để phục dịch chiến tranh; nhóm Bắc-biên chư vương đã gia tăng hoạt động chống đối trên phương bắc; trong khi giới sĩ phu bất mãn đang vận động quảng đại quần chúng khởi nghĩa ở phương nam dai dẳng chống đối chiến tranh và bọn cường quyền nhũng lạm.” Lúc này Mạc Tăng Thốn bắt đầu nói thật nhanh để không bị Phạm Tá Phiên ngắt lời, “Đã khổ sở về những cuộc nổi loạn, lại thêm những mối hiềm nghi bất đồng chúng ta reo rắc trong lòng địch bấy lâu, nay đã bén rễ gây ra tình trạng kèn cựa ngấm ngầm làm lũng đoạn một phần lãnh đạo giữa các cấp chỉ huy dân sự và quân đội. Việc làm của chúng ta đã phần nào tác động đến quyết định về cuộc chiến của nhà Đại Nguyên; động binh vào lúc bất ổn này không có lợi cho họ. Cuộc xâm lược của quân Nguyên vào nước ta lần này có thể sẽ là lần chót vì bên nhà đã có những điều kiện chủ động, nắm vững được nhiều dự tính căn bản cũng như tình hình mạnh yếu trong nội bộ địch để chuẩn bị sẵn sàng nghênh chiến.

“Ngu đệ hoàn toàn tán đồng quyết định sáng suốt và giàu lòng trắc ẩn của đại huynh về việc cứu nguy các điệp viên mà đại huynh vừa trao phó cho Vu lão đệ, nhất là những phần tử đã hợp tác với chúng ta vì mục đích kháng Nguyên. Điều ấy cũng đồng thời cho phép tiểu đệ thấy rõ rằng sự nấn ná của anh em chúng ta trong lòng địch không còn cần thiết nữa. Về phần tiểu đệ, sau khi rời khỏi nơi đây ít dặm, tiểu đệ sẽ cho vứt bỏ hết đồ đạc, chỉ giữ lại vừa đủ lương thực, tuỳ tùng ngậm tăm, đổi ngựa mà đi ngày đêm không hạ trại. Nhẹ gánh hành trang, đến chiều mai thì chúng tiểu đệ đã vượt được vài ba trăm dặm không còn ai có thể ngăn đuổi kịp nữa. Nếu tối mai mà tình thế ở đây chưa thay đổi, xin đại huynh hãy rời bỏ Dữu-lý, tiểu đệ sẽ chờ đợi đại huynh ở Quyết-hoa-thôn.”

Tá Phiên chỉ ậm ừ rồi tiễn chân hai người ra cửa. “Phen này chia tay, chưa chắc sẽ có ngày tái ngộ,” Tá Phiên nói với Thọ-huy. “Huynh trưởng vui lòng chuyển lời Phạm mỗ vấn an đại trưởng lão và các vị Tần-hữu huynh đệ.”

Thọ-hữu cầm lấy tay Tá Phiên, không nói gì; rồi âm thầm bỏ đi theo Tăng Thốn. Thấy con Uyển-nhi thập thò ngoài bậc thềm bên bụi hoa dạ hợp, Tá Phiên vẫy lại gần, nhìn vào cặp mắt xênh xếch ngơ ngác mầu hạt dẻ của nó, trầm ngâm. “Con được mấy tuổi rồi?” ông hỏi.

“Hình như mười bốn. Có lẽ mười lăm. Con không biết.”

“Quê nhà con ở đâu?”

“Thưa ông, nhà mẹ con ở bên sông, gần núi. Ở đấy xa lắm, lúc nào cũng nóng nực như lò lửa,” con bé lúng túng ngớ ngẩn trả lời.

Phạm Tá Phiên và vợ là Tú Hoa, người kể chuyện nhà tan nước mất …

Dưới đây là một cuộc trao đổi tình cảm có lẽ là lần đầu giữa Phạm Tá Phiên và Tú Hoa, vợ ông. Thật cảm động, tác giả đã gửi vào Tú Hoa kể chuyện nhà tan, nước mất và cảnh ngộ đã đưa đẩy người con gái thuộc dòng dõi thế phiệt của Trung Hoa trở thành vợ của một chàng trai đất Việt. Trong phần này, chúng ta thấy một Đỗ Đình Duyệt ưu tư về chuyện một đất nước mất vào tay kẻ thù mà Trung Hoa là một trường hợp, chẳng phải vì sức mạnh của kẻ thù mà còn vì những nguyên nhân sâu xa khác bắt nguồn từ trong nội bộ, như Trung Hoa, đất nươc của Tú Hoa, đã bắt nguồn từ thời Tống thái-tổ, Triệu Khuôn Dẫn…cho đến những lần xâm lấn Đại Việt đều thất bại.

Ngòi bút của Đỗ Đình Duyệt trong Chương 4 này, bộc lộ con người của ông, giữa trọng trách của lịch sử và con người nhân ái. Riêng những dòng cuối chương, Đỗ Đình Duyệt thể hiện bản chất và sức mạnh của một nhà văn. Cho mãi đến cuối bài, tác giả mới cho độc giả biệt nhan đề của Chương 4: một cánh hoa là do chính Phạm Tá phiên ví Tú Hoa, vợ mình:

Một mối tâm tư tha thiết trào dâng trong lòng; người đàn ông chưa bao giờ thấy người đàn bà trong vòng tay lại đẹp đẽ não nùng đến thế, đẹp như cánh hoa dạ hợp mong manh rụng trên thềm đá xanh rêu.

Thật não nùng, một người đàn bà “đẹp” như thế, sao tác giả lại để “rụng trên thềm đá xanh rêu”.

Tá Phiên thở dài, bảo nó mời phu nhân lên. Còn lại một mình trong phòng, ông thẫn thờ ngồi xuống ghế, mệt mỏi nhắm mắt lại. Khi ông mở mắt ra thì bà vợ Tú Hoa đã ngồi trước mặt.

“Tướng công hãy dùng chút trà cho lại sức,” giọng bà thật êm đềm.

Tá Phiên hai tay nâng chén trà lên môi, nghiền ngẫm. “Ta chưa từng uống loại trà này bao giờ?”

“Dạ chưa.”

“Phảng phất có lẫn mùi thơm hoa rừng trong đó thì phải?”

“Dạ phải. Đây là hương trà ở Hợp-hoan-sơn, bên dinh bình chương vừa gửi biếu.”

“Quan bình chương gửi cho à?” ông lẩm bẩm trong miệng, nghĩ đến Nạp-tốc Lạt-đinh bây giờ gửi trà, không biết lúc nào sẽ gửi quân đến đây. “Phu nhân vào chuẩn bị hành trang, lát nữa đưa thằng Kính Lục về Cát-thuỷ thăm bà ngoại. Nó gần bốn tuổi rồi mà bà cháu chưa biết mặt nhau, chắc bà cụ mừng lắm,” ông dặn dò. Hai người chỉ có một đứa con trai duy nhất, thằng Phạm Kính Lục. Mẹ Tú Hoa rời Đại-đô về Cát-thuỷ khi họ mới lấy nhau nên bà không hay biết gì về đứa nhỏ này.

“Thiếp đã sửa soạn cho nó về Cốc-lếu.”

“Phu nhân vừa nói gì ta nghe không rõ?” Tá Phiên sửng sốt.

“Thiếp đã thu xếp cho mọi người về biên giới,” Tú Hoa buồn bã trả lời. “Mạc huynh đệ vừa cho thiếp biết qua sự tình.”

“Thì ra phu nhân đã biết rồi.”

“Dạ, thiếp đã biết rồi.”

“Chiến tranh khi nào cũng làm cho dân tình hai nước khốn khổ,” Tá Phiên thở dài nhìn vợ ái ngại. Ông bảo là con Di-hân đã ở với bà từ nhỏ, đừng bỏ nó lại, tội nghiệp.

“Xin tướng công yên tâm, thiếp cũng đã nghĩ đến điều đó.”

“Còn con Uyển-nhi có một bà mẹ ở tận Ô-lỗ Mộc-tề, không biết bây giờ sống chết ra sao?”

“Nó chưa hề nói với tiện thiếp điều này.”

“Nó cũng chưa hề nói với ta điều này.” Thái Phiên không còn đủ thì giờ giải thích dài dòng, ông tiếp tục nói, “Nó còn quá nhỏ, cần được chúng ta đùm bọc. Ta còn nhớ mười mấy năm trước, cũng vào tiết trọng đông như bây giờ, có ba mươi thuyền người Tống và người Hồi-ngột sang Đại Việt tỵ nạn. Thánh-tông hoàng thượng thương tình cho an trí tại phường Nhai-tân ở Thăng long từ năm giáp tuất, 1274, thì phải. Sau này nếu có dịp, phu nhân nên thu xếp cho nó được về Nhai-tân ở với đồng chủng của nó.”

“Dạ.”

“Đã đến lúc mọi người có thể lên đường.”

“Vu Lâm Tuyền huynh đệ cùng thuộc hạ đã rời trang từ lâu. Mọi người khác cũng đã sẵn sàng, chỉ còn đợi Lão Ngũ đón Lưu Đại Bản về là khởi hành.”

“Lão Ngũ với Lưu Đại Bản nào?”

“Lão Ngũ là người lính Bạch-y đêm đêm vẫn canh gác trước cửa nhà mình, còn …”

“Nhà mình,” Tá Phiên hừ nhẹ một tiếng, cắt ngang Tú Hoa, “Tại sao lại Lão Ngũ? Xin lỗi ta đã ngắt lời phu nhân. À, còn Lưu Đại Bản thì ta đã nhớ ra là ai rồi, Tần-hữu tứ huynh vừa nói với ta về người đó.”

“Mạc huynh đệ bảo rằng trên đường về biên giới phải đi qua nhiều trạm quân Thoán, Bặc nói nhiều thổ ngữ khác biệt, ngay cả những sắc tộc địa phương cũng rất khó nói chuyện với nhau. Mặc dầu người bản địa sẵn sàng trợ giúp theo phong tục hào phóng của bộ tộc nhưng chúng ta cần có người biết tiếng địa phương. Lão Ngũ là người rành thổ ngữ, có lão hướng dẫn thì dễ trót lọt hơn nên Mạc huynh đệ đã thương lượng với Di phu trưởng cho phép người lính gác Bạch-y này hướng đạo mẹ con thiếp về thăm quê. Thêm một lợi điểm nữa, thiếp nghe nói Lão ngũ có người nhà họ Giàng bên phía mẹ trước đây chạy sang Đại Việt khi Đại-lý bị đánh chiếm. Hiện nay người ấy đã lập gia đình với một phụ nữ Soàn-thầu, định cư ở Hoàng-xu-phì và họ vẫn giữ liên hệ gia đình với nhau. Còn Lưu Đại Bản tuy chưa biết gì về nội tình của chúng ta nhưng trước đây ông đã ngỏ ý muốn đồng hành với Tần-hữu tứ lão trên đường về Quyết-hoa-thôn để liên lạc với Hồng-cân đồng đội ở biên thùy. Đại Bản sẵn có đường giây liên hệ ở nhiều nơi, đem theo chắc có lợi.

“Vai trò Lão Ngũ có thể hiểu được, nhưng thêm Đại Bản thì đông quá khiến cho người ta có thể nghi ngờ.”

“Đại Bản sẽ đóng vai mã phu,” Tú Hoa nói.

“Mã phu Lưu Đại Bản? Ừ phải rồi, Mạc hiền đệ xưa nay vẫn là người tháo vát, chu đáo. Có thêm Lão Ngũ và Lưu Đại Bản làm ta vững tâm hơn. Thôi, phu nhân hãy thượng lộ; nói với Mạc hiền đệ là khi Lão Ngũ đón Đại Bản về thì lập tức lên đường. Nếu vì một lý do nào đó họ về không kịp thì không nên chờ đợi quá lâu và cũng không cần phải gặp gỡ từ biệt ta nữa,” Tá Phiên giục.

Tú Hoa rời khỏi phòng một lúc khá lâu rồi lại trở vào đúng lúc nước trong ấm đồng bắt đầu reo trên lò than hồng nhỏ, vừa kịp cho bà pha thêm một bình trà mới, Phổ-nhị trà.

“Vẫn chưa đi à?” Tá Phiên nóng lòng sốt ruột, hỏi.

“Dạ chưa,” Tú Hoa nhè nhẹ lắc đầu. “Thiếp có một điều từ lâu muốn nói với tướng công.” bà thong thả rót hai chén trà, chờ đợi. Lòng như lửa đốt nhưng Tá Phiên chẳng làm gì hơn được, đằng nào họ cũng đợi Lão Ngũ và Lưu Đại Bản thêm một chút, ông đành gật đầu.

“Tướng công còn nhớ năm mẹ con thiếp được quan lễ bộ thượng thư cho đến phủ thành cùng với đám gia nô hầu hạ tướng công ở Yên-kinh không?”

“Đừng băn khoăn về chuyện đó nữa, lệnh đường và phu nhân không phải là gia nô,” Tá Phiên lắc đầu, trả lời. Hồi ấy, ông mới từ Ung-châu theo Sài Thung lên Đại-đô được vài năm. Thời Chiến Quốc nơi đây là thủ đô của nước Yên, dưới triều đại Kim được gọi là Trung-đô, và bây giờ đã cải danh thành Đại-đô nhưng người ta vẫn giữ thói quen dùng biệt xưng Yên-kinh.

“Trước khi về Yên-kinh gặp tướng công, mẹ con thiếp ở huyện Cát-thủy,” Tú Hoa nói. “Thời gian đó, Nguyên quân vượt Hán-khẩu tràn xuống, mười ba vạn quân của thừa tướng Giả Tự Đạo tan tác ở Vu-hồ chỉ nội trong một ngày. Ngạc-châu, Kiên-khang, Thường-châu lần lượt thất thủ, đất nước nghiêng ngả chưa biết sẽ đi về đâu. Cuối năm giáp tuất,       1274  khi quân Mông-cổ sắp sửa vượt sông Dương-tử, Tạ thái hậu lâm triều, khóc mà xuống chiếu kêu gọi nghĩa cần vương. Lúc ấy Cung-đế mới được năm tuổi. Văn Thiên Tường và Trương Thế Kiệt hưởng ứng, hô hào dân châu Cám, châu Đức-hữu ở Giang-tây, và dân thiểu số Khê-đồng-sơn nổi dậy, nhưng quân Bá-nhan vẫn vào được Lâm-an, bắt  Cung-đế Triệu Hiển và thái hậu đem về Yên-kinh.

“Những di thần hồi đó là tả thừa tướng Lục Tú Phu và Trương Thế Kiệt tôn vua Đoan-tông  lên ngôi, đưa về Phúc-kiến. Văn tướng quân đốc xuất nghĩa binh kháng Mông, mấy lần đều thua, lại phải đem vua chạy xuống Quảng-đông. Năm sau, Đoan-tông mất ở Can-châu, ba người lập Ích Vương ở Phúc-kiến. Ích-vương cũng chết trên hành trình gian khổ ấy, họ lại lập em Đoan-tông là Triệu Bỉnh lúc đó sáu tuổi, để Văn Thiên Tường ở lại cầm cự, Tú Phu và Thế Kiệt phù ấu chúa chạy tiếp xuống đảo Nhai-sơn.

“Sức cùng lực kiệt, cuối đông năm mậu dần, 1278, bị vây khổn, Văn Thiên Tường uống thuốc độc tự sát nhưng không chết, sau bị Trương Hoằng Phạm và Lý Hằng bắt sống. Đầu xuân kỷ mão 1279, mất Nhai-sơn, hơn một trăm nghìn quân Tống bị giết. Lục Tú Phu ôm ấu chúa cùng với cả nhà nhảy xuống biển tự trầm. Trương Thế Kiệt ra khơi chạy sang Đại Việt, mưu sự khôi phục, giữa đường gặp bão, thuyền chìm.”

Phạm Tá Phiên lặng lẽ kiên nhẫn nghe Tú Hoa kể lại câu chuyện cũ mà ông đã từng suy nghiệm. Sự thảm bại ở Nhai-sơn không phải chỉ riêng vì nhà Nguyên có binh hùng tướng mạnh mà còn vì những nguyên nhân sâu xa khác bắt nguồn từ thời Tống thái-tổ, Triệu Khuôn Dẫn.

Trong thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc  907-960, sau khi nhà Đường tan rã, lãnh thổ Trung Hoa phân chia ra thành năm nước ở phương bắc và mười nước ở phương nam.

Năm canh thân 960, ấu chúa cuối cùng của nhà Hậu Chu ở phương bắc, Cung-đế, bị ép phải nhường ngôi cho Triệu Khuôn Dẫn là nhà chỉ huy quân sự hiền lương, thực tiễn, từng rất thành công trong việc phòng thủ ở biên trấn. Công việc đầu tiên sau khi lên ngôi khai sáng nhà Tống, Tống thái-tổ phải khẩn thiết giải quyết hai vấn đề quan yếu, một là hiểm hoạ dị chủng ở phương bắc, hai là mối đe doạ tâm phúc trường kỳ của các sứ quân thế lực.

Mối tương quan của hai vấn đề này đã tạo nên một tình trạng mâu thuẫn khó xử. Không mâu thuẫn sao được một khi triều đình phải dựa vào quân đội trấn biên hùng mạnh rất khó kiểm soát để đối phó với tình hình nhiễu nhương ở phương bắc. Nhưng những tiết-độ-sứ đầy quyền uy cầm quân ngoài biên ải có thể một ngày nào đó sẽ uy hiếp chính quyền trung ương. Thấu rõ vấn đề này hơn ai hết vì tất cả những triều đại của thời kỳ Ngũ Đại đều bị những kẻ giữ binh quyền tiếm ngôi, và vì bản thân Thái-tổ cũng đã được quân lực của chính mình đưa lên. Vì thế, ông thà chấp nhận đương đầu với hiểm hoạ xâm lăng hơn là bị lật đổ bởi những sứ quân dưới quyền.

Để ngăn chặn mầm mống nội loạn sau này, vị hoàng đế khai sáng nhà Tống bắt đầu củng cố vương triều bằng cách tước bỏ binh quyền của các tiết-độ-sứ, thuyết phục họ tình nguyện tự giải nhiệm. Bù lại, ông cho họ được hưởng dụng bổng lộc trọng hậu của triều đình. Nhiệm sở của họ trước kia bây giờ do các văn quan cai trị. Những đơn vị ưu tú nhất ở địa phương được chuyển về triều đình do hoàng đế trực tiếp điều động.

Giải quyết cách này, nhà vua tổ chức được một đội quân tinh nhuệ đông đảo gồm những đơn vị chiến đấu lưu động bảo vệ kinh đô, còn lại lực lượng trấn thủ biên thuỳ chỉ gồm phần lớn lính tân tuyển ô hợp. Vì thế vai trò quân nhân dần dần xa sút đi đến tình trạng trọng văn khinh võ. Hiển nhiên là sự phòng thủ của nhà Tống nơi phiên trấn ngày càng suy yếu tạo nên những hậu quả tai hại sau này.

Trước đây, thủ lãnh của bộ tộc du mục Khiết-đan ở phía bắc, Gia-luật A-bảo-cơ, sau khi thu phục được các bộ lạc Thất-vi và Nữ-chân trong vùng tây nam Mãn-châu, rất có uy thế nên được các bộ lạc bầu làm lãnh tụ. Ông đã giúp tướng quân Thạch Kính Đường chiếm ngôi nhà Hậu Đường, lập ra nhà Hậu Tấn, vì thế được Kính Đường nhường bắc bộ tỉnh Hà-bắc và Sơn-tây để đền ơn. Năm bính tý,*1k Gia-luật A-bảo-cơ xưng đế ở Lâm-hoàng, kiến lập Khiết-đan quốc. Đến đời con ông cải quốc hiệu là Liêu 907-1125.

Từ đầu nhà Tống, quân Liêu vẫn thường đem quân qua biên giới gây hấn. Đến năm kỷ mão 979, nhà Tống xuất binh định thu hồi mười sáu châu bên trong Vạn-lý trường-thành của Hán tộc, nhưng bị đại bại. Kỵ binh Liêu quá lợi hại khiến cho triều đình nhà Tống phải điều đình nhượng bộ vào những năm ất tỵ 1005, và nhâm ngọ 1042, bằng lòng triều cống hàng năm, để nhà Liêu chiếm giữ phần lớn miền đông bắc Trung Hoa và làm chủ đất đai từ Hoàng-hải đến vùng Trung Á.

Khi phục vụ nhà Hậu Chu, Tống thái-tổ đã từng chiến đấu anh dũng khống chế được người Khiết-đan. Những chiến công hiển hách ấy đã gây dựng cho ông thế lực và cơ hội sau đó thành lập nhà Tống. Nhưng bây giờ ông muốn nghị hoà với họ ở phương bắc để dồn hết nỗ lực vào việc bình định miền nam. Thực hiện chủ trương này, ông đã thống hợp được hầu hết các nước phương nam từ năm quý hợi đến năm ất hợi963-975, trong lúc còn tại vị, ngoại trừ hai nước nhỏ ở viễn nam là Đại-lý và Đại Việt vẫn giữ được độc lập.

Cai trị miền Hoa Nam là làm chủ được một nền thương mại cực thịnh, mức sản xuất từ lưu vực sông Dương-tử trở xuống tăng trưởng và phát triển rất khả quan nhờ vào những phát minh về kỹ thuật tân tiến trong các lãnh vực nông nghiệp và kỹ nghệ, cùng với những thành tựu về văn học nghệ thuật hết sức vẻ vang. Mặc dầu mở mang bờ cõi về phía nam, Khai-phong vẫn được chọn là kinh đô của nhà Tống vì đó là một trung tâm điểm giao thương thuận lợi.

Trong khi đó ở Hoa Bắc, bên cạnh mối đe doạ của chủng tộc Khiết-đan còn có những thế lực khác đang nhen nhúm. Thế lực thứ nhất là những bộ tộc đa chủng ở vùng tây bắc Trung Nguyên có công giúp vua Hi-tông nhà Đường dẹp loạn Hoàng-sàocuối thế kỷ thứ 9, đã lợi dụng ưu quyền triều đình dành cho để mở mang lãnh thổ; sau lập ra nhà Tây-hạ 1032-1227

Trong suốt bốn năm, từ năm canh thìn 1040 đến giáp thân, lưỡng quốc liên quân Khiết-đan, Tây-hạ đã đụng độ với quân Tống nhiều trận ở biên cương. Tuy bất phân thắng phụ, sự liên minh của hai tộc phương bắc đã khiến cho triều đình Tống buộc phải gia tăng triều cống cho nhà Liêu, lại thêm hàng năm phải nộp cống cho Tây-hạ.

Thế lực đe doạ thứ nhì là chủng tộc Nữ-chân ở Mãn-châu. Năm giáp ngọ 1114, thủ lãnh Nữ-chân là Hoàn-nhan A-cốt-đả nổi dậy chống người Khiết-đan của nhà Liêu, lập nên nhà Kim 1115-1234 Cả Kim, Liêu đều là những mối nguy tệ hại. Tống Huy-tông đã lựa chọn nhà Kim mà ông cho là đỡ tệ hơn để liên minh với họ chống lại nhà Liêu, tin là có lợi nhiều hơn hại, hy vọng đòi lại mười sáu châu đã mất trước đây về tay người Khiết-đan. Năm nhâm dần 1122, quân Tống tấn công nam thành Yên-kinh, giúp cho quân Kim xâm chiếm được toàn bộ lãnh thổ Liêu.

Sau khi kẻ thù chung đã bị tiêu diệt, quân Kim không chịu rút lui ra khỏi lãnh thổ Trung Hoa. Chủ trương đồng minh với một rợ phương Bắc chống với một rợ khác là một con dao hai lưỡi đã đem lại một hậu quả thảm hại cho nhà Tống. Quân Kim đánh chiếm Khai-phong năm đinh mùi 1227vua Tống Khâm-tông, con của Huy-tông, bị bắt. Sự chiến thắng của quân Kim ở Trung Nguyên đã thay thế một thế lực xâm lược bằng một phần tử gây hấn khác.

Triều đình Tống lập em của Khâm-tông lên ngôi, Tống Cao-tông. Nhà vua vận động nhiều cuộc nổi dậy lẻ tẻ trong mấy năm liền nhưng bất thành, đành rút về miền nam tân lập kinh đô cho nhà Nam Tống ở thủ phủ Hàng-châu. Triều đại Bắc Tống chấm dứt. Đế quốc Đại Kim bây giờ bao trùm hết vùng Hoa Bắc, Mãn-châu, và Nội Mông, thủ đô đặt ở Yên-kinh.

Thực hiện ý định tước phiên, thế lực quân sự nhà Tống chỉ đủ để chế ngự nội loạn mà thiếu khả năng đối phó với ngoại thù bắc phương. Thái độ tiêu cực này đã dần dần làm hao mòn ý chí phấn đấu khiến triều đình Tống đã phải cúi đầu tương nhượng trước những đòi hỏi của người Khiết-đan, Thổ-phồn và Nữ-chân. Dù sao, làm chủ một đất nước có một nền văn hoá rất phong phú và một nền kinh tế thịnh vượng nhất hoàn vũ, thời thịnh Tống lúc đó có thừa khả năng mua chuộc hoà bình. Phí tổn nộp cống không bao giờ vượt quá hai phần trăm tài nguyên quốc gia, quá rẻ so với chiến phí đem quân ra biên giới phòng thủ.

Dự kiến dè dặt lúc ban đầu của thái-tổ tuy đã tránh được nội loạn bởi sự tước đoạt binh quyền trong tay những tướng lãnh thế lực, tạo được tình trạng bình ổn nội bộ trong thời gian ông trị vì. Nhưng cái sảy nảy cái ung, sức mạnh quân đội ngày càng suy nhược do bọn tham quan ô lại bất tài được sủng ái trọng dụng ở những triều đại sau này đã đưa đến sự diệt vong của nhà Đại Tống bởi một hiểm họa ghê gớm từ miền cực bắc, rợ Hung-nô.

Trong những giai đoạn suy vi, một số người có tâm huyết muốn đứng ra cáng đáng xoay trở tình hình như tể tướng nhà Tống, Vương An Thạch, đưa ra tân pháp nhằm cải thiện guồng máy cai trị hủ bại, loại bỏ khoa cử từ chương, khuyến học chuyên khoa thực dụng, chấn chỉnh quân lực, quy định chế độ thuế khoá công bằng, thúc đẩy kinh tế phát triển, xóa bỏ tệ nạn xã hội. Họ Vương là người đạo đức, không màng danh lợi, chủ trương giúp đỡ nông dân, giảm bớt mức độ bần phú bất quân quá chênh lệch giữa giàu nghèo trong xã hội. Mục đích canh tân của ông đã đụng chạm đến quyền lợi của thành phần thiểu số đại điền chủ, đại thương gia giàu có và giới thủ cựu đứng đầu bởi quyền thần Tư Mã Quang đầy thế lực trong triều nên nỗ lực của An Thạch bị chống đối kịch liệt khiến Tống Thần-tông dù quý mến ông cũng phải do dự. Ngay cả những danh sĩ đương thời như Tô Thức được dân nghèo yêu mến như một người cha cai trị, và được toàn cõi kính trọng là một thi bá dưới bút hiệu Tô Đông Pha, cũng phản kháng Vương An Thạch vì nghi ngờ thiện chí của ông. Đến như việc Vương chủ trương cho nông dân vay với lãi xuất thấp trước mùa gặt để khỏi phải bán lúa non cho bọn địa chủ giàu cũng bị chỉ trích là có hậu ý sau này dùng để áp chế dân nghèo. Vương có tài, có lòng, có cố gắng nhưng không có thời, gặp lúc nhân tâm sơ tán, giấc mộng cải tiến không thành.

Tình trạng khó khăn trong việc ban hành tân pháp làm thương tổn đến uy tín của triều đình đã thúc đẩy Vương quyết định đánh Tây-hạ, hy vọng tạo chiến công bên ngoài để lấy lại niềm tin của người dân trong nước. Tuy thắng vài trận nhỏ nhưng nhà Tống bị tổn thất nhiều vạn quân và mất đất Hà-đông cho người Liêu.

Thất bại ở phương bắc, An Thạch định gây lại thanh thế bằng giải pháp chiến tranh ở phương nam, nhưng triều đình Đại Việt ra tay trước, tấn công toàn thắng vào sâu nội địa Trung Nguyên. Là một hiền tài vào bậc nhất của Trung Quốc trong số những tinh hoa ở thời đại ông nhưng Vương vẫn không học được bài học lịch sử rằng ngay cả vị anh hùng sáng lập triều đại, Tống thái-tổ, cũng đã từng thất bại trong việc đánh chiếm mảnh đất ở phương nam nhỏ bé này. Một lần nữa, chiến tranh chỉ làm tổn hại thêm uy tín của ông. Sau lần thảm bại ê chề ở Đại Việt, An Thạch bị cất chức.

Thảng hoặc những lúc quốc gia lâm nguy, nhân tài muốn xả thân vì nước không ít. Tướng quân Tống Nhạc Phi, hào kiệt đất Thang-âm, từ thuở niên thiếu đã lập nhiều chiến công hiển hách, một tay phá giặc Lý Thành, bình Lưu Dự, trảm Dương Yêu. Chẳng những Nhạc Phi có thể ngăn chặn quân Kim bành trướng xuống miền nam mà còn có khả năng tiêu diệt địch quân nếu được dành cho cơ hội. Cơ hội ấy một lần đã đến khi Nhạc Phi đại phá quân Kim ở Chu-tiên-trấn. Quân Kim vỡ chạy, Nhạc Phi sửa soạn sang sông truy tập để hoàn toàn kết thúc mối hoạ tự bắc phương, nhưng ông đã bị gọi giật về triều đình vì tướng quốc Tần Cối chủ hoà đã ký mật ước Thiệu-hưng hòa-nghị chấp nhận nhà Nam Tống làm thân phận chư hầu của nhà đại Kim. Đáp ứng đòi hỏi của nhà Kim, Tần Cối cho giết Nhạc Phi ở trong ngục và nhiều người ái quốc khác vào năm tân dậu 1141, phung phí mất tiềm lực của Tống triều từng một thời lừng lẫy huy hoàng.

Phạm Tá Phiên không hiểu Tú Hoa nói lại chuyện cũ với dụng ý gì và cũng rất ngạc nhiên về sự hiểu biết phong phú của bà liên quan đến giai đoạn lịch sử ấy. Mặc dầu ông đã biết qua câu chuyện nhưng vẫn không tránh khỏi bùi ngùi khi bà nhắc đến Văn Thiên Tường, Trương Thế Kiệt và Lục Tú Phu. Thật là mỉa mai, trang sử cuối cùng bi thảm của Tống vong tam kiệt cũng lại là trang sử vẻ vang nhất của nhà Tống!

Lại thêm một thời gian nữa trôi qua, chưa nghe rục rịch động tĩnh gì, Tá Phiên lòng bồn chồn xao xuyến theo từng luồng gió núi heo hút bên ngoài. Có tiếng thạch sùng chép miệng đâu đó trên khe vách.

“Những ngày tháng sống bên nội phủ,” Tú Hoa tiếp, giọng mơ hồ êm ái như làn khói mong manh trên đĩa đèn dầu bà đang nhẹ nhàng khêu bấc, “mẹ con thiếp đã không phải làm việc nặng nhọc mà còn được tướng công đối đãi rất mực tử tế. Được ít lâu, không biết giữa tướng công và gia mẫu nói chuyện gì với nhau, bà đã quyết định cho thiếp xuất giá. Ngày ấy, tướng công kết nạp thiếp không phải vì tình yêu.”

Lời nói nhỏ nhẹ của Tú Hoa không ra chiều một câu hỏi và cũng không hàm ý than trách. Tá Phiên ngập ngừng, nhẹ gật đầu. “Ta thật có điều không phải với phu nhân,” ông nhìn vào đôi mắt u buồn của người đàn bà, thở dài., “Bây giờ đã biết chân tướng của ta chắc phu nhân cũng thấy được một phần nào nỗi lòng của một kẻ lữ thứ phải sống giữa kẻ thù, ngày ngày gặp gỡ toàn bọn người đồng hương phản trắc. Nhiều lúc ngã lòng trước thực tế phũ phàng ta đã muốn buông trôi cuộc sống. Lòng ta đã quá nguội lạnh đến nỗi phu nhân ở ngay trước mặt mà nhiều khi không thấy, không biết. Ta có quý mến phu nhân, nhưng tình yêu đã không nảy nở trong cái trạng huống dằn vặt đau buồn ấy được, và ta cũng tự hiểu mình không phải là người tâm đầu ý hợp của phu nhân. Ta với phu nhân có nên nghĩa vợ chồng hoàn toàn do lòng tốt của lệnh mẫu. Hình như bà cảm nhận được phần nào tâm trạng buồn nản của ta nên có lần khuyên nhủ ta đừng sống cô đơn khắc khổ nữa mà nên ổn định cuộc sống bình thường vui thú gia đình vợ con vừa tránh khỏi người ngoài hoài nghi nhòm ngó vừa đỡ phải lủi thủi một mình. Nếu có ai khác tinh ý như bà thì có lẽ ta đã bị gia hại từ lâu rồi. Bà thật là người phúc hậu.”

“Gia mẫu là người tốt. Tốt lắm! Bà vẫn thường nói tướng công là hàng tướng Đại Việt nhưng có khí phách hơn người, không lẫn lộn với những phường khinh bạc. Và có lẽ bà cảm nhận được nỗi lòng của tướng công nên bảo rằng bà ít thấy ai có sức bền tâm chịu đựng được như vậy. Ngày ấy, thiếp còn nhỏ dại chỉ nghe theo lời gia mẫu chứ đã biết gì về tình yêu. Sở dĩ thiếp dài dòng chuyện cũ nãy giờ chỉ vì muốn nói về bà.

“Văn Thiên Tường thoát ly gia đình, đem hết tâm can làm việc nước. Mẫu thân và vợ con đều bị hy sinh, chỉ còn lại mấy đứa con gái bị bắt giải về Yên-kinh. Văn tướng công có mấy người em trai, một người đầu hàng Hốt-tất-liệt còn một người bị Trương Hoằng Phạm và Lý Hằng giết trong cuộc kháng chiến ở Triều-dương. Người em tử trận ở Triều-dương là tiên phụ. Còn lại người em gái là Văn tứ cô đã bảo bọc tiện thiếp từ khi cha mẹ và xá muội qua đời nên thiếp vẫn xưng hô với bà là mẹ.”

“Ta cứ ngỡ bà là lệnh đường không dè lại là cô mẫu của phu nhân.”

“Dạ phải, bà là tứ cô của tiện thiếp.”

“Lý Hằng và tỳ tướng của viên bại tướng này là Lý Quán đã bị mấy chiến hữu của ta giết trên đường họ chạy trốn gần biên giới Hoa-Việt vào năm ất dậu,”1285, Tá Phiên buồn rầu, nói.

“Cảm ơn tướng công cho tiện thiếp biết qua việc này. Giả như Văn tứ cô cũng được nghe biết về số phận của tên Hán gian đó thì mối buồn của bà hẳn nhiên sẽ được lắng dịu đôi chút, thế nào bà cũng làm lễ chiêu hồn gia phụ để giải toả phần nào nông nỗi phẫn hận của người quá cố.” Tú Hoa rưng rưng nước mắt nghẹn ngào kể tiếp, “Khi Văn lão bá phụ sa cơ bị bắt, tứ cô vì thương anh và các cháu gái mà đem thiếp đi theo đoàn tù xa giải ông về kinh đô.

“Lão bá phụ bị giam ở Yên-kinh, nhiều lần Nguyên chủ chiêu hàng nhưng ông nhất định không chịu. Tứ cô không thăm được anh và cũng không tìm được mấy người cháu gái, dung nhan bà ngày càng tiều tuỵ héo hắt. Người anh đã quy hàng Hốt-tất-liệt là người mà tứ cô không muốn gặp thì lại tìm cách đến thăm, nhưng bà một mực cự tuyệt.

“Được ít lâu, sự có mặt cô cháu thiếp ở Yên-kinh đến tai Nguyên chủ, ông cho người đón về lưu giữ trong phủ thượng thư Lưu Tuyên, được đối xử đường hoàng, thỉnh thoảng còn cho phép tứ cô thăm nom bá phụ. Không bao lâu sau, mẹ con thiếp lại được đưa từ dinh thượng thư sang phủ đệ của tướng công.

“Thế rồi một buổi chiều ảm đạm, tứ cô từ ngục thất trở về mặt buồn rười rượi, lủi thủi vào phòng lên giường nằm nghỉ. Thiếp lo sợ hỏi han nhưng bà muốn được một mình tĩnh dưỡng. Trước khi bảo thiếp ra khỏi phòng, bà hỏi thiếp có bằng lòng lấy tướng công không?

“Sáng hôm sau bà mới thố lộ rằng Văn lão bá phụ chỉ còn mấy ngày chót phải dứt khoát trả lời Nguyên chủ. Đã hơn ba năm trời bị giữ ở Yên-kinh, bá phụ kiên quyết không đầu hàng. Đã hơn ba năm trời Hốt-lất-liệt kiên nhẫn chiêu dụ, nhưng không thể mãi mãi kiên nhẫn đợi chờ nên đã đến lúc Nguyên chủ ra hạn định này. Lão bá sợ rằng sau khi ông bị giết, tứ cô và tiện thiếp sẽ không còn được bảo vệ nữa, ông khuyên bà nên sớm tìm phương lánh nạn. Trong tình huống ấy, cô cô muốn gửi gắm thiếp dựa vào sự che chở của tướng công. May được tướng công chấp nhận, lại cho Mạc huynh đệ đưa bà về tận Cát-thuỷ khi cô cô ngỏ ý muốn rời Yên-kinh. Sau khi Văn lão bá phụ quy tiên, người ta không ném chuột vì sợ vỡ bình cổ đó thôi.”

“Lệnh bá phụ là một nhân vật trác tuyệt,” Phạm Tá Phiên ôn tồn nói. “Trong những vần thơ làm từ ngục thất, tiên sinh đã ví cảnh núi sông như sợi tơ trước gió, và những đứa con gái của mình chẳng khác nào những cánh chim non vỡ tổ run rẩy trong tiết nghiêm hàn. Mặc dầu hết sức đau lòng trước cảnh nước mất nhà tan, ông vẫn không hề bị khuất phục, vẫn kiên quyết cự tuyệt kẻ thù. Trước khi lâm hình, tiên sinh còn làm bài chính-khí-ca, khẩu khí hào hùng, lời ca tráng liệt. Ta nhớ tiên sinh mất vào năm quý mùi  thì phải?” 1283.

“Dạ!” Tú Hoa nghẹn ngào.

“Sau khi Văn tướng công mất, dù không thu phục được lòng ông, Hốt-tất-liệt vẫn trước sau tôn kính, gọi ông là một ‘chân nam tử,’ Phạm Tá Phiên nói. “Cái chết của tướng công đã làm cho Nguyên chủ thấy rằng muốn khuất phục một người Trung Hoa ái quốc còn khó hơn cả chiếm đoạt và cai trị đất nước này. Hốt-tất-liệt là một con người đầy tham vọng và tàn bạo nhưng tâm địa khảng khái, thực lòng ái mộ hào kiệt anh hùng cho dù họ là những kẻ tử thù của triều đại. Ông thừa hưởng tinh thần hảo hán này từ Thành-cát-tư-hãn, chưa hẳn đã vì ta mà không gia hại lệnh tứ cô và phu nhân đâu.”

“Tướng công vị tha rộng lượng với mọi người, cả với kẻ thù,” nhận thấy những điều bất hạnh vẫn không làm cho chồng mình trở nên chua chát với cuộc đời, Tú Hoa nhẹ thở dài, cố cầm nước mắt.

“Văn tiên sinh, Trương Thế Kiệt và Lục Tú Phu đều là những nhân vật khả kính ta bình sinh ngưỡng mộ, vẫn tiếc mình không có được cái duyên bằng hữu hội ngộ,” Tá Phiên nói.

“Lục Tú Phu và Văn lão bá phụ vừa là đồng khoa tiến sĩ thời vua Tống Lý-tông, vừa là đồng chí kháng Nguyên,” người thiếu phụ giọng nói ôn nhu tha thiết. “Năm thiếp ra đời, Văn bá phụ đã lấy chữ đệm Tú trong phương danh của Lục lão bá để đặt tên cho tiện thiếp thành Tú Hoa.”

Vào lúc nửa đêm, trời đổ lạnh. Hai người ngồi lặng yên một lúc. Nhìn tấm khăn choàng trên vai Tú Hoa đã một nửa tuột xuống phủ trên thành ghế, Tá Phiên nhẹ nhàng nâng lên khoác lại trên vai người đàn bà đã cùng ông đầu gối tay ấp bấy lâu mà mãi đến nay ông mới biết được một phần lai lịch khả kính của bà. “Văn phu nhân,” ông xúc động khẽ gọi.

Tú Hoa ngỡ ngàng, bà chưa từng nghe một người chồng nào xưng hô trịnh trọng với vợ như thế. Giả như đối thoại với người ngoài thì bà tất được gọi là Phạm phu nhân. Cách xưng hô của Tá Phiên đối với vợ như vậy là không đúng, không phải, là khách sáo, là xa cách. Tú Hoa không nghĩ như vậy. Xá gì đúng hay sai trong cung cách xưng hô, miễn là bà cảm nhận được sự tương kính trong mối xúc động chân thành của chồng, bất giác mỉm cười cảm kích.

Tá Phiên tự tay rót hai chén trà. Trà Phổ-nhị xoàng thì đầy ra ở Hoa Nam thường được uống càng sớm càng tốt sau khi hái từng mùa giống như phần lớn các loại trà khác. Nhưng những lứa trà Phổ-nhị đặc biệt hái trên các đỉnh cao sơn thì càng cất lâu lại càng có vị, nhất là nước thứ nhì. Có lẽ chén trà trên tay ông đã được ủ dăm bảy chục năm không chừng, một mùi mông mốc nhẹ nhàng bốc lên hết sức dễ chịu. Vốn thích uống Phổ-nhị lâu đời, nhất là lứa trà Tử-quyên hái trên ngọn Nam-nhu-sơn dưới hạ lưu sông Lan-thương này. Ông đưa lên cho vợ một chén. Từ ngày ăn ở với nhau, ông chưa hề có được một cử chỉ trìu mến như vậy. Cái vị sơn trà xa xưa lưu luyến nếm được trên môi làm Tá Phiên bàng hoàng chợt nhớ đến cảnh ngộ bịn rịn chia ly hiện tại, ông thấy được vẻ lo buồn trên nét mặt mệt mỏi của vợ. “Tú Hoa, đã đến lúc phải lên đường rồi kẻo muộn,” ông nhấn mạnh, thân ái gọi tên bà.

“Văn lão bá phụ xưa coi nhẹ cái chết như ra về thế mà vẫn nặng lòng lo lắng cho cô cô và tiện thiếp, khác nào trong cái cảnh dầu sôi lửa bỏng hiện nay mà tướng công chỉ nghĩ đến mối an nguy của vợ con, của những người khác,” người thiếu phụ nhỏ nhẹ như không nghe thấy sự giục giã của chồng. “Thiếp tuy kém cỏi nhưng cũng biết rằng đấng trượng phu hy sinh tính mệnh dễ dàng hơn là hy sinh tình cảm,” bà bần thần ngừng lại, thở dài não nuột. “Thiết tưởng hy sinh danh dự lại càng khó khăn hơn cả hy sinh tình cảm và sự sống. Còn có gì cao cả hơn sự nhẫn nhục chịu đựng âm thầm của những con người đã vì đất nước mà hiến dâng cả thân thế lẫn danh dự cho đại cuộc!”

“Phu nhân!”

Tú Hoa vẻ mặt mơ màng như còn đang chìm đắm trong một khung trời xa lạ.

“Đã đến lúc từ biệt, không thể trì hoãn được nữa. Phu nhân hãy xuất lộ bình an,” ông hối thúc, lộ vẻ khẩn trương.

Tú Hoa đột nhiên đứng lên ôm chặt lấy chồng, nghẹn ngào, “Mọi người và thằng Kính Lục đã lên đường từ lâu rồi.”

Tá Phiên bàng hoàng ngẩn ngơ, hai tay chậm rãi nâng cao gương mặt của Tú Hoa, thắm thiết nhìn vào đôi mắt. Một mối tâm tư tha thiết trào dâng trong lòng; người đàn ông chưa bao giờ thấy người đàn bà trong vòng tay lại đẹp đẽ não nùng đến thế, đẹp như cánh hoa dạ hợp mong manh rụng trên thềm đá xanh rêu.

5

Thôn Lữ-dạ

Đại Việt, niên hiệu Trùng-hưng thứ ba

Ngày mùng bốn tháng mười một năm đinh hợilà ngày 09-12 dl, 1287.

Bắt đầu từ Chương 5, tác giả chuyển sang những công việc ở Đại Việt với những nhân vật trong dân dã được dân chúng quý trọng. Độc giả sẽ thấy điều này tại Thôn Lữ-dạ. Ở nơi này, Đỗ Đình Duyệt đã rất linh hoạt trong việc mô tả những con người, bình dị trong cuộc sống thường ngày, nhưng khi quân Nguyên đến, họ rất dũng cảm, kiên cường chống cự lại. Dưới đây là một đoạn văn tác giả mô tả ba cô con gái, ở tuổi cập kê, từ xa đi đến thôn Lữ-dạ. Ngôn ngữ bình dị, thôn dã, dí dỏm phù hợp với bối cảnh và tuổi thích ăn nhót chua. Mở đầu câu chuyện, tác giả đề cập đến dòng Nguyên giang từ Vân Nam chạy xuống sồng Hồng, nơi sẽ diễn ra trận thủy chiến và những chiến thuyền của quân Nguyên sẽ tan tác trên Bạch Đằng giang bởi những bãi cọc.

Dòng Nguyên-giang ở Vân-nam bắt nguồn từ vùng núi non phía nam thành Đại-lý, giữa rặng Thương-sơn ở phía tây và hồ Nhị-hải ở phía đông, xuống đến biên thùy tây bắc Đại Việt, vào địa giới châu Thuỷ-vĩ thì đổi thành thượng nguồn sông Thao. Dòng sông tiếp tục chảy xuống vùng châu thổ và trở thành sông Hồng trôi về phía nam, qua kinh đô Thăng-long trước khi đổ ra biển. Bên hữu ngạn sông Thao có dãy Hoàng-liên-sơn với những đỉnh cao quanh năm mây mù che phủ, nhiều nơi vào hè mà vẫn cảm thấy không khí của thu. Những dòng suối giá lạnh bắt nguồn từ những đỉnh cao ấy dồn xuống qua các thôn bản nương đồi, uốn lượn ngoằn ngoèo theo chân núi và đồng cỏ đến thung lũng phía bắc đất Đăng-châu nằm giữa Hoàng-liên-sơn và sông Thao lại trở nên ấm áp. Thêm phần thời tiết năm nay ôn nhu, đã thượng tuần tháng mười một, sắp đến tiết đại tuyết, mà rừng cây trong thung lũng vẫn còn lốm đốm lá tươi.

Sau đó tác giả kể chuyện về ba cô gái từ trên núi đi xuống đề vào thôn Lữ-dạ. Độc giả sẽ có dịp thưởng thức cảnh núi rừng, dòng nước theo ngòi bút Đỗ Đình Duyệt, cách riêng là nghệ thuật kể chuyện về các nhân vật: tác giả tinh tế trong nhận xét, trong cách sử dụng ngôn ngữ phù hợp với giới tính và tuổi. Tác giả mô tả cảnh núi đồi và dòng nước miền cao, cảnh nhà một người có tên là Trương Hạo và vợ ông gọi là tqang thất phụ. Đây là cảnh một gia đình nhà nông với các nông cụ trong nhà, có con trâu trong chuồng. Riêng bà vợ thì làm nghề tơ tăm. Hai cô gái lớn là Thắm và Nhài đến để trao đổi với bà về tơ tằm. Tác giả mô tả tỉ mỉ cảnh nhà và những chuyện chung quanh người đàn bà và các cô gái, như thể tác giả là người của miền núi này. Cả đến cây cỏ ở đây ông cũng rành rẽ, như người tá điền trng nhà Trương Hạo quen gọi là tam thất vì không ai biết tên thật của ông. Gọi ông như thế vì nơi đất này có nhiều cây kim-bất-hoán gọi là tam-thất dùng để cầm máu và trị suy nhược rất thần hiệu. Chương này, tác giả còn đề cập một đám cưới của hai người trẻ là Sửu và Diệp. Họ chuẩn bị chu đáo cho đám cưới này, Thôn làng cũng giúp cho hai nhà, từ việc cất lên ngôi nhà cho họ để có nơi tổ chức đám cười. Tình cảm được biểu hiện tốt đẹp, nhân ái giữa người với nhau.Rồi trong lúc ấy, một kỵ binh trong hàng ngũ Chiêu văn vương phóng ngựa vào thôn, vào nhà Quách Nhật Thăng đưa tin quân Nguyên đã vào quan ải. Rồi thôn Lữ-dạ chuẩn bị di tản.

Từ trên lưng đồi sim, đi xuống hai đứa con gái nước da bánh mật tóc búi sau gáy khoảng trên dưới mười lăm tuổi, đầu chụm vào nhau hàn huyên thủ thỉ. Đàn bà ở nơi thôn ổ búi tó sau gáy khi còn con gái, có chồng rồi thì búi tóc ở đỉnh đầu, chồng chết mới búi lệch sang bên. Người kinh đến ở vùng này cũng thường noi theo thói tục ấy.

Cả hai đứa con gái đều mặc váy gai đen dài hẹp, ngực che yếm trắng vải cát bá, lưng đeo gùi, trên vai vắt những mảng vỏ gai rừng dài quết đất. Vỏ gai đem về ngâm nước nhiều ngày cho thật mềm, đập giập, tước nhỏ rồi xe thành sợi dùng để dệt vải hay bện dây. Chúng nó còn lấy thêm củ nâu, vỏ xó và lá vang về nhuộm. Con Thảo, một bé gái chưa đầy mười ba tuổi tóc ngắn ngang tai, cũng mặc váy đen nhưng ngực để trần. Tay nó cầm xâu cá mương tươi vẩy trắng xoá như bạc, lẽo đẽo theo sau hai đứa lớn, vểnh tai hóng chuyện.

Xuống đến chân đồi, ba đứa len lỏi qua một bãi dâu thì ra đến một con suối ngoài đồng cỏ. Một con sơn ca giật mình tung cánh ra khỏi bụi cỏ bồng phía trước mặt, cất tiếng hót thánh thót từ trên cao vọng xuống. Chúng nó men theo bờ suối lại gần mấy người đàn bà đang ngồi giặt giũ trên những mặt đá mòn phẳng. Họ vui vẻ trò chuyện hỏi han trong khi chúng nó nối đuôi nhau lội qua suối. Khúc suối này hẹp nước chỉ ngang bụng chân mà đứa nào cũng vén váy lên quá bẹn, sợ ướt. Sang đến bờ bên kia, hai đứa gái lớn lại tiếp tục chuyện gẫu, chân bước hững hờ đạp lên những gốc rạ rực rỡ khô vàng dưới ánh nắng hanh.

“Mày đã dệt xong cái khăn lụa chưa?” Thắm, đứa con gái lớn tuổi nhất, vừa hỏi vừa chà xát quả nhót lên ngực yếm.

“Chưa,” Nhài, đứa con gái nhỏ hơn, trả lời.

“Lười thế, đồ ruột để ngoài da,” nói rồi con Thắm đưa quả nhót lên miệng, rùng mình xuýt xoa. Mùa này, bụi nhót sống dai nhất trước giậu nhà nó cũng đã héo từ lâu; chúng nó mới hái được mấy quả nhót núi trái mùa còn sót lại bên suối. Trời hanh khô lành lạnh mà những giọt mồ hôi nho nhỏ lấm tấm trên gò má của con Thắm căng hồngnhư quả nhót chínmọng còn ngậm trong miệng nó. Chua quá, khác hẳn nhót nhà chỉ rôn rốt, nhót núi trái mùa càng chín càng chua.

“Tại khó chứ không phải lười,” con Nhài cũng xuýt xoa trả lời. Nó chưa bỏ nhót vào miệng, chỉ mới thòm thèm tưởng tượng thôi đã đủ toát mồ hôi, đã nhăn mặt rùng mình.

“Đoảng thật, tang thất phụ dạy cho năm lần bảy lượt mà vẫn chưa học được nên thân; lớn lên chỉ có ma nó lấy mày.”

“Eo ôi, khiếp!” con Nhài giãy nảy lên, “Ai mà thèm lấy ma!”

“Tang thất phụ là ai?” con Thảo từ đàng sau nói chõ vào.

“Là cái thím Tần beo béo mũi tẹt ở dưới kinh ấy.”

“Tại sao lại gọi thím ấy là tang thất phụ?”

“Tại vì thím ấy nuôi tằm dưới miền trung du,” con Thắm bực mình chỉ muốn cắt đứt ngay câu chuyện với con bé.

“Trung du ở đâu?” con Thảo tiếp tục hồn nhiên hỏi.

“Ở xa lắm,” con Thắm sốt ruột, “tao cũng không biết. Mày thử ngậm mỏ lại một lúc xem có được không?”

Không được nói, con Thảo chậm bước ra sau, mắt nhìn trộm con Thắm miệng vu vơ hát mấy câu vè trào phúng mới xuất hiện gần đây ở trong thôn, “Ve vẻ vè ve, là vè lá lốt. Anh Kỷ thì tốt, chị Thắm lại xinh. Hai bên rập rình, cũng muốn lấy nhau.” Nó hát vậy là cốt để trả thù vừa rồi bị con Thắm mắng.

“Liệu hồn đấy con nỡm, mới nứt mắt ra mà đã lải nhải như bà cụ non, miệng lưỡi xoen xoét toàn những chuyện nhảm nhí.”

“Em tưởng chị với anh Kỷ phải lòng nhau là chuyện hay,” bị gọi là “nỡm,” con Thảo uất ức đanh đá bĩu môi, cong cớn, “Bây giờ chị nói ra em mới biết đó là ‘chuyện nhảm nhí!’”

“Quỷ cái! Láo vừa chứ, tao vả cho vỡ mặt ra bây giờ,” con Thắm quay ngoắt lại, mắt trợn ngược, gào lên. Con Thảo cuống cuồng ù té chạy vụt ra xa chân không bén đất về phía những nương đồi mới được cày vỡ cho các vụ hoa màu phụ mùa đông. Đám trâu đang đầm mình trong bùn bị con bé làm giật mình, khó chịu thở mạnh lên khìn khịt.

“Đồ ôn con chưa ráo máu đầu mà đã nhiễm đâu ra cái tật rửng mỡ không biết?” con Thắm càu nhàu.

“Nhiễm bọn mình chứ còn nhiễm đâu ra nữa,” Nhài nói bâng quơ, mắt lơ đễnh nhìn theo sau lưng con Thảo, tình cờ bắt gặp một bụi tơ hồng bám trên thân cây. Nhìn những sợi tơ mỏng mảnh tình tứ quấn quít vào nhau, đầu óc lan man của nó bỗng dưng liên tưởng đến lễ tế tơ hồng trước khi đón dâu, con bé bèn mỉm cười hóm hỉnh, “Con gái mười bảy mười ba, đứa nào chả rửng mỡ.” 

“Này! Đồ ma xó, mày nói cạnh ai đấy?”

“Nói ai thì người ấy động lòng,” Nhài toe toét cười.

“Tao mệt với mày quá đi mất thôi. À, dạo này mày có thấy cái thằng mặt mẹt ấy ở đâu không?” con Thắm vừa hỏi vừa cười khúc khích.

“Đứa nào cơ?” con Nhài lúng túng. “Thằng Hồi ấy à?”

“Chứ còn ai vào đây nữa!”

“Hôm nọ sang đập lúa bên sân trưởng lão, buổi tối ăn cháo trai đến khuya mới về, đông vui như hội đình mà có thấy nó vác xác đến đâu. Chắc cu cậu xấu hổ vì mới bị đòn nên lẩn mất,” con Nhài lắc đầu trả lời.

“Cho nó đáng kiếp,” con Thắm cười ngặt nghẽo.

Thằng Hồi là anh con Thảo, mấy bữa trước kiếm chuyện đánh thằng Kỷ thâm tím cả người chỉ vì ngứa mắt thấy nó đứng hơi gần con Thắm. Người lớn lôi nó ra đình, nọc cổ xuống sân đánh cho mười mấy trượng. Bố mẹ nó cũng bị các cụ gọi đến mắng cho một trận nên thân về tội không biết dạy con, bắt phải sửa lễ xin lỗi thành hoàng.

Thằng Hồi tính tình cọc cằn từ bé, thái độ lúc nào cũng hằn học với mọi người, kể cả thú vật. Cái gì cũng làm nó tức được, một con chó vô tình ghếch chân đái vào bụi cây cũng có thể bị nó hù doạ, cong đuôi chạy mà không biết tại sao. Thằng Hồi thương chó, nhưng ngang nhiên dạng chân đứng đái ngay trước mặt người ta thì ngứa mắt quá, nhịn thế cóc nào được. Thực ra, vô cớ doạ chó còn là nhẹ chứ thằng lỏi nào trong thôn mà dám hỗn sược làm như vậy thì không thể tránh khỏi bị dần cho một trận nhừ tử. Hễ nói chuyện với bọn con trai cùng lứa chưa được vài câu là nó đã sinh sự. Nó xấu nết đến nỗi nhiều lần bị đòn ngoài đình nhưng vẫn chứng nào tật nấy không chừa. Không ai tin là có thể cải sửa được, kể cả bố mẹ nó. Được cái thằng Hồi xay lúa giã gạo rất khoẻ, vượt tất cả đàn ông con trai khác trong thôn. Những nhà không có con trai lớn thường phải nhờ vả trông cậy vào nó.

Con Thắm con Nhài ghét cay ghét đắng thằng Hồi nhưng chúng nó lại thương con Thảo, em nó, đi đâu cũng dẫn theo như cái đuôi. Còn con Thảo thì cũng bám dính vào hai đứa lớn như đỉa đói. Cha mẹ sinh con trời sinh tính, hai anh em thằng Hồi trái ngược hẳn nhau một giời một vực.

Chạy hết triền dốc thoai thoải lên đến quãng đường đất sống trâu, con Thảo vui thú tung tăng nhún nhảy chân sáo, vênh váo nhìn xuống con Thắm bằng cặp mắt trêu ngươi, “Ve vẻ vè ve …,” miệng hát to. Dưới chân nó, từng cơn gió lùa những chiếc lá khô vào cuối thu còn xót lại đuổi nhau xào xạc trên mặt đất dẫn về phía rặng tre bao quanh những mái lá của sơn thôn Lữ-dạ ẩn hiện giữa những mảnh vườn tược sum sê chạy dài theo ven núi.

Hai cổng vào đầu thôn nam, bắc được dựng lên mỗi sáng và hạ xuống khi mặt trời lặn. Bên trong mỗi cổng đều có vọng canh cao tầm ngọn tre.

Ba đứa con gái đi qua cổng thôn phía bắc vài trăm thước thì đến trước cửa căn đầu tiên trong thôn của vợ chồng Trương Hạo. Nhà mái tranh vách đất một gian hai chái nằm gần sát đường; một chái là chỗ ngủ còn bên kia là bếp. Gian giữa rộng nhất dành làm từ đường, chỉ trải cái chiếu cói đã sờn trước một bục gỗ trên có bốn thẻ tre thần vị và một đĩa đèn dầu. Ngoài hiên có cái chõng kê gần một bụi thu hải đường đỏ thắm. Cày bừa và điền khí dựng ngoài vách.

Đằng sau nhà, Trương Hạo cùng với một thôn phu khác, áo thấm ướt mồ hôi chỗ xẫm chỗ bạc, đang gảy rơm thành đống bên cạnh một con ngựa cái màu trắng hoa mơ đứng nhai cỏ trong bóng mát của bụi chuối trước cửa chuồng trâu nhỏ dựng sát mấy luống rau và một giàn bầu bí. Bên chân con Hoa Mơ, một con gà mẹ đang bới rác tìm mồi cho lũ con mới nở, thấy mấy con mái ghẹ lò dò lại gần liền xù lông đuổi chạy tít ra tới hàng giậu ở xa, chỗ có một con gà đẻ đang cục ta cục tác om sòm.   

Ngoài việc trồng cấy, cả thôn trồng dâu nuôi tằm, trừ vợ chồng Trương Hạo. Tằm có nhiều giống, mỗi giống thích hợp với từng giai đoạn thời tiết trong năm. Các loại tằm này được gây giống từ sở tằm tang dưới vùng Tam-đại-giang, nơi hợp lưu của sông Thao, sông Đà và sông Lô, để cung cấp cho các vùng chung quanh. Thím Tần là tang thất phụ làm việc với chỗ ươm tằm; cứ mỗi cuối lứa tằm, thím lại đem giống mới lên cho thôn. Dân chúng nuôi tằm lấy tơ, nhưng chỉ giữ lại một ít dệt lụa, dệt đũi may yếm hay váy sồi, còn thì quyến khố ti thu mua, một phần dành riêng cho triều đình dùng, phần thặng dư bán cho thương lữ.

Tuy không chăn tằm nhưng vợ Hạo rất khéo léo nên sau mỗi lứa tằm, nhiều người trong thôn đem kén đến cho người đàn bà có hoa tay này ươm tơ. Từ kén thành tơ, người quay tơ phải luộc kén trước khi nhộng lớn thành ngài cắn kén chui ra làm cho sợi tơ bị đứt đoạn.

Hôm nay trời đẹp, vợ Trương Hạo dậy từ lúc gà chưa gáy nên đến xế trưa đã luộc xong một vạc kén, kéo được mấy nén cả tơ gốc lẫn tơ nõn. Vừa cất guồng xong, vào bếp ngồi chưa ấm chỗ thì ba đứa con gái từ ngoài sân trước ùa vào quăng gùi và vỏ gai bừa bãi trên nền đất, nói năng tíu tít, mắt hau háu nhìn vào chảo nhộng tròn mẩy. Cứ mỗi lứa tằm, chúng nó lại được ăn nhộng tươi thả cửa mà vẫn không bao giờ thấy chán.

“Đã thấy tơ mới chưa?” vợ Trương Hạo chỉ ra hàng dây phơi ngoài sân, hỏi. Mấy đứa con gái gật đầu. Trước khi vào bếp, chúng nó đã thấy những nén tơ nõn óng ả như mỡ gà treo lơ lửng bên cạnh những búi tơ gốc vàng sẫm ngoài sân.

“Chia cho thím một ít đây này,” con Thắm nói, cho tay vào trong gùi.

“Thơm quá đi mất thôi!” đã ngửi thấy mùi nấm hương rừng trước khi trông thấy, thím Hạo vui vẻ reo lên. Người đàn bà lấy vỏ trai múc nhộng đổ đầy lên lá chuối đã hơ mềm cho mỗi đứa một mảnh. Thấy mấy đứa con gái lấy từ trong gùi ra nhiều nấm, thím lại kêu lên ngạc nhiên, “Nhiều thế!”

“Thím cứ tha hồ mà ăn,” con Nhài nói, “Mỗi lần sau cơn mưa, bao giờ chẳng kiếm được nhiều nấm.”

 “Ve vẻ vè ve …,” trong lúc thiếu phụ và hai đứa con gái lớn nói chuyện, con Thảo biết thân lê đít lùi ra sau, ngồi dựa lưng vào một chum tương mới ngả, vừa nhón từng con nhộng bỏ vào miệng nhai tóp tép vừa léo nhéo hát vè. Đang vui chuyện, bất ngờ nghe thấy giọng chua ngoa của con bé ở sau lưng làm cho con Thắm chưng hửng. Vợ Trương Hạo chúm chím cười hỏi con Thắm với thằng Kỷ bao giờ lấy nhau. 

Con Thắm ngượng ngập gượng cười bẽn lẽn. “Hứ! Thím đừng thèm nghe cái ngữ nhãi con ăn nói vớ vẩn,” mặt nó đỏ dừ, phàn nàn.

“Thế bao giờ chúng mày ‘vớ vẩn?’” thím Hạo tươi cười dễ dãi.

“Thím không thấy nó mọc chuyện ra hay sao mà vẫn còn tin, chả trách nào nó nhờn là phải,” con Thắm giãy nảy lên như đỉa phải vôi, chống chế. Nó ngượng chín cả người, chỉ muốn độn thổ. 

“Ừ thì cả thôn cùng ‘mọc chuyện,’” nói đùa xong, thím Hạo kéo đầu con Thắm vào lòng, vỗ về, “Lớn lên ai chẳng lấy vợ lấy chồng, việc gì phải xấu hổ? Lúc về, mỗi đứa nhớ lấy một rá nhộng chia nhau mà ăn,” người đàn bà nhắc nhở.

“Bỏ cái thói trêu ghẹo người ta đi, nó cọc đến nơi rồi đấy,” con Nhài răn con Thảo.

Sau khi Thắm và Nhài trao đổi vài câu chuyện về tơ tằm với tang thất phụ, ba cô trở về. Tiếp theo đó là vài chuyện trong đời sống gia đình vợ chồng Trương Hạo, tiêu biểu cho một đời sống nhà nông ở một thôn miền núi. Tác giả mô tả giữa người và mấy con vật trong nhà, như con gà mái hoa mơ, như con nghé.

Suốt mấy vụ mùa, vợ chồng Trương Hạo và Tam Thất thay trâu kéo cày. Hai năm gần đây được mùa liên tiếp, Trương Hạo giật gấu vá vai, dành dụm tom góp, cùng Tam Thất đi khắp vùng  Bạch-hạc lùng kiếm, mãi cho đến khi xuống tới Ðại-lải mới tậu được con nghé ưng ý này. Người chủ phải dẫn con trâu mẹ sang hàng xóm, hai người mới dắt được con nghé đi, trong khi bà chủ đứng trong bếp nhìn theo khóc sướt mướt.

Cũng ở Chương 5 này, ngoài câu chuyện giữa ba cô gái trẻ với vợ của Trương Hạo, tác giả còn mô tả một đam cưới giữa hai bạn trẻ tại thôn Lữ-dạ này. Hầu như mọi người mọi nhà trong thôn đều lấy cái vui của hai người trẻ thành vợ thành chồng là niềm vui của mình, của gia đình mình. Đấy là nếp sống văn hóa cũ của nền tảng văn hóa nông nghiệp tại Việt Nam:

Trâu ơi, ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

Cày cấy vồn nghiệp nông gia

Ta đây trâu đấy, ai mà quản công

Ngày nào cây lúa còn bông

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

(Ca dao)                              

độc giả sẽ thấy xuất hiện những thanh niên, như Sửu, Hồi và nhân vật Tam Thất, Quách Nhật Thăng…trong đời thường và trong chiến đấu với quân Nguyên.

Vợ chồng Trương Hạo hiếm muộn. Một lần, đã lâu rồi, Trương Hạo từ ngoài đồng về, bắt gặp vợ ngồi ủ dột ở ngưỡng cửa. Cây hương trên bàn thờ trong nhà đang cháy dở. Trong bữa cơm tối người vợ tỉ tê kể chuyện con Lạng bên láng giềng vừa đến kỳ ở cữ. Khi nói đến đứa bé sơ sinh kháu khỉnh, mắt người đàn bà ươn ướt lóng lánh trong ánh sáng hắt lên từ đĩa đèn thầu dầu. Mộc mạc, nhưng người chồng cũng thấy được cái buồn của vợ. Hơn mười năm ăn ở với nhau là hơn mười năm ao ước, khẩn cầu và chờ đợi, nhiều khi tưởng đã tuyệt vọng. Hơn một năm sau khi người láng giềng trẻ ở cữ, vợ Trương Hạo thỉnh thoảng cạy đất sét ở vách tường ra ăn. Các cụ già trong thôn bảo là những người ốm nghén thường hay ăn dở như vậy. Chẳng bao lâu, quả nhiên con Quế ra đời. Trời đất quả có ân huệ với con người, nhất là với ước nguyện của vợ chồng Trương Hạo.

Độc giả sẽ thấy xuất hiện những thanh niên, như Sửu, Hồi và nhân vật Tam Thất, Quách Nhật Thăng… với những nét bút mô tả từ tính cách và những hành vi của họ trong đời thường và trong chiến đấu với quân Nguyên. Nhưng xin theo dõi những chuẩn bị cho đám cưới này mà một số người trong thôn Lữ-dạ dành cho hai bạn trẻ.

“Hôm nay mùng bốn thì phải?” người chồng không trả lời vợ, nói trống không. “Còn có mươi bữa nữa thằng Sửu cái Diệp lấy nhau. Rằm đến nơi rồi còn gì.”

“Thằng Sửu xuống Cổ-độ mua sắm hương nến và áo mới cho cái Diệp, chẳng hiểu bao giờ thì nó về tới?” bà vợ hỏi.

“Nó mới đi đây, sớm lắm cũng phải dăm ba ngày nữa.”

Trương Hạo quay nhìn vào trong thôn, ở đó, một nhóm đàn ông đang người thì chẻ nứa làm lạt, kẻ bó rơm chuyển lên cho những người ngồi trên cái mái xuôi xuôi lợp dở của một khung nhà đang dựng chỉ có sườn, chưa đắp vách. Mái chưa lợp xong mà ở dưới đã treo sẵn bảng “vu quy” kiểu chữ khải viết bằng vôi hồng trên khung cửa ra vào.

Mùa thu luôn luôn được coi là ngày lành tháng tốt nhất trong năm cho việc cưới gả. Ðáng lẽ thằng Sửu và con Diệp đã lấy nhau từ cuối thu giáp thân*1b khi con Diệp vừa tròn mười sáu tuổi, nhưng vào thu năm ấy bố nó, Hà Cửu, chết trong trận đánh với quân Nguyên tuần thám ở thượng nguồn sông Chảy, con Diệp phải cư tang ba năm. Cuối tháng mười năm nay hết chở, đám cưới nó lại được tiếp tục. Hai mẹ con con Diệp không thân thích, chỉ có người trong thôn xúm nhau giúp đỡ. Cái nhà không vách đang được dựng lên ngay cạnh cái lều cũ của hai mẹ con sẽ được dùng để lập bàn thờ gia tiên, và cũng là chỗ làm lễ tế tơ hồng. Sau đám cưới, người ta sẽ đắp vách đất thành căn nhà mới cho mẹ con con Diệp. Theo lệ thì thằng Sửu sẽ về đây ở rể sáu năm rồi sau đó có muốn dọn đi đâu thì dọn.

Cái chuồng cỏ sau căn nhà lợp dở đã nhốt sẵn ba con lợn được vỗ béo, một con của Quách trưởng lão cho và hai con do thôn dân đánh đụng. Nhà thằng Sửu cũng đã cất rượu, dành dụm sẵn thịt muối, măng khô, nấm hương và một ít gà vịt cho ngày cưới.

“Mình sẽ đánh chén với nhau một bữa bí tỉ, chú Tam ạ,” Trương Hạo nuốt nước bọt. “Ngày mai rỗi, chú có đi với tôi sang giúp cho mẹ con nó một tay?”

Người đàn ông được gọi là chú Tam chỉ nhẹ gật đầu. Thực ra, đó không phải là tên ông. Nguyên vùng đất này có nhiều cây kim-bất-hoán, còn được gọi là tam-thất, dùng để cầm máu và trị suy nhược rất thần hiệu. Vì không ai biết lai lịch tên tuổi, lại thấy ông gầy gò đen đủi như củ tam-thất, nhân đó có người gọi đùa như vậy, lâu ngày thành tên.

Vốn người châu Thủy-vĩ, Tam Thất cùng một số tai dân khác chạy giặc về đây lánh nạn từ mùa xuân năm ất dậu.*1c Tính ít nói, chậm chạp, người trong thôn vẫn thường nhờ ông giúp việc vặt vãnh, tháng tư gieo mạ, tháng sáu cấy, tháng mười gặt mùa, cuối năm cày bừa vỡ đất. Ngoài thời gian luân canh lúa và hoa màu, Tam Thất không bẻ dâu, đan lát thì cũng tát cá, chặt củi trên rừng, chẳng mấy khi tay chân rảnh rỗi. Năm kia đã loạn lạc lại thêm nước lũ tràn về, ruộng nương ngập đọng úng thuỷ mất mùa, cả thôn đói, ông đói. Năm ngoái năm nay được mùa, cả thôn no, ông no. Ðói, no, tối nào cũng lủi thủi về ngủ ở một góc đình hiu quạnh. Ngoài những công việc vặt vãnh tầm thường, Tam Thất sống cách khuất gần như không có mặt ở trong thôn, chẳng mấy khi thấy biểu lộ tâm tình với ai.

Tiếng còi báo động

Bất chợt, một hồi tù và từ vọng canh hướng bắc rúc lên làm mọi di động trong thôn đột nhiên ngưng đọng, ngoại trừ tiếng chó tru phụ họa với âm thanh tù và lanh lảnh vọng dài theo thôn. Hai người đàn ông đứng phắt dậy lắng nghe đến dứt hồi thì Trương Hạo lẩm bẩm trong miệng, “Khoái mã.” Người đàn ông cúi xuống bế con Quế lên, chạy vụt vào trong nhà vừa lúc người vợ cũng đang từ sau vườn hốt hoảng chạy lại giằng lấy con bé ôm vào lòng, miệng lắp bắp, “Nam mô đức Thích Ca…, Nam mô…, Nam mô…,” mãi sau mới tiếp được lời cầu nguyện, “Nam mô Quán-thế-âm Bồ-tát cứu khổ cứu nạn!”

Trương Hạo vươn tay lấy cây giáo tre gác trên vách xuống, đưa mắt nhìn hai mẹ con ôm nhau sợ hãi trong góc nhà. “Bao nhiêu tai ách xin Bồ-tát Đại bi Quán-thế-âm dành hết cho chúng đệ tử tội lỗi được gánh chịu thay cho con bé xấu xí dại dột này, Nam mô! Nam mô!” giọng người đàn bà càng lúc càng khẩn thiết. Dù chung cảnh ngộ nhưng lúc này bà chỉ còn nghĩ đến cái hoạn nạn của đứa nhỏ. Con Quế xoay trở nhẹ nhàng trong lòng mẹ, tìm cách nới lỏng hai cánh tay đang vô tình xiết chặt lấy nó, mắt mở to ngơ ngác hết nhìn mẹ đến nhìn bố.

Khi Trương Hạo trở ra đến hiên thì đã thấy Tam Thất ôm bộ quần áo mới, tay cầm cây đòn sóc, lững thững bỏ đi vào giữa đám đông nhốn nháo chạy ngược chạy xuôi. Đòn sóc hai đầu nhọn bịt đồng dùng làm đòn gánh nhưng cũng có thể trở thành một cây sang khi cần. Lúc này đã có mấy chục người ngựa xuất hiện với đủ loại khí giới trong tay, lũ lượt ra tụ tập ở đầu thôn bắc. Cổng tre được hạ xuống, then cài cẩn thận.

Hốt nhiên tiếng tù và lại vang lên từng hồi, nhịp điệu khác nhau, không thúc bách như lần trước, và chỉ một thoáng thì chợt dứt. “Quân ta!” tiếng ai đó reo lên, mọi người cùng thở ra nhẹ nhõm.

“Hướng mã,” một ông lão chỉ tay vào một tráng niên đang ngồi trên lưng một con ngựa nâu trán đốm vàng, hô lớn. Tráng niên lập tức đưa tay lên gỡ miếng vải nhỏ thắt tóc buộc vào cổ giáo rồi hướng vào phía trong thôn, nằm ôm sát lưng ngựa, giáo kẹp nách trong tư thế sẵn sàng dẫn lộ.

Cổng thôn lại được dựng lên. Những ngày tốt trời như hôm nay, từ trên vọng canh, người ta có thể thấy được rõ ràng con đường khúc khuỷu nhiều dặm ngoằn nghoèo dọc theo sườn núi từ phía bắc dẫn đến thôn.

Lướt nhanh trên đường, một kỵ mã rạp người trên lưng ngựa, mũ chùm kín tai, nai nịt quần áo chẽn dạ hành đen dài đến gối, bên vai trái buộc một lá hiệu kỳ nhỏ của kỵ binh bắc biên trong quân Chiêu-văn vương Trần Nhật Duật. Cờ vải nền đen thêu rồng đỏ viền trắng bay phần phật trong gió.

Người kỵ mã còn cách rặng tre đầu thôn vài trăm truợng thì tráng niên hướng mã bên trong cổng đã bắt đầu thúc ngựa lồng lên. Mọi người giạt sang hai bên đường. Kỵ mã áo đen phóng ngựa qua cổng thôn, khi bắt kịp hướng mã thì hai ngựa cùng phi nhanh một nhịp, tiếng vó câu dồn dập tung bụi mù ra sau.

Ðến gần một ngôi đình sát bên chân núi ở cuối thôn, hai kỵ mã mới ghì cương chậm lại, rẽ quanh về hướng một căn nhà khang trang cách con đường chính khoảng bốn trăm thước. Ngựa chầm chậm vào trong sân rồi dừng lại. Một lão trượng tóc bạc vai khoác áo dài màu trắng, đai vải buộc hờ ngang lưng, đứng giữa hai người con ở tuổi trung niên đang đợi sẵn dưới hiên. Hai người vừa kịp hạ mã, chủ khách đã vội chắp tay cùng nhau thi lễ.

Cùng lúc, một điền phu chạy ra sân đón lấy giây cương từ tay người kỵ mã, hấp tấp dắt nó chạy nước kiệu về phía sau. Lúc này con ngựa đã đuối, hai mép sùi bọt trắng xoá, nếu không kịp thời chầm chậm dẫn chạy tiếp, nó có thể chết khi bị dừng lại đột ngột.

“Tại hạ Lương Tạ, thuộc hạ của tướng quân Lê Thạch,” kỵ sĩ tự giới thiệu.

Ông lão nhìn tráng niên hướng mã gật đầu. Người ấy hiểu ý, cung kính vái chào, dắt ngựa ra khỏi trang.

“Thì ra tráng sĩ ở trong quân Lê huynh đệ, xin mời,” lên tiếng nhưng không đợi trả lời, ông lão khoát tay, rồi nói nhỏ mấy tiếng vào tai một người con trước khi dẫn đường vào trong nhà, bước chân vững chãi không thua gì trai trẻ. Lương Tạ dáng điệu hết sức bồn chồn định vào chuyện ngay ngoài sân nhưng ông lão đã quay lưng nên đành phải tháo bỏ cờ hiệu trên vai cho vào bọc, rảo bước theo sau.

Ánh sáng trong nhà dịu hẳn so với bên ngoài. Sau khi mắt đã làm quen với căn phòng tranh tối tranh sáng, kỵ sĩ mới nhìn rõ được ánh lửa trong một lò đốt hình chữ nhật đào sâu vào lòng đất ở giữa phòng, chung quanh có thềm một bậc. Than hồng nổ lách tách, thỉnh thoảng lại bắn lên những đốm tàn tung toé.

Cả hai lại thêm một lần thi lễ trước khi cùng ngồi xuống thềm đối diện nhau ngang qua ngọn lửa bập bùng. Chưa ai kịp mở lời thì người nhà đã đem nước chè ra mời. “Quách lão tiền bối,” Lương Tạ đón nhận bát nước chè nhưng lễ độ đặt sang một bên, chắp tay thưa.

“Quách Nhật Thăng này ở chốn điền dã đã nhiều năm, lâu rồi không nghe ai gọi đến tên mình,” ông lão ngước nhìn lên không trung, bất giác thở dài.

“Đa tạ,” nói xong Lương Tạ bưng bát nước chè lên uống cạn một hơi rồi luồn tay vào bọc rút ra một cuộn giấy bản màu vàng, trao cho Quách Nhật Thăng, nói, “Nguyên quân từ Trùng-khánh, Côn-minh đã vượt qua vùng các bộ tộc Lô-lô và Bạch-y, vào địa giới nước ta. Vâng mệnh chạy trạm về trung quân tiện đường qua đây, Quy-hoá trại chủ đã nhân thể sai tại hạ kính chuyển thủ thư này lên Quách lão tiền bối.”

Trong khi người nhà tiếp thêm nước chè, vị lão trượng liếc nhìn bên ngoài cuộn giấy thấy hàng chữ thảo vội vã, nét thô cứng: “Kính gửi Quách đại huynh thân mến văn kỷ tiền huệ giám.” Thơ đề ngày mùng hai tháng mười một niên hiệu Đại Việt Trùng-hưng năm thứ ba. Ông đọc lướt qua rồi cất cuộn giấy vào trong ngực áo, nhìn Lương Tạ, chờ đợi.

“Lúc tại hạ rời Mù-cang-chải xuống đây thì được nghe thám mã báo cáo với Hà trại chủ là địch đang chuyển quân trong vùng thượng lưu sông Thao, có thể tiến xuống khu vực Tam-đại-giang bất cứ lúc nào, thanh thế mạnh lắm,” Lương Tạ thuật lại.

“Tình trạng Hà trại chủ ra làm sao?”

“Nghĩa quân Quy-hoá đã lẻ tẻ giáp chiến với du quân Nguyên trong vùng địa đầu bên hữu ngạn sông Thao. Cánh nghĩa quân ở mạn nam đã được lệnh vượt sông Ðà đón đầu các toán du quân khác của địch xâm nhập từ vùng biên giới cực tây. Trại chủ sai tại hạ trình miệng với Quách tiền bối là theo dự kiến của Chiêu-văn vương thì quân của tướng Ái-lỗ sẽ theo sông Hồng kéo thẳng xuống đồng bằng để hội binh với chủ lực quân của Trấn-nam vương Thoát Hoan trước khi vây đánh kinh thành. Vì thế, vương sẽ đánh cầm chừng để bảo toàn lực lượng và cũng để Hưng-đạo đại vương có thêm thì giờ chuẩn bị chiến trường ở dưới xuôi. Có điều, khác với cuộc tấn công mấy năm trước, lần này quân Nguyên cho du quân trải rộng hoạt động hai bên tả hữu đại quân của họ để thu thập tin tức tình báo, đồng thời loại trừ những ổ dân binh kháng cự địa phương với ý định cắt rời khả năng giao liên giữa các lực lượng của ta. Mặc dầu hầu hết dân chúng ở địa đầu đã tản mạn trốn tránh trước khi quân Nguyên kéo đến nhưng những ai không kịp thời chạy trốn đều hoặc bị giết dã man để reo rắc kinh hoàng, hoặc bị trưng tập làm lao công và dùng làm nhân mộc trước các mũi dùi tiến quân của họ.”

“A!” Quách Nhật Thăng thốt lời bất nhẫn.

Họ Hà là thổ hào miền thượng du, cha truyền con nối ở vùng Quy-hoá, lập nhiều chiến công chống ngoại xâm, hùng cứ một dải thượng du miền tây bắc. Đại Việt Nguyên-phong năm thứ bảy,*1d vua Trần Thái-tông thân chinh đốc chiến khi Ngột-lương-hợp-thai đánh vào Bình-lệ trên cánh đồng nam Bạch-hạc. Chủ trại Quy-hoá Hà Khuất đem dân quân hợp binh với tướng quân Lê Phụ Trần giúp nhà vua chống giặc. Người kế tục là Hà Bổng cũng có nhiều thành tích, được phong hầu.

“Sợ rằng các thôn bản hẻo lánh trong sâu cũng khó tránh khỏi những điều bất trắc do những cánh du quân gây ra, Hà trại chủ sai tại hạ trình với Quách tiền bối nhờ chuyển lời vấn an của ông đến Khúc phu nhân, đồng thời khuyên mẹ con bà nên về kinh, tạm thời nương tựa với tướng quân Lý Tất Kiến trong lúc hỗn quân hỗn quan này. Nếu được biết tôn ý của lão tiền bối và Khúc phu nhân; xong việc ở trung quân, tại hạ sẽ tìm gặp Lý tướng quân để báo trước.” Ngồi lâu thêm sốt ruột, Lương Tạ nói liền một mạch không ngừng. Tộc tướng nhà Lý là Hiếu-túc hầu Lý Tất Kiến được nhà Trần trọng dụng cùng với một số cựu thần đáng kể khác như thái phó Phùng Tá Chu và thái uý Phạm Kính Sơn.

“Khúc lão sư hiện đang dậy học, lát nữa lão sẽ nói lại với bà,” Quách Nhật Thăng trầm ngâm tư lự. “Chắc phu nhân cũng sẽ đồng ý với Hà trưởng lão vì chẳng còn lựa chọn nào khác.”

“Cảm ơn lão tiền bối. Khi tại hạ lên đường đến đây thì nghe nói lực lượng của Triệu tướng quân đang cầm cự với tả dực của quân Nguyên ở giữa lưu vực sông Thao và sông Lô. Một cánh quân trong những mũi nhọn của địch tiến vào vùng này là lực lượng quân tân phụ do tướng Lưu-vĩnh Tử-tài cầm đầu. Cánh quân này cố ý tránh giao chiến với cựu Tống binh của tướng quân Triệu Trung. Một thuộc cấp của họ tên Đàm Chí Kính cùng với người con nuôi râu rậm đã hướng dẫn đơn vị đầu tiên bỏ hàng ngũ về với ta.” Đến đây Lương Tạ chắp tay đứng lên, nói, “Tại hạ vội vàng hấp tấp, thật là vô lễ, xin chịu tội thất kính.”

Quách Nhật Thăng chợt nghĩ đến vị lão tướng khả kính bất phùng thời của nhà vong Tống. Nhớ lại lần đầu gặp gỡ khi Triệu Trung dẫn quân bản bộ vượt biên thuỳ sang Đại Việt tỵ nạn. Ông là người đưa họ Triệu đến với Chiêu văn vương. Ít lâu trước, nhân việc quân, Triệu Trung có ghé thăm kể lại cho ông nghe chuyện cựu Tống binh tham dự trận đánh giết Toa-đô ở Tây-kết tháng năm năm ất dậu.*1e  Mới gặp nhau đây mà thấm thoát đã vài năm, thời gian trôi nhanh khác nào bóng câu qua cửa.

“Việc quân khẩn cấp như nước lửa,” Quách Nhật Thăng nói, “lão phu không có duyên lưu khách lại rồi!”

Ông lão tiễn khách ra đến cửa, kỵ sĩ đã thấy điền phu dắt một con ngựa ô cao lớn khoẻ mạnh, bên lưng buộc sẵn những đồ cần thiết để đi đường và một cái chăn vải dầy vắt ngang yên. Lương Tạ quay nhìn Quách Nhật Thăng, hiểu ý, ông mỉm cười thân mật, “Lão phu đã già rồi, chỉ suốt ngày luẩn quẩn ở xó rừng không còn sức đi đây đó như lúc thiếu thời thì còn cần gì đến tuấn mã. Vả chăng, con ngựa của tráng sĩ cần thiết phải dưỡng sức ít ngày mới hồi phục, không thể dùng ngay được.

Tới sân, Quách Nhật Thăng đón giây cương trong tay điền phu trao cho Lương Tạ. Con ngựa nép sát vào bên mình chủ, ngửng cổ giật lùi về phía sau muốn giằng giây cương ra khỏi tay khách lạ. Quách Nhật Thăng vuốt ve trên đầu ngựa, giọng dỗ dành, “Ngoan nào.”

Lương Tạ thương ngựa như bản thân. Trên đường đến đây, nhiều lúc nghĩ đến con thuần mã của mình có thể gục ngã dọc đường bất cứ lúc nào vì quá sức thì trong lòng lại nóng nảy bồn chồn nhưng vẫn không dám dừng nghỉ chỉ vì sợ lỡ việc. Ở những khoảng cách đều nhau trên chính lộ dẫn thẳng về kinh đô đều có các trạm mã tiếp vụ để cung cấp chỗ nghỉ chân, tiếp liệu, kể cả thay đổi kỵ mã và hoán mã trong trường hợp cần thiết. Nhưng họ Lương đã phải rẽ vào sơn đạo tây nam, bỏ qua một số trạm trên chính lộ, để tạt vào Lữ-dạ. Bởi thế mà người ngựa bị kiệt quệ vì thiếu tiếp tế và dưỡng sức.

Từ lúc gặp Quách Nhật Thăng, chuyển thư, báo tin, không lúc nào họ Lương không băn khoăn về con ngựa của mình, về lộ trình sắp tới. Không ngờ Quách lão lại là người tinh tế, vừa gặp, ông đã thấy rõ tình cảnh người ngựa kiệt quệ nên lập tức dặn dò người nhà chuẩn bị sẵn con ngựa của chính ông làm hoán mã. Suốt đời bôn tẩu, thỉnh thoảng Lương Tạ may mắn được thấy ngựa quý như con ô mã này, nhưng chưa một lần thấy người ta cho nhau tuấn mã như vậy.

“Lên ngựa đi,” Quách Nhật Thăng ôn tồn nói. Lương Tạ vừa thót lên yên thì Quách lão đã vỗ nhẹ vào mông con ngựa, giục, “Ta lên đường thôi!”

Ra đến gần cổng ngõ Lương Tạ quay đầu ngựa, hướng nhìn vị trưởng lão bằng cặp mắt đầy cảm kích. Người thủ lãnh bao giờ chẳng đi đôi với con ngựa đầu đàn, Lương Tạ nghĩ. Con chiến mã giờ chợt đi chỉ còn người chiến sĩ già một mình ở lại. Họ Lương bùi ngùi kéo nhẹ giây cương. Con ngựa nhướng cặp mắt buồn cất vó lên cao, hí lên một tràng dài lanh lảnh rồi chuyển mình phóng đi.

Quách Nhật Thăng bần thần đứng nghe tiếng vó ngựa xa dần. Mái tóc và hàm râu bạc cùng với những ngọn tre xanh kẽo kẹt trên cao lất phất rung động trong gió. Quay mình lại, bắt gặp những khuôn mặt lo âu lặng lẽ chờ đợi, ông ra hiệu cho mọi người lại gần đứng vây quanh ông ngay giữa sân.

“Quân Nguyên vào quan ải,” Quách Nhật Thăng vắn tắt, “đã giáp chiến lẻ tẻ với quân ta ở biên tái. Lực lượng du quân của địch được tăng cường dàn rộng hai bên tả hữu chủ trương tàn phá làng mạc, tiêu diệt các ổ kháng cự của ta ở địa phương trước khi tiến sâu vào nội địa. Tiền quân có thể kéo xuống Tam-đại-giang chỉ nội trong vài ngày nếu họ lại đi theo con đường tương đối ít gập ghềnh bên hữu ngạn sông Thao. Đã từng qua thôn chúng ta một lần, quân Nguyên có thể trở lại thêm lần nữa. Nhưng du quân của họ có kéo đến đây ít ra cũng mất ba bốn ngày đường vì phải vượt qua những vùng núi non hiểm trở nhất là vào lúc mùa đông. Vì thế, chúng ta còn đủ thì giờ thu xếp di tản dân thôn.”

Quách Nhật Thăng dừng lời, thấy không ai nói gì, ông bèn sai người con thứ đem theo ba tráng đinh lên ngọn Thanh-sơn ở phía bắc cách thôn Lữ-dạ trên ba chục dặm. Từ vọng canh trên đỉnh cao này họ có thể quan sát rất xa, và khi cần nổi lửa hiệu thì thôn dân cũng dễ dàng nhìn thấy. Nếu vào giờ hợi mà địch quân vẫn chưa xuất hiện thì họ phải trở về thôn trước nửa đêm để nhận lệnh mới.

Bốn người vừa ra đi, ông giao cho người con trưởng nhiệm vụ giúp dân chúng chuẩn bị chạy loạn. Trong vòng hôm nay, lợn gà đều phải làm thịt, ướp muối. Lúa gạo đem theo hoặc chôn dấu được bao nhiêu hay bấy nhiêu; phần còn lại sẽ đốt hết. Trước hiên mỗi nhà phải để sẵn hai bó đuốc lớn tẩm dầu. Tất cả chỉ đem theo lương thực và quần áo cần thiết. Ngoại trừ một số trâu ngựa non đem theo để kéo xe và cưỡi, còn lại những con già và dê sẽ được buộc chung quanh nhà Trương Hạo. Chính tuất đêm nay, mọi người sẽ tề tựu dự lễ tại sân đình trước khi xuất hành…

Còn lại một mình, Quách Nhật Thăng âm thầm đếm bước bên cạnh những bực thềm vòng quanh lò sưởi. Than chỉ còn âm ỉ làm cho không khí thêm lạnh lẽo. Căn nhà này mới được dựng lại gần ba năm trước; mái rạ lớp đầu chưa kịp thay.

Bước qua ngưỡng cửa ra ngoài, Quách Nhật Thăng nhìn thấy hai bó đuốc to đã dựng sẵn bên hiên, ông chau mày nghĩ đến lúc chính tay mình sẽ châm lửa những bó đuốc này để đốt nhà khi quân Nguyên kéo đến. Mặt trời còn lơ lửng trên đầu ngọn tre, Nhật Thăng thở dài thả bộ vào thôn, buồn rầu nhìn những bóng người cuối cùng đang rời sân đình, hối hả trở về nhà chuẩn bị chạy loạn sau khi đã được thông báo tình hình biên giới căng thẳng.

Thần thành hoàng của thôn Lữ-dạ

Sau đó tác giả kể về lai lịch vị thần thành hoàng của thôn Lữ-dạ, nhuốm tính chất vừa thần thoại vừa nhân thoại. Tác giả kể lại rằng:

Thần thành hoàng của thôn Lữ-dạ là một nữ hiệp nhỏ tuổi, khuyết danh. Chuyện xảy ra từ trăm năm trước, vào năm Đại Việt Trinh-phù đời vua Cao-tông, triều đình nhà Lý đem người tôn thuộc gả cho thổ tù họ Lương ngoài biên trấn. Mùa xuân tháng ba, hai anh em họ Lương lên kinh đón dâu, khi về qua vùng này thì bị một bọn cướp chặn đánh. Sau gần một ngày đêm giao chiến số người bị giết đã lên đến quá nửa, họ phải vừa đánh vừa chạy vào chân núi cầm cự.

Người cầm đầu bọn cướp này là Ma Duy Sư sinh quán ở thượng nguồn sông Nậu, trước kia là tay chân của Mai-sơn động chủ Bạc Cố. Chuyên dùng thuốc độc và thủ đoạn tàn nhẫn, họ Ma âm mưu với người con thứ của Bạc Cố tìm cách giết động chủ. Âm mưu  hại chủ cướp quyền bị phát giác, họ Bạc đem con ra giết. Họ Ma bị trừng phạt nặng nề, một tay bị cắt rồi treo lên cây cho chết dần để răn chúng. Người ta đồn là Ma Duy Sư đã thừa lúc đêm tối, cùng bọn thủ túc dùng ma thuật trốn thoát được vào một vùng rừng thiêng nước độc. Từ đó, con cháu họ Bạc thỉnh thoảng có người bị đầu độc, hoặc có ai sơ hở lọt vào tay họ Ma đều bị hành hạ cực kỳ thảm khốc, muốn chết cũng không chết ngay được. Thổ tù họ Bạc tìm mọi cách săn bắt kẻ phản bội nhưng lần nào cũng trở về tay không.

Bạc Cố có đứa cháu gái tên là Bạc Nhược Thuỷ, người cha bị họ Ma đánh thuốc độc chết. Nhược Thuỷ lớn lên xinh đẹp nên có nhiều thanh niên gắm ghé nhưng cô thề rằng nếu Ma Duy Sư chưa bị giết thì cô nhất định không chịu lấy chồng. Gần đây, cô không may bị kẻ thù bắt, Ma Duy Sư vừa đe doạ vừa nài ép làm tiểu thiếp nhưng cô gái kiên quyết chống cự. Duy Sư giận lắm nhưng vì Nhược Thuỷ đẹp nên họ Ma còn do dự chưa muốn xuống tay hạ sát ngay, cố gắng nhẫn nhịn chờ đợi cầu may, biết đâu thời gian sẽ chẳng làm cô gái xiêu lòng.

Đám họ Lương bị vây hãm và tử chiến đến đêm thứ nhì thì lại có thêm nhiều người bị giết, không còn hy vọng gì nữa. Trong lúc đường cùng, bỗng dưng có cô gái khoảng mười bốn tuổi mặc áo vải Tiêu-cát cùng với hai con trâu và một con nghé xuất hiện. Cô đưa bọn người bị nạn chạy trốn vào một sơn cốc trong khi họ Ma bén gót theo sau. Nhưng bọn cướp phải dừng ngựa ngoài sơn khẩu. Tuy lực lượng đông mạnh nhưng họ không thể ồ ạt tấn công qua khe núi vì con đường mòn chật hẹp chạy giữa hai vách đá dốc ngược dẫn vào một vùng sơn cốc kín đáo chỉ vừa đủ cho hai người ngựa cùng lúc vượt qua. Trong khi đó, họ Lương đã kịp thời bố trí cung thủ ẩn nấp từ trong sơn cốc để ngăn chận lối vào. Cô gái lại có sẵn lương thực dồi dào nên mọi người được bồi dưỡng, bền tâm tử thủ.

Giằng co với nhau đến ngày thứ mười thì họ Ma không nhẫn nại được nữa. Không vào hang sao bắt được cọp. Nghĩ vậy, người thủ lĩnh sai thủ hạ làm mộc tre rồi dồn hết lực lượng xông thẳng vào khe núi. Đột nhiên, một con trâu lớn từ trong sơn cốc xông ra kéo theo sau những sợi dây dài buộc nhiều khúc gỗ đang cháy dở. Trâu chạy đến đâu, bọn cướp kẻ bị húc chết, đứa bị gỗ đập gãy tay chân, ngã nằm la liệt. Trong lúc tình trạng trên sơn khẩu bấn loạn, con trâu còn lại và con nghé lần lượt từ trong sơn cốc phóng ra. Anh em họ Lương cùng thuộc hạ nhân đó chạy theo đàn trâu mà đánh, cuối cùng giết được Ma Duy Sư.

Chuyện đến tai Mai-sơn động chủ, Bạc Cố đích thân đến gặp anh em họ Lương tại sơn khẩu, thương lượng được phép mang đầu Ma Duy Sư về động để tế những người đã bị giết. Sau đó, anh em họ Lương cùng Bạc Cố vào tận sào huyệt của bọn cướp đánh phá, cứu thoát những người còn sống sót. Họ Bạc đem Nhược Thuỷ gả cho người em của họ Lương là Lương Chuyết.

Sau cơn hoạn nạn, vợ chồng Lương Chuyết cùng với năm người nữa quyết định ở lại, lập thôn Lữ-dạ. Cô gái mặc áo Tiêu-cát dặn dò mọi người không được lai vãng vào sơn cốc, chỉ riêng một mình thủ lãnh được phép đi sâu vào vùng cấm địa này. Cô để lại hai con trâu, ngũ cốc và nhiều hạt giống đủ cho những người mới đến lập nghiệp, trước khi dắt con nghé đi vào khe núi, từ đó không xuất hiện lần nào nữa.

Tương truyền rằng trên mỗi bước chân cô đi vào sơn cốc, sau này, tự nhiên mọc lên một bụi hoa thục-quỳ. Người ta thờ người con gái làm bản thổ thành hoàng, tôn xưng cô là “Thục-quỳ Thánh nữ.” Mới đầu, miếu thờ chỉ là một mái gianh đơn sơ dựng bên tảng đá dưới gốc đa, bên trong có một bệ thờ đặt lư hương và một chữ “Thánh” treo ngay trên rễ cái của cây đại thụ. Đất Lữ-dạ đẹp và màu mỡ nên dần dần có thêm người đến lập nghiệp, dân thôn cất được ngôi đình gần ngay lối vào sơn khẩu, nơi xảy ra trận chiến với họ Ma ngày xưa để thờ Thánh cô. Chính điện có khám thờ trên đặt thần chủ, cờ quạt rực rỡ quanh giá binh khí, nhưng ngai của Thánh cô để trống không có tượng. Lương Chuyết và Nhược Thuỷ là hai thủ lãnh lập thôn nên sau khi mất được tôn thờ là hai vị tiên hiền ở một chái. ..

Trong đình lúc này có hai vị lão niên làm việc. Sau khi khệ nệ đem từ khí ra ngoài chính điện họ còn đang lúi húi bày biện hương hoa lễ vật trong ánh nến chập chờn. Ngai thờ thần thành hoàng đã được choàng lên một vuông vải Tiêu-cát, còn được gọi là Giao-chỉ-cát. Đó là một loại vải không bền nhưng có màu vàng nhạt rất đẹp mà Thánh cô trước đây đã mặc khi đến cứu bọn họ Lương nên từ đó được dùng trong việc thờ tự. Vuông vải Tiêu-cát trên ngai đã do bọn phụ nữ trong thôn luộc thân chuối tước lấy sơ mà dệt. Trong gian tá túc dành cho khách độ đường, Tam Thất và thằng Hồi thu mình ngồi bó gối ở một góc khuất, chong mắt nhìn vào bóng tối, lặng lẽ nghe tiếng mọt nghiến trong những gióng tre trên mái.    

Tối tối, thằng Hồi vẫn hay mò đến với Tam Thất, nhiều lần chỉ ngồi một lúc rồi lại bỏ về. Cũng đôi khi nó đem theo ngô nướng khoai lùi đến đây ăn đêm với nhau, nhưng thường thì chẳng có chuyện gì để nói.

Nhưng buổi tối hôm nay, Tam Thất và Hồi gặp nhau nơi ngôi đình này trong một tình hình phức tạp vì quân Nguyên đã vào quan ải. Hai người này, một già một trẻ như rất vô tư, đã kể chuyện của mình cho nhau nghe. Tác giả rất tinh tế trong câu chuyện của hai người, sống nơi thôn dã, chân thật và lòng nhân ái.

Đến đình, Quách Nhật Thăng vào thẳng chính điện, nhẹ bước sau lưng hai người bồi tế và hàng cột sơn son. Tạt sang mé phải đi về hướng gian tá túc ông đã thấy bộ áo dài hành lễ được gấp tư để sẵn trên ỷ trước bàn thờ tiên hiền. Cầm bộ áo lên, ông chợt nheo mắt nhìn sâu vào cuối gian. 

“Chuẩn bị xong chưa?” mãi mới mập mờ thấy Tam Thất còn ngồi giu giú trong một xó tối, ông hỏi.

“Tôi ở lại.”

“Sao vậy?” Quách Nhật Thăng tiến lại gần Tam Thất, hỏi.

“Trưởng lão không đi, tôi cũng không đi.”

“Sao biết là ta không đi?”

Không nghe trả lời, Quách Nhật Thăng lắc đầu ngao ngán. Tối nào từ ngoài thôn về đình Tam Thất chẳng đi qua sân nhà ông, có gọi mới dừng lại. Từ ngày bà cụ và người con gái mất, gia đình hai người con lớn đã lần lượt dọn ra, chỉ còn mình ông ở lại căn nhà rộng thênh thang. Có lần ông bảo Tam Thất về ở chung cho vui, nhưng người đàn ông này chỉ nói một tiếng “không” rồi bỏ đi. Tam Thất tính tình giản dị, đã định làm điều gì thì khó mà lay chuyển.

“Tôi nhờ chú giúp cho một việc,” nói xong, Quách Nhật Thăng cầm áo bước ra sân đình, đủng đỉnh đi lên con đường mòn dẫn đến sơn khẩu. Từ ngoài sơn khẩu, quãng đường mòn nhỏ hẹp dài không quá dăm trăm thước này nằm giữa hai vách đá dựng đứng trước khi mở rộng vào một vùng sơn cốc khuất nẻo chằng chịt toàn lùm cây bụi cỏ dầy đặc ở bên trong. Ông dừng lại chờ Tam Thất lại gần.

“Sơn cốc linh thiêng này chẳng những là nơi Thánh cô, vị linh thần cứu giúp chúng ta, xuất hiện mà còn là phúc địa đối với liệt tổ lập thôn,” Quách Nhật Thăng chậm rãi giải thích. “Địa thế bí hiểm rậm rạp ở đây có liên quan mật thiết tới vận mệnh thôn dân, cần phải bảo mật, vì thế không ai được ra vào, thôn ước chỉ cho người có trách nhiệm cầm đầu được phép xuất nhập.” Ông nhìn vào mắt Tam Thất, nhấn mạnh, “Hôm nay, thôn mình hữu sự, ai cũng có trách nhiệm như nhau, ra vào cấm địa không là điều cấm kỵ nữa mà còn là một bổn phận.” Quách trưởng lão nói xong, hai người sánh vai thong thả đi vào nơi đáng lý chỉ có một mình ông được phép đặt chân đến.

Đi hết con đường mòn, Quách Nhật Thăng và Tam Thất bắt đầu len lỏi giữa cây cành rậm rạp cao quá ngực. Họ tiếp tục tiến sâu vào trong thung lũng khoảng bảy dặm, tới chỗ hai bên vách đá cheo leo hàng trăm thước cùng lượn cong về hướng tây nam. Lưng chừng bên vách phải có dòng thác đã gần hết nước róc rách chảy xuống một con suối cạn. Từ ngoài đi vào, Tam Thất tưởng dải thung lũng hẹp này kéo dài bất tận; đứng ở khúc quanh, ông mới biết phần cuối sơn cốc và dòng suối cạn khuất ở bên trong đột nhiên bị cắt ngang và mất hút vào một vực sâu, xa chưa quá hai dặm trước mặt. Phía trong sơn cốc bị cây cỏ và vách đá dựng đứng che khuất đến nỗi nếu không đi sâu vào đến tận khúc quanh thì ông không thể nào hình dung ra được cái bờ vực thẳm ấy.

“Chỗ sơn cùng thuỷ tận này là tuyệt địa, không thể phục kích hay ẩn trốn được,” nhìn hai dãy vách đá liền lạc từ ngoài sơn khẩu song song chạy dài hai bên rìa sơn cốc lởm chởm cho đến tận mép bờ vực thẳm, Tam Thất nói.

“Và cũng chẳng có lối đào thoát nếu bị kẹt trong hẻm núi này và bị chặn ngoài sơn khẩu,” Quách Nhật Thăng thêm vào.

Tam Thất tần mần bẻ một cành thanh hao đưa lên ngang tầm mắt, hương thơm nhè nhẹ toả ra như mùi nhựa tùng bách, hết sức dễ chịu. Lá thanh-hao dài nhọn như lá thông, người ta bó lại làm chổi sể, hoặc dùng làm đóm làm bổi nhúm lửa nỏ chẳng thua gì sơ bẹ tàu cau khô. Tháng mười tháng một thời tiết vùng cao nguyên bắt đầu lạnh. Rừng núi ở đây ít mưa, thanh hao và cây cỏ đã hoàn toàn khô kiệt, trừ những bụi thục-quỳ vẫn còn trổ hoa xanh tươi ngoài sơn khẩu.

“Chú nhất định ở lại?”

“Quách đại lão có ý định này từ lúc nào?” Tam Thất hỏi thay vì trả lời ông lão.

“Mới đây. Vẫn còn là một dự kiến mơ hồ.”

“Một dự kiến mơ hồ vì một mình trưởng lão không thể làm nổi?”

“Có lẽ nó sẽ không còn là một dự kiến nữa mà là một tính toán,” Quách Nhật Thăng gật gù. “Từ thôn mình tới địa giới Phù-hoa đi nhanh lắm cũng mất mươi ngày đường. Nếu quân Nguyên đến đây sau thời gian đó thì mọi người đã tới nơi an toàn, ta không cần ngăn chặn. Nhược bằng họ kéo đến đây trong vòng mười ngày, chúng ta nhất thiết sẽ phải tìm mọi cách cầm chân họ lại. Chưa biết sớm muộn họ có đến hay không, mình vẫn phải chuẩn bị sẵn sàng đối phó. Chú hãy huy động trai tráng, trước khi họ rời thôn, chịu khó hạ cho ít cây khô lấy gỗ chất sẵn ở phía trong sơn khẩu cùng với rơm khô. Còn lại cành tươi cành khô cứ chất đống trước cửa nhà Trương Hạo, sau này có thể sẽ dùng đến.”

“Kế hoạch cầm chân địch của trưởng lão rất hay nhưng thiếu thực tế,” Tam Thất nói.

“Thiếu thực tế hay không, lão không nhớ là mình đã có lần nào bỏ cuộc?”

“Không, nhưng tôi chỉ lượng sức hai người mình liệu có làm nổi không?”

“Chúng ta đã chẳng từng làm những việc không thể kham nổi hay sao?” Quách Nhật Thăng đưa ra một câu hỏi khác để trả lời Tam Thất.

“Đã đến lúc sắp hành lễ ngoài đình, trưởng lão cho phép tôi đi gọi đám thiếu niên để khởi sự cắt cây khô, “Tam Thất nói. “Có lẽ chúng tôi không kịp dự lễ đâu.”

Trời đã xẩm tối, hai người rảo bước về gần đến đình mới chia tay. Nhật Thăng buồn bã thấy lác đác mấy người già cả bồng bế con cháu nheo nhóc, đã khăn gói quả mướp đứng ngồi ngoài sân. Ông vừa mặc áo tế vừa đi vào chính điện; thắp một nén hương trước ngai thành hoàng và một nén cắm vào lư trên bàn thờ tiên hiền, trước khi bước ra đứng sau lưng hai vị phó tế, chờ đợi dân chúng tề tựu.

Trong hoàn cảnh vội vã mà cả bàn thờ thần hoàng và tiên hiền đều đã được thu vén tươm tất. Ngày sinh hoá thành hoàng thì dọn cỗ chay còn lễ xuân thu nhị kỳ mới bày cỗ mặn. Nhưng đêm nay khoá lễ bất thường; lại nhân bất chợt có nhiều thịt thà nên bên cạnh cỗ chay xôi rượu còn có cả lễ tam sinh. Con trâu đen đủi bẩn thỉu nhưng chẳng những cày bừa hữu dụng, nhất là trong những cánh đồng lúa chiêm lầy lội, mà còn có công lớn đối với các vị tiên hiền nên dân thôn kiêng giết trâu ăn thịt hay tế thần, chỉ uống sữa và dùng phân. Vì thế lễ vật tam sinh ở đây cũng gồm có lợn, gà như lệ thường ở các nơi, riêng dê bị giết thay vì trâu.

Vì không có ngày sinh hoá của Thục-quỳ Thánh nữ, các bậc bô lão của thôn đã chọn ngày mùng mười tháng ba là ngày giỗ Quốc Tổ, trùng hợp với thời gian Thánh nữ xuất hiện vào mùa xuân năm xưa để làm ngày lễ tế vía thần hoàng. Hôm nay là ngày mùng bốn tháng mười nhưng vì biến cố bất ngờ, Quách Nhật Thăng đã phải phá lệ, quyết định cử lễ  bất thường vì không biết tình trạng giặc giã kéo dài bao lâu, chẳng hiểu sau này sẽ còn có dịp tụ họp đông đủ hay không. Trời đã về khuya, sắp hết canh một, Quách Nhật Thăng lên tiếng ra lệnh cử hành buổi lễ.

“Khởi chinh cổ!” vị lão niên đông tế đứng bên phải chính điện hô lớn.

Lời xướng chưa dứt, thằng Hồi trực sẵn ở một đầu hồi ngoài hiên lập tức xoay trần, phần trên cái áo xác xơ thả xuống đến thắt lưng phô bầy tấm thân lực lưỡng trần trụi đen bóng trong ánh đuốc. Nó khom lưng nhặt hai cái dùi trống gác trên giá, nín hơi, phùng mang trợn mắt vung tay giáng thẳng vào giữa mặt trống. Tang trống cái rộng đến nỗi mỗi mặt trống được đánh đai bằng cả bộ da trâu. Không bị vướng víu cản trở, tiếng đại cổ rung chuyển cả mái đình, chẳng bao lâu đã lôi cuốn thằng Hồi và mọi người vào cùng một nhịp âm ba chấn động. Mấy đứa bé trong lòng mẹ giật mình khóc thét. Một bầy quạ đen ngủ trên ngọn đa cũng hoảng hốt kêu inh ỏi, cất cánh bay về đầu thôn.

Ở đầu hồi bên kia, thằng Kỷ tay cầm cái dùi chiêng dài đầy những sợi sơ lởm chởm đâm ra tua tủa chung quanh, hình thù dị dạng không giống chày hay dùi trống mà thoáng nhìn thì y như một cái chổi lông gà cũ kỹ xác xơ. Trông bề ngoài cái dùi thô kệch nhưng công dụng bên trong của nó thì lại rất tế nhị nhu nhuyễn. Mỗi buổi lễ, thằng Kỷ phải cất công lựa một cây dứa dại thật già cắt lấy lõi rồi tự tay chuốt gọt, tỉ mỉ cắt tỉa từng nhánh, từng sợi, cẩn thận lựa chọn phần nào giữ lại phần nào bỏ đi thì khi gióng lên tiếng chiêng mới phát ra đúng âm hưởng mong muốn. Mặt mũi nó bây giờ đã hết sưng nhưng vẫn còn lại dấu vết bầm tím. Thằng Kỷ nhẹ nhàng vung dùi, những sợi sơ trên lõi dứa vuốt rất nhẹ bên vành chiêng trước khi gõ mạnh dùi trên mặt vú, âm thanh nghe kéo dài lê thê. Tiếng trống dứt khoát quyện vào tiếng chiêng bịn rịn tạo thành một chuỗi âm vang ray rứt huyền bí lạ thường.

Ánh đuốc le lói ngoài sân soi bóng hai thằng con trai khua chiêng gõ trống chập chờn nhảy múa trên vách đình cho đến khi những hồi chiêng trống bỗng nhiên dừng bặt, chúng nó cũng đồng thời đứng sững lại như hai pho tượng thiện ác hộ đình bất động dưới hiên.

“Củ soát lễ vật,” vị lão niên đông tế lại hô lên trong khi vị lão niên tây tế bước đến gần bàn thờ.

“Uế mao huyết,” đông tế xướng tiếp.

Lão niên tây tế cầm đôi đũa son, vạch tìm đồ uế tạp trên tế vật vô hình trong cái đĩa lớn trống không đặt trước ngai thờ.

Đến lúc này, Quách nhật Thăng còn bần thần vì những hồi chiêng. Tiếng chiêng khua ở đình là lễ nhạc bình thường làm cho người ta phấn khởi, ngược hẳn lại những hồi chiêng ngoài mặt trận chỉ được dùng làm hiệu lệnh thu quân. Ông bùi ngùi nghĩ đến và vô tình kết hợp tiếng chiêng rút lui ngoài mặt trận với thực trạng bi phẫn của thôn dân chạy giặc. Từ từ nâng tờ giấy bản lên ngang mặt, vị trưởng lão khải lễ, “Cung duy Thánh Tổ…,” giọng ông sang sảng đọc một bài văn tế ngắn gọn. Văn tế vừa đọc xong liền được hóa bởi một bồi tế.

Sau lời xướng “tam tuần tiến tửu” của vị đông tế, vị trưởng lão chắp tay tạ tội với Quốc Tổ, với Thánh cô và những thần linh phối hưởng vì đã phải tổ chức khoá lễ bất thường; rồi mới thay mặt dân chúng cầu nguyện chư thần cảm thông cầu ứng hộ quốc cứu dân.

Từ chính điện bước ra đứng dưới hàng hiên, Quách trưởng lão buồn bã nhìn cảnh tượng thôn quê vắng lặng đang chìm vào bóng tối nặng nề, ngoại trừ những bóng mờ của đám thanh niên và trâu bò kéo gỗ ngoài sơn khẩu và dân Lữ-dạ tập trung trước sân đình dưới ánh lửa lập lòe giữa màn đêm chẳng khác gì những bóng ma trơi chập chờn vào những khi trái gió giở giời. “Người phương Bắc lại xâm lấn nước ta,” ông dõng dạc lên tiếng.

“Sát Thát!” Tiếng hô xung trận vang dội từ đám đàn ông trai tráng phẫn khích. Trong số những người dân chất phác đang đứng sát cánh trước mặt ông, có người từng đem nhau ra đình tranh chấp để được dàn xếp, có người bị phạt vạ vì vi phạm lệ ước của thôn. Biết bao nhiêu chuyện xích mích cãi cọ xảy ra trong đời sống hàng ngày đã được mang đến đây cho ông và các bô lão phân xử. Bây giờ, trong cơn hoạn nạn, họ đang đồng lòng tập trung riêng ra một chỗ để bày tỏ ý muốn ở lại chiến đấu mặc dầu ông đã cho lệnh toàn thể thôn dân tản cư.

Quách Nhật Thăng lần lượt nhìn từng người để ghi nhớ những khuôn mặt đang ngước cao trước hiểm họa chung của đất nước. Hào khí bồng bột chợt dâng lên trong đôi mắt bừng sáng của vị thủ lĩnh lão tuế, ông mím chặt đôi môi, mỉm một nụ cười thê lương nhưng chan chứa niềm kiêu hãnh. “Sát Thát,” ông xúc động lẩm bẩm trong miệng, nho nhỏ lập lại lời tuyên hứa của mọi người.

“Đêm nay, chúng ta ăn với nhau một bữa thật no trước khi rời thôn,” Quách Nhật Thăng quay về hướng đám đàn ông trai tráng, dịu giọng, “tạm thời đến nương náu với Cầm đại lão ở Phù-hoa. Hành trình chắc nhiều gian khổ; đàn ông con trai có bổn phận bảo vệ mọi người sao cho đi đến nơi về đến chốn. Hết giặc, chúng ta lại trở về xum họp ở đây.”

Thái độ điềm tĩnh của Quách Nhật Thăng làm cho không khí bớt căng thẳng, gươm giáo hạ xuống. Dưới sự lãnh đạo của ông, mọi người một lòng. Dân Lữ-dạ có thể vi mệnh quan quyền, nhưng chưa từng có ai cưỡng lệnh Quách đại lão bao giờ. Họ đặt hết tin tưởng ở người thủ lãnh mặc dầu thôn dân biết rất ít về ông. Ngay cả những người lớn tuổi nhất ở đây cũng chỉ biết một cách mơ hồ về lai lịch của Quách Nhật Thăng là trong cuộc đời ngang dọc ông đã cùng Hà trưởng lão và Khúc đại lão tham chiến trong trận đánh với quân của Ngột-lương-hợp-thai ở đất Quy-hoá trong cuộc xâm lược đầu tiên của quân Mông-cổ. Sau chiến thắng vẻ vang ấy, nhân đi ngang qua Lữ-dạ, ông thích nơi này nên đã đem vợ con đến đây định cư.

6

Con ngựa cái già

Đại Việt, niên hiệu Trùng-hưng thứ ba

Ngày mùng tám tháng mười một năm đinh hợilà ngày 13 tháng mười hai dương lịch,1287

Từ đỉnh cao trên vách đá bên sơn khẩu, thằng Hồi chăm chú kiểm soát công việc lại lần chót. Mấy ngón tay nó vuốt nhẹ lên một thân cây khô vĩ đại đổ ngang với non nửa phần gốc nằm khuất trên mặt đất đá bên trong và già nửa phần ngọn chìa ra ngoài khoảng không. Một sợi dây chão lớn niềng ở gốc cây đổ được quấn quanh một tảng đá khổng lồ để kiềm giữ hết sức nặng của cây. Phần còn lại của chão không cần phải chịu đựng sức nặng nào khác bắt đầu được nối tiếp bằng từng đoạn thừng nhỏ dần cho đến cuối cùng thì chỉ còn là sợi gai, đuôi thắt vào đầu một cái que ngắn để làm lẫy. Thằng Hồi lấy một que dài hơn gài vào giữa chạc ba một thân cây nhỏ mọc sát mép vách đá và que lẫy. Cả que lẫy ngắn và que chặn dài gối tựa lên nhau để được giữ chặt lại ở chạc ba bởi mức căng thẳng của cuối đoạn dây thừng. Đuôi một cuộn dây gai khác được buộc vào đầu cái que dài, phần còn lại thòng xuống miệng một hang đá ngay trên lối vào sơn khẩu. Thằng Hồi đã tốn gần nửa ngày để buộc chặt lại nhiều xúc gỗ khô và những bó rơm lớn vào gốc cây đổ chênh vênh trên mép vách đá, thu xếp sao cho có vẻ tự nhiên khi nhìn lên từ bên dưới. Cái công trình nó gia sức sắp xếp bây giờ đã hoàn tất, có điều cái bẫy người này bội phần lớn hơn tất cả những bẫy mãnh thú mà nó đã làm và rất phức tạp. Dĩ nhiên là quá phức tạp đối với nó vì nó rành rẽ tất cả các loại mồi hấp dẫn để bắt thú nhưng tuyệt nhiên không biết gì về thứ mồi nào dùng để bẫy người.

Thực ra, công việc chuẩn bị phức tạp này đã được nó vội vã làm xong từ mấy ngày trước; bữa nay, thằng Hồi chỉ dành thì giờ kiểm điểm và bổ khuyết. Xong việc, nó bốc một nắm đất khô, mãn nguyện xoa vào hai tay, từ từ trèo xuống. Tụt xuống vách đá dựng đứng phẳng lì tương đối khá gay cấn. Trước hết, nó phải thả từng chân vào khoảng không, mò mẫm tìm một kẽ hở dọc, một mẩu đá nhỏ phình ngang, hay bất cứ chỗ nào không đến nỗi quá trơn tuột trên mặt đá đen như mun để có thể đặt chân. Trên đường leo xuống, có nhiều lúc nó phải bám víu trên những mấu đá to lắm cũng chỉ bằng nửa quả trứng gà con so hay cố nhét mấy ngón chân vào những khe nứt vô hình trên vách. Một lần tuột chân, chỉ còn lại tay phải bấu vào một mép đá nhỏ để chịu đựng cả sức nặng của thân thể. Nó thở hổn hển, tay dò dẫm trên mặt đá rêu, tìm được một cái kẽ nhỏ vừa đủ lọt mấy ngón tay bên trái vào. Nó xoay xở vừa níu được một chỗ bám khuất mắt nhỏ bằng cái mấu đòn gánh thì mẩu đá bên tay phải lở ra. Thằng Hồi đã cẩn thận đóng khố để tránh bị vướng cản và cố ép sát người vào vách đá nhưng gió vẫn vặn vẹo thân hình nó lủng lẳng đong đưa trong không gian như cuống lá dính vào mạng nhện, suýt nữa thì rụng xuống.

Chân vừa đụng đất, thằng Hồi đã chúi mũi vào quan sát sợi dây gai từ đầu que chặn trên chạc ba thả xuống, điều chỉnh đoạn này, che lấp khúc kia, cẩn thận dùng cả miệng lẫn tay để thắt nút lại cuối phần dây trong hang. Cặm cụi chuyên chú vào công việc đến nỗi Quách Nhật Thăng đứng sát sau lưng lên tiếng hỏi mà nó vẫn không nghe thấy gì. Xong đâu đấy, nó mới quay lại nhìn ông lão.

“Con mệt lắm hả?” bây giờ Quách Nhật Thăng mới thở ra nhẹ nhõm.

“Chưa ăn thua gì, ông, hôm kéo gỗ lên cao mới là mệt nhất.”

“Chỉ có mày với trâu là làm nổi. Mày mệt một, nom thấy mày hì hục kéo gỗ, leo trèo như con thạch sùng trên vách, ông rụng rời cả tay chân, mệt gấp hai. Ngồi nghỉ một chút đi con, ăn điếu thuốc cho nó tỉnh,” nói xong Quách Nhật Thăng đưa cho thằng Hồi cái điếu cày đã có thuốc nhét sẵn trong nõ làm nó lúng túng.

Từ bé nó chỉ biết điếu đóm người lớn, chưa từng được săn sóc trịnh trọng như thế này, nhất là người chăm sóc nó lại là Quách đại trưởng lão. Nó bàng hoàng im lặng cho đến khi ông già dúi cái đóm lửa thanh hao vào tận tay, nó mới ngập ngừng đưa cái điếu lên miệng kéo một hơi dài rồi đê mê ngả người dựa lưng lên vách đá, khoan khoái nghĩ đến mình đã được vị trưởng lão ví như trâu. Hãnh diện không phải về việc so sánh sức lực mà vì nó thích trâu. Ở đây ai mà chẳng thích trâu?

Quách Nhật Thăng và thằng Hồi hút xong thuốc lào thì mặt trời đã quá ngọ. Hai ông cháu đứng dậy, vươn vai uốn éo cho giãn gân giãn cốt, cùng đưa mắt nhìn dọc theo con đường mòn vừa được khai phá giữa những bụi rậm chằng chịt, nối liền với con đường mòn sẵn có từ ngoài khe núi, chạy sâu vào quá chỗ hai vách đá lượn cong trong sơn cốc. Những bụi cây khô phạt sát gốc được dọn dẹp quang đãng sang bên, thoạt trông không thể biết là quãng đường mòn này mới mở thêm.

Quách lão ngước nhìn lên, ngoại trừ phần ngọn của thân cây đổ chìa ra ngoài khoảng không trên đỉnh cao, ông thấy cảnh sắc hai bên vách đá dựng đứng thẳng tuột trông vẫn như mọi ngày, không có gì thay đổi.

“Chỉ có một sợi gai mỏng mảnh buộc vào cái que nhỏ bằng đầu đũa mà có thể treo giữ được những xúc gỗ cùng với rơm rạ nặng cả mấy vạn cân,” Quách Nhật Thăng tấm tắc khen lấy khen để. “Tài tình thật!”

“Sợi dây gai ấy chỉ buộc hờ vào cái que dài để chặn cái que lẫy ở chạc ba thân cây. Mục đích của cái que lẫy là kìm giữ cho sợi dây chão thật căng kẻo bị tuột ra khỏi tảng đá. Còn sợi chão thì ghìm chặt cái cây chết vào tảng đá. Chính tảng đá phải chịu hết sức nặng của thân cây đổ,” thằng Hồi chỉ lên cái cây khô trên đỉnh cao, giải thích. “Khi con giật dây kéo cái que chặn để nhả que lẫy thì sợi chão sẽ lơi ra khỏi tảng đá. Không còn gì kìềm giữ nữa, phần ngọn thân câykhô nặng hơn nên sẽ chúi xuống đè phần giữa của thân cây trên điểm tựa ở mép vách đá nên phần gốc bị bẩy lên. Mất cân bằng, cả thân cây khô từ trên đỉnh cao lập tức đổ xuống khe núi kéo theo sau những rơm bổi và gỗ khô ràng sẵn ở gốc.”

“Ông đã được cho biết trước mày dấu rơm dấu gỗ ở đâu, thế mà cố tìm mãi cũng vẫn không nhìn thấy gì.”

“Ông có thấy dây giật bẫy bây giờ con dấu ở đâu không?” thằng Hồi hãnh diện cười.

“Ông thấy lúc mày thả nó xuống, tuyệt nhiên bây giờ chẳng thấy dấu vết gì nữa,” Quách Nhật Thăng chép miệng. “Lợn lòi còn bị mày lừa huống gì là người!”

Sau đó, như một nghệ thuật kể chuyện đã thấy ở các chương trước, chuyện đang đi tới hồi kết thúc, thì tác giả kể sang một chuyện mang cảm tính, làm cho chuyện dịu bớt phần khô khan. Ở đây là chuyện Hồi đi săn lợn lòi. Theo tác giả, đi săn lợn lòi có hai cách: một là bằng giáo và hai là bằng bẫy, cách này là để bắt sống con thú. Giết lợn lòi bằng giáo nguy hiểm, đòi hỏi phải có sức khoẻ, nhanh nhẹn, can đảm, kinh nghiệm và quyền biến. Nhưng bắt sống giống thú linh lợi thính mũi thính tai này cũng không kém phần nguy hiểm.

Vậy mà, với thằng Hồi bao giờ cũng là đứa trội nhất trong thôn, chẳng chịu nhường ai.

Sau chuyện săn lợn lòi, tác giả kể đến chuyện thằng Sửu. Trong lúc một số dân ở thôn Lữ-dạ cất nhà và treo bảng Vu Quy cho nó và cái Diệp thì nó lên Cổ độ để mua sắm mấy món cho cô dâu. Trong lúc đó, thằng Hồi đã làm xong cái bẫy người ở khe núi. Quách Nhật Thăng và Hồi vừa lên đó kiểm tra lại và xuống núi thì,

Thằng Hồi bỗng kéo giật tay áo Quách Nhật Thăng. Con ngựa cái của vợ chồng Trương Hạo đang từ đầu thôn phóng đến, qua chỗ hai người đứng nó vẫn chạy tiếp tới phía lũy tre. “Ông đã dặn buộc kỹ gia súc lại, có lẽ chú Tam thả nó ra chăng?” Quách trưởng lão ngạc nhiên, hỏi.

“Ai hơi đâu mà thả, chắc là nó tuột dây đấy.”

“Hay là có chuyện gì xảy ra ở trên ấy?”

“Nếu có chuyện gì xảy ra thì mình đã nghe thấy, hoặc là chú Tam có thể cưỡi một con ngựa khoẻ hơn chạy đến đây báo tin.”

“Có lẽ thấy người quen đang đến nó mới lồng lên như thế,” Quách Nhật Thăng đoán già đoán non.

“Nó có nhìn thấy gì đâu, ông không nhớ à?”

“Thì nó đánh hơi.”

“Ngược gió mà ông,” thằng Hồi cãi.

“Ừ nhỉ, ông quên mất.” Quách Nhật Thăng dừng lại, mắt nhắm nghiền, lẩm bẩm, “Không nhìn được thì nhờ đến tai đến mũi. Tai mũi cũng kém nốt thì chỉ còn dựa vào linh tính hay trực giác. Trực giác nhiều khi bén nhậy hơn cả ngũ quan.” Mở mắt ra, ông thấy thằng Hồi đã chạy đến sát rặng tre, đang vạch lá nhìn ra ngoài.     

Quách Nhật Thăng chậm rãi đến đứng tựa người vào con ngựa cho ấm, đưa tay lên vuốt bờm. Thằng Hồi ăn mặc phong phanh hở cả bộ ngực cháy nắng; còn ông thì trùm bên ngoài một cái áo vải dầy dài đến gối mà vẫn thấy lành lạnh.

“Có người đang đi bộ đến ông ơi,” thằng Hồi nói khẽ.

“Mấy người?”

“Con mới chỉ thấy có một.”

“Ai đấy?”

“Bóng người ấy còn ở tít tận đằng xa, con nhận không ra.”

Con Hoa Mơ dậm chân bồn chồn rúc đầu vào đám rào tre ở chỗ trước đây là cửa nam, loay hoay tìm lối chui ra. Quách Nhật Thăng choàng tay ôm lấy cổ con ngựa nhẹ nhàng kéo lại, vừa lấy tay áo thấm những vết trầy xước rướm máu trên cái mõm bị gai tre cào vừa nói chuyện với nó. “Ông đã mắt mờ chân chậm không làm nên trò trống gì,” vuốt ve trên sống mũi con ngựa, ông cảm khái chép miệng, “xem chừng mày còn tệ hơn cả cái lão nhược này.” Ông đã già đủ để thấy rằng mình từng có một thời son trẻ.

“Để con thả nó ra đón thử xem là ai, ông nhá?”

“Ừ.”

Thằng Hồi trở vào, ngồi lặng yên bên Quách Nhật Thăng, chờ đợi. Sốt ruột, tìm cách đốt thì giờ, hai ông cháu lại mỗi người đốt thêm một điếu thuốc lào. Nhớ lại một lần mẹ nó sai sang nhà con Thắm vay giật ít cà bát muối tương, nó bắt gặp con bé đang nằm võng ngủ trưa. Trong mơ màng lâng lâng khói thuốc, tiếng tre pheo kẽo kẹt trong gió làm thằng Hồi liên tưởng đến tiếng võng ngày ấy sau hè nhà con Thắm. Một cảm giác bâng khuâng ngơ ngẩn nảy sinh trong lòng, buồn không ra buồn, vui chẳng ra vui, nó mơ tưởng sẽ có một ngày được nghe tiếng hát của người mẹ ru con trên võng.

Dù đang say thuốc lào, Thằng Hồi vẫn nhận ngay ra tiếng chân con Hoa Mơ. Vỡ mộng, nó chán nản uể oải đứng dậy dụi mắt nhìn con ngựa cái già đã về đến ngoài rặng tre. Tưởng là đã hoàn toàn vô dụng, thế mà chỉ cần thằng Hồi dẫn qua cái khe đá kín đáo bí mật bên sơn khẩu có một lần, khi trở lại nó đã dễ dàng lần mò theo lối cũ vào thôn, trên lưng còn chở theo thằng Sửu.

Quách Nhật Thăng và thằng Hồi lên đến sân đình trước, chờ đợi con ngựa đang tiến lại gần. Thằng Sửu tay lao tay dây thừng, hai mắt láo liên, thấy người quen mới hoàn hồn định xuống ngựa nhưng Quách lão thấy nó tóc tai khô cháy mặt mũi tiều tuỵ rũ rượi, người tọp hẳn đi, liền đưa tay cản lại, hỏi nó có bị thương không. Nó lắc đầu nói chỉ bị đói. Ông đỡ lấy cây lao, bảo nó cứ ngồi yên trên ngựa. Thằng Hồi móc lưng lấy một miếng chè lam chỉ nhỉnh hơn hai đầu ngón tay một chút gói trong lá chuối khô đưa cho thằng Sửu rồi thò tay dắt con Hoa Mơ, cùng với Quách trưởng lão đi về đầu thôn.

Chè lam làm bằng bỏng nếp trộn mật ngoài phủ một lớp bột tẻ cho đỡ dính nhưng nếu cẩu thả ăn vội vẫn rất dễ bị sặc sụa khổ sở. Thằng Sửu đói nhưng chỉ dám cắn từng miếng nhỏ nhai trệu trạo rồi nuốt trửng. Nuốt được vài miếng đã hơi hồi sức, nó bắt đầu thều thào kể chuyện.

Từ Cổ-độ, thằng Sửu định ngược đường sông Thao rồi tắt ngang về Lữ-dạ, nhưng chưa đến ngã ba Bạch-hạc thì đã gặp từng đoàn người từ mạn ngược chạy dồn xuống. Người ta nói rằng chiến trận đã diễn ra ở tây bắc biên cương; rằng đại quân Nguyên dọc theo hữu ngạn sông Thao kéo đến đánh với hàng vạn quân của Chiêu-văn vương ở cửa Mộc-ngột. Nó tiếp tục đi lên phía bắc nhưng càng lúc người tản cư càng đông, lẫn lộn có cả thương vong. Tin tức chiến sự dồn dập lan nhanh xuống vùng châu thổ như lửa bén, cùng với những lời xì xào về căn cứ tác chiến tiền phương của kỵ binh phương bắc trong quân Chiêu-văn vương ở Mộc-ngột đã tháo lui, làm cho thằng Sửu càng thêm lo lắng, nó phải rẽ xéo lên đường nhỏ hướng tây bắc đi về ngả bắc Phù-hoa trước khi xoay phải để về thôn.

Đi quá nửa ngày đường; thằng Sửu đến một dòng suối nông chảy giữa cánh đồng cỏ không một bóng cây, ở phía xa trước mặt mới có khu rừng rậm. Nó lựa một chỗ thoải mái giữa đám lau sậy ngồi nghỉ, giở cơm nắm muối vừng ra. Chưa ăn được miếng nào thì một toán tiền thám Mông-cổ xuất hiện từ trên hướng đông bắc. Ở bên một dải đất hẹp lưa thưa lau sậy giữa cánh đồng cỏ trống vắng không có chỗ lẩn trốn, thằng Sửu chỉ kịp bẻ vội một cọng sậy dài nhảy xuống suối, tìm được chỗ sâu nhất cũng chỉ già hai thước, ngâm mình chờ đợi. Khi nghe tiếng vó ngựa lại gần, nó ngậm cọng sậy rỗng lặn xuống nước.

Toán quân Nguyên dừng lại bên suối khá lâu trước khi quyết định xuống ngựa nghỉ ngơi. Thằng Sửu nghe đồn người Mông-cổ không tắm rửa, cũng không giặt rũ, nhưng nhỡ ra có một người sạch sẽ xuống suối rửa chân tay cũng có thể phát hiện ra nó. Thằng Sửu cầu nguyện Thánh cô biến hoá làm sao cho những điều nó nghe kể là đúng, là những người Mông-cổ thực sự ở bẩn.

Sau bữa ăn, quân lính tản mác chia nhau đi vào bụi rậm. Một người lính Mông đến ven suối phóng uế, ngồi gần chỗ thằng Sửu trốn đến nỗi qua dòng nước chảy, ánh sáng khúc xạ khuếch đại hình ảnh một cái mông đít Mông-cổ khổng lồ che khuất mất cả nửa bầu trời trong sáng phía trên. Thằng Sửu nhắm mắt lại, những tiếng lõm tõm và tiếng nước tiểu róc rách chảy tong tỏng xuống mặt nước chẳng làm cho nó khó chịu tí nào, bởi vì nó cũng đang bĩnh ra quần vì sợ.

May quá, người Mông-cổ ở bẩn thật, họ chỉ chùi lá hoặc đánh chịn chứ không có ai chịu xuống suối rửa đít. Đột nhiên, đội quân binh hô hoán nhảy lên mình ngựa, hùng hổ phóng đi. Nghe vó ngựa đã xa, thằng Sửu mới trồi lên mặt nước. Bịt mũi ngậm ống sậy thở dưới nước khá lâu, vừa lên khỏi mặt nước nó đã há miệng hít mạnh một luồng không khí tươi mát vào trong phổi. Nghểnh cổ lên cao, nó nhìn thấy đội kỵ binh ráo riết đuổi theo sau lưng ba người đang hối hả phóng ngựa chạy trốn vào bìa rừng.

Toán quân Nguyên và ba người chạy trốn đã khuất dạng từ lâu, thằng Sửu mới dám bò lên bờ. Lúc nãy sợ quá không cảm được, bây giờ quân Mông-cổ đã đi xa, nó mới thấy lạnh. Lạnh từ trong xương lạnh ra, cả người nó run bần bật, hai bàn tay tê dại. Trời này mà tự nhiên bảo nhảy xuống nước thì sống sao nổi, không ngờ gặp lúc hoạn nạn sức chịu đựng của nó lại bền bỉ dẻo dai đến thế.

Hành trang mất sạch chỉ còn lại cây lao cặp nách, thằng Sửu cắm đầu cắm cổ chạy thẳng một mạch. Mệt đứt hơi nhưng nó đỡ run; những ngón tay dần dà bớt cóng đã có thể nhúc nhích co mở. Đến gần bìa rừng, nó nhặt được một cái khăn chít tóc màu nâu nâu, trên có thêu chữ gì nó không biết, tiện tay nó quấn lên cổ cho ấm. Vừa kể chuyện thằng Sửu vừa cởi khăn đưa cho Quách Nhật Thăng xem. Ông liếc qua, bảo đó là chữ “Liễu Quán,” có lẽ là pháp danh của một vị nữ tu, rồi trả lại cho nó.

Bụng trống trên đường dài, thằng Sửu tiếp tục câu chuyện không bỏ sót một chi tiết nào. Nó chạy mãi cho đến lúc sao Hôm mọc ở hướng tây sau khi mặt trời lặn mới định hướng để tiếp tục đi lên hướng bắc thì không còn sức chạy hay đi nhanh nữa, chỉ lê từng bước trên hai gót chân nặng như cối đá. Nhiều lúc buồn ngủ trĩu cả mắt, nó phải vỗ nước lạnh vào mặt và nghĩ đến con Diệp để giữ cho tỉnh táo mà đi; đói cồn đói cào mà cũng không dám tạt vào rừng kiếm đồ ăn.

Nếu không bị ngâm mình trong nước lạnh thì nó có thể nhịn ăn dai hơn nhiều. Dọc đường đi, nó chỉ vỏn vẹn vồ được một con bọ ngựa và một con nhái bén, ăn sống với lá rừng. Giống nhái bén tinh hơn ma, chưa thấy bóng người đã nhảy trốn mất dạng. Không hiểu tại sao trong lúc yếu đuối tay chân vụng về như thế mà nó vẫn có thể vồ được một chú. Có lẽ con nhái này mù, nó tự nhủ. Dù sao, nhờ con bọ ngựa và con nhái mù nó mới có tí sức nhưng vẫn phải chật vật mất hai ngày mới lê được về tới thôn.

Đến trước cửa nhà Trương Hạo, Quách Nhật Thăng ra giếng múc nước cho gia súc. Đường mòn thằng Sửu rẽ ngang về thôn chỉ là một trong nhiều lối tắt. Những điều ông lo nghĩ đã được nó vô tình xác nhận trong lúc kể chuyện. Du quân Nguyên từ dưới lưu vực sông Thao có thể tiến lên sơn đạo bằng nhiều đường ngang khác nhau, dù ông có ngăn được chúng ở Lữ-dạ thì cũng chỉ giữ được một lối. Đành chịu vậy thôi! Nghĩ đến đây, ông vuốt hàm râu bạc ngửa mặt nhìn lên những cụm mây nổi như áo trắng, buông tiếng thở dài thầm nghĩ đến nỗi buồn của mình cũng mênh mang như vòm trời u ám bất tận.

Thằng Sửu xuống ngựa, quỳ một gối dưới đất, cầm chân trái của con Hoa Mơ đặt lên đùi, ngắm nghía. Con ngựa bị rắn hổ lửa cắn hơn tháng trước, chân sưng lên bằng cái cột nhà, tưởng không thể cứu được, thế mà nó chịu khó mỗi ngày đến rịt và thay thuốc gia truyền một lần, đủ hai mươi mốt ngày thì hết sưng tấy. Thấy vết thương đã lành lặn, nó đứng lên vỗ vai con Hoa Mơ, khen, “Đẹp gái rồi cô.” Nói rồi nó bước theo thằng Hồi vào thẳng trong bếp lục đồ ăn. Chỉ giây lát sau, mấy niêu cơm nguội, thịt lợn kho và rau diếp đã được thằng Hồi bày trên mặt đất. Ngồi trước bếp tro còn ấm, thằng Sửu cầm bát cơm đưa lên mũi hít một hơi dài. Lâu rồi nó không được ngửi mùi thịt mỡ. Vừa và được miếng cơm, nó sực nhớ ra một chuyện, ngừng đũa quay nhìn thằng Hồi. “Mọi người đâu cả rồi?” nó hỏi.

“Họ đi rồi. Mấy hôm nay có nhiều thịt lắm, anh cứ ăn vã đi cho bõ những ngày cơ cực, hết rồi em sẽ lại lấy thêm,” thằng Hồi giục.

“Đợi một tí. Chị Diệp cũng đi rồi à?” thằng Sửu xua tay, hỏi tiếp.

“Chị ấy đòi ở lại đợi anh nhưng người ta ép chị và bà cụ phải đi.”

“Lâu chưa?”

“Rồi,” thằng Hồi chậm chạp đếm từng đầu ngón tay, “ba bốn ngày gì đó.”

“Sao mày không đi?”

“Ông bắt mọi người phải đi nhưng em trốn ở lại hậu đình.”

“Thế ông không đuổi mày đi à?”

“Có nhưng muộn rồi.”

“Mày ở lại làm gì”

“Giúp chú Tam. Anh cứ ăn đi rồi hẵng nói chuyện.”

“Chú Tam cũng ở lại à? Còn ai nữa không?” thằng Hồi chưa kịp trả lời, thằng Sửu nghĩ ngợi một chút rồi hỏi thêm, “Tại sao phải ở lại?”

“Không, chỉ có ba người,” thằng Hồi bậm môi nhăn trán cố nhớ lại những điều nó đã nghe nói. “Chú Tam bảo rằng mọi người xuống Phù-hoa lánh nạn. Đường đi từ đây đến đó mất mươi ngày. Nếu bọn giặc đến đây sớm thì mình phải tìm cách cản lại. Vì thế, chú Tam với em làm giậu che lấp cổng phía nam.”

“Chặn chỗ này chúng nó phá chỗ khác lấy đường mà đi, ăn thua gì.”

“Rào cổng nam không phải là để chặn đường mà để lùa chúng nó vào sơn cốc.”

“Lùa vào đấy để làm gì?”

“Em không biết,” thằng Hồi lắc đầu. “Bây giờ chỉ còn một con đường từ thôn mình lên thẳng sơn cốc, ông dặn em trốn trong hang ngoài sơn khẩu, khi nào thấy chúng nó đuổi theo ông và chú Tam vào lọt hết trong sơn cốc thì giật dây cho rơm gỗ rơi xuống chặn lối ra rồi nổi lửa đốt. Sau đó thì chạy về Phù-hoa trước, còn ông và chú Tam sẽ đi theo một lối mòn bí ẩn khác đến sau. Thôi, ăn đi anh.” Thằng Sửu bưng bát cơm lên, và một miếng to vào miệng.

“Anh còn ghét em không?” thằng Hồi cho thêm rơm vào bếp lửa, hỏi.

“Tao ghét mày bao giờ?” nuốt trôi miếng cơm, thằng Sửu mới ngạc nhiên hỏi lại.

“Thế là anh không ghét em chứ gì?”

“Ghét mày để làm cái gì? thằng Sửu nổi cáu.

“Thật à?”

Thằng Sửu không thèm trả lời nữa, tiếp tục ngấu nghiến ăn. Quách Nhật Thăng từ bên ngoài gọi thằng Hồi ra bảo nó lên chòi canh thay thế cho Tam Thất xuống nghỉ. Một lát sau, Tam Thất đi theo Quách trưởng lão vào bếp, thằng Sửu vội đứng lên. Con gà mái, vợ Hạo không nỡ làm thịt, cũng dẫn đàn con vào “cúc, cúc,” xin ăn. Tam Thất phải múc một đấu thóc đầy rải ra trước sân cho mẹ con nó.

“Bớt mệt chưa con?” Quách Nhật Thăng kéo vai thằng Sửu cùng ngồi xuống, hỏi.

“Cảm ơn trưởng lão, con khoẻ hẳn ra ông ạ. Thịt kho ngon lắm.”

“Ừ, cái Hạo nó ngoan quá,” ông lão chép miệng thở dài. “Tội nghiệp, trước khi vội vã ra đi nó đã chịu khó nấu nướng để lại cho ông cháu mình mà còn thắng mỡ lợn để cho mọi người dùng trong khi chạy loạn. Con nhớ gói thật nhiều mang theo ăn đường. Đợi chiều hãy đi cho mát.”

“Đi đâu ông?”

“Đi xuống Phù-hoa lo cho con vợ mày chứ còn đi đâu nữa,” Quách Nhật Thăng nhẹ nhàng gắt. “Mình đàn bà con trẻ nhiều hơn đàn ông, mày đến đấy chắc họ mừng lắm.”

“Đằng nào họ cũng đã đi xa, con ở lại giúp ông dử chúng nó vào trong sơn cốc rồi theo ông với chú Tam đi sau cũng được,” nó nói thế mà thực sự trong đầu muốn đi nhưng vì cảm thấy có cái gì đó sâu kín ở trong lòng bảo nó nên ở lại.

“Không cần thiết,” Quách Nhật Thăng cau mặt, quở mắng. Chỉ sau một thoáng ngạc nhiên ông biết ngay là thằng Hồi đã trống miệng bép xép.

“Những cánh quân lẻ tẻ của chúng nó đi đến đâu ít ra cũng dăm bảy chục đứa, chính mắt con thấy. Những người tản cư cũng bảo thế,” thằng Sửu nói, mặt lộ vẻ cương quyết. “Thêm một tay kể ra bên mình vẫn còn hơi lép vế.”

“Chưa chắc chúng nó sẽ kéo đến đây,” Quách Nhật Thăng lại lắc đầu, “mình chưa biết.”

“Chú Tam, con muốn ở lại với chú,” không dám cãi vị trưởng lão, nó quay sang cầu cứu với Tam Thất.

Tam Thất bưng bát chè tươi lên húp, chờ Quách Nhật Thăng hút xong điếu thuốc lào mới lên tiếng dọ ý, “Hay là trưởng lão cho nó ở lại với thằng Hồi? Nổi lửa xong, anh em nó sẽ cùng nhau xuống Phù-hoa cho có bạn.”

Quách Nhật Thăng đăm chiêu tư lự; ông thong thả đứng dậy đi ra ngoài.

“Trưởng lão không nói gì là đã ngụ ý bằng lòng rồi đấy,” không thấy ông lão lắc đầu, Tam Thất nói.

“Cảm ơn chú Tam,” Sửu nói. “Chú có nghĩ là chúng nó sẽ kéo qua đây không?”

“Có dân ở thì mới có đường. Có dân có đường chúng nó tất kéo đến,” Tam Thất gật đầu. “Nghe nói kỳ này chúng nó kéo sang đông lắm, đường dài tới đâu cũng đủ quân rải rộng đến đó. Thằng Hồi sẽ phải làm gì khi bọn Thát-đát kéo đến, chắc nó đã nói hết cho mày nghe rồi chứ gì?”

“Nó có nói qua với cháu.”

“Mấy ngày trước chỉ có hai người, ông và tao lúng túng bắt tay vào việc mà không vững bụng tý nào cho đến khi tìm ra thằng Hồi trốn lại như mày đã biết. Không đuổi nó đi được; ông bèn trao cho nó toàn là những công việc nặng nhọc quá với sức của hai người chúng tao. Quả nhiên, nó đã lo liệu những việc trưởng lão giao phó đâu ra đấy. Chẳng những thế nó sẽ còn thay thế tao nổi lửa ngoài sơn khẩu để tao có thể tiếp tay với trưởng lão trong sơn cốc. Nếu không có nó thì tao với trưởng lão chưa chắc đã làm được phần nửa công việc mong muốn,” Tam Thất nói. Ông lấy chéo khăn lau mặt, bình thản nhìn ra lũ gà con no nê đang chí choé đuổi nhau dưới những cành cây dài mới chặt còn sum suê lá được buộc túm vào với nhau thành từng bó lớn ở ngoài cửa. “Tình trạng sắp tới sẽ cực kỳ hung hiểm, nó có thừa gan dạ nhưng tính khí còn hiếu thắng lắm, cần có một người chín chắn như mày ở bên cạnh.Tao và trưởng lão đều muốn mày đi Phù-hoa ngay nhưng bây giờ có mày tự ý nán lại làm tao yên tâm được hơn một chút.”

Chúng tôi đã muốn chấm một chấm cuối bài số 6 này, sau khi nhân vật Sửu kể chuyện xảy ra dọc đường mà Sửu đã gặp. Thế nhưng, nhà văn Đỗ Đình Duyệt đã kể chuyện hay và cảm động quá, từ con ngựa Hoa Mơ của nhà vợ chồng Trương Hạo, các nhân vật Tam Thất, Hồi rồi Sửu và Quách Nhật Thăng v.v…Mỗi người một khuôn mặt, một ngôn ngữ, một tính cách, một lối xử sự trong giao tiếp, chuyện trò, trao đổi. Sau khi Sửu kể chuyện, tác giả Đỗ Đình Duyệt còn kể tiếp việc Hồi và Sửu chiến đấu với quân Nguyên trên khe núi. Nhưng, kế hoạch mà Hồi đã chuẩn bị trước đó đã thất bại. Tuy nhiên, Hồi cũng thắng, giết dược hai tên lính Mông Cổ, mặc dù người cậu mang thương tích nặng nề. Đoạn cuối của Chương 6 này, Đỗ Đình Duyệt tạo được những bâng khuâng, ưu phiền về hai nhân vật Sửu và Hồi, đồng thời ông kể chuyện về lòng trung thành, linh tính nơi con ngựa cái già của vợ chồng Trương Hạo.

Xin quý vị đọc tiếp:

Sửu vừa đứng lên ra tới ngưỡng cửa bếp đã thấy thằng Hồi đang hớt hải leo xuống chòi canh, nó liền quay ngoắt lại vẫy gọi Tam Thất. Hai chú cháu vội vàng cùng nhau chạy ra đứng cạnh Quách Nhật Thăng.

“Chúng nó tới,” thằng Hồi hét lên. Chân vừa chạm đất nó đã vội chạy như bay lại bên ba người, thở dốc.

“Con dắt trâu bò và sáu con ngựa ở sau vườn ra đây cho ông.” Sai thằng Sửu xong, ông lão điềm đạm hỏi thằng Hồi, “Họ đến quãng nào rồi con?”

“Chỗ khúc quanh sau ngọn Thanh-sơn.”         

“Bao nhiêu người?”

“Đông lắm.”

“Đông lắm là mươi, mười lăm đứa chứ gì?” Quách trưởng lão thân mật đặt một tay lên vai thằng Hồi, mỉm cười gợi ý.

“Hơn ông ạ,” thằng Hồi cúi đầu nhìn xuống đất, lại nhẩm tính trên đầu ngón tay, “bốn chục. Có thể năm là đằng khác.”

“Không cần vội, ta có đủ thì giờ. Con lại chịu khó lên chòi canh lần nữa,” Quách Nhật Thăng ôn tồn nói. “Bao giờ họ từ quãng đường khuất trong eo núi đi ra đến khúc quanh gần mỏm Xuyên-sơn giáp thì nói cho ông biết.” Gọi như vậy vì trên đỉnh Xuyên-sơn giáp có tảng đá hình thù giống như một con xuyên-sơn thử rất lớn, cách đầu thôn chỉ chừng bảy dặm, đứng dưới đất ngoài cửa bắc nhìn ra cũng thấy rõ.

Cắt đặt xong, Quách Nhật Thăng đi lại cùng với Tam Thất buộc những chùm cành cây vào cổ từng con thú thằng Sửu dắt từ vườn sau ra. Khi nó dẫn con Hoa mơ lại thì không còn chùm cành cây nào nữa.

“Đủ rồi,” Quách lão lắc đầu. “Con khỉ già này chạy chậm lắm, mình không cần dùng đến nó.” Ông lão chỉ cho thằng Sửu hai bó đuốc trước cửa nhà Trương Hạo, nói tiếp, “Nhà nào cũng có đuốc tẩm dầu dựng sẵn dưới hiên như thế. Khi nào ông dẫn ngựa đi thì con cưỡi con Hoa Mơ cũng bắt đầu chạy vào thôn đốt từng nhà, bắt đầu từ lò rèn nhà lão Khẩn cho đến cuối cùng là nhà ông, trừ đình. Còn nhà Trương Hạo thì để mặc chú Tam lo.”

Quách Nhật Thăng ngừng lại một lần nữa xem thằng Sửu đã hiểu rõ những điều ông dặn dò hay chưa. Thấy nó không tỏ ý ngạc nhiên, chỉ buồn rầu nghe lệnh, ông bảo nó, “Sau khi đốt nhà ông, con dẫn con ngựa già này thả nó ra ngoài rặng tre. Nhớ bẻ vài cái cành chặn lối kẻo nó quay trở lại. Sau đó, con vào hang đá ở sơn khẩu với em Hồi.”

Thằng Sửu vẫn yên lặng. Vài năm trước, nó chứng kiến Trương Hạo và bố thằng Hồi làm cái việc đốt nhà trước khi chạy vào rừng. Năm nay đến lượt nó. Không biết đến đời con nó sau này có còn phải tiếp tục làm nhà để đốt đi nữa hay không?

Không nghe Quách trưởng lão nói gì thêm, thằng Sửu lững thững bỏ vào bếp. Trước hết, nó nắm vội mấy nắm cơm thịt kho, bọc chặt bỏ vào ngực áo. Tìm quanh, nó múc một rá thóc đầy đem đổ ra ngoài giậu cho bầy gà con, miệng lầm bầm, “Chúng mày có bị hoá kiếp cũng được no nê, không đến nỗi thành ma đói ma khát!”

“Sửu,” Tam Thất gọi giật giọng.

Thằng Sửu quay ra, thấy thằng Hồi đã tụt xuống chòi đang đứng ngoài cổng, tay che ngang tầm mắt nhìn về hướng ngọn Xuyên-sơn thì biết là đã sắp sửa đến lúc hành động, nó vội chạy tới giúp Tam Thất tháo dây buộc ngựa và trâu bò. Quách Nhật Thăng cầm hai bó đuốc vào trong bếp châm lửa đem ra trao cho nó và Tam Thất mỗi người một cái. Nó đón lấy đuốc, đến bên con Hoa Mơ, tháo lỏng sợi dây buộc cổ cầm sẵn trong tay.

Đứng bên Tam Thất, Quách Nhật Thăng nhìn thằng Sửu nhắc nhở, “Sau khi phóng hoả ngoài sơn khẩu, hai đứa các con lập tức rời thôn đi thẳng xuống Phù-hoa.”

“Dạ,” thằng Sửu trả lời. Hai lòng bàn tay toát mồ hôi. Nó luồn một tay vào trong áo, cấu thật mạnh trên đùi non nhưng chỉ thấy hơi nhoi nhói. Có thể vì sợ mà không cảm thấy đau nhiều cũng như hôm nọ vì sợ mà không cảm thấy quá lạnh. Nó tự thẹn không giữ được bình tĩnh như hai người lớn tuổi. Cường địch ở ngoài thôn, chỉ cách nhau trong gang tấc, nhưng họ vẫn điềm nhiên chuyện trò giống như đang bàn về vụ mùa sang năm hay dự tính lợp lại mái đình. Đến như thằng Hồi còn nhỏ hơn nó mấy tuổi mà mặt mũi nhởn nhơ bất cụ như thể sắp tham dự vào một cuộc săn lợn lòi hào hứng. Không kể con Hoa Mơ nghiêng đầu vểnh tai tỏ vẻ bứt rứt, những con vật khác cũng tỏ ra bình thản. Ngay cả mẹ con con gà vẫn chăm chỉ mổ lúa như thường nhật. Chỉ có một mình nó đang phải chống cự với sự sợ hãi của mình.

“Ai mà chẳng ham sống, tao cũng sờ sợ,” thấy dáng điệu thằng Sửu bồn chồn, Tam Thất tiến lại gần thân mật vỗ lưng nó, nói.

“Cháu tưởng chú không sợ,” thằng Sửu lúng túng ngượng ngập.

“Bề ngoài ấy mà,” Tam Thất hất hàm tặc lưỡi.

“Trải qua nhiều cuộc chiến, ai trong chúng ta chẳng đã từng nếm mùi sợ hãi. Con người ta đã biết sống thì cũng phải biết sợ,” Quách Nhật Thăng ở ngoài xa, vuốt râu chen vào. “Không sợ, không có mục đích, nhắm mắt xông bừa vào chốn nguy hiểm thì chỉ là hành động liều lĩnh dại dột thiếu khôn ngoan, không phải là lòng can đảm. Gặp chuyện bất bình, cố gắng gạt sang một bên cái sợ hãi nguy hiểm thiệt thòi cho bản thân, sẵn sàng vào sống ra chết, đó mới là cái dũng cảm đích thực của con người. Chúng ta không thể tránh được cái chết nhưng chúng ta có thể khắc phục được cái sợ chết.” Quách trưởng lão đi lại gần, cầm lấy tay thằng Sửu, nói tiếp, “Thằng Hồi ngỗ nghịch trốn ông ở lại, còn mày thì cãi ông không chịu đi. Chúng mày ngang ngạnh thật, nhưng cũng chả trách được bởi vì chúng mày mang cái quyết tâm mà nhiều người khác không có, làm cho ông nhớ lại thời niên thiếu của mình. Ông hãnh diện là một trưởng lão của các con.”

“Ông ơi,” thằng Hồi từ ngoài cổng chạy vào, lớn tiếng, “chúng nó đến mỏm Xuyên-sơn giáp rồi. Hơn năm chục đứa cả thẩy.”

Quách Nhật Thăng vẫy thằng Hồi lại gần, giang tay ôm nó vào lòng. Khi ông buông tay ra, nó đứng sững nước mắt chảy dài xuống má. Ông lão tuổi già mắt kém nhưng gân cốt vẫn còn linh hoạt như trai trẻ, nhẹ nhàng nhún mình nhảy lên lưng ngựa, ra roi. Tam Thất cung tay thành quyền, hướng theo sau lưng ông, hô lớn, “Quách đại lão lên đường.” Thằng Sửu nách cặp lao, tay cầm đuốc, chân kẹp chặt vào bụng con Hoa Mơ, phóng vào trong thôn.

Đợi cho đàn trâu ngựa do Quách Nhật Thăng dẫn đầu chạy quá nửa đoạn đường, và từng cột khói đen đã bốc lên cao từ những căn nhà thằng Sửu đốt cháy ở đầu thôn, Tam Thất mới ra hiệu cho thằng Hồi quăng đuốc lửa lên mái gianh nhà Trương Hạo. Sau đó, hai người hò hét thúc dục bầy gia súc còn lại chạy theo Quách trưởng lão, kéo lê những bó cành cây trên đường đất khô, bốc lên cát bụi mịt mù. Đàn dê thấy trâu ngựa tế lên cũng tự động chạy theo không cần phải lùa.

Hai chú cháu Tam Thất chạy đến khúc rẽ vào hướng đình thì có hai kỵ binh tiền thám của đội quân Mông-cổ xuất hiện, dừng lại ở cổng phía bắc. Họ dõi mắt theo con đường trong thôn dài hơn bốn dặm trước mặt, thấy rõ hai nông dân tay chỉ cầm roi tre đang cuống quýt lùa đuổi đàn dê chạy trốn. Khuất sau khúc quanh, cát bụi của một bầy gia súc khác chạy đằng trước bốc lên cao. Dọc theo con đường về hướng nam có dòng suối chảy xiết quanh co dưới lòng thung lũng rồi lượn vòng về bên phải nơi những cột khói đen đang cuồn cuộn lan nhanh từ những căn nhà cháy dở.      

Hai người hậu kỵ Mông-cổ lộ vẻ phẫn nộ. Trên đường tiến quân, những nơi dân chúng kịp đốt nhà trước khi di tản, họ đã không giết chóc cướp đoạt lương thực của cải được nhiều. Quan sát kỹ địa hình, họ yên tâm không thấy địa điểm nào có thể phục binh cho một cuộc tấn công chớp nhoáng. Những con dê cuối cùng đã chạy khuất sau khúc quanh mà vẫn còn nghe được những tiếng kêu “be be” không dứt. Hai người lính tiền thám phất cờ ra hiệu cho đội quân đằng sau tiến tới rồi giục ngựa dẫn đường đuổi sâu vào trong thôn.

Ngựa chiến phi rất nhanh, thoáng chốc đã đến khúc quanh trước sân đình dẫn vào sơn khẩu. Hai người lính tiền thám lúc này đã thấy rõ bầy gia súc trước mặt đang giành đường chạy thục mạng trên sơn đạo. Đuổi đến gần khúc rẽ trong sơn cốc, họ sắp bắt kịp đàn dê thì đội chiến binh Mông-cổ ở phía sau đã nối đuôi nhau hàng hai vượt qua sơn khẩu.

Nấp trong hang đá, Sửu và Hồi nhìn thấy Quách Nhật Thăng rồi Tam Thất theo sau dẫn hai bầy gia súc chạy qua sơn khẩu. “Có lẽ trưởng lão và chú Tam tự làm mồi để dẫn dụ kỵ binh Mông-cổ đuổi theo vào thung lũng không chừng,” thằng Hồi hỏi. “Có lẽ vậy, ai mà biết,” thằng Sửu lắc đầu. Hai đứa thấp thỏm chờ đợi thêm một lúc cho những người lính Nguyên cuối cùng lọt hẳn vào trong sơn cốc thằng Hồi mới ra tay. Sợi dây nhả lẫy vừa được giật, cả thân cây khô nặng nề nằm vắt vẻo ngang mép vách đá trên cao lập tức kẽo kẹt chuyển động, chậm chạp ngả nghiêng, nhưng chỉ có ít mảnh vụn gỗ đá rơi xuống sơn khẩu được một chút thì ngừng cả lại. Im lặng, cái im lặng căng thẳng bao trùm cả một vùng rừng núi. Thằng Hồi thu xếp một đằng, chuyện lại xảy ra một nẻo. Quá tự tin, nó không hề bận tâm lo nghĩ đến hậu quả này.

“Có lẽ mày cẩu thả không gài chặt bẫy, hay là sợi dây chão kiềm gốc cây bị kẹt vào kẽ đá?” thằng Sửu thì thầm trong hơi thở dồn dập.

“Không,” thằng Hồi thốt ngay ra một câu trả lời dứt khoát, nhưng mặt mày nó tái mét ướt đẫm mồ hôi. Nó đã xem xét cẩn thận nhiều lần sáng nay trước khi leo xuống. “Có lẽ mấy hôm nay nắng quá, phần gốc nằm sát đất dưới bóng mát của bụi rậm nên vẫn còn nặng vì ẩm trong khi phần ngọn bị hong khô ngoài không khí nhẹ bớt đi, không nặng đủ như mấy hôm trước để nhấc bổng phần gốc lên như đã tính.”

“Mày có chắc không?”

“Sao lại không chắc?” Câu hỏi của thằng Sửu làm cho nó bị chạm tự ái. Nổi cáu, thằng Hồi chỉ tay lên phần chĩa ra không khí của thân cây đổ, giọng quả quyết,“Nếu bị kẹt, sợi chão bị căng thẳng, thân cây chỉ có thể bị gió đu đưa ngang trên không chứ không thể rập rình lên xuống như thế được. Thằng này đã tự tay làm thì kẹt dây thế cóc nào được.” Nó vênh mặt hít mạnh một hơi qua kẽ răng, chép miệng, “Có lẽ phần bên ngoài chỉ cần nặng thêm nửa cân nữa cũng đủ ngả xuống.”  

“Còn có cách gì gỡ gạc được nữa không?” thằng Sửu sợ quá co rúm người lại một góc, miệng lắp bắp hỏi.

“Chỉ có cách làm lại từ đầu, nhưng bây giờ thì đã quá muộn,” thằng Hồi mím môi nói, hai tay vặn chéo vào nhau buồn bã.

Niềm hy vọng tan vỡ, hai đứa còn đang bần thần chưa có chủ ý gì thì chợt nghe tiếng vó ngựa. Lát sau có năm kỵ binh Mông-cổ từ phía trong thôn phóng ngựa xuyên qua vầng cát bụi của một cơn lốc xoáy vừa nổi lên giữa sân đình, rồi đột ngột dừng ngựa ngoài sơn khẩu. Toán kỵ binh chậm chân này xuất hiện ngoài dự liệu của anh em thằng Sửu. Cái cây khô chuyển động trên cao dường như không đúng chỗ làm cho họ phải đề phòng khi phát giác ra tình trạng bất thường. Nghi ngờ, người trưởng toán bắn lên một mũi tên hiệu báo động cho đồng đội bên trong thung lũng.

“Thế là công cốc, hết gỡ,” thằng Hồi cằn nhằn. “Xui thật.”

“Tao đã biết từ lâu rồi.”

“Làm sao anh biết trước được?”

“Tại tao lỡ ra ngõ gặp gái buổi sáng sớm hôm rời Cổ-độ.”

Thằng Sửu và thằng Hồi cố xua đuổi sự lo lắng trong lòng về hậu quả của cái vụ xui xẻo thằng Sửu gặp ở Cổ-độ nhưng rồi cũng phải quẳng gánh lo đi vì băn khoăn cách mấy thì sớm muộn cái gì phải đến vẫn sẽ đến, đằng nào chả tệ. Chúng nó tiu nghỉu đưa mắt nhìn nhau chán nản buồn rầu, chuẩn bị đón nhận những điều tồi tệ hơn. Mọi toan tính của Quách đại lão đều xuôi chảy cho đến lúc quyết định này thì chỉ vì nặng nhẹ chênh lệch nhau có một vài cân của cái cây đổ phải gió ấy mà trong một thoáng sắp tan thành mây khói. Chúng nó lại càng thêm tuyệt vọng, sợ hãi mặt mày như chàm đổ khi nghe âm thanh vó ngựa và chiến bào phần phật của kỵ binh đang từ trong sơn cốc phóng ngược trở ra vì tiếng tên hiệu báo động. Tiếng hò hét của lính Mông-cổ mỗi lúc mỗi lớn, không còn nghi ngờ gì nữa, việc gì phải đến với chúng nó đã đang đến.

“Bọn Mông-cổ thấy thân cây ngả trên cao lay động nên nghi ngờ nhưng khó có thể phát hiện được chỗ tụi mình trú ẩn. Nhưng nếu bọn mình ngồi im bất động thì số phận Quách đại lão và chú Tam sẽ ra sao?” thằng Hồi còn đang băn khoăn chưa biết tính sao thì thằng Sửu bỗng ghé tai nó thì thào bàn tán. Cuối cùng hai đứa quyết định cùng nhau dùng cung nỏ bắn ra. Hai kỵ binh trong toán mới đến ngoài sơn khẩu bị trúng tiễn thương ngã xuống. Ba đồng đội còn lại vội hô hoán giật cương lùi ngựa ra xa.

Lúc này hơn chục kỵ binh Mông-cổ trong thung lũng đã tiến gần đến phía trong sơn khẩu. Tung tích đã bại lộ, anh em thằng Sửu không còn uý kỵ gì nữa, châm tên lửa bắn vào bụi khô cố chặn đầu họ lại. Gió dấy lên từng cơn mỗi lúc thêm mạnh nhưng những mũi tên lửa không bén nhanh được vào cây cỏ, chỉ làm cho toán kỵ binh Mông-cổ phải dừng ngựa để lượng sát tình hình. Không bao lâu, nhìn số tên bay ra, họ đã phỏng định được số người mai phục trong hang không nhiều.

Sau khi tiếp tục quan sát kỹ lưỡng vách đá hai bên, không tìm ra thêm một hang động nào khác, người chỉ huy nhận thấy địa thế này không thể thực hiện được một cuộc phục kích quy mô của quân đội hay dân binh nhưng vẫn thận trọng ra lệnh cho binh sĩ dừng lại ở ngoài tầm tên rồi mới phái bốn người xuống ngựa, bỏ lại đao thương chỉ đem theo lợi khí ngắn gọn tìm cách bò lên hang đá để cận chiến. Bốn chiến binh Mông-cổ sinh trưởng ở sa mạc và núi đá, rất quen thuộc với loại địa hình địa vật như thế này. Không phí thì giờ, họ thoăn thoắt trèo lên chân vách đá, tiến dần về phía cửa hang.

Cung của người Mông-cổ tuy lợi hại nhưng từ dưới bắn lên miệng hang chênh chếch, tên không thể lọt thẳng vào trong, tuy vậy họ vẫn phát xạ cầm chừng để yểm hộ an toàn cho toán đột kích leo lên.

Từ trong hang muốn thấy tình hình bên ngoài, hai đứa phải thay phiên nhau thò đầu ra khỏi mép đá quan sát. Vừa ngấp nghé, thằng Sửu đã bị một mũi tên từ dưới bắn lên cắt một đường dài trên da đầu. Không có thuốc trị thương, nó vội móc hết thuốc lào dịt lên, lấy khăn chit tóc buộc túm lại. Tuy chỉ là vết thương ngoài da nhưng thằng Sửu cảm thấy trong người rét run, nó phải mím chặt miệng lại để hai hàm răng khỏi đập vào nhau.

Đến lúc này, biết chắc là những người ẩn nấp trong hang đá không thể thò đầu ra bắn xuống được nữa, viên đội trưởng mới sai lính vừa bắn lên cầm chừng vừa đi rập tắt những đám lửa nhỏ chưa kịp bùng lớn.

Mắc kẹt, thằng Hồi buông cung tên vớ lấy cây giáo, mắt trừng trừng ngó xiên ra khoảng trống hẹp ngoài cửa hang. Những giọt nắng cuối ngày còn lần lữa đọng mãi trên mũi nhọn phiến đá bên kia vách núi gây cho nó cảm tưởng như đang phải chờ đợi một thời gian đằng đẵng trong khi những mũi tên thù vẫn lẻ tẻ từ dưới bay lên. Chỉ cần một thập phu đội kỵ binh Mông-cổ cũng đã thừa đủ dồn hai đứa vào đường cùng nói gì đến cả đội quân đang đuổi theo trưởng lão và chú Tam trước sau rồi cũng sẽ kéo ra.

Trong lúc đầu óc căng thẳng, thằng Hồi chợt nổi gai ốc khi nghe tiếng sỏi đá rơi lách cách chạm vào vách và cửa hang nảy tưng lên. Có lẽ địch đã đến gần, nó ôm giáo nín thở tiếp tục lắng nghe. Bất thần một cảm giác cực kỳ thống khoái tràn ngập không gian và tâm hồn nó. Đôi mắt rực sáng, bây giờ nó biết là chuyện gì đang xảy ra khi sỏi đá liên tục rơi xuống cùng với tiếng lính Mông la hét náo loạn bên dưới. 

“Rơi xuống, rơi xuống mau lên đi chứ,” thằng Hồi thở phào nhẹ nhõm, nghiêng đầu ra ngoài ngước nhìn sang hai bên. Từ lưng chừng trời, thân cây khô lớn trên đỉnh vách đá đang nặng nề rơi xuống kéo theo hàng loạt những xúc gỗ và những bó rơm khô tẩm dầu thạch não du, đổ ập chồng chất trên sơn đạo nhỏ hẹp giữa hai bên vách đá ở sơn khẩu. Đám gỗ đá vỡ vụn lấp hết lối ra vào thung lũng, đè nghiến lên một ít binh lính đứng gần, âm thanh vang dội như sét nổ ngang tai, rung chuyển đất trời. Cả một vùng núi rừng rộng lớn chung quanh chấn động.

“Hạnh Thánh cô! Hạnh Thánh cô uy vũ hiển linh hộ trợ!” thằng Hồi cầu khẩn. Nó ngẫu nhiên bắt chước giọng Quách Nhật Thăng mỗi khi đọc văn tế ở đình. Không cưỡng lại được niềm hứng khởi, nó phá ra một trận cười ngạo nghễ. “Hăng lên đi anh, tình thế đâu đến nỗi tệ như mình tưởng,” nó huých khuỷu tay vào mạn sườn thằng Sửu, giục. Hai đứa buông giáo và lao vớ lấy cung, châm tên lửa bắn xuống.

Rơm tẩm dầu bắt lửa bùng lên, bén từ bó này qua bó khác. Gió trở hướng đông bắc từ ngoài thốc vào khe núi hẹp chẳng khác nào gió luồng trong cái bễ lò rèn, quạt lửa lan nhanh sang bụi rậm. Cỏ cây khô nỏ bốc cháy nổ ròn như những tràng pháo. Lửa càng cháy to gió lùa càng mạnh, chỉ trong khoảnh khắc, từ sơn khẩu đến khúc quanh trong sơn cốc đã chìm vào biển lửa. Đất đai nứt nẻ, tro khói ngùn ngụt bốc lên mù mịt cháy sém cả hai bên vách đá xám xịt.

“Chạy, chạy mau!” thằng Hồi gào lên. Thằng Sửu vùng dậy liền bị nó kéo giật xuống, hỏi, “Anh đi đâu đấy?”

“Mày đã chẳng vừa rú lên là ‘chạy mau’ hay sao?” bị một vố ngạc nhiên, thằng Sửu cau có.

“Ơ hay, em có bảo anh chạy đâu.”

“Chỉ có hai thằng mình ở đây, mày không bảo tao thì còn giục đứa nào nữa.”

“Em đang nghĩ đến ông và chú Tam,” thằng Hồi nói, ánh mắt buồn lẫn vào trong biển lửa.

“Ừ, phải rồi. Có lẽ ông và chú Tam ra ngõ không gặp gái nên đã chạy thoát.”

“Đã đành.”

“Đã đành,” thằng Sửu nhắc lại.

Hai đứa cầm tay nhau, quên bẵng mất cảnh ngộ của mình.

Ba kỵ binh ngoài sơn khẩu đã nhìn thấy hai anh em thằng Sửu bắn tên phóng hoả. Không cần phải giữ gìn nữa, họ tiến gần lại khoảng cách tầm tên, bắn lên. Thằng Sửu lại trúng thêm một vết thương không đáng kể bên bờ vai trái; phải cùng thằng Hồi lùi vào trong. Tiếng gió lùa khủng khiếp chỉ át được phần nào tiếng hò hét của ba người lính kỵ binh Mông-cổ ở bên dưới đang khoa chân múa tay căm giận nhưng chẳng trợ giúp được gì cho đồng bọn bên trong thung lũng.

Ngược gió, nhưng lửa từ trong thung lũng vẫn lan dần theo cỏ cây từ từ bò ra ngoài đến dưới chân hang đá. Tuy cháy nhỏ và chậm nhưng hơi nóng bốc lên hừng hực làm cho không khí trong hang hết sức ngột ngạt. Khổ sở kinh hoàng nhưng chúng nó thà ở lại chịu đựng cái nóng thiêu đốt trong hang còn hơn là chui ra ngoài vào lúc thập phần nguy hiểm này.

Thằng Hồi thể chất khoẻ mạnh, lại chưa bị thương nên còn có thể miễn cưỡng chịu đựng, nhưng thằng Sửu thì đã phải há cả mồm ra để thở như con cá mắc cạn. “Kết liễu như thế này thì tệ quá,” sau cùng thằng Hồi đưa ý kiến. “Đã đến lúc mình phải ra khỏi hang thôi.”

“Ừ,” thằng Sửu ngập ngừng, nói.

“Anh còn đủ sức đánh với tụi nó không?”

Thằng Sửu gật đầu nhưng nó tự biết là không. Nếu chưa bị thương, nó có thể trông cậy vào mấy miếng võ quèn và một ngọn lao gỉ may ra cầm cự được một chọi một với đối phương. Đằng này, bên chúng nó có ba đứa lực lưỡng hung bạo như hổ báo đang chực sẵn dưới kia thì còn hy vọng nỗi gì.

Ở lứa tuổi đàn anh, thằng Sửu chẳng có gì dính líu nhiều đến thằng Hồi trước đây, tình cảm trong lòng nó mới chỉ phát sinh khi thấy thằng nhỏ tình nguyện tiếp tay Quách trưởng lão và chú Tam. Có lẽ vì thế mà Sửu quyết định ở lại cốt ý cho thằng Hồi có chỗ dựa, nhưng trong lúc hiểm nghèo này nó chợt vỡ lẽ là chính nó mới hoàn toàn dựa vào thằng Hồi. Thực ra thì thằng Hồi cũng dựa vào nó rất nhiều. Chết đuối cái gì chẳng víu lấy dù là một cánh bèo trôi trên mặt nước; chia xẻ với nhau trong hoạn nạn là vơi bớt được một nửa gánh nặng trong lòng.

“Bị nhốt trong hang thì đằng nào cũng sẽ bị thui sống, thà ra ngoài đánh một trận cho thoả rồi có chết cũng mát ruột,” nói xong thằng Sửu vùng đứng lên, ôm lao đi ra. Thằng Hồi ngỡ ngàng nhưng nó đã nhanh nhẹn lách mình sấn lên trước. “Anh nắm lấy áo em mà chạy theo,” nó bảo thằng Sửu. Vừa ra ngoài cửa hang, hai đứa bám đuôi nhau lao mình xuống triền đá.

Trong lúc bất ngờ, ba người chiến binh Mông-cổ chưa kịp phản ứng thì anh em thằng Sửu đã chạy đến nấp sau mấy tảng đá lớn cách họ khoảng dăm chục thước. Không dùng cung tên được, những người lính Mông-cổ hấp tấp xuống ngựa, sẵn sàng trong tư thế cận chiến.

“Anh ngó chừng bọn nó để em cầm máu cho,” thằng Hồi vừa nói vừa quấn lại khăn trên vết thương đầu của thằng Sửu.

“Chúng nó tách ra làm đôi, hai đứa đang đi sang phía bên trái của tao, còn một thằng thì đi ngược lại,” thằng Sửu nhìn qua khe đá, thì thào.

“Trong ba đứa, thằng nào to nhất?”

“Thằng đi một mình.”

“Khi nào khoảng cách giữa ba thằng giặc non ấy vào khoảng ba chục thước thì anh vỗ vai em. Ta sẽ ra tay vào lúc đó,” thằng Hồi bình tĩnh dặn dò. “Lúc bọn mình xông xuống, anh để dành cái con mồi to lớn béo bở lại cho em.” Lại thêm một lần khó khăn phải tự chọn lấy cái việc ít người làm nổi, một phần vì nó nhỏ tuổi và có sức chịu đựng hơn nhưng phần chính là vì nó cảm kích về sự bầu bạn của thằng Sửu.

 “Chúng nó cách nhau mười thước,” thằng Sửu lẩm nhẩm, “mười lăm. Chúng nó di chuyển cẩn thận và chậm lắm. ‘Con mồi to lớn béo bở’ của mày bự như ông hộ pháp giữ chùa. Mười tám, mười chín, thằng khốn nạn phanh ngực áo lòi cả lông bụng và những bắp thịt cuồn cuộn ra ngoài. Hăm hai, tổ cha nó, sắp sửa rồi đấy. Tao sẽ tiếp tục đếm đến hết, không cần phải vỗ vai.”

“Liệu anh có chịu nổi vết thương đầu để choảng nhau với chúng nó một trận không?” thằng Hồi nhắc lại điều nó đã hỏi thằng Sửu một lần trong hang đá. Những ngón tay thô kệch của nó thắt nút đuôi khăn ghì chặt lại dưới cằm thằng Sửu.

“Chắc được,” thằng Sửu lấy can đảm trả lời mà cảm thấy trong lòng nó sợ nhiều hơn là đau. Hy vọng mong manh lắm nhưng nó vẫn cố bám vào một chút cơ may vì ngoài hy vọng ra thì chẳng còn gì khác. 

Buộc xong vết thương, thằng Hồi vụt ngồi dậy xao xuyến hé mắt qua kẽ đá nhìn ra ngoài, tay trái vơ lấy ngọn giáo. Thằng Sửu cảm thấy lạnh buốt xương sống, máu nóng nhộn nhạo trong huyết quản, giọng nó đều đều như sãi tụng kinh, “Hăm tám, hăm chín, ba mươi.” Tâm ý tương thông, hai đứa vùng lên, nhảy qua tảng đá, lao vút xuống chân núi.

Thằng Hồi xốc thẳng tới “con mồi to lớn béo bở” của nó. Hai người lính Mông-cổ còn lại thì xúm nhau đón đánh thằng Sửu. “Sát!” đôi bên cùng thét lên, cùng điên cuồng rồ dại đâm bổ vào nhau như những con thú say mồi. Từ trên cao, thằng Hồi vụt xuống một đường giáo mãnh liệt, vậy mà chỉ bị đối thủ ở dưới vung thương đỡ gạt mắt nó đã đổ hào quang, hai cánh tay chồn dại. Thằng nhỏ bị đẩy giạt sang bên, lảo đảo mất đà chuệnh choạng mấy bước mới dừng lại được. Những con ngựa Hồ chưa kịp buộc, hốt hoảng lồng chạy vào trong thôn.

Người chiến binh Nguyên khổng lồ mặt sắt đen xì gầm lên một tiếng khủng khiếp, ánh mắt trợn trừng chan chứa căm thù hừng hực, vung thương xoay mình phóng thẳng đến. Thằng Hồi chỉ được cái khoẻ chứ võ nghệ của nó tầm thường nhất trong thôn, thua cả bọn đàn bà con gái. Có lẽ công phu của nó chỉ khá hơn mấy bà già gần xuống lỗ. Song đấu với người võ sĩ vừa có thần lực vừa thiện chiến như thế này chưa chắc nó đã chống đỡ được quá ba hiệp. Biết mình kém vế và lâm nguy, chỉ một chút sơ sót là hết cứu vãn. Nhưng dễ gì chịu thua non, nó lập tức gác bỏ ý tưởng sợ hãi về nhược điểm của mình và nỗi nghi hoặc trong lòng sang bên bởi vì nếu nó không giết được đối thủ, hay chỉ cần nó tin rằng nó không giết được đối phương thì chắc chắn nó sẽ bị giết. Thằng Hồi hạ thấp người trong tư thế mã bộ vững chãi, lì lợm chĩa mũi giáo xuống đất. Không còn lựa chọn nào khác, nó lấy kinh nghiệm săn lợn lòi để bù cho sự thiếu kém khả năng võ thuật của mình.

Cách nhau chưa đầy hai sải, dũng sĩ Mông-cổ nương sức gió lao tới như con bò mộng. Chân chôn chặt xuống đất, thằng Hồi lạnh lùng nhìn thẳng vào mắt người chiến binh, mím môi đợi cho mũi thương của người ấy đâm tới sát da bụng nó mới uyển chuyển như con báo, nhích chân sang bên, tay nhẹ nâng ngọn giáo đủ để hất mũi thương lệch đi một chút. Mũi giáo của nó chạy song song sát cán thương của đối phương, lách tới đâm tuột vào chấn thuỷ địch.

Trúng vết tử thương, người dũng sĩ vẫn thuận đà lao tới nhấc bổng cả người thằng Hồi bay lên cao. Từ trên không, thằng Hồi xoay trở thân mình đè nghiêng cây giáo vật ngã đối phương xuống. Bị đè nghiến dưới đất, người chiến binh vùng vẫy rống lên uất ức, không hiểu rằng chính mình đã tự sấn vào mũi giáo của địch. Người lính thiếu may mắn ấy đã vô tình tấn công đúng như cung cách của một con lợn lòi xông vào tư thế sở trường của thằng Hồi, một tay giáo tiên xuất sắc bậc nhất của toàn thôn Lữ-dạ. Người dũng sĩ càng sấn vào mạnh bạo bao nhiêu thì lưỡi giáo lại càng ngập sâu vào xương thịt bấy nhiêu.

Lưỡi giáo của thằng Hồi đâm thủng qua ngực chiến binh Mông-cổ, ghim sâu xuống đất nhưng người ấy còn hung mãnh lắm, hai tay nắm cán giáo đẫm máu trước ngực quằn quại giãy giụa dữ dội. Thằng Hồi nặng ngót bảy chục cân mà vẫn bị xô đẩy siêu vẹo cả người. “Thằng này là lợn lòi chúa chắc?” nó lẩm bẩm.

Hốt nhiên, thằng Hồi cảm thấy lồng ngực lạnh buốt vì vết thương do một lính Mông-cổ vừa từ sau lưng đâm tới. Người lính Mông-cổ này là một trong hai người đang vây khốn thằng Sửu giữa những tảng đá lớn gần bên. Thực ra chỉ cần một người cũng đủ sức giết thằng Sửu nhưng họ vẫn quyết định hợp lực tấn công nó để mau chóng thanh toán chiến trường vì vững tin vào khả năng của người chỉ huy thừa sức một mình hạ thủ thằng Hồi trong một cuộc đấu sức tay đôi. Không dè người lính ấy nhìn thấy cấp chỉ huy của mình bất chợt lâm nguy nên vội chạy lại tiếp cứu.

Thằng Hồi bị thương nặng, tay trái rũ liệt thõng xuống bên hông. Nó giựt bung ngọn giáo ra khỏi ngực dũng sĩ Mông-cổ bằng tay phải, quay ngoắt lại vụt xuống người lính vừa ám toán mình. Trong lúc thảng thốt, nó xoay người mạnh quá đến nỗi cây thương trong tay người ấy gãy ra làm hai đoạn, phần mũi còn cắm sâu sau lưng nó. Người lính đâm trộm bị chém đầu gần lìa khỏi cổ chỉ còn dính mảng da, ngã vật xuống đất không kịp kêu lên một tiếng, hai con mắt mất thần còn mở trừng trừng.

Trên mặt đất, người dũng sĩ Mông-cổ lồm cồm bò dậy, chập choạng bước tới được vài bước. Trong một thoáng, hai con ngươi của người chiến binh ấy như đang chú mục trên mặt thằng Hồi rồi dại đi trước khi ngã gục xuống dưới chân nó. Nhưng thằng con trai không chút bận tâm về phản xạ cuối cùng của người lính khổng lồ vì nó còn mải theo dõi thằng Sửu mình mẩy máu me bê bết bị địch thủ dồn vào sát chân vách đá, đang cố gắng chống chỏi một cách vô vọng.

Khoảng cách giữa hai đứa quá xa, cho dù nó không bị thương, lập tức chạy đến tiếp cứu thằng Sửu có lẽ cũng không kịp. Chỉ còn lại tay phải, thằng Hồi tung cây giáo dài tới bảy thước bảy tấc lên cao đón bắt lấy, loay hoay điều chỉnh trong lòng bàn tay như thể đang lấy thăng bằng cho một ngọn lao. “Đồ lợn lòi,” nó lấy hơi rít lên, thu hết tàn lực phóng ngọn giáo bay thẳng ra xuyên ngập vào giữa lưng người lính Mông-cổ cuối cùng, lưỡi giáo thòi ra trước ngực toé máu vào đầy mặt thằng Sửu. Thằng Hồi hự lên một tiếng sau khi đã phải vận dụng quá sức để phóng giáo. Nó nghiến răng nhịn đau, vụng về lấy tay áo quệt máu ứa ra khoé miệng.

Thằng Sửu thoát nạn trong đường tơ kẽ tóc nhưng đuối sức, chân tay rụng rời nằm vật ra thở dốc. Thằng Hồi chậm chạp bước tới, hai mắt đầy sát khí đỏ ngầu nhìn người lính Mông-cổ đang hai tay cào cấu điên dại trên vết tử thương trước khi ngã chúi vào giữa hai khe đá. “Kể từ nay, hễ đánh nhau với bất cứ ai, dù là hung thần ác quỷ, mình cũng cứ coi như là đánh với lợn lòi thì không thể nào thua được,” thằng Hồi tự phụ thầm nhủ. Không ngờ cách giết lợn lòi lại tạo được cho nó cái cảm hứng khắc phục nổi người dũng sĩ Mông-cổ vô địch. Chợt nhớ đến vết thương trí mệnh đau nhói sau lưng, nó dã dượi ngồi tựa nghiêng vào một phiến đá, hé miệng cười buồn tự nghĩ là nó chỉ cố gắng được đến thế là cùng, là có lẽ đời nó sẽ không còn bao giờ phải đánh nhau với ai. Con Thắm sẽ không cần giận hờn nó nữa. Bất giác nó lại tủm tỉm cười.

Dưới đây là đoạn kết của Chương 6 với nhan đề Con ngựa cái già. Có lẽ tác giả cũng muốn mô tả một con ngựa cái già hầu như đã hết năng lực giúp chủ nhân trong nông nghiệp, nó lại mù. Nhưng tác giả trình bày những đức tính rất đáng yêu nơi con ngựa Hoa Mơ của nhà Trương Hạo này. Nó có linh tính tuyệt vời, như gắn bó với con người thân thuộc với nó. Đoạn này tác giả nói đến việc Sửu và Hồi chia tay nhau, Sửu đi Phù-hoa với thôn dân Lữ-dạ, còn Hồi nhất định ở lại mặc dù mang vết thương nặng. Sau đây là đoạn Sửu và Hồi chia tay nhau rất cảm động:

Ngọn lửa trong sơn cốc đã dịu xuống, hắt ánh hồng lên hai bên vách đá hùng vĩ chập chờn. Bên ngoài, luỹ tre đã ngả màu xanh thẫm, thấp thoáng bóng con Hoa Mơ lảng vảng đi đi lại lại, không biết nó không sợ lửa hay là nó đã quên sợ hãi đứng chờ hai đứa con trai.

“Bọn mình đã đi chưa?” thằng Sửu nhếch nhác cười, hỏi. Những ngón tay đẫm máu của nó quơ quào đỏ lòm trên mặt đá, xiêu vẹo gắng gượng bò dậy. Không thấy lưỡi thương cắm sau lưng thằng Hồi, chỉ thấy nó cười thì thằng Sửu dù còn mệt lả người cũng vô ý cười theo. Vừa cùng nhau trải qua những thử thách cam go, sự ràng buộc giữa hai đứa hầu như không còn tách rời ra được nữa.

 “Anh đi trước đi,” thằng Hồi phải hít vào một hơi dài lấy sức, trả lời.

“Mày định dở trò gì nữa đây, sao mình không cùng đi một thể.”

“Em ở nán lại một chút gài bẫy sẵn, nhỡ sót đứa nào bén mảng đến sau,” thằng Hồi hất hàm ra phía rặng tre, “Con Hoa Mơ còn ở ngoài đó, anh cưỡi tạm nó mà đi. Em sẽ lùng cho ra mấy con ngựa của bọn Thát-đát, nếu không tìm được thì anh cũng biết là em thừa sức chân không đuổi theo con ngựa già khỉ gió của anh.”

“Tao biết, nhưng mà…”

“Đừng ‘nhưng mà’ nữa, anh để em nghỉ cho lại sức,” thằng Hồi xua tay chặn lại, “Anh đi đi.”

“Chướng vừa chứ,” thấy thằng Hồi bực bội,thằng Sửu lưỡng lự trả lời. “Mày là một thằng quá quắt không ai chịu nổi.” Nói thế chứ nghĩ cho cùng thì nó thấy thằng Hồi cũng một phần có lý. Thằng nhỏ thật tình cần nghỉ ngơi cho lại sức và chắc chắn nó có thể bắt kịp con ngựa già bất cứ lúc nào nó muốn. Cãi nhau bây giờ chỉ tổ làm cho ông mãnh này khó chịu, mệt thêm. Vả chăng, nó tự biết là mình có ở lại trong hoàn cảnh này cũng sẽ chỉ gây thêm trở ngại cho thằng Hồi nếu nó cần phải hành động. Thằng Sửu luồn tay vào trong áo lục lọi, con bò gỗ và mấy nắm cơm vẫn còn đó. Nó lôi hơn nửa phần ăn ra để xuống dưới đất chia cho thằng Hồi, rồi thong thả đứng lên bỏ đi.

Dưới màn trời sao lưa thưa, tiếng chân của thằng Sửu xa dần. Thằng Hồi nhũn người ra, đưa mắt lờ đờ nhìn theo cho đến khi hình ảnh thằng Sửu vừa lẫn vào bóng tối dưới rặng tre thì nó bị hoa mắt. Sau khi dụi, nó thoáng thấy được đám khói lơ lửng trên cảnh vật mờ mờ chung quanh trước khi biến mất, chỉ còn lại những điểm sáng loé lên như muôn vàn tinh tú nhỏ bé trong mắt nó. Cả những nắm cơm sờ sờ trước mặt nó cũng không thấy. Thằng Hồi thở dốc, sau lưng đau buốt. Lúc nãy nó đã định bảo thằng Sửu đem theo hết đồ ăn nhưng lại thôi.

Thực ra, khi thằng Hồi giục thằng Sửu đi cũng là lúc nó thèm thằng Sửu ở lại bên cạnh nó hơn bao giờ hết. Có được nhau trong lúc khốn đốn này thì đỡ biết mấy. Nó đã phải chống chỏi kịch liệt với chính nó để không thốt ra lời nài nỉ thằng Sửu ở lại. Nó không ngờ khi phải vật lộn với chính mình lại có thể khó khăn đến như thế.

Bây giờ nó lại luẩn quẩn nhớ đến bố mẹ và con Thảo trước khi họ rời thôn. Đầu óc nó không còn minh mẫn để suy nghĩ rõ rệt nữa nhưng trí nhớ vẫn sắc bén về nét mặt của họ vừa đăm chiêu về giặc giã vừa ngạc nhiên về sự thay đổi của nó. Đó là một lần, và có lẽ cũng là lần chót, thằng Hồi cố làm đẹp lòng gia đình mình. “Cố một lần còn hơn không,” nó thầm nghĩ, rồi ngớ ngẩn nở một nụ cười gượng gạo như hổ mếu. Những tinh tú li ti trong mắt nó bây giờ còn nhiều hơn muôn vàn tinh tú lấp lánh ngoài trời. Thất vọng, thằng Hồi nhắm nghiền mắt lại, mồ hôi vã ra như tắm, bên tai còn nghe được tiếng con Hoa Mơ nặng nề luẩn quẩn đạp chân tại chỗ ngoài rặng tre. Hình như thằng Sửu còn quá yếu, lúng túng mãi vẫn chưa leo được lên lưng ngựa.

Tác giả để nhân vật Hồi dừng lại ở đây với những ý nghĩ thường là nơi người biết mình đang ở những giây phút cuối của cuộc đời. Đọc đến đây, tôi bâng khuâng, thương cảm Hồi, nhớ đến những lời như tự cõi lòng Hồi thoát ra khi Hồi thấy mình được yêu thương, được ngồi bên cạnh Tam Thất, với Quách Nhật Thăng và với Sửu. Hồi thật thà nhưng cũng lẻ loi, đơn độc.

Ở Chương 5 Thôn Lữ-dạ, tác giả viết một đoạn về Hồi sau một lần bị Tam Thất đánh theo lệnh của Quách Nhật Thăng, bởi Hồi đã đánh Kỷ, bạn trai của Thắm. Có lẽ Hồi ghen. Tác giả viết:

Tối tối, thằng Hồi vẫn hay mò đến với Tam Thất, nhiều lần chỉ ngồi một lúc rồi lại bỏ về. Cũng đôi khi nó đem theo ngô nướng khoai lùi đến đây ăn đêm với nhau, nhưng thường thì chẳng có chuyện gì để nói.

“Bữa ấy chú đánh cháu chẳng đau tí nào,” thằng Hồi nhắc lại chuyện bị đòn vì tội gây sự đánh thằng Kỷ hôm nọ.

“Tại tao yếu.”

“Không phải đâu. Nghe tiếng trượng vun vút như trời giáng mỗi lần chú xuống tay,” thằng Hồi lắc đầu, “cháu sợ điếng người, tưởng chừng nát thịt tan xương đến nơi không bằng.”

“Mày là thứ ma chê quỷ hờn còn biết sợ ai, nói thế mà không biết ngượng.” Dứt câu Tam Thất hạ thấp giọng, “Quách đại lão bảo tao nhẹ đòn. Cũng chỉ tại mày hư đốn quá nên buộc lòng trưởng lão phải trừng phạt để đưa mày vào khuôn phép chứ không thể làm ngơ được.”

 “Nếu lão bá không bảo thì chú cũng vẫn cứ nhẹ đòn chứ gì?”

“Ừ!”

“Tại sao?”

“Tại hồi nhỏ tao ngỗ ngược hơn mày. Chẳng có đứa nào thích chơi với tao.”

“Thật à?”

“Mày muốn nghĩ sao thì nghĩ, kệ mày.”

“Chú có bị người ta đánh không?”

“Có.”

“Nhiều, ít?”

“Ừ.”

“Nhiều lắm hả?”

“Nhiều, không nhớ nổi.”

“Cả thôn ai cũng ghét cháu,” thằng Hồi buồn buồn, nói.

“Mày mà còn sinh sự nữa thì chỉ tổ làm cho người ta ghét mày thêm.”

“Tại người ta ghét cháu trước,” thấy Tam Thất không nói gì, thằng Hồi ngồi xích lại gần ông một chút, giọng ỡm ờ. “Chắc chú cũng ghét cháu chứ còn gì nữa?”

“Mày có thấy bọn trẻ nhỏ ở đây được yêu mến vì chúng nó vẫn còn biết tôn kính cha mẹ và những người già cả hay không? Cha mẹ nào chẳng trông cậy vào con cháu những lúc tuổi già. Mày là cái thằng hư đốn, hãy về nhà giúp một tay may ra bố mẹ mày còn được đẹp lòng đôi chút trong khi chờ đợi đại hoạ đang đến,” Tam Thất mắng.

Trong hết cái cõi ta bà  này, bới đâu ra được một người có thể lười nói như Tam Thất, thế mà hôm nay vui mồm vui miệng nói nhiều với nó như vậy, Thằng Hồi hí hửng đứng dậy.

Sang đến Chương 6, Con ngựa cái già, tác giả kể về hai trưởng hợp Hồi cũng có câu hỏi tương tự như vậy. Một với Quách trưởng lão, và một nữa với Sửu. Với Quách trưởng lão là lúc chuẩn bị kế hoạch để đối phó với quân Mông Cổ. Còn với Sửu là sau khi Sửu từ Cổ-độ về:

Hồi bất chợt hỏi Quách trưởng lão:

“Ông ghét con hả?” đi sau lưng Quách Nhật Thăng, thằng Hồi rụt rè hỏi.

Quách lão ngạc nhiên quay lại nhìn vẻ mặt đầy ám ảnh của nó, lắc đầu. Ông nghĩ việc nó tự ý trốn ở lại ông đã đành bỏ qua, không hiểu sao nó còn hỏi như vậy.

“Con thấy ông có vẻ giận,” Hồi nói.

Quách Nhật Thăng chậm bước xuống trên con đường vào thôn. “Lâu rồi, ông không giận ghét ai cả,” ông lão thở dài. Đi thêm một quãng ngắn nữa ông lại thở dài nói nhỏ như cho riêng mình nghe, “Ông thương mọi người, chỉ tự giận mình sức cùng lực kiệt không còn giúp được gì cho ai.”

Với Sửu, Hồi hỏi:

“Anh còn ghét em không?” thằng Hồi cho thêm rơm vào bếp lửa, hỏi.

“Tao ghét mày bao giờ?” nuốt trôi miếng cơm, thằng Sửu mới ngạc nhiên hỏi lại.

“Thế là anh không ghét em chứ gì?”

“Ghét mày để làm cái gì? thằng Sửu nổi cáu.

“Thật à?”

Phải chăng, mấy trường hợp này đã làm cho Hồi tỉnh táo và sáng suốt hơn, để có một quyếtđịnh ở lại vì việc gì đến thì đã đến rồi. Lúc này, Hồi biết là cần buông theo số phận. Tác giả không nói gì đến những vấn đề này. Ông “buông”, để người đọc quyết định theo cách nghĩ của mình.

Chúng ta vừa đọc đến chỗ Hồi và Sửu chia tay. Trong thâm tâm cả hai đều biết mình cần có bạn bên cạnh vì thực tế, cả Sửu và Hồi đã kiệt sức vì cuộc kịch chiến với mấy quân lính Mông Cổ ở trên núi. Cả hai đều đã bị thương nặng. Mặc dù không muốn, nhưng Sửu cũng đã ra đi với con ngựa già.

Tác giả viết tiếp:

Quả tình thằng Sửu chật vật mãi mới lên được lưng ngựa, nó nằm phục xuống, ôm lấy cổ con Hoa Mơ. Con ngựa cái già thủng thẳng thả từng bước lóc cóc nặng nề rời rạc trên con đường tối đen dài hun hút. Tiếng tre xào xạc sau lưng mơ hồ rồi tắt lịm; thằng Sửu chỉ còn nghe gió hiu hiu đưa tiếng côn trùng rỉ rả ru ngủ bên tai.

Lúc nó mở mắt ra thì mặt trời đã lên quá con sào ở bên trái, phía đông. Như vậy là con ngựa đang tự ý đi về phía Phù-hoa. Không phải là nó quen đường cũ vì đường về nam con Hoa Mơ chưa từng đi qua. Nó vuốt ve trên cổ ngựa, âu yếm đan mấy ngón tay vào trong bờm, hít mũi ngửi mùi mồ hôi ngựa quen thuộc, khen khét nhưng dễ chịu.

Thấy nó tỉnh dậy, con ngựa mới ghé lại bên đường uống nước, gặm cỏ. Máu trên áo quần thằng Sửu đã khô quánh như mo cau. Toàn thân nó ê ẩm, nhất là vết thương bên sườn sưng tấy nhức buốt không chịu được. Cố leo xuống ngựa, động tác tay chân nó gượng gạo như con múa rối. Nhưng rồi nó cũng tuột được xuống đất, bò lê bò càng trên cỏ đến bên một vũng nước.

Những ngụm nước uống vào chỉ chợt mát mỗi khi trôi qua cổ nhưng ngay sau đó thằng Sửu lại cảm thấy mồm miệng khô cháy bởi cơn sốt trong người hoành hành nóng ran hừng hực. Khi mặt nước lắng đọng, nó thấp thoáng thấy một hình ảnh thiểu não xa lạ không còn là của nó phản chiếu trong cái vũng. Trông ghê khiếp, nhưng dần dà nó có thể làm quen và chấp nhận được cái thân thể máu me, mặt mũi méo mó ấy bởi vì những dấu tích còn lại của cơn hoạn nạn mà nó đã chia sẻ với thằng Hồi ít ra cũng giúp nó bớt cảm thấy tủi hổ.

Nghỉ ngơi được đôi chút, thằng Sửu xoay mình nằm ngửa mặt lên trời. Những dải mây vàng ửng buổi sớm còn quyện vòng đỉnh núi. Một đàn ngỗng trên cao, bay theo hình lưỡi mác, đang soải cánh về ngang qua đây rồi lại tiếp tục bay đến một phương trời mênh mông nào đó. Mùa đông nào loài di điểu này chẳng vượt nghìn trùng tìm đường về nơi ấm áp. Không biết quê hương chúng nó ở trên bắc hay dưới nam? Không biết những con ngỗng đang bay qua năm nay có phải là những con năm cũ?

Hôm qua, hôm kia, thằng Sửu đã đi ngược đường độc đạo này trở về thôn nhưng nó chỉ nhớ mang máng cảnh vật chung quanh, có lẽ tại mấy hôm ấy đói khổ quá mờ mắt, còn hôm nay thì thương tích nặng nề tối cả mắt. Dù sao, có một đêm mà con Hoa Mơ đã đi được một quãng khá xa.

Mấy hôm trước, dân Lữ-dạ cũng đã đi qua đoạn đường này về hướng Phù-hoa; thằng Sửu lo nghĩ không biết bây giờ họ đã đến đâu? Không có nó ở bên giúp đỡ chẳng hiểu con Diệp rồi sẽ ra sao? Trên con đường dài thăm thẳm không có lấy một bóng người, nó chờ nghe tiếng vó ngựa của thằng Hồi, nhưng chỉ nghe tiếng ngỗng trời ảo não từ trên không vọng xuống. Nắng đã bắt đầu gắt, nó muốn tiếp tục lên đường nhưng không chỗi dậy nổi.

Thằng Sửu vẫy gọi con Hoa Mơ lại sát bên, hai tay níu lấy chân ngựa mới kéo người đứng lên được. Một tay bám vào lưng ngựa, tay kia cầm dây, nó giục Hoa Mơ đi tới rồi chập choạng bước theo. Mỗi bước đi là mỗi bước khổ hình nhưng nó cần đi bộ, dù chỉ một quãng ngắn, cho máu huyết lưu thông. Nó sốt ruột muốn đến thẳng Phù-hoa càng sớm càng tốt, tuy nhiên nó cũng có ý đi chầm chậm đợi thằng Hồi.

Tính toán thì đơn giản như vậy nhưng mới đi được vài bước đầu óc nó đã choáng váng quay cuồng. Nó phải đứng lại nhắm mắt thở rồi dẫn con hoa mơ lại gần một mô đất, đứng trên đó mà leo lên. Nằm phủ phục trên cái lưng không yên, nó thả lỏng dây thừng mặc kệ cho con ngựa muốn đi đâu thì đi. Đầu óc nó hồ đồ, không nghĩ thêm gì được nữa.

Chập chờn nửa tỉnh nửa mê, có lúc thằng Sửu thấy nó đang ăn cơm với thằng Hồi. Nghe tiếng Tam Thất gọi, hai đứa chúng nó mừng rỡ chạy đi tìm nhưng càng đuổi theo tiếng gọi của Tam Thất lại càng xa vắng. Lại có lúc nó mơ thấy Quách đại lão quần áo râu tóc cháy sém, hiền lành nhìn nó mỉm cười. Nó rùng mình toát mồ hôi, thất thanh kêu lên một tiếng, ngồi phắt dậy. Vết thương bên sườn đau nhói, nó nhăn nhó cúi gập người xuống, ôm lấy bụng.

“A-di-đà Phật! viễn khách đã tỉnh lại.”

Như vậy là Sửu đã gục ngã ở dọc đường và đã được cứu. Sau một tuần lễ thuốc thang và cung cấp thực phẩm, Sửu đã tỉnh, sức khỏe hồi phục. Cậu lên đường, nhà chùa không giữ khách. Cuối Chương 6 này, tác giả nói đến những cơn mưa trên đỉnh Hoàng Liên Sơn. Thời gia qua đi, một lần Sửu mở mắt sau giấc ngủ đêm. Cậu nghe văng vẳng bên tai có tiếng chim hót. Cậu tỉnh thức nhận ra quãng đường trước mặt toàn cây đổ.Một khoảng đất với những nấm mồ. Sửu không gặp người, nhưng con nghé của nhà Trương Hạo và con ngựa già gặp lại nhau. Chúng tỏ ra mừng rỡ. Sử bảo con ngựa già ở lại với con nghé. Còn cậu lại lên đường.

Tác giả kể:

Nó quơ tay ra sau, sung sướng sờ thấy cái chân con ngựa. Cố gắng xoay người lại, nó níu chân con Hoa Mơ ngồi thẳng dậy; bỗng nhiên sững sờ nhìn thấy một con bò gỗ treo lủng lẳng ở đầu cành cây cắm trên mô đất. Thằng Sửu vội chuồn tay vào ngực áo dò dẫm, con bò gỗ chú Tam Thất gửi nó vẫn còn đó. Con bò cái trên mô đất phải là của con Quế. Đầu óc nó hoang mang hồ đồ một lúc lâu lắm mới trấn tĩnh lại để đại khái hình dung ra được những gì đã xảy ra ở đây. Nó đảo mắt nhìn quanh hàng chục mô đất mới đắp, nhấp nhô rải rác dọc theo ven rừng. Bên sườn đồi hoang vắng thê lương, thằng Sửu nghẹn ngào ôm đầu gục mặt lên mô đất nó vừa nằm ngủ trên đó suốt đêm qua.

Lại một thời gian nữa trôi qua, cơn xúc động rồi cũng nguôi dần, thằng Sửu chỗi dậy lần ngực áo lấy ra con bò gỗ đực treo bên cạnh con bò gỗ cái trên mộ con Quế. Hai con bò gỗ lách cách chạm vào nhau trong gió thoát ra âm thanh của một cuộc tương phùng thảm não giữa những nấm mồ vô chủ mới đắp không có mộ chí nên chẳng biết là của những ai. Phần lớn đồ đạc của những người tị nạn hối hả ra đi bỏ lại trên con đường chạy giặc xuôi nam đã bị mưa trôi gió cuốn nhưng vẫn còn một số gia dụng vương vãi và những mảnh vải vụn dính máu vướng trên cành cây đập vào mắt thằng Sửu, nó tự hỏi không biết những ai đã bị giết và những ai còn sống?

Con Hoa Mơ bỗng giậm chân xuống đất, nghiêng đầu vểnh tai hướng về phía bìa rừng. Thằng Sửu nhìn theo, thoạt tiên không thấy gì. Nó phải nheo mắt chăm chú mãi mới nhận ra được con nghé nhà thím Hạo thấp thoáng trong bụi rậm. Trong nỗi đau buồn tột cùng đột nhiên có một niềm vui nhỏ bé chen vào, nó cởi sợi dây thừng trên cổ con Hoa Mơ vứt xuống đất. Con ngựa lưỡng lự bước lên một bước rồi dùng dằng đứng lại.

“Mày ở lại đây với nó cho có bạn,” thằng Sửu ghé sát vào tai con ngựa, thì thầm.

Con Hoa Mơ ngập ngừng bước tới. Con trâu non nhà thím Hạo nghé ngọ lồng lên chạy ra khỏi bìa rừng. Hai con vật lại gần nhau đưa mũi lên ngửi. Con nghé bỗng nhảy cẫng lên quay vòng vòng như đứa trẻ con đùa nghịch. Còn lại một mình, thằng Sửu cúi nhặt một cành cây làm gậy chống, lủi thủi trên con đường dài hiu quạnh giữa cảnh rừng núi hoang vu, đi về phía nam hướng ngã ba Cây Gạo. Gió nhè nhẹ đưa tiếng hí ngậm ngùi của con ngựa cái già từ ven rừng sau lưng vẳng tới.

7

Đường ra cửa biển

Đại Việt, niên hiệu Trùng-hưng thứ tư 

Tối mùng bảy tháng ba năm mậu týnhằm ngày 08 tháng tư dương lịch 1288.

Nhan đề của Chương 7 này là “đường ra cửa biển”, tác giả lấy ý từ kế hoạch “rút quân” của Thoát Hoan, thống lĩnh đoàn quân Mông Cổ xâm lược và triều đình Đại Việt đã biết được kế hoạch này, nên cũng có kế hoạch phản công. Trận chiến sẽ diễn ra trên sông Bạch Đằng như chính sử đã để lại.

Dưới đây là những nhân vật thuộc cánh quân do tướng Nguyễn Khoái chỉ huy, hộichung quanh ông nghe ông nói về cuộc chiến sắp tới và phủ dụ các chiến sĩ trước giờ xuất quân. Quý vị cũng thấy xuất hiện trong chương này một số nhân vật đã thấy trước kia ở Chương Côn Minh và Dữu-lý như các ông Mạc tăng-thốn, Lão-ngũ và một số nhân vật khác mà tác giả  nêu lên ở đây:

Hoa Duy Thành và Nguyễn Xuân

Trương Hán Siêu, chiến lược gia lỗi lạc, là môn khách của Hưng đạo đại vương

Nội minh-tự Đỗ Hành, người được Nhân-tông hoàng đế đích thân lựa chọn gửi xuống tham chiến mặt trận do tướng Nguyễn Khoái chỉ huy.

Tướng Nguyễn Khoái nói về chiến trận sắp xảy ra và phủ dụ chư tướng quân dưới quyền.

Mạc Tăng-thốn tường trình về những cánh quân của quân Nguyên tiến vào Đại Việt

Lão Ngũ

Các lối vào Đại Việt của giặc từ phương Bắc: đường bộ và đường thủy

Các loại gỗ dùng làm cọc

Dưới đây là nguyên văn mấy đoạn trích dẫn.

Mở đầu tác giả nói qua đến thượng lưu sông Bạch Đằng, rồi ông viết ngay đến Hoa Duy Thành và Nguyễn Xuân, hai ngư dân trong lực lượng dân binh địa phương.

Mặc dù Chương 7 này nặng về lịch sử kháng Mông-Nguyên của dân tộc ta, nhưng nhà văn Đỗ Đình Duyệt cũng vẫn nương theo bối cảnh thiên nhiên và tâm trạng của các chiến sĩ khi họ biết rằng mình sắp sửa ra trận với quân Mông Cổ hung hãn đang lấp ló ở ngoài kia, điểm tô vào đó bằng những lời lẽ man mác văn chương.  

Nửa đêm tháng ba, trăng non thượng huyền đã lên từ buổi trưa và vừa lặn, thủy triều dâng mênh mông ra đến tận những góc trời đen xẫm. Hai ngư dân, kẻ trước người sau trên một chiếc thuyền câu thon nhỏ, thoăn thoắt bơi từ giang khẩu Đá-bạc vào thượng nguồn Bạch-đằng. Dưới ánh sáng mờ nhạt sương khuya của những vì sao lạc lõng trên cao, thuyền men theo bờ nước lướt nhanh trên những gợn sóng nhấp nhô về phía ngã ba sông Đước và sông Thải.

Qua khỏi khu vực Tràng-kênh, thuyền rẽ quặt vào một con lạch trong cửa sông Giá. Những con lạch ở đây không lớn lắm nhưng khá sâu khuất kín trong rừng cây dầy đặc; nếu không phải là dân bản thổ thì dù ban ngày ban mặt cũng khó thể tìm được lối vào.

Ngồi đầu thuyền là Hoa Duy Thành, đằng sau là Nguyễn Xuân, cả hai đều là cựu chiến binh lão thành cầm đầu nghĩa quân và dân binh của lực lượng tự vệ địa phương hoạt động trong các vùng Yên-hưng, Tràng-kênh. Hơn hai năm về trước, quân Nguyên xâm nhập, đàn bà con trẻ được lệnh chạy vào rừng sâu; hai người cùng với các bô lão, trai trẻ ở lại tổ chức tự vệ và hộ chiến bên cạnh quân đội địa phương và chính quy.

Nguyễn Xuân và Hoa Duy Thành hiện đang cùng với cấp chỉ huy của những đơn vị nghĩa quân và dân binh khác phối hợp với các vệ Thánh-dực Tả-hữu quân của hoàng gia chặn đánh thuỷ quân Nguyên từ sông Lục-đầu trong khu vực núi Dương-nham đến thượng lưu Bạch-đằng. Chiều nay, khi trận đánh Trúc-động kết thúc; Hoa Duy Thành và Nguyễn Xuân đã được lệnh về sông Giá báo cáo tình hình cho tướng quân Nguyễn Khoái, người chỉ huy trực tiếp cuộc phòng ngự chiến lược khu vực sông Bạch-đằng.

Vừa lọt vào cửa lạch, hai người dừng thuyền lại; Hoa Duy Thành gõ tín hiệu vào mạn thuyền, lập tức có tiếng gõ trả lời, và một thuyền tam bản nhỏ bơi ra đón rồi cùng nhau lặng lẽ khua chèo vào sâu trong lạch. Vượt qua sáu bảy khinh thuyền đậu nối đuôi nhau san sát, đến bên mạn trái của một chiến thuyền lớn họ mới bơi chậm lại trước khi ngừng chèo. Hai người buộc thuyền vào rễ sú, bám thang dây leo lên khoang lái, vội vã lướt nhanh qua những người lính canh dưới hai hàng mái chèo dựng chéo nhau, tiến về phía hơn vài chục người đang ngồi vây quanh một quầng ánh sáng vàng vọt trong sương đêm của cây đèn bão vặn nhỏ.

Sau khi Hoa Duy Thành và Nguyễn Xuân tường trình trước chủ soái và các nhân vật khác ngồi chung quanh ông, về một trận chiến do Vương Trọng Liệt chỉ huy đã thất bại trước quân Nguyên, hai vị được mời ngồi xuống.

Người đàn ông mỉm cười làm cái sẹo dài hằn sâu thêm trên khuôn mặt khắc khổ của một con người từng lăn lộn quá nhiều trong những thăng trầm sóng gió của cuộc đời. Ông là tướng quân Nguyễn Khoái, một tài năng chỉ huy quân sự bẩm sinh rất được binh chúng nể phục. Trong cuộc hội chiến với quân của Chiêu-minh vương Trần Quang Khải và Chiêu-văn vương Trần Nhật Duật vào mùa hạ gần ba năm về trước, Thánh-dực Dũng-nghĩa quân dưới quyền chỉ huy của ông đã lập nhiều thành tích vẻ vang ở các mặt trận Hàm-tử quan và Tây-kết bộ đầu trên sông Hồng.

Thánh-dực Dũng-nghĩa quân gồm những cảm tử quân ưu tú tình nguyện chiêu mộ từ những vùng sông nước các lộ Hồng, lộ Khoái, và được huấn luyện rất chu đáo, đặc biệt về thuỷ chiến. Những đơn vị đặc nhiệm của Thánh-dực Dũng-nghĩa quân này khác với hai vệ Thánh-dực Tả-hữu quân trong biên chế chính quy của triều đình.

Chiến y của Nguyễn Khoái thật giản dị gồm một áo vải thô đại bố ngắn dầy khoác ngoài tấm áo choàng tả nhiệm màu xám. Giáp da che ngực hình vuông của ông với tiêu ngữ nhà Trần rập nổi, một đai lưng da và một thanh kiếm, tất cả hiện thời đang đặt trên sàn thuyền trước mặt. Ngồi cạnh ông là Trương Hán Siêu, một chiến lược gia lỗi lạc và hiện là môn khách của Hưng-đạo đại vương. Tả hữu đôi bên có hai tướng lãnh và những tỳ tướng sau lưng họ đều mang giáp đồng bóng loáng hình chữ nhật có khắc huy hiệu của hoàng gia. Trên thân áo giáp của họ còn được gắn thêm những mảnh sắt hình xoắn ốc. Những người khác, số ít là bô lão, còn lại phần lớn là những chỉ huy nghĩa quân hoặc dân binh ở các làng thôn phụ cận đều đem theo cung tên, đao kiếm và giáo mác cũng để cả trên sàn.

“Đồng bào mình trong vùng đã di tản hết chưa?” Đỗ Hành quay ra hỏi mấy vị bô lão.

“Những người già yếu và trẻ con đã đi từ lâu,” một lão nông chít khăn đen, mặt mũi gân guốc, lắc đầu, “nhưng phần lớn đàn bà con gái khoẻ mạnh còn ở lại, chỉ cử một ít đi theo săn sóc cho đám di tản.”

“Tôi nhớ là Nguyễn tướng quân đã cho lệnh mọi người phải di tản từ ít lâu trước, sao đám phụ nữ ấy còn ở lại?”

“Thưa tướng quân, họ không chịu đi,” Hoa Duy Thành xen vào. “Thậm chí có người nói ‘giặc đến nhà, đàn bà phải đánh.’ Thực ra, họ đã đương nhiên trở thành một nhóm hỗ trợ đắc lực cho lực lượng phòng vệ địa phương. Nhờ có họ đẽo cung, gọt tên, đào hầm trú ẩn, chuyển vận lương thực, thổi cơm đun nước mà mọi người được ăn uống đầy đủ, rảnh tay lo chuyện bố phòng. Ngoài ra, những phụ nữ ở lại này đã chia thành từng toán cấp cứu lưu động với nhiệm vụ thu góp thuốc men, chuẩn bị vải vóc áo quần, sẵn sàng cho việc cứu thương.”

“Phải rồi,” Nguyễn Khoái gật gù. “Tôi cũng biết qua việc này nhưng thấy nguyện vọng của họ chính đáng nên không muốn phụ lòng người ta. Hơn nữa, tôi cũng nghe nói suốt mấy tháng qua, một nữ hiệp mặc áo màu tím hoa cà với nhiều hiểu biết trong vùng biển ở đây đã hướng dẫn, chỉ điểm cho chúng ta về con nước thuỷ triều và địa thế trên các sông lạch, cung cấp lương thực và huy động phụ nữ địa phương giúp đỡ chúng ta đúng lúc cần thiết này. Chúng ta khó có thể khai thác hết lợi thế thiên nhiên ở địa phương để tích cực áp dụng chiến thuật tương ứng với địa hình nếu không có sự giúp đỡ tận tình của bà. Tiếc rằng bà không chịu lưu lại phương danh, chẳng hiểu vị nữ lưu hành hiệp đó là ai.”*2                                    

Không ai lên tiếng trả lời, chỉ đưa mắt về phía một người đội nón Ma-lôi rộng vành che khuất gần hết khuôn mặt, nhưng người này vẫn ngồi bất động, không nói năng gì.

 “Cuối canh hai;” một vệ binh mặc áo xanh tay rộng, từ mũi thuyền tiến lại sau lưng Nguyễn Khoái, nói nhỏ, “một trượng hai thước tám thốn.” Báo cáo xong, người lính âm thầm trở lại vị trí của mình. Mỗi nửa trống canh, hoặc bất cứ lúc nào Nguyễn Khoái cần hỏi, người lính này nhận tín hiệu từ dưới sông về mức chênh lệch của mực nước triều dâng cao so với mực nước thấp nhất trong ngày, trình lại với chủ tướng.

Tướng Nguyễn Khoái trình bày về công việc chuẩn bị cho trận chiến với quân Nguyên sắp diễn ra. Nét bút của Đỗ Đình Duyệt tinh tế, cẩn trọng như thể tác giả đang là người trong cuộc, một chiến lược gia tình báo và quân sự. Viết về sử mà văn của ông có sự lôi cuốn, thu hút con tim người đọc, thì đó là một điều hiếm có.

Nguyễn Khoái quay sang Trương Hán Siêu đợi ông lên tiếng nhưng người trẻ tuổi có dáng điệu văn nhã ấy chỉ nhẹ nhàng khoát tay ngỏ ý nhường lời. “Cảm ơn tướng công,” Nguyễn khoái nói. Ông trầm ngâm ngừng lại, chăm chăm nhìn các bô lão và chỉ huy dân binh một lúc rồi tiếp, “Nước vẫn vào, gần đứng, chu sư Nguyên không thể tiến nhanh được, chúng ta còn lại một ít thì giờ trước khi phân tán. Kỳ trước, năm mươi vạn quân Nguyên xâm nhập nước ta đã bị đẩy lui. Lần này, họ chỉ đem theo ba chục vạn, nhưng tướng của họ đã rút tỉa được nhiều kinh nghiệm, quân của họ quen với chiến trận trở nên tinh nhuệ hơn, và lại có thêm thuỷ quân làm hậu thuẫn. Với lực lượng quá hùng mạnh tiến vào địa giới như vũ bão, họ có thể mau chóng chiếm cứ được nhiều đất đai. Bởi thế ngót năm tháng nay, bạo lực đã lan tràn khắp miền Bắc trên quê hương ta. Tuy nhiên, chiến thắng đạt được trong những trận đánh lúc ban đầu là một chuyện dễ dàng, nhưng về lâu về dài, họ sẽ không giữ nổi những phần đất đã đánh chiếm vì không đủ quân trải rộng để bảo đảm an toàn. Đến như cái cơ cấu cai trị bù nhìn của bọn người đầu hàng được quân Nguyên đưa về nước để thay thế triều đình Đại Việt mà cũng bị quân ta tiêu diệt mới đây, chỉ còn sót lại sáu mươi kỵ binh bảo vệ Trần Ích Tắc chạy thoát về châu Tư-minh.

“Mặt khác, quân Nguyên không chủ động được tại những mặt trận trên các vùng sông lạch ở đồng bằng về phía nam như ý muốn vì không triển dụng được sở trường của khinh kỵ binh cơ động. Mặc dầu kỳ này họ đem vào nước ta một lực lượng thuỷ quân hùng hậu với hai sứ mệnh chính, yểm trợ tác chiến bổ khuyết cho cái sở đoản của kỵ binh, và chuyên chở quân lương, chiến cụ. Nhưng sau khi vận thuyền lương thảo của vạn hộ Trương Văn Hổ lọt vào tay chúng ta; hai chiến đoàn vận thuyền khác theo sau của Phí Củng Thìn và Từ Khánh cũng vì thế mà không vào được hải phận Đại Việt, phải quay ngược lại Quỳnh-châu. Về mặt tác chiến, trận Lục-thuỷ dương tuy không lớn lắm nhưng nguồn tiếp liệu, một trong hai sứ mệnh chính của quân thuỷ Nguyên, bị triệt tiêu bởi Nhân-huệ vương Trần Khánh Dư đã tác động tai hại đến toàn bộ chiến lược của cuộc xâm lăng này.

“Vì tình trạng quân lương thiếu hụt trầm trọng; đầu năm nay, Ô-mã-nhi và các tướng Áo-lỗ-xích, A-bát-xích, Thiết-đô-nhi đã phải tung quân ra khắp nơi để lục soát các ổ kháng chiến và cướp bóc lương thực hay bất cứ những gì có giá trị đem về căn cứ Chí-linh, Phả-lại tồn trữ để nuôi quân và nuôi ngựa, nhưng chẳng được bao nhiêu vì ngay từ lúc quân Nguyên xâm nhập, dân chúng khắp nơi đã phá huỷ hoặc chôn giấu hầu hết ngũ cốc, thực phẩm trước khi sơ tán lánh vào rừng sâu.

“Nhà Nguyên đã phát động một cuộc xâm lược quá xa hậu cứ của họ; chiến phí gia tăng lớn lao không thể tránh được trong một cuộc chiến kéo dài, lại thêm bị quân dân ta ngày đêm tập kích đánh phá không ngừng du họ vào tình thế thụ động, hao mòn nên dù đại quân của họ đã mở rộng mặt trận, chiếm đóng được những vị trí chiến lược xung yếu khi tiến vào lãnh thổ của chúng ta nhưng tựu chung họ vẫn bị nguy ngập trong tình huống bị cô lập và tuyệt lương. Hiện thời, mới chỉ sau hơn bốn tháng giao tranh mà binh lực của họ đã suy sụp chỉ còn vỏn vẹn giữ được một dải đất từ Vạn-kiếp đến Thăng-long. Mối thất vọng ngày càng gia tăng đã hiển nhiên buộc Thoát Hoan phải cấp tốc quyết định triệt thoái để bảo toàn lực lượng.

“Đem quân vào nước ta với một niềm tin tất thắng sắt đá, quân Nguyên quá mạnh và quá háo hức muốn đạt thành công mau chóng nên họ chủ quan chỉ tính đến tiến chứ không nghĩ đến thoái. Nhưng lực lượng của họ chủ yếu được huấn luyện để tiêu diệt đối phương trong các cuộc chiến quy ước chứ không có khả năng đối phó ở những địa bàn núi non sông nước thuận lợi cho những hoạt đông du kích nổi dậy. Cho nên khi buộc phải rút quân họ không tránh khỏi lúng túng. Xưa nay, khởi động một cuộc chiến là chuyện dễ dàng nhưng rút lui bao giờ cũng cực kỳ khó khăn. Được thua trong một cuộc chiến tùy thuộc vào những nguyên lý quân sự cơ bản. Quân Nguyên không thiếu dũng cảm nhưng thiếu tiếp liệu và kế hoạch rút lui. Muốn triệt thoái tương đối an toàn lần này, đáng lẽ Thoát Hoan nên bỏ thuyền, tập trung lực lượng để có đủ khả năng tự vệ trên đường kéo quân về. Chỉ có đường bộ duy nhất từ Vạn-kiếp lên biên thùy đông bắc cho phép đại quân của họ có thể rút lui toàn bộ. Nhưng quân Nguyên đời nào chịu bỏ dở cuộc chiến, đây chỉ là quyết định bãi binh tạm thời của họ nên mọi phương tiện xâm lược trong tương lai cần phải được bảo tồn, nhất là chiến thuyền,” Nguyễn Khoái nói. “Điều nguy hiểm về quyết định vội vã rút lui hải lục quân riêng rẽ trong cùng một lúc là mỗi lực lượng của họ phải tự lực cánh sinh không thể bảo vệ lẫn nhau. Và đó không phải là một cách triệt thoái dễ dàng.

“Vì thế, Trấn-nam vương đã lựa chọn quyết định duy trì chủ lực bộ binh ở lại Vạn-kiếp làm hậu thuẫn cho thuỷ quân rút lui trước với kỵ binh hộ tống trên bộ dưới quyền chỉ huy của hữu thừa Trình Bằng Phi cùng với hai phụ tá, thiêm tỉnh Đạt-truật và vạn hộ Trương Quân. Cánh quân này dự định hộ vệ chu sư ra tới cửa khẩu rồi sẽ cùng xuống tàu trở về Khâm-châu. Nếu quân ta dàn mỏng tấn công cả hai mặt thuỷ bộ, họ có thể đối phó dễ dàng với lực lượng phân tán của ta hơn. Cũng có thể Thoát Hoan hy vọng ta sẽ tập trung lực lượng tấn công quân thuỷ. Trong trường hợp đó; họ sẽ ỷ vào quân số đông hơn và sở trường cơ động lợi hại của kỵ binh để cùng thuỷ quân tung hết lực lượng tấn công, sống mái với quân ta một trận.

“Tất nhiên quân ta không bao giờ tập trung để trở thành mục tiêu cho địch khai thác. Chúng ta luôn luôn né tránh đương đầu trực diện với sức mạnh của địch; kiên nhẫn chờ đợi cơ hội tấn công vào những nhược điểm sơ hở bất phòng của họ mà thôi. Đã thấy trước được dự tính của quân Nguyên, ta có thể buộc họ phải phản ứng theo ý định của mình. Trước hết, ta bố trí phục binh để cắt đường rút lui của quân Nguyên ở những địa điểm chiến lược trên suốt chặng đường bộ ngoài trăm dặm từ Vạn-kiếp lên tới biên giới đông bắc mà đại quân của Thoát Hoan tất sẽ phải rút qua. Lực lượng phục binh gồm có nghĩa binh và dân binh của Nguyễn Chế Nghĩa, Nguyễn Lĩnh, Nguyễn Lộc và quân đội của các tướng quân Trần Quốc Nghê, Trần Quốc Tảng. Đạo quân này được đặt dưới quyền của Điện-tiền chỉ-huy-sứ Phạm Ngũ Lão. Riêng thuỷ lộ triệt thoái của Ô-mã-nhi ra Biển Đông hiện do chính hoàng thượng và Hưng-đạo đại vương đối phó và điều động.

“Dù đã liệu được chủ ý của đối phương, việc định đoạt chiến trường và bố trí một trận địa cố định trên thuỷ đạo không phải là một quyết định đơn giản mà là một lựa chọn hết sức phức tạp và tinh tế của tiết chế Hưng-đạo đại vương. Ngoài việc phải chuẩn bị, huy động và điều hợp các lực lượng thuỷ, bộ và dân binh lớn lao ở mỗi vùng cho chiến dịch vận động quân sự vô cùng rắc rối này, chúng ta còn bị lệ thuộc vào những điều kiện khách quan khắt khe về thời gian, thuỷ triều, và tình trạng di động bất thường của địch.”

Ông ngừng lại đưa mắt nhìn quanh. Sau biết bao nhiêu ngày tháng vất vả cực nhọc, gần nửa đêm chưa được chợp mắt tí nào mà ai nấy đều tỉnh táo sốt sắng khiến ông ái ngại, nhưng có ý hài lòng. “Nếu không có gì thay đổi bất thường, toàn bộ chu sư Nguyên sẽ vào thượng lưu Bạch-đằng đêm nay lúc trời còn tối. Họ có một khoảng thời gian ngắn chỉnh đốn đội hình. Có thể họ sẽ khởi trình trước sau giờ mão, vừa dễ di động trong lúc trời dựng sáng vừa thuận theo nước triều bắt đầu rút mạnh. Chúng ta sẽ chia ra lần lượt trước sau tiến công khi thuyền địch nhổ neo, tuỳ thuộc vào thời gian khởi hành sớm hay muộn của họ. Trận địa sáng mai được lựa chọn ở khoảng ngã ba sông Chanh. Hữu bị vô hoạn, nhờ sự hướng dẫn của các bô lão và dân binh địa phương, địa thế hiểm trở thiên nhiên trong khu vực này vừa được tăng cường bởi những bãi cọc, tạo thêm yếu tố trở ngại bất ngờ cho địch,” Nguyễn Khoái hướng lòng bàn tay về phía người đội nón Ma-lôi, nói. “Tất cả đều do Mạc hiền đệ đây đôn đốc nghĩa dân trong vùng bố trí.” Người vừa được Nguyễn Khoái giới thiệu, bỏ nón xuống sàn, nghiêng đầu thi lễ.

 “Đại huynh là người của Mạc gia ở Vĩnh-an?” Trần Quốc Bảo nhìn chằm chặp vào mặt người đội nón Ma-lôi, hỏi. Người ấy lẳng lặng gật đầu.

“Đại huynh có biết lão tặc Mạc Tăng Thốn không?” Người đội nón Ma-lôi lại gật đầu.

“Thái-cực chưởng pháp và Thái-cực khí công của Mạc đại gia ở Vĩnh-an, hải nội chư quân tử không ai không biết. Mạc Hiến Thông lão tiền bối là một dật sĩ thanh cao mà đức độ toả xa đến ngoài nghìn dặm khiến cho sĩ tử đương thời trong thiên hạ một lòng mến mộ. Ngỡ rằng danh bất hư truyền,  không may giữa vườn hoa lại mọc lên loài bản hạ. Trong chốn danh gia bỗng dưng nảy sinh ra một kẻ nội thù có những hành vi tai hại đến phương danh của họ Mạc, khiến cho ai nấy đều nổi lòng phẫn hận,” Trần Quốc Bảo trừng trừng nhìn người đội nón Ma-lôi đầy vẻ nghi ngờ, sỗ sàng nói tiếp. “Tại hạ có điều khí không phải, muốn hỏi đại huynh và tên phản quốc Mạc Tăng Thốn cùng mang chung danh tính, chẳng hay liên hệ về thị tộc với nhau ra sao?” Họ Trần nộ khí bừng bừng toát ra nét mặt làm cho không khí trên thuyền rất căng thẳng.

Người đội nón Ma-lôi đỏ mặt chưa kịp trả lời thì Nguyễn Khoái đã lên tiếng, “Mạc hiền đệ là bằng hữu thâm giao của tôi và của Phạm Tá Phiên đại huynh.”

Trần Quốc Bảo còn chưa hết ngạc nhiên về sự hiện diện của người đội nón Ma-lôi họ Mạc, lại nghe Nguyễn Khoái ân cần nhắc đến cả Phạm Tá Phiên, một kẻ nội thù đáng tru diệt khác khiến ông càng thêm sững sờ không nói nên lời. Chỉ cần nghe đến tên lũ hàng thần phản nghịch là viên tướng nóng nảy này đã muốn đỉnh thân bạt kiếm, nhưng ông vẫn ngồi im bất động chỉ vì không dám có cử chỉ quá lỗ mãng trước mặt vị chủ tướng khả kính của mình.

“Mạc hiền đệ đây chính là Mạc Tăng Thốn mà hiền đệ đã hỏi,” Nguyễn Khoái nhìn Trần Quốc Bảo, mỉm cười, “nhưng không phải là một Mạc Tăng Thốn có thể bị khuất phục trước uy vũ như hiền đệ đã nghĩ.”

Trần Quốc Bảo giật mình sửng sốt, tuy chưa hiểu ý Nguyễn Khoái nhưng cũng biết là nội tình hẳn có nhiều uẩn khúc, ông cố nuốt giận, chờ đợi.                    

“Không riêng gì Trần hiền đệ,” Nguyễn Khoái cất giọng ôn tồn, “mà ai trong chúng ta cũng không dằn được cơn phẫn nộ mỗi khi nghĩ đến những kẻ nội thù phản quốc. Giặc bên ngoài dễ ngăn, mối hoạ tâm phúc khó ngừa.

“Biết mình biết người thì ta mới thắng được. Nếu chỉ biết mình mà không biết người thì không thể reo rắc mối bất đồng để lung lạc trong lòng địch. Không biết ưu khuyết điểm của địch làm sao ta có thể hành động chuẩn xác? Cho nên, việc tìm hiểu những mưu tính ngấm ngầm và tình trạng bố trí tấn công hay phòng ngự của địch nhất thiết là một điều kiện tất yếu chỉ có gián điệp mới làm được.

“Giả sử không nhờ vào tinh thần vị quốc, lòng nhẫn nhục cao thượng của Phạm, Mạc huynh đệ thì quân ta đã không biết nhiều về địch từ bên trong và đã không dễ dàng chiến thắng ở các mặt trận Hàm-tử, Tây-kết mấy năm về trước. Có đại nhẫn mới bền gan nhịn nhục; cho đến ngày hôm nay, hai vị vẫn tiếp tục giúp chúng ta hiểu rõ tình trạng hậu phương của địch để có thể so sánh mối tương quan ưu nhược giữa hai nước khả dĩ tránh được nhiều khó khăn khi Nguyên quân tràn vào cương giới nước ta lần này.”

“Thưa tướng quân,” Trần Quốc Bảo tuy đã bớt gay gắt nhưng vẫn còn hậm hực. “Chẳng lẽ mọi người đều lầm cả hay sao?” Ông đã cố khỏa lấp thái độ thiếu kiên nhẫn của mình nhưng không dằn được.

“Ai cũng có thể lầm lẫn một cách tai hại vì ai cũng chỉ biết lai lịch của Phạm, Mạc huynh đệ ở bề ngoài để quy kết trách nhiệm vào họ; ít người thấy được chân tướng tiềm ẩn bên trong của hai vị bằng hữu đã đặt sự nghiệp tự chủ của đất nước lên trên bản thân, thà chết chứ không chịu hàng phục này.

“Trước nay, hành tung của những gián điệp hiến thân cho đại sự trong lòng địch không thể phơi bày ra ánh sáng cho dù danh dự và tình cảm có bị tổn thương là cốt để bảo vệ lai lịch và nhiệm vụ của họ, và để địch không thể tìm hiểu được quy luật hoạt động của ta. Chư vị có hiểu lầm cũng là phải,” Nguyễn Khoái thở dài. “Sở dĩ Mạc hiền đệ phải chịu sự vùi dập bởi những điều tai tiếng cũng chỉ vì Phạm đại huynh và một số nội gián, sinh gián và tử gián hoạt động trong phạm vi trách nhiệm của ông còn nằm trong tay địch. Cho đến tận hôm qua, Trương tiên sinh, Mạc hiền đệ và tôi mới nhận được tin tức rất đau lòng về số phận của Phạm đại huynh.

“Nên nhớ một điều về điệp báo là một khi công tác chưa hoàn tất, mà tin tức tiết lộ ra ngoài, thì cả gián điệp và người nghe được đều phải chết. Sau khi nhận được hung tín, tuy lai lịch của Phạm đại huynh không còn phải tuyệt đối bảo mật giữa chúng ta nữa, nhưng phải nhắc đến vị bằng hữu khả kính ấy vào lúc này thật là một điều miễn cưỡng.” Lời lẽ tuy nghiêm khắc nhưng thái độ của Nguyễn Khoái khoan hoà vì ông hiểu sự phẫn nộ của mọi người đều xuất phát tự tình cảm yêu nước.

Trần Quốc Bảo chợt vỡ lẽ ra một sự thực mà trước đây chỉ có những người trong cuộc mới hiểu được, ông đứng phắt dậy chắp tay hướng vào Tăng Thốn, nói, “Họ Trần này thật là hàm hồ có mắt như mù, xin Mạc đại gia miễn chấp.” Dứt lời, ông nghiêm trang nhìn Nguyễn Khoái chờ lệnh. Là một chiến binh trọng kỷ luật, ông sẵn sàng nhận chịu trách nhiệm về thái độ hấp tấp xốc nổi của mình.

Đỗ Hành cũng vội đứng dậy vái chào Mạc Tăng Thốn. Mặc dầu nãy giờ chưa kịp biểu tỏ thái độ liên quan tới sự tình nhưng ông biết lòng mình cũng hấp tấp xốc nổi chẳng kém gì Trần Quốc Bảo nên ông tự động đứng lên ngầm tỏ ý tạ lỗi.

Đợi cho Mạc Tăng Thốn đáp lễ xong, Nguyễn Khoái mới bảo ba người cùng ngồi xuống. “Đã nhận ra nhau là anh em một nhà rồi thì không cần phải khách sáo, nhưng tình hình hiện nay không cho phép chúng ta kéo dài thêm về câu chuyện này nữa. Chúng ta hãy cùng nhau kiểm điểm lại công việc sắp phải làm,” ông đằng hắng ngừng lại đợi cho mọi người có đủ thì giờ trở về với thực tại. “Mặc dù chúng ta đã tính toán thu xếp rất nhiều cho mặt trận sắp diễn ra sáng mai, nhưng một số bô lão và các vị chỉ huy dân binh vì bận bịu nghĩa vụ, có thể vẫn còn có điều chưa am tường toàn bộ. Mạc hiền đệ nên sơ lược lại trận đồ thêm một lần nữa thiết tưởng không hẳn là vô ích, nhân tiện nói qua về việc Vương Trọng Liệt thất trận ở Trúc-động một thể.”     

Nguyễn Khoái tế nhị nói thế chứ thực ra bô lão và các người cầm đầu dân binh chưa ai biết gì về phương lược cho mặt trận ngày mai đã được kín đáo hoạch định từ lâu. Và bây giờ là lúc họ cần biết tổng quát toàn bộ kế hoạch và một số chi tiết phức tạp cần thiết để có thể linh động trợ chiến một cách nhịp nhàng, hữu hiệu với chủ lực quân. Mạc Tăng Thốn thong thả gật đầu.

Chúng tôi đã có ý sơ lược hai bài phát biểu của Mạc Tăng Thốn và của tướng Nguyễn Khoái. Thật ra nhân vật Nguyễn Khoái trong chương này có hai lời phát biểu trước các chiến hữu thân cận với ông trong cuộc chiến sắp diễn ra. Thế nhưng, các lời phát biểu của hai nhân vật này, đều rất cần sự duy trì tính chất lịch sự, cho dù dưới hình thức một tác phẩm văn chương. Cho nên chúng tôi giữ lại, những gì thấy không cần giữ lại thì gác lại chứ không xóa đi, chứ chúng tôi không viết lại theo ý là sơ lược đoạn văn ấy theo lời văn của mình.

Mạc Tăng Thốn trình bày về các cánh quân của quân Nguyên tiến vào quan ải và trận đồ phản công của Đại Việt

       So với thời gian hơn bốn tháng trước, khi rời Côn-minh, Mạc Tăng Thốn da dẻ sạm nắng dãi dầu, trông già hẳn đi đến dăm tuổi. Ngồi sau lưng Tăng Thốn, Lão Ngũ ôm cái tẩu thuốc trong lòng, mắt lơ đễnh nhìn vào màn đêm. Mớ thuốc bào lận lưng đem theo từ Vân-nam đã hết sạch từ lâu, không kiếm đâu ra được, phải mua thuốc lào thay thế. Mới hút thử, lão ho sặc sụa, nặng hơn thuốc bào nhiều, mãi rồi cũng quen, không có không chịu được. Mới đây, có cụ già bên Tràng-kênh đem cho mớ thuốc lào Tiên-lãng ngọt dịu đậm đà; lão thích quá nhưngchỉ lấy một ít. Cụ già cố nài, nhưng lão lắc đầu không nhận vì “sắp đánh nhau lớn rồi, chắc đâu còn sống mà hút.” Hai người lời qua tiếng lại; chẳng ai hiểu ai nói gì. “Không hiểu cũng chẳng sao, tứ hải giai huynh đệ mà, miễn là có chút lòng với nhau là được. Việc gì phải bận tâm,” lão nghĩ.

Ngày rời Dữu-lý, Lão Ngũ đi cùng với Tăng Thốn đến tận Quyết-hoa-thôn. Tại đây, những tin tức sơ khởi họ nghe được về số phận của anh em Tần-hữu thật đáng buồn.        

Khi rời Dữu-lý, Tăng Thốn đã ước định sẽ chờ đợi Tá Phiên ở biên giới nên ông và Lão Ngũ còn dùng dằng mãi ở đây đến năm ngày hai thầy trò mới rời Quyết-hoa-thôn về Quy-hoá, để lại hai con nữ tỳ, Cổ-nghạch Uyển-nhi và Diêu Di-hân, ở lại thôn với thằng bé Kính Lục và Hồng-cân-quân Lưu Đại Bản.

Đến Quy-hóa, họ được trại chủ Hà Bổng cho biết rõ thêm chi tiết là mãi đến ngày mười bốn tháng mười, sáu ngày sau khi Tần-hữu Thọ-huy rời Quyết-hoa-thôn đi Dữu-lý, dân quân của ông cùng với tăng viện từ Mộc-ngột mới làm chủ được tình hình tại các tiền đồn của lực lượng hậu bị quân ở địa đầu sông Thao, nhưng không bắt sống được Tô Cảnh Vệ. Khi tìm được hai anh em Tần-hữu trong ngục thất thì chỉ còn một mình Tần-hữu Lập-chí sống xót cực hình tàn khốc. Thương thế của Lập-chí rất trầm trọng nên còn được giữ lại Quy-hóa để Tần-hữu Tế-nhĩ săn sóc và đợi hồi phục trước khi đủ sức trở về Quyết-hoa-thôn. Thủ thư của Phạm Tá Phiên đã bị lọt vào tay họ Tô và được gửi về Côn-minh cho Nạp-tốc lạt-Đinh trước khi Cảnh Vệ bị giết, đương nhiên là tung tích của Phạm Tá Phiên đã bị phát giác. Tuy nhiên, dù bị tra tấn nhưng Lập-chí nhất định không chịu cung khai nên Tô Cảnh Vệ vẫn không biết hai anh em thuộc bộ tộc Tần-hữu ở Quyết-hoa-thôn và cũng không hay biết gì về liên hệ giữa Mạc Tăng Thốn và Lưu-vĩnh Tử-tài. Ngoài những tin tức đáng buồn, thì ít ra sự xác quyết của Lập-chí đã giúp cho Mạc Tăng Thốn yên tâm về vai trò của quân tân phụ chưa bị lộ, và bộ tộc Tần-hữu cho đến giờ vẫn còn được an toàn.

Ở Quy-hoá được hai ngày, có tin quân Ái-lỗ rục rịch lên đường sớm hơn dự định, nguyên do chẳng biết có phải vì tung tích Phạm Tá Phiên đã bị phát lộ hay không. Các cuộc tấn công thuỷ bộ của quân Nguyên sắp xảy ra, Tăng Thốn vội cùng với Hà Bổng và Lão Ngũ xuống vùng Tam-đại-giang để gặp Chiêu-văn vương tại Mộc-ngột. Sau khi hội ý với nhau, Trần Nhật Duật nhờ Tăng Thốn chuyển tin tức đến tổng hành dinh của Hưng-đạo vương Trần Quốc Tuấn ở Vạn-kiếp.

Cuối tháng mười, vẫn chẳng được tin tức gì về Phạm Tá Phiên và Vu Lâm Tuyền, Mạc Tăng Thốn rời Tam đại-giang đi Vạn-kiếp cùng lúc quân Nguyên tiến qua vùng các bộ tộc Lô-lô, Bạch-y, vượt biên trấn tây bắc, theo đường sông Thao kéo xuống. Ngày mùng sáu tháng mười một năm đinh hợi, 1287 kỵ binh của Ái-lỗ, chư vương A-thai và Mang-cổ-đái đại chiến với bốn vạn quân của Chiêu-văn vương ở Tam-đại-giang. Nhật Duật phải rút quân về xuôi.

Thầy trò Tăng Thốn ở Vạn-kiếp với Trần Quốc Tuấn cho đến khi đại binh của Trấn-nam vương Thoát Hoan vượt qua Trấn-nam quan kéo đến giới hà ngày hai mươi tháng mười một,tức 25-12- 1287.

Cuối tháng mười một, lãnh thổ Đại Việt đã hoàn toàn bị phong toả bởi lực lượng kỵ binh Nguyên của các mặt trận tây bắc và đông bắc rầm rộ tràn xuống, và từ trận tuyến phía nam do chu sư Nguyên hùng hậu tiến công lên. Quân đội Đại Việt chỉ có thể chống cự cầm chừng trước khi phải tản mạn rút lui vào các vùng rừng núi, sông ngòi. Thoát Hoan sai các tướng Trình Bằng Phi, A-lý và Lưu Giang giữ Vạn-kiếp; rồi dẫn quân mở rộng mặt trận xuống phía nam. Cuối tháng chạp, cánh quân Ái-lỗ từ mặt trận tây bắc kéo xuống châu thổ sông Hồng hội binh với đại quân Thoát Hoan. Ngày ất dậu hai mươi chín tháng chạp,tức 2-2-1288 quân Nguyên vượt sông Hồng đánh chiếm vương thành Thăng-long.

Tuy chiếm được kinh thành và lực lượng quân Nguyên bành trướng trên một vùng đất đai rộng lớn nhưng tình trạng quân lương ngày càng thêm thiếu hụt trầm trọng. Đầu tháng hai, Ô-mã-nhi phải dẫn thuỷ binh theo sông Chanh ra biển Vân-đồn đón Trương Văn Hổ vì chưa biết vận thuyền đã bị mất vào tay Trần Khánh Dư.

Cuối tháng giêng năm mậu tý, Mạc Tăng Thốn đến đất Yên-hưng gặp tướng quân Nguyễn Khoái. Ngày mười chín tháng hai,*1g ông và Lão Ngũ ngồi bên nhau trên đỉnh một ngọn núi thấp bên tả ngạn sông Chanh chứng kiến cảnh quân Nguyên đông đảo đổ bộ cướp phá trại Yên-hưng và chia nhau chiến lợi phẩm trên đường trở về Vạn-kiếp sau khi họ không tìm được vận thuyền của Trương Văn Hổ. Thời gian đó, Tăng Thốn đang cùng các bô lão không ngừng quan sát từng chi tiết địa hình, mọi thay đổi thất thường của thời tiết và con nước; đồng thời đôn đốc dân chúng địa phương đẫn lim, hạ táu giấu sẵn trong các khe lạch bên sông. Công việc chuẩn bị tuy khó nhọc nhưng họ vẫn không rời mắt theo dõi kỹ lưỡng mọi di chuyển của chiến thuyền địch giữa căn cứ Vạn-kiếp và Vân-đồn. …

Do hoàn cảnh địa thế thiên nhiên cấu tạo, quân xâm lược thường tiến vào Đại Việt theo các hướng chiến lược tấn công nhất định. Đường bộ, kỵ binh phương bắc tiến qua vùng biên giới tây bắc theo sông Thao đổ xuống đồng bằng; hoặc từ biên giới đông bắc qua Khâu-ôn, Chi-lăng, Phả-lại đánh vào kinh đô. Về đường thuỷ, chiến thuyền từ Khâm-châu, Liêm-châu men theo bờ biển xuyên qua các quần đảo Hạ-long và Bái-tử-long, qua cửa An-bang vào sông Chanh, sông Giá để tiến sâu vào nội địa. Đó là con đường Đoàn Chí trong quân Mã Viện đời Hán đem chiến thuyền vào tấn công Nhị Trưng năm quý mão;*1h  Trần Bá Tiên đời Lương vào đánh Lý Bôn năm ất sửu;*1i Cao Biền đời Đường đánh Nam-chiếu năm ất dậu*1j chiếm lại thành Giao-châu; Vạn-vương Hoằng Tháo đời Nam Hán đến cứu Kiều Công Tiễn và bị Ngô Quyền giết năm mậu tuất;*1k Lưu Trừng đời Tống sang đánh với Lê Hoàn năm canh thìn;*1l chiêu thảo sứ Quách Quỳ và phó tướng Triệu Tiết đời Tống qua đánh với Lý Thường Kiệt trên sông Như-nguyệt ở Kinh-bắc năm bính thìn.*1m

Căn cứ vào kinh nghiệm của các cuộc hành quân xâm lược ngày xưa, và dựa trên nguyên tắc cơ bản của thuỷ quân là triệt để lợi dụng thế nước và chiều gió, thuỷ đạo Bạch-đằng giang ra biển vào lúc này là con đường quen thuộc, thuận lợi nhất để triệt thoái trên năm vạn chiến binh và hơn năm trăm chiến thuyền của chu sư Nguyên đương ở Vạn-kiếp. Như vậy, địa điểm dành cho cuộc thuỷ chiến đã có thể tiên liệu, và thuỷ trận được dự bị.

Yếu tố tiên quyết để chuẩn bị chiến trường ở vùng sông ngòi này là cần nắm vững thời gian và mức độ thuỷ triều cao thấp trên Bạch-đằng giang. Tăng Thốn sinh trưởng ở miền biển Vĩnh-an, hiểu biết về khí hậu và sông nước địa phương khá dồi dào. Tháng ba chưa vào mùa mưa lũ nên thời tiết khá ổn định, nước sông Bạch-đằng chỉ chịu ảnh hưởng chi phối bởi nước triều từ biển vào nên có thể khẳng định được thời gian nước cường trong tháng này là chung quanh những ngày mùng bảy đến mùng chín. Thuỷ triều dâng cao nhất vào nửa đêm mùng bảy rạng sáng mùng tám,*1n và hạ thấp nhất lúc giữa trưa; mực nước chênh lệch nhau tới năm thước tư. Trước sau ngày này ít hôm, mực nước triều lên xuống trong ngày chỉ chênh lệch nhau trên dưới một thước. Vì thế, thời gian giao tranh của tháng ba cũng đã có thể dự tính, nếu chu sư Nguyên khởi sự rút quân từ Vạn-kiếp và vào thượng nguồn Bạch-đằng trong khoảng thời gian nước cường như họ đang rục rịch.

Thỉnh thoảng, gió đông bắc cuối mùa luồn qua tàn cây kẽ lá xào xạc và tiếng ván thuyền chòng chành kẽo kẹt trên sóng triều đang tràn dâng trong các kinh lạch. Có tiếng cú kêu đâu đó trong không gian tĩnh mịch vọng lại điểm xuyết vào tiếng nói của Mạc Tăng Thốn âm trầm trong đêm. Mọi người lắng nghe ông nói về giòng sông, về con nước, về những ngày chặt cây đốn gỗ trên ngàn; và mới đây, về những đêm dài dân binh kết bè, tụ thuyền đóng cọc xuống lòng sông làm chướng ngại vật.

Cọc phần lớn được lựa chọn trong tứ thiết: gụ, lim, sến, táu; vạc nhọn đầu, cắm thành nhiều hàng chéo nhau như mắt lưới, khoảng cách mỗi hàng từ hai đến năm thước, mũi nhọn chênh chếch hướng về mạn thượng lưu. Từ bờ hữu ngạn ra lòng sông rất sâu nên bãi cọc chỉ bố trí được bên tả ngạn sông Chanh và Bạch-đằng, ở khoảng giữa ngã ba sông Chanh và sông Rút.

Không thấy ai hỏi gì thêm, Mạc Tăng Thốn đằng hắng nói tiếp, “Thoạt kỳ thủy, tuy biết được chủ ý rút quân của Thoát-hoan, ta chỉ có thể chủ động trong việc phòng ngự và tấn công trên bộ, nhưng không hoàn toàn chủ động được trong kế hoạch điều binh tiêu diệt lực lượng thuỷ quân của họ lần này bởi vì thủy sư đô đốc Ô-mã-nhi có thể thay đổi thuỷ trình chọn một lối khác ra biển, hoặc kéo quân qua đây trước hay sau thời điểm chúng ta đã trù định và khổ công chuẩn bị.

“Khó khăn đó của chúng ta đã giảm được một phần vì hiện giờ chu sư Nguyên đã dứt khoát lựa chọn thuỷ đạo Bạch-đằng để rút lui, nhưng rắc rối ở chỗ họ đã khởi hành khá sớm. Từ Vạn-kiếp ra tới cửa biển, hải hành không mất quá hai ngày; thế mà Ô-mã-nhi đã cho thuyền rời bến từ hai mươi bảy tháng hai,*1o mười ngày quá sớm để ta có thể lợi dụng con nước cường đưa họ vào trận cọc.

“Giữa canh ba, một trượng ba thước ba thốn,” người vệ sĩ Thánh-dực dũng nghĩa quân áo xanh nãy giờ đứng khoanh tay im lặng sau lưng Nguyễn Khoái, lễ phép đợi Tăng Thốn dứt câu mới lên tiếng báo cáo. 

“Nước đã đứng hẳn chưa?” Nguyễn Khoái hỏi.

“Dạ.”

Sương xuống lưng đồi, sương xuống thấp như khói đọng trên sông. Một tiếng vạc lẻ loi trong đêm chỉ làm cho ngàn lau đã hoang liêu lại thêm phần cô tịch. Trên sàn tàu, mọi người vẫn chú mục vào Mạc Tăng Thốn.

“Đến được chợ Đông-triều, đoàn kỵ binh hộ tống trên bộ không qua được sông Kỳ vì cầu đã bị quân ta phá huỷ, Trình Bằng Phi đành phải dẫn quân trở về Vạn-kiếp. Ta không truy kích vì hộ tống quân đã bị vô hiệu hóa không còn là mục tiêu nữa,” Mạc Tăng Thốn nói. “Mất hộ tống, từ Đông-triều đến ngã ba Đụn, chu sư Nguyên phải đơn phương tự lực chiến đấu với những cuộc tấn công liên tiếp của ta dọc theo vùng núi non hiểm trở nên họ đã mất hết bốn ngày chỉ để di hành trên một thuỷ trình vỏn vẹn có hai mươi bốn dặm.

“Chiều qua, thuỷ quân Nguyên đến vùng Trúc-động, kịch chiến ở ngã ba Đụn với một cánh quân thuỷ của ta từ trong sông Giá. Sở dĩ có cuộc chiến ác liệt diễn ra tại đây vì chúng ta bắt buộc phải ngăn chặn không cho họ lọt vào sông Giá. Chúng ta đã bố trí cho cánh quân thuỷ đóng ở đây sẽ tấn công vào bên sườn phải của địch khi họ tiến vào Bạch-đằng sáng mai nên quân ta đã chiến đấu tới cùng để có thể làm chủ tình hình trên thuỷ lộ này. Thuỷ quân Nguyên cuối cùng đã không vào được sông Giá như ta dự tính, một phần vì mặc dầu quân số ít hơn nhiều nhưng quân ta vẫn chiến đấu dũng cảm; và một phần vì quân Nguyên không ham chiến để dành thắng lợi như thường lệ mà họ chỉ mong rời Đại Việt càng sớm càng tốt, nhất là khi họ thấy rất nhiều mo cau gói cơm của binh sĩ mà ta đã cố ý thả trôi từ sông Giá ra ngoài ngã ba Đụn khiến cho họ hết sức nghi hoặc dè dặt, không biết đó là do ta bày nghi trận.

“Giả như thuỷ quân Nguyên tiến được vào Bạch-đằng bằng cả hai thuỷ lộ Đá-bạc lẫn sông Giá thì lực lượng thuỷ quân của ta sẽ bị sút kém rất nhiều trong mặt trận sáng mai vì mất một cứ điểm lợi hại trong sông Giá. Riêng phục binh ta ở Tràng-kênh vì thế mà sẽ phải phân tán mỏng trên Bạch- đằng giang để chống đỡ với địch ở cả hai đầu giữa hai ngã ba sông Giá và sông Đá-bạc.

“Vì những lý do ấy, trận đánh tại sông Giá càng căng thẳng bao nhiêu thì áp lực phục binh ngoài ngã ba Đụn càng cần nới lỏng bấy nhiêu. Là người cầm đầu đội khinh thuyền mai phục ở đây, Vương Trọng Liệt đã chấp hành nghiêm lệnh, phải trá bại cố ý mở đường cho chu sư Nguyên tiến vào thuỷ lộ Đá-bạc đúng một ngày trước mùng tám tháng ba, không sớm hơn và cũng không muộn hơn. Do đó, sự thua thiệt này nặng phần xúc cảm chứ không phải là về trách vụ. 

“Mặc dầu Hưng-đạo đại vương tiết chế đại hội thủy bộ chư quân điều động chiến dịch bình Nguyên nhưng việc bảo vệ địa điểm chiến lược sông Giá quan trọng đến nỗi đích thân ngài hiện đang có mặt trong vùng Trúc-động. Tuy nhiên, vị cố vấn của ngài lúc nào cũng ở đây bên chúng ta những khi đại vương không trực tiếp hiện diện.” Nói rồi Mạc Tăng Thốn nhìn Trương Hán Siêu trang trọng nghiêng đầu. Dân binh từng nghe nói về nhân vật lỗi lạc văn võ song toàn này nhưng nay được thấy tận mắt do họ Mạc thình lình giới thiệu thì họ rất đỗi ngạc nhiên vì không ai nghĩ rằng ông còn quá trẻ như vậy.

Đợi cho dân binh chào mừng Trương Hán Siêu xong, Mạc Tăng thốn nói tiếp, “Cho đến đêm nay, cuộc điều binh của ta cầm chân quân Nguyên trong mười ngày qua từ Vạn-kiếp tới Đá-bạc đã hoàn tất, nhưng những vận động và bố trí phức tạp thực hiện ở đây mấy tháng vừa rồi chỉ là những bước đầu chuẩn bị cho trận đánh sớm mai. Về những bãi cọc, Nguyễn tướng quân và các tướng lãnh chỉ huy đã được báo cáo, cập nhật đầy đủ. Nghĩa quân và dân binh cũng đã biết rõ việc này vì chính chúng ta đã chặt cây, vạc nhọn, đóng cọc xuống lòng sông khi triều xuống. Có lẽ tôi chỉ cần nhắc lại một điểm là những đầu cọc được đóng cao hơn đáy sông vài thước ở gần bờ và dăm bảy thước ở ngoài xa, tuỳ chỗ nông sâu. Khi thuỷ triều xuống thấp nhất, các đầu cọc sẽ đồng loạt nhô cao hơn mặt nước trên dưới một thước. Mực nước cao nhất hiện giờ chênh nhau một trượng ba thước ba, các đầu cọc nhọn còn chìm sâu dưới nước hơn bảy thước. Độ mớn nước chiến thuyền lớn nhất của quân Nguyên chỉ tới năm thước tám đến năm thước chín thốn, nghĩa là từ giờ này đến khoảng cuối giờ dần, thuyền của họ có thể vượt qua trận địa mà không bị vướng cọc.

“Từ đầu giờ mão đến cuối giờ thìn,*1q mực nước chênh lệch nhau mỗi giờ đến một thước tư; thuỷ triều rút nhanh, nước chảy xiết, là thời gian tốt nhất cho họ dương buồm và cũng đúng lúc để ta đưa đẩy họ vào những bãi cọc. Sau thời gian ngắn ngủi này, chúng ta sẽ mất dần ưu thế. Trước tiên, nước bắt đầu rút chậm, thuyền địch dù lao vào cọc cũng chưa chắc đã đủ mạnh để bị vỡ chìm, các thuyền của họ theo sau có nhiều thì giờ xoay trở khi phát giác ra biến động ở phía trước. Ngay cả khinh thuyền của ta với độ mớn nước nông hơn cũng không thể lướt qua đầu cọc vào lúc nước thấp này. Sau hết, gần trưa, cọc bắt đầu lộ thiên, nhô lên khỏi mặt nước cạn, trận địa bãi cọc sẽ không còn phát huy được hiệu quả mong muốn nữa. Biết trước thời điểm của trân đánh sắp tới giúp chúng ta bôn tập lực lượng không mấy khó khăn; kể từ giờ, việc điều động dẫn dụ chu sư Nguyên vào chiến địa đã ước định là nhiệm vụ chủ yếu của chúng ta.”

“Mạc đại hiệp,” người nêu lên câu hỏi là một võ quan trẻ tên Đinh Quan đi theo Minh-tự Đỗ Hành xuống đây từ Thăng-long. “Từ Lục-đầu, chu sư Nguyên đã di hành theo tung đội hàng ba chẳng bao lâu sẽ tới bến Rừng. Rất có thể họ sẽ chọn khúc rộng nhất này trên thượng nguồn Bạch-đằng làm địa điểm đồn trú tạm thời để dồn lại đội hình hàng năm hàng bảy cho ngắn gọn, dễ dàng yểm trợ lẫn nhau, tiện thể đợi trời sáng mới từ đây xuất hành chăng?”

“Đinh tướng quân, thuỷ quân Nguyên đã dùng đội hình hàng ba trên Lục-đầu, Đá-bạc là điều thuận lý vì các khúc sông ấy chỉ rộng từ hơn hai trăm đến gần năm trăm thước. Tuy có một khúc Bạch-đằng khá rộng từ thượng nguồn xuống đến cách ngã ba sông Chanh và sông cái khoảng bảy trăm thước về phía bắc, nhưng bề ngang khúc sông rộng nhất này cũng chỉ lên đến trên hai nghìn hai trăm thước thôi, còn từ đó ra cửa biển hai sông lại bắt đầu thu hẹp dần.

“Dồn đội hình một đoàn chiến thuyền đông đảo dài nhiều dặm vào lúc khẩn cấp này chẳng những mất khá nhiều thì giờ mà còn khó tránh khỏi rối loạn hàng ngũ, hết sức nguy hiểm cho họ. Vừa di hành vừa chỉnh đốn đội hình trên dòng sông chỗ rộng chỗ hẹp lại càng khó khăn hơn nhiều. Vả chăng, tình trạng con nước ngày mai không cho phép quân Nguyên phí phạm thì gian. Tôi tin rằng ngay khi đến thượng nguồn Bạch-đằng, họ chỉ cần hội binh qua loa rồi khởi hành sớm chừng nào hay chừng nấy, dù là trước canh bốn, canh năm.”

“Đi theo con nước triều cao thuận lợi vào lúc trời hừng sáng, tôi tưởng họ vẫn còn dư thì giờ nhổ neo hơn là phải mò mẫm khó khăn trong đêm tối,” Đinh Quan lại nói.

“Đầu tháng chạp năm ất mão tức 29-12-1075 là mùa gió đông bắc tập trung mạnh nhất để thuận buồm xuôi nam, thế mà tướng quân Lý Thường Kiệt vẫn có thể dẫn hàng vạn thủy lục quân từ Vĩnh-an ngược gió vượt lên Biển Bắc nhờ đêm tối bất ngờ tấn công Trung Quốc. Tô Giám và Trương Thủ Tiết đều là những người cầm đầu lỗi lạc của nhà Tống nhưng không kịp trở tay đành chịu chết. Thuỷ quân Nguyên thiện chiến và chắc chắn cũng có khả năng hải hành như ta, di chuyển trong đêm không phải là trở ngại của họ. Tình trạng hiện nay, họ chỉ cần ra cửa biển.”

“Như vậy là chu sư Nguyên có thể khởi hành trong đêm. Cảm ơn Mạc đại hiệp đã chỉ giáo,” Đinh Quan nói.

Người tuổi trẻ này dường như quen thuộc với trận địa hơn là thuỷ chiến, Tăng Thốn thầm nghĩ, ngập ngừng lựa lời, “Đinh tướng quân không cần phải khiêm nhường.” Nói rồi ông hướng về phía các bô lão và chỉ huy dân binh tiếp tục phần nói chuyện của mình. “Chu sư Nguyên có thể nhổ neo bất cứ lúc nào. Nếu quân Nguyên khởi trình quá sớm ngoài ý muốn của chúng ta thì họ có thể chạy qua được bãi cọc để vượt thoát vì nước còn quá cao. Trong trường hợp này, một phần chủ lực của chúng ta ở mặt trận phía nam sẽ phô trương thanh thế vừa đủ để trì hoãn cuộc xuất quân của họ. Nếu họ khởi trình muộn, hải đội đặc nhiệm thủy bộ của Trần Quốc Bảo tướng quân ở mặt trận phía bắc sẽ cùng với dân binh tấn công đội hậu vệ, giục họ phải sớm lên đường cho kịp thời điểm tại chiến trường chúng ta lựa chọn. Chính vì thế mà lực lượng của chúng ta trong mấy ngày vừa qua đã phải liên tục tái bố trí để đáp ứng với những di động khó thể liệu trước được của địch. Tuy nhiên, trong bất cứ thay đổi bất ngờ nào thì chúng ta cũng có thể đối phó bởi vì chư tướng quân đã sẵn có phương thuật ứng biến.

“Nói tóm lại, dụng ý của ta là hoặc cầm chân hoặc nới lỏng, buộc thuyền địch phải chạy qua những bãi cọc bên tả ngạn Bạch-đằng và sông Chanh vào sáng mai. Đó là thời điểm và địa điểm tốt nhất cho chúng ta tiến công chu sư Nguyên. Vì những biến chuyển phức tạp không ngừng ấy, thời gian bắt đầu chiến dịch tấn công sẽ được quyết định linh động bất cứ khi nào điều kiện tác chiến cho phép trong khoảng thời gian từ đầu giờ mão đến cuối giờ thìn; vì thế, toàn lực nghĩa binh và dân quân sẽ chỉ tham chiến khi có hiệu lửa trên núi U-bò cùng lúc với tiếng tù và báo hiệu chúng ta khởi chiến. Chư vị bô lão cùng với Hoa, Nguyễn huynh đệ sẽ liên lạc và phổ biến với nghĩa dân và các cấp chỉ huy dân binh về những điều chúng ta vừa nhắc nhở với nhau.”

“Dạ.”

“Phục binh của Đỗ tướng quân kín đáo nằm sâu trong bờ tả ngạn không lộ liễu, nhưng thuỷ binh mai phục ngay bên bờ hữu ngạn dễ bị phát giác,” Tăng Thốn nói tiếp. “Đằng nào thì quân Nguyên cũng đoan quyết là sẽ có phục binh, ta nên nhân đó cố ý sơ hở đôi chút về sự có mặt của quân mình bên hữu ngạn tạo cho địch quân có khuynh hướng nghi ngờ, tự ý lựa chọn di chuyển dọc theo tả ngạn. Chư vị có cần hỏi thêm gì không?”

“Dạ không.”

Tướng Nguyễn Khoái phủ dụ:

Mạc Tăng Thốn dứt lời, Nguyễn Khoái đăm chiêu đảo mắt nhìn từng khuôn mặt vây quanh, từ những Quốc Bảo, Đỗ Hành dày dạn chiến trận; những người chỉ huy nghĩa quân và dân binh chân phác nhiệt tình ở các vùng Hà-nam, Yên-hưng, Tràng-kênh, Phả-lễ; đến hai thầy trò Tăng Thốn bí ẩn ngồi lẫn trong đám lão tuế râu tóc đã ngả bạc màu sương. Tất cả im lìm trầm lặng như dòng sông đang ngái ngủ trước khi trở mình trỗi dậy với sóng cồn, gió giật. Tất cả đều là những người một hội một thuyền với ông đêm nay và còn biết bao nhiêu người khác nữa trên toàn cõi đang cùng nhau dấn thân vào một cuộc chiến sinh tử chỉ để tìm một đời sống không có giết chóc, không có chiến tranh! Vết chiến thương cũ lại thêm một lần nữa hằn sâu hơn trong lòng ông và trên gò má. “Thưa các bậc trưởng thượng…,” ông thở dài!

“Thưa tướng quân,” các bô lão đồng thanh, chắp tay hướng về Nguyễn Khoái trước thái độ nhã nhặn của người thủ lãnh Thánh-dực Dũng-nghĩa quân, lực lượng tham chiến tinh nhuệ nhất ở mặt trận đông nam này.

“Khi quân Nguyên chuẩn bị gây hấn với ta hơn ba năm về trước, Thánh-tông thượng hoàng và Nhân-tông hoàng thượng đã kêu gọi toàn thể hào kiệt trong nước và triệu tập hội nghị đại lão tại điện Diên-hồng ở kinh sư để hội ý về phương lược chống giặc. Trong cuộc hội ngộ ấy, các bô lão đã thay mặt toàn dân, lực lượng huyết mạch của cuộc kháng chiến, thể hiện tuyệt vời quyền tự quyết và ý nguyện đồng tâm chiến đấu diệt thù đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ nền độc lập,” Nguyễn Khoái hãnh diện nói. “Quân nhất thời dân vạn đại. Quốc chủ đã lấy dân làm gốc, và dân lấy đất nước làm gốc. Nhờ thế, ta nước nhỏ nghèo nàn, người thưa, mà đến nay vẫn còn được tự chủ. Trong những ngày chiến tranh tàn phá đó, không thiếu gì người dân có tâm huyết như Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền đã đem dân binh các lộ đến giải vây xứ kinh thành, trợ chiến thượng tướng Trần Quang Khải ở mặt trận Chương-dương; nghĩa binh của anh em Hà Đặc, Hà Chương đại phá du binh Nguyên ở Cự-đà, Phù-ninh, góp công không ít trong chiến thắng đánh đuổi quân Mông-cổ để bảo toàn lãnh thổ.

“Những khó khăn mà đoàn quân viễn chinh của nhà Nguyên đang phải chật vật đương đầu chỉ một phần là vì những sai lầm nghiêm trọng do tính chủ quan tự mãn trong chiến lược xâm lăng của họ. Điều quan trọng không kém là chúng ta chưa từng một lần thờ ơ chểnh mảng trước sự dày xéo của quân xâm lược và rằng Đại Việt là một đất nước có đủ khả năng và quyết tâm che chở cho người dân. Nhà Nguyên đã từng thử thách chúng ta qua hai cuộc xâm lược trước đây, nhưng họ vẫn không nhận thức được nguyên nhân thất bại thảm hại của họ là bởi khả năng và tinh thần ấy của nhân dân Đại Việt, nên họ sẽ không đời nào từ bỏ ý định dùng vũ lực lấn chiếm nước ta một khi Nguyên chủ còn vững tin vào đoàn quân bách chiến bách thắng của ông. Do đó, quyết định rút quân hiện nay của Thoát Hoan chỉ là một hành động trì hoãn để kiểm điểm, chỉnh đốn hàng ngũ, chuẩn bị cho lần xâm lược tới. Sau cuộc chiến này, quân Nguyên chắc chắn sẽ trở lại đây cho dù thuỷ thổ có thích hợp hay không mà họ lúc nào cũng nại cớ bào chữa cho nguyên nhân bại tẩu để vuốt mặt.

“Để tránh phải đối phó triền miên với những cuộc gây hấn không ngừng, trận đánh sáng mai dưới sự tiết chế của Hưng-đạo đại vương sẽ không phải là một trận đánh nhằm tiêu hao địch như những cuộc tấn công của chúng ta trong bốn tháng qua; cũng sẽ không giản dị là một cuộc ác chiến đẩy lui quân thù ra khỏi bờ cõi như hai lần trước. Đây sẽ là một trận đánh quy mô quyết liệt nhằm triệt tiêu tối đa sinh lực xâm lược của đoàn quân bách thắng ấy. Chúng ta muốn đạt được thành quả lâu dài thay vì ngắn hạn. Ít ra chúng ta cũng sẽ có được một khoảng thời gian dài thư hoãn sau chiến tranh để xây dựng đất nước trước khi họ lại có khả năng gây hấn.

“Chúng ta đã có đầy đủ tin tức cần thiết và nhiều thì giờ để tính toán thận trọng trước khi lựa chọn và chuẩn bị chiến trường. Do đó, trong trận đánh sáng mai, chúng ta sẽ có thể phân tán hay tập trung lực lượng một cách linh động tùy thuộc từng hoàn cảnh biến chuyển bất cứ lúc nào. Cho đến nay, chúng ta đã nắm chắc được tình hình và tạo được ưu thế chủ động có thể phát huy thực lực của mình để điều khiển mọi vận động cơ bản của địch thay vì bị địch điều khiển.

“Tuy nhiên, sự thắng bại của trận đánh lát nữa chưa hẳn đã ngã ngũ, dù chúng ta có quyết tâm, có kiên trì và đầy nhiệt huyết, bởi vì cuộc chiến nào thì cũng có những diễn biến bất ngờ không thể lường trước. Thấy được gan dạ, lòng hăng say và tinh thần hợp tác ái hữu trong công việc của mọi người ở đây, của toàn thể nghĩa dân chúng ta đang sẵn sàng lao mình vào cơn sóng gió, tôi nửa mừng nửa lo. Mừng vì đó là những yếu tố phải có để thành công. Nhưng lo vì nếu không tự chủ được lòng hăng say của mình trong chiến trận, hễ thấy mặt quân thù thì tự nhiên hào khí bốc lên, khó lòng kiềm chế, tự ý đơn phương ra quân khi chưa nắm giữ được những gì nằm đợi trước mắt hoặc ra tay hành động theo cảm xúc mà không có kế hoạch sát với thực tế tình hình. Trước khi lâm trận, xin các vị trưởng bối nhắn nhủ một lần nữa với mọi người rằng nghĩa quân và dân binh trợ chiến đều giữ vai trò chủ động then chốt trong chiến đấu chẳng khác gì của binh sĩ thuỷ lục chính quy, và rằng mỗi đơn vị đều có nhiệm vụ của riêng mình, phải triệt để thừa hành bổn phận được giao phó đúng với thời điểm đã ước định. Trong khi đơn vị của mình còn phải án binh, không vì nhân thấy nhược điểm của địch quân mà bồng bột hăng say vội vã ra tay không phải lúc. Thiếu toan tính chín chắn mà hành động hấp tấp sẽ làm cho chúng ta vấp ngã trước những sai lầm.

“Xưa nay, quân ta vốn quen nhẫn nại, bền gan chịu đựng với mọi cảnh ngộ. Được không kiêu, thua không nản; khi phải lui tất không miễn cưỡng, luôn luôn giữ gìn kỷ luật nghiêm minh. Chiến thắng nhất thời trên các mặt trận không phải là chiến thắng một cuộc chiến. Ham muốn chiến thắng một hai trận nhỏ để đến nỗi di hại cho kế sách lâu dài là những sai lầm vẫn thường xảy ra; một chiến binh tinh nhuệ và có kỷ luật sẽ không làm như vậy. Bất cứ chiến binh nào dù vì dũng cảm hay vì lòng yêu nước mà tự ý hành động không tuân thủ kỷ luật chung đều phải bị nghiêm trị theo quân pháp.”

Ai nấy đều hiểu là vị thủ lãnh Thánh-dực Dũng-nghĩa quân đã vừa đề cập đến việc thi hành quân pháp nghiêm chỉnh để ước thúc chiến sĩ duy trì trật tự và kỷ cương, quyết không để cho cảm xúc và nhược điểm chi phối. Nguyễn Khoái là một quân nhân giàu lòng trắc ẩn, bình thường ân cần mềm mỏng nhưng ông lại rất cứng rắn những khi cần thiết. Là một tướng lãnh khả kính, ông đối xử với thuộc cấp nhân ái, nhưng duy trì quân kỷ nghiêm nhặt để tề chỉnh binh sĩ. Những người đang ngồi trước mặt ông đều là những thủ lĩnh địa phương, những chiến sĩ dạn dày đã chứng tỏ tinh thần chịu đựng và kỷ luật ở chiến trường. Tất cả đang lắng nghe ông nhắn nhủ về những công việc tuy không phải dễ dàng nhưng đều nằm trong tầm tay của ông và của họ.

“Dù là giặc thù bất cộng đái thiên, quân Mông-cổ chắc chắn là một đối thủ xứng đáng được ta trọng nể,” Nguyễn Khoái nói tiếp. “Trước đây, trong suốt hai mươi năm chinh chiến bất bại, Thành-cát-tư-hãn đã chiến thắng ba mươi hai trận lớn và sáu mươi lăm trận nhỏ. Đứa cháu yêu quý nhất của ông ngày nay, Hốt-tất-liệt, là một đại hãn lừng lẫy vô song trong các đại hãn, không thua gì nội tổ ngày xưa. Đương đầu với người cháu ưu việt này có khác nào chúng ta đang phải đối phó với một quyền lực thần kỳ như thể của nội tổ ông. Ngoài những biến động nội bộ chưa đáng lưu tâm cho lắm của họ ở Mạc-bắc; hiện nay, chư hầu của nhà Nguyên đã phần lớn được bình định nên Nguyên chủ có điều kiện dồn hết lực lượng ưu tú nhất của ông chỉ để nhằm vào việc chinh phục một mình nước ta. Quân Nguyên đông đảo lần này đã dũng mãnh tinh nhuệ lại được cầm đầu bởi những danh tướng lão luyện kiêu dũng, ta không thể khinh suất coi thường được.

“Thêm vào đó, đánh với một đạo quân buộc phải triệt thoái rất nguy hiểm một khi lòng dạ binh sĩ của họ đã quyết tâm chiến đấu tới cùng để vượt qua mọi trở ngại trên đường hồi hương. Mặc dù tinh thần liều chết của quân Nguyên đã bị lung lạc một phần trong suốt mười ngày chiến đấu hao mòn mệt mỏi vừa qua với quân dân ta, nhưng để giảm thiểu hơn nữa tinh thần quyết tử ấy, trong trận đánh sáng mai, chúng ta sẽ ngăn chặn đạo tiền vệ của chu sư đồng thời tấn công vào hậu vệ và hữu dực của họ từ bên hữu ngạn; nhưng cố ý bỏ ngỏ bên tả ngạn để mở một lối thoát. Cùng khấu nan truy, lối vượt thoát ấy là cốt dành cho chiến binh Nguyên thấy có đường sống mà giảm sút tinh thần liều chết chiến đấu vì vô vọng trong khi chúng ta kết liễu mặt trận. Chúng ta cần nhận biết đối phương một cách rõ ràng trước khi cùng họ tham dự vào một trường gió tanh mưa máu, một mất một còn sắp diễn ra trên dòng sông định mệnh này.

“Sau lưng chúng ta, hướng tây nam, sẽ được tăng viện bởi lực lượng của Hưng-đạo đại vương từ các căn cứ thuỷ quân Văn-úc và Đồ-sơn. Trước mặt chúng ta, hướng đông bắc, hai vệ Tả-hữu Thánh-dực của hoàng thượng từ Chí-linh cũng đang chờ đợi sẵn sàng hội chiến. Trong chiến trận, chúng ta tất sẽ phải thay đổi chiến thuật để đối phó với rất nhiều diễn biến bất ngờ, nhưng phải hết sức thận trọng và dứt khoát về những quyết định hành động mau lẹ này. Nếu tất cả đơn vị dân, quân phối hợp nhịp nhàng ăn ý với kế hoạch lớp lang đã được sắp xếp, chuẩn bị và thao dượt hết sức kỹ lưỡng để hợp nhất nỗ lực thì chúng ta sẽ không thể chiến bại trước một kẻ thù đang ở vào thế chiến bại. Thắng lợi cuối cùng nhất định sẽ về ta mà lực lượng quân dân cũng sẽ không bị tổn thất nặng nề.

“Cuộc chiến này sẽ sớm qua nhưng những mất mát lớn lao không thể hồi phục mau lẹ lại được. Vẫn biết chiến sĩ ta một lòng diệt thù, da ngựa bọc thây, nhưng nếu sinh lực của dân bị phung phí quá mức thì làm sao ta có thể bảo tồn được khả năng hiện có và tiềm tàng để còn sức mà xây dựng lại đất nước đã bị phá huỷ bởi chiến tranh, và sẵn sàng đương đầu với những cơn sóng gió bất thường sau này trong một cuộc chiến tự vệ.”

“Đầu canh tư, một trượng, ba thước, năm thốn,” người lính gác báo cáo.

“Đã sắp đến lúc hành động, mỗi người chúng ta cần trở lại vị trí chiến thuật của mình, kiểm tra chặt chẽ lại công trình tấn công và phòng ngự trong phạm vi trách nhiệm để cắt đặt công việc lần chót cho ngăn nắp. Dĩ dật đãi lao, hãy ăn uống no đủ và thoải mái nghỉ ngơi được chút nào hay chút nấy trong lúc chờ đợi một đối phương hoang mang bối rối đang hấp tấp tiến vào trận địa do chúng ta điều động,” Nguyễn Khoái vừa nói vừa đứng lên tỏ ý tiễn chân; mọi người cùng đứng theo.

Sau nhiều ngày tháng háo hức chuẩn bị chiến trường, không ai nghĩ mình có thể chợp mắt trong giờ phút thao thức chờ đợi sau cùng này. Chưa có đêm nào ánh sao bàng bạc trên các vòm cây lại lạnh lẽo như đêm nay. Gió rì rào trong những khóm lau bên dòng sông bắt đầu chuyển mình lượn khúc lững lờ hướng ra cửa biển.

8

Khói sóng

Đại Việt, niên hiệu Trùng-hưng thứ tư

Sáng sớm mùng tám tháng ba năm mậu týnhằm ngày 09 tháng tư dương lịch 1288

Ở Chương 7, đường ra cửa biển, tác giả đã giới thiệu với độc giả trước vị tướng chỉ huy trận thủy chiến sẽ diễn ra trên sông Bạch Đằng giữa quân xâm lược hung hãn, thô bạo Mông Cổ với triều đình nhà Trần và nhân dân Đại Việt anh hùng, bất khuất. Vị tướng chỉ huy trực tiếp trận này là Nguyễn Khoái, bên cạnh ông là chiến lược gia Trương Hán Siêu, và một nhân vật độc giả đã gặp ở các Chương khác như Côn Minh, Dữu Lý, Một cánh hoa…, đó là Mạc Tăng Thốn, Lão Ngũ. Độc giả cũng đã thấy ở Chương 7, đường ra cửa biển, tướng Nguyễn Khoái nói lời tâm huyết và phủ dụ các tướng dưới quyền, một số bô lão và các nhân vật được tuyển chọn trong lực lương dân binh tham gia vào trận chiến này. Đặc biệt là Mạc Tăng Thốn hiện diện trong cuộc họp ở đây trên soái thuyền của tướng Nguyễn Khoái, có một khoảng thời gian rất căng thẳng từ tướng Trần Quốc Bảo khi ông nghe đến tên Mạc Tăng Thốn, đang có mặt. Ông nóng nẩy nói lời bất nhẫn trước mặt vị chỉ huy của mình, bởi ông đã nghe nói Mạc Tăng Thốn là “kẻ phản quốc”, đã đầu hàng kẻ thù…Và Mạc Tăng Thốn đã trình bày một trận đồ tác chiến trên sông Bạch Đằng. Và ở Chương 8, Khói song, độc giả sẽ gặp lại các nhân vật này trong chiến đấu với quân giặc.

Mở đầu Chương này, tác giả vào đề ngay bằng sự xuất hiện của mấy chiến thuyền quân Nguyền đi tiền thám. Ông mô tả hai chiến binh trên chiếc thuyền đi đầu là viên Đà công Phù Xương Ninh và tên lính thứ hai là Hàn Phú:

Trên mũi chiến thuyền dẫn đầu bán tiểu đội khinh thuyền thám trắc, hai thuỷ binh Nguyên ôm giáo nằm dán sát mình trên mặt ván, đầu ngóc khỏi sàn, một quan sát phía trước, một dõi tìm theo ven bờ hữu ngạn Bạch-đằng. Dưới khoang trước có một thập phu trưởng đứng giữa hai hàng trạo nhi ôm chèo, mỗi hàng có sáu mái. Gần bên bệ cột buồm ở khoang giữa, một thuỷ thủ ghì dây lèo vào thành tàu đón gió. Ngọn đông bắc thổi đều, nhẹ nhàng uốn cong cánh buồm phên đưa chiếc tiểu thuyền dài ba mươi thước chầm chậm trôi về hướng nam theo dòng thuỷ triều đang bắt đầu xuống, không cần phải động chèo. Sau cột buồm trong khoang cuối, viên chỉ huy bách phu trưởng, râu mọc lởm chởm, khoanh tay đứng cạnh một đà công mặt mũi lầm lì điều khiển tay lái; cả hai đang dồn hết tai mắt vào cảnh vật chung quanh.

Bách phu trưởng Phù Xương Ninh trước kia là giặc cướp biển nay trở thành chiến binh, có biệt tài, dù trong đêm củ mật, chỉ cần liếc nhìn con nước, ngửi gió, nếm bùn cũng có thể định hướng, mò mẫm trăm dặm đường đi lối về trên biển cả chẳng khác nào bách bộ trên chỗ đất liền quen thuộc, không cần phải nhờ đến trăng sao.

Suốt chặng đường từ Vạn-kiếp đến cửa khẩu Đá-bạc, họ Phù chỉ huy bán tiểu đội gồm sáu hải thuyền thám trắc cỡ nhỏ. Bị tập kích liên miên trên suốt một lộ trình dài hơn trăm dặm mới đây, đoàn chu sư nhiều lần tránh được tổn thất nặng nề là nhờ vào Xương Ninh sớm phát hiện những ổ phục kích bên sông. Tướng Lưu Khuê có đánh cướp được hai chục chiến thuyền của Đại Việt ở Trúc-động cũng một phần là do công trạng của viên bách phu trưởng lợi hại này.

Từ tiếng rẽ sóng róc rách hai bên mạn thuyền, tiếng cá quẫy đớp bóng giữa dòng, đến những động tác của người đà công điều chỉnh tay lái, nhất cử nhất động không điều gì lọt khỏi tai mắt người chiến binh từng trải lão luyện họ Phù. Nghe chó chu từng chập, Xương Ninh bất giác tự hào mỉm cười nghĩ đến những đội chiến thuyền, những toán quân Đại Việt đang lén lút mai phục đâu đó bên bờ hữu ngạn không biết là họ đã vô tình bị lộ tung tích chỉ vì tiếng chó sủa. Phản ứng của loài vật về những di động luôn luôn giúp người ta nhận ra sự có mặt của đối phương. Phục kích là để tấn công bất ngờ nhưng một khi đã bị phơi bày thì mất hẳn hiệu quả mong muốn. 

Qua khỏi cửa sông Chanh bên hữu ngạn Bạch-đằng rồi sông Rút, một phụ lưu rừng rú bên tả ngạn, Phù phu trưởng ra lệnh quay thuyền trở về. Dây lèo được nới lỏng dành cho những mái chèo hạ xuống khua nước, sáu chiến thuyền tuần đêm ngược dòng men theo tả ngạn Bạch-đằng trên đường trở về vị trí xuất phát. Thuyền chỉ bơi cách ven rừng một trăm thước. Phù Xương Ninh giữ khoảng cách nguy hiểm này một phần để tiện thăm dò và một phần cố ý khiêu dụ đối phương tấn công trong trường hợp có phục binh.

Không thấy, không nghe, không ngửi được gì không luôn luôn có nghĩa là không có gì. Từ cái chỗ rậm rạp âm u đen tối kia biết đâu chẳng có sẵn hằng hà sa số mũi tên có thể đột nhiên bay ra bất cứ lúc nào, ai mà lường được. Họ Phù thở dài than thầm “người ta khả dĩ chống chọi với thiên nhiên, nhưng khó mà đề phòng được lòng dạ bất trắc của con người.”

Đang tưởng tượng đến những mối đe doạ rình rập, Xương Ninh bỗng giật thót mình, bàn tay tự động chụp lấy chuôi kiếm, hoá ra đó chỉ là tiếng gà rừng gáy, âm thanh vang dội bên bờ tả ngạn trên sông vắng. Có tiếng gáy khác đáp lại từ mép rừng dưới cửa sông Rút nơi thuyền vừa vượt qua. Phản ứng hấp tấp của Phù Xương Ninh lọt vào mắt đà công khiến người ấy nhún vai cười ruồi.

Hàn đà công tức Hàn Phú và Phù Xương Ninh cùng là người Diên-lan, trạc tuổi nhau. Hai người chẳng phải chỉ là bạn cùng thuyền mà họ còn chơi với nhau từ ngày còn để chỏm nhưng khắc tính khắc khẩu, động một tí là văng tục sinh sự cãi nhau như chó với mèo toàn là những chuyện vớ vẩn không đâu. Hàn Phú nghèo kiết xác, chẳng phú tí nào. Cảnh nhà quẫn bách đến nỗi chỉ còn một ông bố già yếu và một người chị mù mà cũng không nuôi nổi. Họ Hàn giỏi nghề biển nhưng ít được thuê mướn vì thiếu may mắn và cũng vì tính tình gàn chướng, thường phải lẫn lộn với đám lao công khuân vác trên bến hoặc theo chân những ngư phủ nghèo hèn lưới cá xúc tôm trong sông lạch kiếm ăn không đủ độ nhật.          

Vừa rồi sơ suất để Hàn Phú được dịp trêu ngươi, Phù Xương Ninh lộn ruột muốn vung quyền xuất chưởng ngay lập tức, nhưng nghĩ lại thì chỉ vì một tiếng gà gáy đến nỗi giật mình hốt hoảng kể ra mình cũng hơi yếu bóng vía. Dù sao thì cũng không thể dung dưỡng cho họ Hàn nhờn như thế này được. “Hãy tạm để dành tội mày đấy, rồi sẽ biết tay ông. Thế nào rồi cũng có ngày phải hành thằng khốn nạn này bở vía một lần cho nó tởn,” Xương Ninh tự nhủ.

Ngẫm cho cùng, Hàn Phú có tội nhờn nhưng gà cũng có tí tội, chưa đến giữa canh năm, trời còn đen như mực mà mấy con gà khốn nạn vô duyên đã ong ỏng gáy bậy gáy bạ đúng vào lúc tinh thần căng thẳng như thế này, làm sao người ta tránh khỏi thần hồn nát thần tính đến nỗi sợ hãi toát cả ra mặt. “Hèn thật. Tổ cha nhà nó!” Phù Khương Ninh lẩm bẩm vu vơ chửi thề chữa thẹn.  

Phù Xương Ninh chỉ qua một thoáng khó chịu vì bị giật mình chứ thâm tâm vốn có hai điều rất thích về gà. Thứ nhất, loài gà rất tinh mẫn, thấy nguy hiểm liền kêu báo động cho nhau. Tiếng báo động về chồn cáo, rắn rết rình mò dưới đất khác biệt với tiếng báo động về diều, cắt lơ lửng trên trời…

Thứ nhì, Xương Ninh khoái thịt gà ngang ngửa với thịt chó, nhất là gà ri…

Xương Ninh là người rất thận trọng, nhưng tiếng gà rừng gáy đã làm cho họ Phù mất cảnh giác, yên chí tình hình bên tả ngạn an toàn, liền thả hồn nghĩ ngợi viển vông hết chuyện này sang chuyện khác; không hề nghi ngờ có những con mắt lẫn trong bóng tối bìa rừng tĩnh mịch đang âm thầm theo dõi đoàn thuyền thám trắc của mình. Toán dân quân này đã có mặt và yên lặng chờ đợi ở đây từ lâu đến nỗi ngay cả tiếng côn trùng chung quanh họ vẫn thản nhiên tiếp tục rỉ rả. Một bóng người trong đó chụm hai bàn tay làm thành cái loa chung quanh miệng, “cù cú cuu cuu cuuuuu cu,” gáy thêm một tiếng gà nữa trong đêm. Viên bách phu trưởng hài lòng với những âm thanh thiên nhiên của núi rừng ra hiệu cho thuyền gia tăng tốc lực tối đa, trong chốc lát đã tiến đến trước hàng chiến thuyền xung kích thon dài của đội tiên phong thuộc đạo tiền vệ thả neo giữa dòng.   

Trận chiến bắt đầu

Tác giả bắt đầu bằng việc mô tả đoàn chiến thuyền của quân Nguyên, từ việc đóng ở đâu, xưởng nào đóng, đóng bằng gỗ gì, sức chứa của nó, bao nhiêu lính chiến và bao nhiêu thủy thủ v.v…Tác giả cũng “chụp” lại những hình thù của đoàn tàu chiến này trong lúc trời còn tối. Cũng cần nói ngay rằng, nhà văn Đỗ Đình Duyệt đã mô tả trận chiến này một cách linh động cả những bối cảnh trước và sau hai bên giáp chiến. Độc giả có lẽ cũng bất ngờ khi tác giả nói về những cỗ đại pháo mà trong các truyện Tam Quốc chí, Hán Sở tranh hùng của Tàu đã từng đề cập tới. Ở đây tác giả nói về nó mà còn về lai lịch của những cỗ đại pháo này, những cái tiến từ Pháo thạch cơ cổ điển, đã được chế tạo từ nghìn năm trước…Pháo thạch cơ từ Trung quốc truyền sang Trung Á và Tây Á. Tại các xứ Hồi giáo, pháo thạch cơ được cải tiến thành cự thạch pháo bằng cách buộc sắt nặng cố định ở một bên cần giật, gọi là hậu toạ.

Từ năm tân mùi,1271 hãn Mông-cổ Ba-tư thống trị vùng Tây Á đã gửi người Hồi giáo Diệc-tư-mã-nhân và A-lão-ngoã-đinh đến Đại-đô trông coi việc chế tạo cự thạch pháo trong khi Hốt-tất-liệt đang tấn công vào vùng bắc bộ sông Dương-tử. Sự tăng cường của cự thạch pháo là một bước tiến nhảy vọt nên sau hơn bốn năm bị công hãm cực kỳ  ác liệt và mặc dầu quân Tống kháng cự hết sức anh dũng, Tương-dương và Phàn-thành thất thủ năm quý dậu.*1e Cự thạch pháo do người Hồi giáo ở khu vực Tây Á cải tiến từ pháo thạch cơ nguyên thủy của nhà Tống nên cũng được gọi là Hồi-hồi pháo hay Tây-vực pháo, và sau khi thành Tương-dương bị triệt hạ còn được gọi là Tương-dương pháo.                  

Rồi tác giả kết thúc bằng mấy câu chuyện và một cuộc gặp gỡ giữa những thành phần đối nghịch nhau trước đó. Và tác giả để lại tâm tư của mình qua một bài thơ hãn hữu, đầy xúc cảm, vui hay buồn về cuộc chiến…

Chúng tôi lưu lại ở đây hai đoạn văn tác giả viết về hai cuộc giáp chiến do tướng Nguyễn Khoái và Trần Quốc Bảo chỉ huy, cũng sơ lược ở những phút đầu giao chiến. Phía Đại Việt chịu vài tổn thất. Nhưng đấy là bút pháp của tác giả, nhằm tạo sự chủ quan, khinh địch của đối phương.

Đoàn chu sư Nguyên đã đến khúc sông Bạch-đằng này từ lúc quá nửa khuya khi thuỷ triều còn đang dâng cao. Từng hàng chiến thuyền đồ sộ được kìm giữ bởi những giây neo nới lỏng, dập dềnh theo con nước. Thân dưới những chiến thuyền này còn chìm trong sương mù, phần trên sừng sững nhô lên trong bóng đêm như những khối đá đen nổi trên vầng mây xám. Những cánh buồm mành luôn luôn được kéo cao trên đỉnh cột, chênh chếch thả lỏng theo hướng bắc nam để tránh bị cản gió trong lúc đậu. Khi di chuyển, trạo nhi mới kéo căng dây lèo sang phải hoặc trái, tuỳ theo hướng đi mà đón gió.

Gần nửa số thuyền của chu sư được làm bằng gỗ lim do xưởng tàu Quảng-đông đóng, số còn lại làm bằng gỗ thông sản xuất bởi xưởng tàu Phúc-kiến. Thuyền chiến hạng trung dài bốn mươi lăm thước, rộng mười một thước, sâu năm thước tám, chở được trăm người, bảy mươi lăm lính chiến đấu và hai mươi lăm thuỷ thủ. Nhiều lòng thuyền được đóng hai lớp ván dầy thành từng ngăn kín, rất khó vỡ chìm nếu không bị công phá quá nặng nề. Mạn thuyền có ván dầy đóng kèm mấp mé trên mí nước dùng làm chỗ đứng ngồi cho lính và thuỷ thủ sống trên tàu giặt giũ, tắm gội và làm vệ sinh. Thuyền nào cũng có la bàn nhưng vẫn đem theo một sợi dây dài cả mấy trăm sải buộc đinh sắt để thử bùn. Mỗi khi đến vùng biển lạ hoặc đi lạc, thuỷ thủ thả đinh xuống lấy mẫu bùn lên xem màu sắc, ngửi nếm mùi vị để nhận định phương hướng.

Nghễu nghện trên lớp sương mù là hàng pháo tháp thuyền với những giàn cự thạch pháo nặng nề đậu giữa đạo tiền vệ…Một giàn pháo lớn thường phải dùng đến sức rất nhiều người giật. Nhà Tống sang đánh Đại Việt năm bính thìn,1076 quân Lý Quỳ đã dùng loại pháo thạch cơ cổ điển này phá hủy rất nhiều chiến thuyền Đại Việt trên sông Phú-lương…

Bán tiểu đội thám trắc của Phù Xương Ninh vượt qua đội tiên phong, rồi theo sau hai chiến thuyền hướng dẫn của đạo tiền vệ đi thẳng đến trung quân trình báo tình hình.

“Cung thủ túc trực và thủy thủ chuẩn bị neo, buồm!” Lệnh sửa soạn nhổ neo được ban hành cùng lúc với ánh đèn hiệu lóe lên giữa khi bán đội thám trắc trở lại vị trí, chưa kịp nghỉ tay chèo.

Bây giờ trời còn tối; thay vì dùng khói hoặc cờ đuôi nheo màu để phát tín hiệu như trong lúc ban ngày, chu sư sử dụng đèn hiệu để liên lạc và phối trí trong lúc ban đêm. Muốn phát tín hiệu, thuỷ thủ chỉ cần che, mở để chớp đèn từ ít đến nhiều đợt khác nhau tuỳ theo quy ước của tiêu lệnh hành quân.

Cuối giờ dần, gió đông bắc thổi đều, nước triều còn rất cao. Chỉ trong vòng một trống canh nữa gió sẽ mạnh hơn, và thủy triều sẽ rút nhanh, chảy xiết. Gió ấy, nước ấy, không lúc nào khởi trình thuận lợi hơn lúc này. Hàng hàng chiến binh cung tên gươm giáo chỉnh tề, thuỷ thủ người nào việc nấy, đâu đó túc trực sẵn sàng.

Trời chưa rạng đông nhưng đã mờ sáng để có thể nhìn thấy tiêu kỳ hành quân được kéo lên đỉnh cột soái hạm, đuôi nheo phấp phới hướng ra cửa biển.

“Bớ thuyền!” tiếng hô hoán bất chợt của thủy thủ khiến lệnh xuất quân chưa kịp ban hành đã phải tạm hoãn, thay thế bằng lệnh chuẩn bị tác chiến, vì có nhiều ánh đèn mờ tỏ, chập chờn xuất hiện từ rất xa, phía trước. Chưa thấy rõ được đối phương, chưa lượng được tình hình địch thì đại quân vẫn phải án binh, trừ đội xung kích hải thuyền đã âm thầm nhỏ neo tiến lên bên cạnh bán đội thám trắc, dàn ngang án ngữ trước mặt hải đội tiên phong của vạn hộ Lưu Khuê. Thời gian chờ đợi kéo dài triền miên, mãi mới thấy thấp thoáng bóng dáng chiến thuyền Đại Việt lưa thưa dàn rộng trên sông, lác đác như những vệt lá tre xám trong sương mờ. 

Lao xao gà gáy rạng đông, chim muông bắt đầu ríu rít trong rừng cây xào xạc của một buổi sáng đẹp bên tả ngạn. Sương mai trên mặt sông loãng dần trong gió; trời bắt đầu tan giá. Ba hàng khinh thuyền Đại Việt, mỗi hàng sáu chiếc, chậm chạp từ dưới hạ lưu tiến đến như những chấm đen. Những người lính tinh mắt nhất của toán thám trắc Nguyên đã có lúc trông thấy thấp thoáng bóng tinh kỳ trên ngọn cột buồm. Có thể là bảy trăm thước, hoặc năm trăm thước?

“Pháo thủ chuẩn bị! Sẵn sàng!”

Đầu giờ mão, trời chưa sáng hẳn, vẫn chưa thể dễ dàng phỏng định được khoảng cách đoàn thuyền của đối phương trên mặt nước mù sương.

“Khai pháo!” lệnh phát xạ của tướng Lưu Khuê truyền ra, tiếp theo là những tảng đá từ dàn cự thạch pháo bay vòng cung, rít gió trên không trung trước khi lõm bõm rơi xuống mặt nước. Còn quá xa, những khinh thuyền phía trước vẫn ở ngoài tầm xạ đạo.

Tay chắp sau lưng, đứng trên mũi thuyền chỉ huy ngay đằng sau dãy pháo tháp thuyền; tướng Lưu Khuê thận trọng đảo mắt từ đông sang tây để đánh giá tình hình trong vùng phụ cận. Trong những điều kiện đáng ngờ này, có lẽ toán thám trắc đã nhận định đúng, ông suy tính, tình hình im lặng trong những lùm bụi rậm rạp ở hiểm địa bên hữu ngạn thật đáng ngại, không nên dấn quân; chỉ những sinh hoạt tự nhiên bên rừng tả ngạn là có vẻ ổn định. Chăm chú nhìn kỹ thêm vẫn chưa thấy lực lượng yểm trợ nào làm hậu thuẫn cho toán khinh thuyền Đại Việt, ông mới tạm an lòng.

Chỉ vì trời tối quá Lưu Khuê không thể thẩm định tình hình để đến nỗi cả đoàn chiến thuyền bị cầm chân chờ đợi phí phạm gần nửa trống canh. Trên thủy trình hành quân từ Vạn-kiếp, ông thầm nghĩ, đoàn chu sư đã bị đột kích suốt ngày đêm, thế mà ở Trúc-động, Vương Trọng Liệt đã phải bỏ cả thuyền mà chạy, huống gì một nhúm lẻ tẻ mười tám khinh thuyền ngo ngoe như thế kia làm sao có thể cản trở được cuộc xuất quân sáng nay. Vả chăng, dù địch quân mạnh hay yếu thì đằng nào chu sư vẫn nhất thiết phải ra tới cửa biển trước khi con nước xuống quá thấp.

Tiêu kỳ lại được kéo lên cột buồm soái thuyền của đạo tiền vệ nhưng lần này là tiêu lệnh chiến đấu. Bán tiểu đội khinh thuyền thám trắc tức thời giạt sang bên nhường chỗ cho từng hàng chiến thuyền xung kích xuất phát. Mười tám khinh thuyền Đại Việt cũng giục chèo ngược dòng bơi lên. Họ vừa lọt vào tầm xạ kích thì hàng chục khối đá và những túi dầu từ những dàn cự thạch pháo phóng đến chụp xuống quanh thuyền. Những đám lửa thạch não du loang loáng cháy trên ngọn sóng chưa kịp tắt, đợt pháo kích thứ nhì đã ào tới. Một chiến thuyền Đại Việt mé cực hữu bị trúng đá vào sườn trái, nước bắt đầu tràn vào. Cột buồm nghiêng về phía mũi làm thuyền mất thăng bằng quay ngang. Trong ba đợt pháo kích kế tiếp, một chiếc khác bị bốc cháy. Gần một trăm cân dầu sôi bỏng vỡ tràn nhẫy nhụa trên sàn tàu. Gió tạt lửa thành ngọn bừng bừng, thuỷ thủ chiến binh cuống cuồng chạy chữa nhưng không rập tắt được. Từ trong lòng thuyền, một vầng sáng màu cam cuồn cuộn giữa những lưỡi lửa đượm vàng bừng sống lồng lộn liếm nhanh trên các cánh buồm khô nỏ. Chiếc thuyền nghiêng ngả sắp đắm. Chiến binh, thuỷ thủ, áo quần bén cháy, lao mình xuống nước như những bó đuốc sống.

Nhìn từ xa, vạn hộ Lưu Khuê gật gù tự mãn. Ngay trước mắt ông, dàn cự thạch pháo xẫm đen viền ánh hào quang đỏ tím bao bọc chung quanh phản chiếu ánh lửa rực cháy trên chiến thuyền địch nổi bật trên nền trời tang tảng. Về phần ông, đó là một cảnh sắc cực kỳ ngoạn mục. 

Quá đầu giờ mão, tướng Phàn Tiếp đem một đội chiến thuyền từ trung quân vượt qua hàng pháo tháp thuyền ở giữa dòng và toán thám trắc neo bên hữu ngạn, bắt kịp hai nhóm chiến thuyền đang vừa quyện lấy nhau quần thảo dữ dội vừa chầm chậm trôi qua cửa sông Đước. Một chiến thuyền xung kích đã bị tràn ngập. Hai khinh thuyền Đại Việt bỏ trống, quay cuồng, trôi về cuối sông giữa những mảng rong rêu và ván vụn.

Quân số ít, một cảm tử quân Đại Việt đánh với chín, mười quân xung kích Nguyên nhưng chửa bên nào lấn át được bên nào. Cuộc giao tranh tiếp diễn ác liệt, cảm tử quân Đại Việt dai dẳng bám chặt vào địch, tử chiến, tạo thành nút chặn trên thủy đạo ra biển. Tuy chỉ là một nút chặn nhỏ nhưng toàn bộ chu sư vẫn tạm thời bị cản trở chưa căng được buồm khiến tướng Lưu Khuê phải xua thêm quân lên tham chiến.

Trời dựng sáng. Nước chảy mạnh. Mạc Tăng Thốn ngồi với Trần Quốc Bảo điều binh, quan sát trận địa từ trên đỉnh núi Chúa trông thẳng ra núi U-bò ở hướng đông phía trước sông Bạch-đằng. Bên trái núi Chúa là hữu ngạn cửa sông Thải đổ ra sông cái, bên phải có hai đường mòn quanh co từ trong sâu đất liền vòng vèo chạy qua những thửa ruộng lốm đốm giữa những cánh rừng thưa, ra tới bờ sông Bạch-đằng. Xa hơn nữa, về phía nam, có núi Phượng-hoàng nằm bên tả ngạn sông Giá.

Ngồi thấp trước mặt hai người, mấy ngón tay lão Ngũ tẩn mẩn vò chiếc lá khô, mắt lơ đễnh nhìn xuống trận đánh khai màn trên sông. Thấy rõ chiến thuyền của Phàn Tiếp vượt qua nhóm giao tranh, tiến về hướng cửa sông Đước, Trần Quốc Bảo và Tăng Thốn nhìn nhau gật đầu. Họ Mạc thò tay ra trước vỗ nhẹ lên vai người cựu chiến binh Bạch-y. Lão Ngũ thong thả nhặt cánh cung dựng bên cạnh cái tẩu thuốc bào, vặn cao bấc ngọn đèn bão dấu kín sâu trong khe đá, châm mũi tên lửa, chênh chếch bắn ra hướng sông. Lão nhíu mắt nhìn ra xa cho đến khi có tên lửa bên núi U-bò bắn lên trả lời bay thành một vòng kiềng lửa rồi hết đà rơi xuống khuất sau ngọn cây. Thở phào nhẹ nhõm, lão nghe được âm thanh xé gió rõ hơn là nhìn thấy được mũi tên lửa bay.         

Lão Ngũ suy nghĩ mung lung nhưng vẫn nghe được tiếng reo hò của chiến binh  trên một toán khinh thuyền Đại Việt khác đang ra khỏi cửa sông Thải sau khi nhận được tín hiệu của tên lửa. Lão cũng nghe được tiếng chân của Trần Quốc Bảo và toán hộ vệ xuống núi đi về hướng nam Tràng-kênh để chuẩn bị đốc chiến ở mặt trận sông Chanh sắp sửa diễn ra. Đợi đến lúc này lão mới châm thuốc, rít một hơi dài. Lão mộc mạc quá, không để ý đến lòng mình hiện đang buồn hay vui.

Buông dọc tẩu ra khỏi miệng, cắm xuống đất, Lão Ngũ tay xoa đùi, con mắt lim dim nhìn cảnh vật mơ hồ qua khói thuốc. Lão phải áp tai vào dọc tẩu, lắng nghe những biến động chung quanh theo mạch đất chuyền đến từ những nơi không nhìn thấy được bằng con mắt. Cái tẩu của lão còn là một khí giới, song quải. Song quải là một cây đoản côn có tay cầm, nặng hơn kiếm, nhẹ hơn phủ.               

Giữa giờ mão, vừng đông đã ửng ánh hồng với những dải mây màu gấc chín trên rừng cây phía cánh đồng Hà-nam. Càng về sáng gió càng mạnh, cùng dòng nước thủy triều xuống nhanh đuổi theo những đợt sóng nhấp nhô về hướng nam.

Mạc Tăng Thốn hài lòng thấy mười hai viện thuyền Đại Việt ra khỏi cửa sông Thải kịp thời hội chiến với toán khinh thuyền bên ngoài kháng cự với đội tiên phong của quân Nguyên trước khi bị quân của Phàn Tiếp chặn đánh, ông lại nhẹ tay vỗ vai Lão Ngũ. Thêm một lần nữa, lão buông tẩu để giương cung. Sơ vỏ cây khô tẩm dầu và nhựa thông buộc quấn sẵn nhiều lớp trên một ngọn cây cao nhất trên đỉnh núi, bắt lửa từ mũi tên của lão, phừng cháy thành một bó đuốc vĩ đại. Dân binh trên núi U-bò cũng lập tức phóng tên lửa đốt cháy một bó đuốc to tương tự trên đỉnh núi để trả lời.

Tiếng Mông-cổ quát tháo từ dưới sông vọng lên gợi lại trong lòng người chiến binh Bạch y những ngày xưa ở phương bắc, tận Thương-sơn, xa lắm. Mấy chục năm trước, quân Mông-cổ muốn vào Đại-lý nhưng không phá vỡ được tuyến phòng thủ của người Bạch-y trong thung lũng Nhị-hải. Khi ấy, Lão Ngũ còn là một tráng niên tận tình chiến đấu hăng say, bất chấp hiểm nguy, chẳng nề gian khổ. Mãi sau có kẻ phản quốc chỉ cho kẻ thù con đường bí mật trong dãy Thương-sơn nên quân Mông-cổ mới tràn xuống đánh bại được dân Bạch-y ở Nhị-hải. Lão giản dị tin rằng nhờ chiến thắng ở Nhị-hải mà quân Mông-cổ đã lấy được Đại-lý.

Tiếng quân Mông-cổ la hét ngày càng vang dội, Lão Ngũ chậm rãi hai tay nâng cái tù và cong cong đưa lên miệng, chẳng khác nào hồi ấy lão đã nổi hiệu tù và đốc chiến trên triền núi Thương-sơn. Hồi tù và trầm ấm thấm vào đất đai cây cỏ, lan dần ra xa, khởi sự cho những hồi tù và khác của dân binh vừa hùa theo nối tiếp rúc lên từ mạn Tràng-kênh cho đến tận vùng cửa sông Đá-bạc. Tại đó, những bè rơm củi từng loạt được cởi dây và đốt lên theo hiệu đuốc và tù và. Lửa bùng cháy rực đỏ một góc trời.

Lúc này có một vận thuyền chậm chạp nặng nề nhất lọt lại phía sau bị bốc cháy, thân chìm sâu dưới mặt nước, mười mấy lính chiến và thủy thủ Nguyên theo nhau bỏ thuyền nhảy xuống sông. Một lát sau có hai thiếu nữ ăn mặc rách rưới dìu một người đàn bà lớn tuổi hơn từ khoang dưới leo lên được mặt sàn, miệng không ngớt kêu la cầu cứu. Dân binh trên ngư thuyền nghe tiếng kêu của phụ nữ Đại Việt thì biết ngay vận thuyền này là một ngục thuyền; một số người vội cắt dây bè lửa, bơi sáp lại, lần theo ống thông hơi và lỗ thoát nướchai bên mạn ngục thuyền đang cháy mà trèo lên.

Được ba người đàn bà lâm nạn cho biết có nhiều tù nhân khác còn đang bị kẹt ở dưới lòng thuyền, bọn dân binh trai tráng liền mở bung cửa sàn tàu,chạy xuống. Ánh sáng yếu ớt qua lỗ thông hơi soi trên mặt mũi bơ phờ của những tù nhân bị xiềng vào chỗ ngồi bên cạnh mái chèo. Trong số những người ngất xỉu vì kiệt lực và ngộp thở có người đã chết; còn đàn bà con gái thì sợ hãi ôm lấy nhau thành một đám để giữ hơi ấm trong vũng nước bẩn thỉu nồng nặc mùi xú uế ngập quá cổ chân đọng ở cuối lòng thuyền. Khi được giải cứu đưa lên khoang trên, vài phụ nữ còn chút sức lực đã cố nán lại trợ giúp dân binh mở cùm giải thoát tù nhân. Chỉ một thoáng sau, khi những dân binh cuối cùng nhảy khỏi sàn, chiếc ngục thuyền đã trở thành một khối lửa đỏ trôi trên sông… 

Đoàn phụ nữ hộ chiến và dân binh kẻ chết người bị thương được chúng bạn khiêng, dìu, lẩn trốn vào rừng để bộ binh và nghĩa quân Đại Việt ra ứng chiến. Tướng Phàn Tiếp chia quân ra làm hai, một đội tấn công nhóm kháng chiến ở mạn bắc núi U-bò và một đội đánh thẳng vào dàn cự thạch pháo hướng ra mặt đông.

Người chỉ huy giàn pháo này của Đại Việt tên là Bùi Nhuận. Trong lần xâm nhập kỳ trước, vào trung tuần tháng giêng năm ất mão,1285 sau khi chiếm được Vạn-kiếp và núi Phả-lại, Thoát-hoan cùng với A-lý Hải-nha và Ô-mã-nhi tiến quân đánh phá vùng Vũ-ninh và Đông-ngạn, rồi kết bè làm cầu vượt sông Đuống tiến vào Gia-lâm, đóng quân dọc theo bờ sông Phú-lương trong lúc vua Trần Thánh-tông thân chỉ huy tuyến phòng ngự ở phía bắc bên kia sông. Lúc đó Bùi Nhuận chỉ là một pháo thủ dưới quyền người chú, Bùi Kha, đóng ở khu vực Đông-bộ-đầu. Khi Ô-mã-nhi kéo quân đến bờ sông đối diện, Bùi Kha cho khẩu lệnh “phát pháo đại hô cầu chiến,” thách thức quân Nguyên. Trận đánh diễn ra ác liệt, Bùi Kha bị giết. Nhuận bị trúng một mũi tên vào mắt bên phải, mím môi bậm miệng tự tay rút ra, xé vải buộc chặt lại rồi tiếp tục chiến đấu cho đến khi quân Đại Việt phải rút chạy về phủ Thiên-trường. Ngày ấy, vương thành Đại Việt bị chiếm…

Quá đầu giờ thìn, nhóm khinh thuyền Đại Việt ở dưới mé Tràng-kênh bị tổn thất thêm chín cái, chỉ còn mười bảy cố đánh đến gần cửa sông Giá thì không thể cự lại lực lượng chiến thuyền tăng viện đông đảo của Lưu Khuê nữa, phải bỏ chạy. Tướng Lưu Khuê biết không đuổi kịp và cũng chẳng cần đuổi kịp, chỉ để thuyền thoải mái thuận dòng chạy dọc tả ngạn đuổi theo mở đường triệt thoái cho chu sư một khi cản trở đã được giải toả.

Nước chảy siết. Tình thế có phần cải thiện; lệnh từ trung quân cho chư thuyền giương buồm. Trong bầu không khí căng thẳng đạo tiền vệ và toàn bộ trung quân khởi sự động chèo, nặng nề bơi về hướng cửa sông Giá. Khoảng cách giữa đội hình hàng dọc của chu sư dần dần được nới rộng.

Giữa giờ thìn, mười bảy khinh thuyền Đại Việt chạy đến ngã ba sông Chanh và Bạch-đằng thì tách ra, một nửa chạy thẳng Bạch-đằng xuống hướng ghềnh Cốc, tám chiếc còn lại rẽ vào sông Chanh, men theo tả ngạn lướt nhanh qua những mảng bè kết bằng bương tươi chất đầy rơm, củi khô tẩm dầu, neo rải rác dọc theo hữu ngạn bên kia sông. Những bè này trước đây cất dấu trong lạch, hừng sáng nay mới vừa được kéo ra.

Phía sau các mảng bè, một đám dân binh mai phục ven rừng ra hiệu liên lạc nhưng những người lính trên khinh thuyền không thấy hoặc không kịp trả lời, mải miết chạy thẳng về hướng bãi cọc. Ngay trước mặt nhóm dân binh này, ngoài sông, có hai cái bè lớn hơn những bè khác đậu sát mé, đầu mỗi bè buộc vào một sợi thừng dài giăng ngang sông, chìm khuất dưới mặt nước bởi những phao bấc nhỏ gắn dài theo dây. Đuôi bè cũng được buộc hai sợi dây khác, một sợi quấn vào gốc cây trong bờ để kìm giữ, sợi kia cột vào một khúc lim nặng chìm dưới đáy sông dùng để cản nước khi bè được thả, mục đích không cho trôi nhanh…

Đang xuôi gió đột nhiên thuyền bị ngăn cản tưởng chừng như mắc cạn giữa lòng sông, thuỷ thủ luống cuống chỉ mong lấy lại thăng bằng cũng không còn được. Tình huống ba chiến thuyền dẫn đầu lúc này chẳng khác nào những con thú lớn sa bẫy đang lúng túng giãy giụa tìm cách thoát thân.

“Can-phách! Can-phách!” viên bách phu trưởng Mông-cổ hô rầm lên.

Thuỷ thủ vội lấy sào ra, nhưng bè lửa đã bị kéo áp sát vào mạn một trong ba chiến thuyền, bốc cháy phừng phừng, sào dài cách mấy cũng không thể đẩy tách ra xa được làm cho đám thuỷ thủ chữa lửa bị hơi nóng tạt vào mặt mũi càng thêm phần kinh hoảng, nhốn nháo chạy giạt cả sang một bên. Thuyền không lái, không chèo, ngửa nghiêng cuốn theo cả hai cái bè lửa cùng với hai thuyền bạn vào trong vòng nước xoáy, quay cuồng giữa dòng rồi lần lượt lao vào bãi cọc.

“Triều lạc!” Một thuỷ thủ Nguyên chưa biết thuyền mình va phải cọc, trong lúc hốt hoảng tưởng bị mắc cạn vì thuỷ triều xuống thấp, thất thanh hét lên như vậy trước khi lộn cổ xuống nước. Thực ra, con nước bấy giờ vẫn còn khá cao.

Khúc sông Chanh này chỉ cách ngã ba hơn chín trăm thước, bề ngang hẹp hơn ngoài Bạch-đằng nhiều nên cọc được cắm từ trong bờ ra tới gần giữa lòng sông. Khác với bãi cọc bố trí ở tả ngạn Bạch-đằng, cọc ở đây được đóng thành nhiều hàng dầy hơn nhưng chỉ có số ít là lim, táu, dẻ, còn lại phần lớn là gỗ tạp. Ba chiến thuyền dẫn đầu đã bị giảm vận tốc vì vướng dây trước khi đâm vào bãi cọc nên không đến nỗi hư hại nặng nề, chỉ bị quay ngang, đổ nghiêng, rồi cùng hai bè lửa bốc cháy. Chiến binh, thuỷ thủ Nguyên phần bị rơi khỏi thuyền, phần ùa nhau nhảy xuống sông. Những người sống sót, không chết bởi lửa cháy hay cọc nhọn ngầm dưới nước, ngoi ngóp cố bơi vào bờ.

Cho đến lúc này, hàng loạt tên lửa từ trong bìa rừng theo nhau tua tủa bắn ra nhắm vào những bè rơm nhỏ còn lại neo dọc bên bờ, rồi dây buộc được cắt để thả trôi ra giữa giòng. Gió từ bên hữu ngạn thổi vào những mảng bè lửa xông khói mịt mùng không còn nhìn thấy gì bên bờ tả ngạn ngoại trừ tiếng reo hò trong rừng cây. Trong chốc lát, hàng chiến thuyền thứ nhì và thứ ba của chu sư không phản ứng kịp, đâm thẳng vào giữa đám chiến thuyền đắm vỡ trong bãi cọc. Trong hàng chiến thuyền thứ tư theo sau, chỉ có một chiếc gần bờ kịp cắt dây lèo, chèo tạt vào khu lau sậy.

Khi biết được hàng thuyền dẫn đầu của đội xung kích đang lâm vào tình huống rắc rối trước mặt thì đã muộn, mấy chục chiến thuyền của hải đội tiên phong không kịp đổi hướng vì đã lọt hẳn vào sông Chanh. Tướng Lưu Khuê còn đang lượng xét tình hình thì toán khinh thuyền Đại Việt của cảm tử quân, trước đây đã vượt qua bãi cọc bỏ chạy giờ quay ngược trở lại dẫn theo một lực lượng thuỷ binh đông đảo của căn cứ Văn-úc đang từ dưới hạ lưu sông Chanh vượt sóng bơi lên. Cùng lúc đó, từ hai bên ven sông, những toán thuỷ binh mai phục và nhiều loại ngư thuyền lớn nhỏ của dân binh và nghĩa quân nhất loạt từ trong màn lửa khói xông ra. Sông hẹp, chỉ trong khoảnh khắc đôi bên đã cập thuyền vào nhau giao tranh ác liệt. Đầu giờ tỵ, thủy đạo sông Chanh ra biển bị bế tắc.

Trong khi đó, ngoài sông Bạch-đằng, hải đội đặc nhiệm thủy bộ của tướng Trần Quốc Bảo bắt đầu xuất hiện từ các ổ phục kích trong các kinh rạch đang rải thuyền bố trí một trận tuyến dài dọc theo bờ hữu ngạn. Không chủ chiến, tiền vệ chu sư Nguyên nương theo tả ngạn nhắm hướng toán khinh thuyền Đại Việt chạy phía trước mà đuổi. Lưu tốc mạnh, gió lồng lộng, chiến thuyền Nguyên thẳng đường lướt nhanh qua khỏi ngã ba sông Chanh được nghìn thước thì bất ngờ bị đâm vào bãi cọc.

Những thuyền dẫn đầu lao mạnh vào hàng cọc vạc nhọn bị xuyên thủng, gãy nát; những chiếc trên đà theo sát đằng sau lần lượt xô vào đám thuyền đã vướng cọc đằng trước. Thuyền bị cọc nhọn xuyên phá thì ít nhưng thuyền xô vào nhau vỡ đắm thì nhiều, xác tàu ngổn ngang từ ven bờ ra quá phần tư sông.

Bên kia sông, trong lúc chiến thuyền của tướng Trần Quốc Bảo còn dồn đội hình dàn binh bố trận thì một toán khinh thuyển cảm tử quân khác đang quay trở lại dẫn lộ lực lượng hải thuyền của căn cứ Đồ-sơn từ dưới mạn ghềnh Cốc kéo lên. Mặt trận sông Chanh đã chia cắt mất một phần lực lượng của chu sư, mấy hàng chiến thuyền dẫn đầu của họ nay lại bị đâm vào bãi cọc, tất cả cùng lúc diễn ra với những di động đe dọa của quân Đại Việt từ dưới hạ lưu và bên hữu ngạn Bạch-đằng. Chỉ mới trong thoáng chốc mà quân Nguyên đã phải bất chợt đối phó với quá nhiều nguy cơ dồn dập, đội hình di hành của họ đành phải tạm thời chuyển chậm hẳn lại để thay đổi chiến thuật tuyến…

Từ lúc rời Vạn-kiếp, tướng Lưu Khúc nhọc nhằn chịu đựng đối phó với những cuộc tấn công bôn tập căng thẳng của quân Đại Việt, không có dịp đối trận quy ước để ông có thể sử dụng ưu thế uy mãnh của hạm đội mình. Ngoài việc phải đương đầu với một kẻ thù thực sự biết khi nào tấn công khi nào không với một khả năng linh động khác thường; ông còn phải nghe tướng quân Phàn Tiếp cằn nhằn, chủ tướng Ô-mã-nhi khiển trách trong suốt mười ngày đêm vô cùng khó chịu. Cuối cùng ông thấy mình đã bị coi là một cái bung xung để buộc tội như thể ông là người đã lựa chọn chiến trường này không bằng, và phải nhận chịu trách nhiệm về thành bại của sự lựa chọn ấy, hơn là được coi như một chiến binh đang phải đối phó với tình trạng rối rắm cần được rộng quyền tính toán. Xoay chuyển tình hình mới khó chứ còn đổ tội cho nhau thì dễ ợt. Sức chịu đựng của con người không thể vượt qua giới hạn, ông tự nghĩ, đến như các bậc La-hán đắc đạo ở chốn Bồng-lai mà ở vào cảnh ngộ ông sợ cũng khó lòng nhẫn nại cho được.

Tuy nhiên, nỗi hằn học ấm ức trong lòng tướng Lưu Khúc về hậu quả vất vả của các cuộc tao ngộ chiến mới đây không kéo dài trong lòng được bao lâu vì tình hình thực tế đang biến chuyển nhanh chóng trước mắt ông. Chỉ một khoảng thời gian rất ngắn nữa hạm đội Đồ-sơn từ dưới hạ lưu sẽ lên đến chỗ trống bên bãi cọc, chặn mất con đường triệt thoái duy nhất của chu sư.

Lâm vào tình thế ngặt nghèo khó khăn, tướng Lưu Khúc không còn nhiều thời giờ để đắn đo cân nhắc lợi hại, ông phải dứt khoát quyết định mau chóng hành động. Tiên phát chế nhân, bề nào thì tấn công cũng là một biện pháp phòng ngự tốt hơn cả. Lực lượng của ông cần ra tay khi địch quân còn đang di động và chỉnh đốn đội ngũ, một mặt có thể áp đảo trận tuyến của hải đội đặc nhiệm thủy lục bên kia bờ sông bằng một cuộc tấn công tiền diện, mặt khác sẽ thuận theo chiều gió để thâm nhập công phá mũi dùi chọc thủng và xé nhỏ thế trận của hạm đội Đồ-sơn ở phía nam ra thành từng mảnh trước khi quân Đại Việt có thể hội binh phát động một trận đánh quy mô toàn diện để làm chủ tình hình. Ông nhất quyết tấn công hai lực lượng khác nhau trong cùng một lúc…

Lúc này, cả sáu chiến thuyền lim đã dàn lại thành đội hình một hàng ngang, nhanh nhẹn lướt tới cách mục tiêu khoảng ba trăm năm mươi thước mà binh sĩ và thuỷ thủ Đại Việt trên liên hạm vẫn còn đang vội vã buộc nốt những mối dây và móc những mắt xích cuối cùng lại với nhau. Khi khoảng cách giữa đôi bên thu ngắn lại chừng một trăm thước, bấy giờ họ mới hối hả bỏ thuyền tán loạn nhảy lên những tấm ván bắc ngang thành tàu. Tình thế có vẻ như bị trục trặc, những người sau cùng vừa chạy về hướng bờ vừa quăng những túi dầu và những bó đuốc xuống lòng thuyền. Khi lửa bốc lên cao trên mặt liên hạm thì sáu thuyền lim đối thuỷ cũng vừa tiến đến nơi. Thuật liên hạm tối kỵ hoả công, không ngờ thuỷ thủ Đại Việt lại không tuân hành chiến pháp cổ truyền, tự châm lửa đốt cháy thuyền mình một cách vụng về lúng túng khác thường. Thực ra, họ đã cố ý biến liên hạm thành một chướng ngại vật bằng lửa cản chắn ngang sông…      

Phá vỡ được một phần lớn mục tiêu nhưng không vượt qua được hàng rào ngăn cản, những thuyền công phá lâm vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan giữa đám thuyền bị tiêu huỷ, không tiến lên được vì những thuyền đắm vỡ của liên hạm vẫn còn vướng mắc vào nhau cùng với những chiếc chưa bị hư hại; và cũng không thể chèo ngược rút lui một phần vì bị gió mùa đông bắc từ phía sau đẩy tới, và một phần vì những mũi nhọn răng cưa trên đầu đấu thuyền còn cắm sâu, dính chặt vào mục tiêu. 

Lửa hun đốt trên ván thuyền đôi bên. Lửa bốc cháy dầu loang trên mặt nước lênh láng. Chiến binh, thuỷ thủ trong đội công phá phải bỏ bốn thuyền đối thuỷ bị kẹt cứng giữa liên hạm; chỉ có hai chiếc may mắn lùi lại được để cùng với những tàu tham gia trong trận luân chiến với hải đội đặc nhiệm thủy bộ của tướng Trần Quốc Bảo bên hữu ngạn vừa trờ tới, loay hoay tìm cách cứu vớt những người đang ngụp lặn giữa màn khói lửa dầy đặc ngùn ngụt từ những chiến thuyền bùng cháy và hàng rào lửa liên hạm.

Riêng có một khinh thuyền Đại Việt ngay từ lúc khởi đầu đã tự ý móc sát thuyền mình vào một thuyền đối thuỷ để cảm tử quân trèo lên thành tàu cận chiến. Trong cuộc tử chiến thí mạng bên dàn liên hạm, mỗi bên chỉ sử dụng được một mạn chèo cầm cự với luồng nước cho đến khi đà công của thuyền lim bị giết, tay lái bỏ không, hai thuyền quấn vào nhau trôi ngược trở lại phía liên hạm đang cháy. Trong khi hai chiếc thuyền nghiêng đắm, Một số chiến binh đôi bên kịp thời nhảy xuống sông, có người cố bơi ra khỏi vùng lửa cháy còn một số khác bám lấy những mảnh vỡ vụn nổi trên mặt nước một cách vô vọng. Nhưng thuỷ triều rút quá mạnh, chỉ trong khoảnh khắc, cả hai chiến thuyền lẫn những người đã nhảy xuống đều bị dòng nước cuồn cuộn cuốn vào trong biển lửa vô tình không phân biệt bạn thù.

Số thuyền tổn thất bất ngờ do những bãi cọc gây ra, kể cả những chiến thuyền bị hoả thiêu ở liên hạm, tuy chưa bao nhiêu nhưng đã làm cho tất cả kế hoạch di tản của chu sư Nguyên bị xáo trộn. Thêm nữa, dân binh và nghĩa quân từ cửa sông Đá-bạc vẫn liên tục thả trôi những bè lửa vào giữa đám chiến thuyền của đạo hậu vệ.

Chỉ huy đạo hậu vệ, vạn hộ Trương Ngọc là một tướng lãnh lão thành, rất tự tin ở khả năng thuỷ chiến quy ước của mình, nhưng đã bất phòng, không dự bị phải đối phó với một trận thuỷ chiến phục kích cùng lúc với hoả công trận như thế này. Còn đang gấp rút điều binh thay đổi chiến thuật, ông bị trúng tiễn thương. Nghĩa quân Đại Việt thừa thế xông lên chiếm thuyền. Trương Ngọc bị giết, binh sĩ dưới quyền ông náo loạn.

Sự náo loạn của binh sĩ Nguyên không chỉ giới hạn dưới đạo hậu vệ vì trực tiếp bị áp đảo bởi trận thế hỏa công và cái chết của Trương Ngọc mà còn lan toả lên đến tận trung quân. Ô-mã-nhi và các tướng lãnh dưới trướng vừa làm quen được với lối đánh bôn tập lẻ tẻ ít lâu nay của lực lượng thủy lục quân Đại Việt, nhưng họ không ngờ đối phương lại có thể nhanh chóng tập trung đông đảo như hiện giờ, chẳng những đang phong tỏa cả hai giang lộ ra cửa biển mà còn có khả năng uy hiếp mạn sườn bên phải của chu sư.

Nhận thấy cuộc tấn công mở đường của Lưu Khúc ở đạo tiền vệ vào liên hạm của hải lực Đại Việt tuy chưa dứt khoát nhưng không thấy có triển vọng thành công, đại đô đốc Ô-mã-nhi cũng đồng thời thấy rõ tình trạng khẩn trương nghiêm trọng ở đạo hậu vệ cần phải được lưu tâm. Lực lượng chu sư cho đến giờ vẫn còn rất hùng hậu thừa sức đối phó với mặt trận đang diễn ra mặc dầu vừa phải chịu đựng một vài tổn thất chưa đáng kể. Sở dĩ quân Nguyên không ham chiến là vì chu sư đang ở chặng chót trong cuộc di tản, chỉ muốn ra cửa biển mau chóng an toàn. Về mặt chiến thuật, đột ngột ra lệnh tạm thời dừng quân vào lúc này có lợi và cũng có hại. Trên nguyên tắc, phản công trong khi rút lui có thể phản tác dụng, nhưng để mặc cho tình thế xoay chuyển thì cũng chửa chắc đã khá hơn gì hoặc có thể còn tệ hơn nữa. Nhưng rồi trận địa càng lúc càng thay đổi mau lẹ cho đến khi phản công xem chừng là một quyết định quan trọng hơn bất cứ đổi chuyển chiến thuật nào khác. Gấp rút ngăn chặn những mối đe doạ từ phía sau bây giờ là một điều cần phải làm. Nhiên hậu, Ô-mã-nhi ra lệnh dừng quân, tăng cường lực lượng cho đạo hậu vệ trong vùng cửa sông Đá-bạc, và chuẩn bị tổng phản công.      

Lệnh phản công đột nhiên làm cho tinh thần chiến đấu của binh sĩ Nguyên phấn chấn, cái phấn chấn quyết tử chất ngất của một đạo hùng binh đang ở trong tuyệt địa không còn ý niệm sợ hãi nào trong lòng. Trong mọi hoàn cảnh chiến đấu, không có gì khó khăn nguy hiểm hơn khi phải đương đầu với một đạo quân đông đảo kiêu hùng rút lui khi họ bị dồn vào tử địa đang tìm con đường sống. Nhưng khí thế chiến đấu của quân Nguyên bừng bừng khởi phát chưa được bao lâu thì một hồi trống khởi lên từ miệt sông Giá.

Tướng Nguyễn Khoái xuất trận

Bắt đầu là những hồi trống không mang tính chất thôi thúc hay dồn dập trên trận mạc, làm cho người không nghe tiếng trống này bao giờ không cảm nhận được mình đang ở vào thế sống mái với đối phương. Thế nhưng, với những chiến binh trong hàng ngũ quân Nguyên có mặt trong trận chiến ngày ấy đã từng tham chiến với lực lượng chiến sĩ do tướng Nguyễn Khoái chỉ huy mấy năm trước, thì họ biết đó là tiếng trống xuất phát từ hàng ngũ của vị tướng oai hung này. Nên…

Nhà văn Đỗ Đình Duyệt, với một quá khứ dãi dầu, từng trải, nhẫn nại như thể một chiến sĩ cách mạng từ trai trẻ, anh cũng không vội vàng tường thuật ngay những diễn biến của trận chiến mà tướng Nguyễn Khoái chỉ huy vừa mở màn bằng những hồi trống nhịp nhàng, mà anh mô tả những hồi trống trong dân gian ở nhiều khía cạnh, nhiều lãnh vực của đời sống văn hóa hay tế tự.

“Tùng,” một tiếng trống hiệu dội lại. “Tùng, tùng,” những hồi trống trận tiếp theo sau. “Tùng, tùng, tùng,” trống hiệu và những giàn trống trận dần dần hòa nhịp, chầm chậm, chầm chậm, không thôi thúc.

Ở chốn trận mạc, người ta chỉ quen với những hồi trống dồn dập sát phạt chứ không nhẹ nhàng thư thái như những hồi trống trận này. Nhưng nhiều chiến binh từng có kinh nghiệm chiến đấu với tướng quân Nguyễn Khoái đã kinh hoàng không dám coi thường cái âm thanh thư thái nhẹ nhàng ấy. Thoạt nghe họ đã nhận ra ngay về sự có mặt của Thánh-dực Dũng-nghĩa quân, đội chiến binh cảm tử đã làm cho họ điêu đứng ở mặt trận Tây-kết bộ-đầu gần ba năm về trước. Trận ấy, Toa-đô tướng quân bị giết, Tiểu-lý đâm cổ tự sát, Ô-mã-nhi và Lưu Khuê may mắn sống sót, nửa đêm xuống thuyền nhỏ thoát chạy được về Khâm-cảng.

Đánh trống là một tập tục lâu đời để biểu tỏ và trao đổi những cảm xúc và ý tưởng trong mọi khía cạnh sinh hoạt của đời sống thường nhật. Tiếng trống là phương tiện chuyển đạt thô sơ nhưng chuyên chở đầy đủ ý nghĩa của tất cả những điều cần chuyển đạt. Vì vậy, mỗi khi nghe tiếng trống thì cũng chẳng khác nào như nghe tiếng vui buồn của đời sống hàng ngày, quen thuộc như cơm ăn áo mặc, như hơi thở, như nhịp tim.

Tiếng trống chỉ có hai âm thanh, nặng và nhẹ, nhưng khi đã kết hợp với nhịp điệu lúc nhặt lúc khoan thì lại phát sinh ra muôn vàn tiết tấu đầy hàm ý. Trong chiến tranh, những âm thanh vang vọng ấy có thể điều động, thúc đẩy và hợp nhất tinh thần binh sĩ trên một mặt trận rộng lớn. Một khi nhịp trống, nhịp tim và hơi thở đã hòa hợp với nhau thì muôn người như một, tiến thoái nhịp nhàng. Người dũng cảm không còn phải dấn thân xung phong một mình, và kẻ khiếp nhược cũng không thể đơn phương lùi bước ra sau. Họ bỗng dưng trở nên đồng hội đồng thuyền trong cơn bão táp, cứu trợ lẫn nhau như tả hữu thủ.

 “Tùng, tùng, tùng,” tiếng trống trận bây giờ đều như nhịp tim, mạnh dần, nhanh dần, mỗi lúc mỗi thêm thúc bách dồn dập như những đợt sóng nước triền miên xô đuổi nhau vỗ đập bên sông, báo hiệu một trận chiến ác liệt nhất trong ngày sắp sửa xảy ra. “Sát! Sát!” tiếng hô xung phong vang dậy cùng lúc với Thánh-dực Dũng-nghĩa cảm tử quân hối hả giục chèo theo nhịp trống vang rền như sấm động, lao vào dòng nước. Đang lúc ấy, hải đội đặc nhiệm thủy lục của Trần Quốc Bảo và lực lượng trừ bị hành quân gồm nhiều ngư thuyền lớn nhỏ mai phục trong các kinh lạch bên bờ hữu ngạn đồng thời kéo ra tham chiến. Nguyễn Khoái ra quân; tinh kỳ tung bay phấp phới, chiến thuyền Đại Việt sang sông.

Bên kia sông, chiến thuyền Nguyên được dàn thành một phòng tuyến dài trong thế đối trận. Khi thuyền Đại Việt tiến vào tầm sát thương trên dưới bốn trăm thước của nỏ, cung thủ đôi bên bắt đầu bắn nhau. Vì tầm sát thương hiệu dụng của cung thường chỉ lên đến non vài trăm thước nên tấn công bằng nỏ ở tầm xa rất lợi hại và vì xung lực của nỏ có thể tùy ý giữ lại rất lâu chờ thời cơ thích đáng mới phát xạ, chứ không như cung một khi đã giương thì phải bắn ngay hoặc phế bỏ.

Ngoài những chiến thuyền Nguyên đã bị bè lửa đốt, còn có thêm nhiều thuyền khác cũng đang bị bốc cháy vì phải hứng chịu hàng loạt tên lửa tới tấp. Giữa giờ tỵ, toàn bộ chu sư bị vây hãm trước sau, dồn tụ cả lại một bên tả ngạn Bạch-đằng khiến cho lực lượng tấn công hỗn hợp của Đại Việt có thể tập trung bao vây đông đảo trên một chiến tuyến ngắn gọn hơn. Hệ thống chỉ huy của chu sư bị rối loạn. Tinh thần liều chết chiến đấu của chiến binh Mông-cổ lại thêm một lần nữa bị khủng hoảng nặng nề, mất dần nhuệ khí.

Lúc này, lực lượng Thánh-dực Dũng-nghĩa bám chặt lấy hữu dực của chu sư. Chẳng bao lâu, thuyền đôi bên cập sát bên nhau. Ván cầu vừa bắc ngang, hàng nghìn cảm tử quân, lợi khí ngắn trong tay, thoăn thoắt trèo sang thuyền địch. Những loại khí giới dài của quân Nguyên chỉ đánh xuống được ít hiệp đầu, nhưng khi cảm tử quân lọt được vào vòng cận chiến thì thương, kích trở thành vô dụng, nhiều chiến binh Nguyên đã bị giết.

Đang lúc ấy, hải đội đặc nhiệm thủy bộ và các toán dân quân nghĩa binh tiếp viện được đưa gấp ra tiền tuyến để cùng với Thánh-dực Dũng-nghĩa quân lăn xả vào một cuộc tấn công cận tập ồ ạt, mau chóng tràn ngập tuyến phòng thủ của đối phương. Trận đánh dữ dội và ác liệt nhất trong ngày đã khai diễn trên một chiến tuyến tấn công và phòng ngự dài quá bảy dặm từ khúc ngang Tràng-kênh đến tận ngã ba sông Rút.

Trên Tràng-kênh, trận bộ chiến cũng đang diễn ra ác liệt. Là một chiến binh kỳ cựu rất am tường địa hình địa vật ở đây, tướng Phàn Tiếp đã chớp nhoáng tiến chiếm điểm cao chiến lược của vùng đất này từ hừng sáng làm cứ điểm bên hữu ngạn yểm hộ cánh sườn phải của chu sư cho những đơn vị tham chiến rút lui, nhưng chẳng bao lâu ông nhận ra tình thế càng lúc thêm rắc rối. Cho đến gần trưa, quân đổ bộ của ông mới chỉ lập được một trận tuyến giới hạn ở phía bắc Tràng-kênh, giàn cự thạch pháo của Đại Việt vẫn chưa bị triệt hạ. Trận đánh tưởng sẽ được kết thúc mau lẹ thế mà đã mất già nửa ngày trôi qua.

Bị cầm chân trong một trận chiến kéo dài quá lâu trên đất liền; non nửa thuỷ binh xung kích đổ bộ của ông đã bị thương vong khiến cho tướng Phàn Tiếp càng thêm nóng nảy. Đứng trên gò cao nhìn xuống, ông thấy thuỷ triều rút chậm hẳn lại; dân binh Đại Việt không đánh hoả công được nữa nhưng lửa khói từ phía đạo hậu vệ ở hướng bắc còn bốc cao ngùn ngụt. Ngay trước mặt Phàn tham chính, đội hình chiến đấu của chu sư càng lúc càng thu dồn ngắn lại và đang bị tấn công nguy ngập dưới sông. Cơ cấu chỉ huy hành quân đứt đoạn; tuyến phòng ngự cuối cùng có thể tan vỡ bất cứ lúc nào. Ông bồn chồn ngoái nhìn những cột bụi thấp do vó ngựa của lục quân tiếp viện Đại Việt tản mác từ sâu trong đất liền đang mỗi lúc mỗi tiến lại gần khu trận tuyến cô lập của mình.

Là một sủng thần thời mạt Tống, tướng Phàn Tiếp có đầy triển vọng trở thành một trong những nhân vật quyền uy nhất của triều đình. Nhưng không biết vì sao ông đột nhiên bị bãi nhiệm. Năm giáp tuất,1274, Phàn Tiếp quy thuận nhà Nguyên, được trọng dụng ngang hàng với những danh tướng đương thời như Toa-đô và Ô-mã-nhi. Với những chiến tích vẻ vang sẵn có, ông không bao giờ ngờ rằng mọi kế hoạch điều binh triệt thoái trên khúc sông nhỏ hẹp này dường như sẽ thất bại. Không thể kiên nhẫn thêm được nữa; mắt đổ lửa, Phàn Tiếp nghiến răng thúc ngựa lồng lên tuyến đầu, hạ lệnh tử chiến. Từng đợt chiến binh, kẻ trước người sau gào thét rùng rợn, đạp lên những người đã gục ngã mà tiến qua hào chông, xông thẳng được vào giàn cự thạch pháo của quân Đại Việt.

Trong đám xung kích tràn đến có một chiến binh Mông-cổ tầm vóc to lớn toàn thân lông lá đen như nhọ chảo, tay cầm cây lang nha bổng lởm chởm đầy răng sói bén như nước, mở đường. Dũng sĩ này có sức bạt sơn cử đỉnh nên tuy đầu óc trì độn mà cũng đã được cất nhắc lên làm tổng bả theo chân thiên phu trưởng Dương Mậu Thiến. Khi người ấy xông tới đằng sau cỗ pháo lớn nhất của pháo đội, Bùi Nhuận nghênh chiến nhưng chỉ được mấy chiêu đã mất khí giới, chân trái bị trúng một đòn chí tử, giập nát.  Hai người lính cận vệ thủ túc của Nhuận tiếp cứu đều bị đánh giạt cả ra. Còn lại một chân, trong lúc say máu, Bùi Nhuận nhảy xổ vào một tay ôm lấy người dũng sĩ Mông-cổ, một tay cuốn chặt nhiều vòng vào sợi thừng ở quang đựng đá, miệng hô lớn, “Khai pháo!” Ai nấy nhìn nhau xót xa không nỡ ra tay, chỉ xúm lại đánh tiếp. Cũng chỉ được vài đòn; thêm một người lính Đại Việt nữa bị giết.

Bỗng dưng những pháo thủ vây quanh hai người dãn ra nhường chỗ cho một người lính sử dụng một loại võ khí trông nhang nhác như một chiếc kẹp lúa lớn canh cải với hai cán dài ngắn so le. Đó là cây thiết lĩnh, còn được gọi là tử mẫu côn, một loại song tiết côn gồm một khúc trung côn cao ngang nách và một khúc đoản côn dài bằng cánh tay nối liền hai đầu với nhau bởi một sợi dây mềm dẻo bện bằng lông ngựa. Với phần cán dài của cây thiết lĩnh, người pháo thủ đâm thẳng vào bụng của người lính Nguyên nhưng liền bị gạt sang bên. Nương theo đà lực cản mạnh mẽ của người dũng sĩ Mông-cổ, người lính nhanh nhẹn xoay tròn cây thiết lĩnh, quấn sợi dây và khúc đoản côn thắt chặt vào cổ đối phương.

Bị Bùi Nhuận ôm chặt cứng không gỡ ra được, viên tổng bả điên cuồng gầm thét vang rền như sấm nổ, thò tay ra tóm lấy cây thiết lĩnh kéo ngược vào lòng. Người pháo thủ một tay vẫn níu chặt lấy khí giới của mình, tay kia rút truỷ thủ vung ra sau chém đứt sợi thừng giữ cần hậu toạ. “Khai pháo!” Sau tiếng hô nghẹn ngào ấy, người lính buông truỷ thủ, miệng cắn chặt vào sợi dây thừng, vòng tay ôm lấy người dũng sĩ Mông-cổ. Cả ba người cùng với một tảng đá lớn bắn lên cao, quay lộn trong không trung trước khi rơi xuống trên một pháo tháp thuyền của quân Nguyên dưới sông, phát ra âm thanh đinh tai nhức óc. Cỗ pháo trên thuyền bị gãy giàn đổ xập xuống trên đầu chiến binh thủy thủ Nguyên, phá thủng mặt sàn. Toàn thân tàu rung chuyển, khói bụi mịt mùng.

Chiến binh của pháo đội đã chết gần hết lại thêm mất người chỉ huy, chẳng bao lâu giàn cự thạch pháo bị triệt hạ. Chiếm được mục tiêu, toán quân Nguyên này thừa thế tấn công xuống nam Tràng-kênh.

Quân Đại Việt mất giàn cự thạch pháo trên bờ, nhưng tình hình chiến đấu của binh sĩ Nguyên dưới Bạch-đằng càng lúc càng nguy khốn. Hàng thuyền trong cùng bị đánh giạt vào sát bờ, một số đã bị mắc cạn. Chiến thuyền vững chắc của quân Nguyên vượt đại dương không ngại sóng to gió cả ngoài khơi mà chỉ sợ đi vào những nơi nông hẹp như thế này.

Chính ngọ. Nước đứng. Vào lúc này, cuộc đột kích của lực lượng hỗn hợp dẫn đầu bởi Thánh-dực Dũng-nghĩa quân đã hoàn toàn ngăn trở cuộc di động của chu sư và gây tổn thất thương vong nặng nề cho quân địch. Tuyến phòng thủ ngoài cùng của chu sư bị đẩy dần vào những hàng thuyền bên trong, tinh thần quyết tử của quân Nguyên càng thêm sa sút. Dưới ánh mặt trời buổi trưa chói lọi, cuộc sát phạt trên sông đã sắp đến hồi kết thúc. Xác người trôi như rạ, máu đào nhuộm đỏ nước sông. Tuyệt lộ, chiến thuyền chu sư chen chúc xô nhau vào bờ theo tiếng cồng thu quân thôi thúc. Giữa rừng cờ xí nghiêng ngả, Nguyên quân được lệnh bỏ thuyền. Ván cầu và thang giây của lớp thuyền đậu trong cùng được thả xuống, chiến binh, thủy thủ đua nhau lao mình xuống bãi lầy để tìm đường vượt thoát.

Mực nước thấp nhất của ngày nước cường hôm nay vẫn còn hai thước một thốn cao hơn mực nước thấp nhất của những ngày nước kém bình thường trong năm, nên tuy thủy triều đã xuống hết mà mặt nước còn mênh mông che phủ bãi lầy bên tả ngạn Bạch-đằng.

Trong tình thế hiểm nghèo giữa đầm lầy trống trải, thủy binh thiện chiến Nguyên ùn ùn đổ bộ, lê lết từng bước trong nước nghẽn bùn ngập lên đến quá bụng, hối thúc nhau mau chóng vào bờ.

Đợi cho quá nửa quân số của chu sư đổ bộ đã vượt qua bãi lầy lên được bờ và bắt đầu tiến vào đất liền, trong khi non nửa còn lại áo quần trĩu nước vẫn còn đang khốn đốn sa lầy trên một dải phù sa dài rộng ngoài ven bờ, lúc ấy phục binh của Đại Việt ở trong rừng mới phát động tấn công.

Phía trước mặt bị phục binh Đại Việt đón đánh, phía sau lưng họ tuyến phòng thủ cuối cùng vừa bị lực lượng thủy bộ phá vỡ. Vô kế khả thi, chiến binh Nguyên đổ bộ bị dồn vào hãm địa không còn lựa chọn gì khác hơn để phải uý kỵ, lại một lần nữa bừng lên tinh thần chiến đấu rất hăng. Quân Đại Việt phải tạm thời rút lui có trật tự về tuyến phòng ngự đã được chuẩn bị sẵn ở trong sâu.

Quân Nguyên dần dần tập trung được lực lượng, thiết lập phòng tuyến trên đất liền từ vùng Yên-giang đến Hà-nam. Bỗng đâu lực lượng tác chiến của tướng Đỗ Hành và nghĩa quân từ dưới phía nam tiến lên. Quân Nguyên còn chưa kịp phản công thì hai vệ Thánh-dực Tả-hữu quân của triều đình từ vùng núi Dưỡng-nham trên phiá đông bắc cùng với bộ binh, nghĩa binh và dân quân của căn cứ Trúc-động vừa lúc tràn xuống sát trường. Ba mặt giáp công, rừng rừng gươm giáo, đôi bên lực chiến, trời long đất lở.

Đã thắng thế trên sông, bây giờ lực lượng thủy lục quân hỗn hợp Đại Việt lại càng có ưu thế trên đất liền vì nắm vững được địa hình sông ngòi, rừng núi. Không bao lâu, phòng tuyến quân Nguyên núng thế rồi tan vỡ, cuộc rút lui trở thành một cuộc tháo chạy toán loạn giữa tiếng hò reo chiến thắng của quân Đại Việt.

Giữa giờ thân, đứng trên Tràng-kênh, Phàn tham chính chứng kiến từ lúc quân Nguyên đổ bộ bên tả ngạn cho đến khi lâm vào tình trạng vô vọng, tan rã. Đến lúc này thì ông không còn ngờ vực gì nữa, chẳng những ông đã không giúp được gì cho cuộc triệt thoái của chu sư mà lực lượng đổ bộ Tràng-kênh của ông hiện đang bị án ngữ. Đội quân tiến xuống phía nam đã mất liên lạc, bản thân ông bị vây khổn ở phía bắc, tình trạng khôn bề cứu vãn. Phẫn chí, Phàn Tiếp xuống ngựa, tra kiếm vào vỏ, quăng cái mộc da xuống đất. Người cận vệ đứng bên trao cho ông một cây siêu đao, người chiến binh mạt lộ ngửa mặt lên trời hú dài một tiếng, hoành đao, dẫn quân bản bộ vừa đánh vừa rút xuống bờ sông.

Dưới bờ, quân Nguyên trên hơn hai chục chiến thuyền chờ đợi Phàn Tiếp cũng đang bị nghĩa quân và dân binh tấn công. Mặc dù là một đội binh hợp chủng, và tuy gần nửa đã bị loại ra khỏi vòng chiến, nhưng những chiến binh ấy vẫn trung thành kiên thủ đợi chờ chủ tướng, không chịu bỏ chạy. Đến gần chỗ thuyền đậu, Phàn Tiếp bị nghĩa binh xúm lại bao vây, nhưng không ai xán lại được gần. Mình đầy thương tích, họ Phàn vẫn một đao tả xông hữu đột, luôn mình né tránh những mũi lao tới tấp phóng vào người, đánh đến đâu là đầu rơi máu chảy tới đó cho đến khi Trần Quốc Bảo xuất hiện. Hai tướng trao đổi nhau ít hiêp, Phàn Tiếp chạy xuống đến mé sông, nhảy lên thuyền, ván gãy, rơi xuống nước, bị nghĩa binh dùng câu liêm móc lên bắt sống. Binh chúng Nguyên thấy chủ tướng đã bị bắt mới nhất loạt đầu hàng.

Sau khi làm chủ tình hình Tràng-kênh, tướng Trần Quốc Bảo thân giải Phàn Tiếp đến hành dinh của Nguyễn Khoái. Lúc này, ông đang ngồi mạn đàm với Trương Hán Siêu trên khoang mũi soái thuyền đậu gần ngã ba sông Rút, ngay đằng trước giàn liên hạm còn đang âm ỉ khói. Khi biết Phàn Tiếp bị trọng thương, Nguyễn Khoái liền sai người đem vào phòng chỉ huy ở khoang sau, dặn phải tận tình săn sóc; vừa lúc đại đô đốc Ô-mã-nhi và chư vương Tích-lệ-cơ cũng được minh tự Đỗ Hành cho người giải đến.

Ô-mã-nhi Bạt-đô da dẻ nâu xậm như đồng mun, người đẫy đà to lớn, mặt mũi quắc thước, râu ngắn quanh hàm đâm ra tua tủa như rễ tre. Qua mười ngày đêm chiến trận liên miên, khí lực có phần suy giảm nhưng vẫn không mất đi cái uy vệ của một đại dũng sĩ Mông-cổ trong hàng ngũ hổ tướng của nhà Nguyên. Còn Tích-lệ-cơ người tầm thước, mặt dài, mắt một mí, môi mỏng, có dáng dấp của một mưu thần trong triều hơn là một dũng tướng ngoài phiên trấn.

Nguyễn Khoái và Trương Hán Siêu cùng đứng lên. “Nhị vị tướng quân khang hảo?” Nguyễn Khoái nghiêng đầu chào hỏi hai viên tướng Nguyên rồi tự giới thiệu mình và Trương Hán Siêu. Chẳng thèm lý gì đến Ô-mã-nhi, Trương Hán Siêu chỉ chào có một mình Tích-lệ-cơ vương với một nụ cười thân thiện.

Trước đây, Tích-lệ-cơ đã được báo cáo về người cố vấn tuổi trẻ tài cao của tiết chế Hưng-đạo đại vương. Ông cũng được biết thêm là người này tính tình bộc trực, hễ ghét ai thì nói toạc ra, phê phán cả đến Phật học là quốc giáo của Đại Việt vì không hợp ý, chẳng dè dặt gì cả. Là một bại tướng, ông thực sự không trông đợi sẽ được đối đãi công bằng hợp lý. Còn đang băn khoăn, ông không hiểu tại sao riêng mình lại được biệt xử bởi con người đặc thù này như vậy, kịp lúc Nguyễn Khoái mỉm cười nói, “Trương đại nhân đây là tri kỷ của bái huynh tại hạ, Phạm Tá Phiên.” Nguyễn Khoái nhắc đến Phạm Tá Phiên khiến Tích-lệ-cơ nhớ lại những ngày tháng vừa qua đã cùng họ Phạm mạo hiểm gửi người lên Hoà-lâm hoạt động với nhóm Bắc-biên chư-vương. Hai ngày trước khi theo đại quân Nguyên vào biên giới Đại Việt, ông nhận được tin chẳng lành về người bằng hữu này. Bây giờ chợt hiểu tại sao, ông nhìn Trương Hán Siêu chắp tay đáp lễ. “Rất hân hạnh,” vị thân vương buồn rầu nói.

Ô-mã-nhi soi bói nhìn người chiến binh đã đánh bại mình một cách nhục nhã ở Tây-kết, giờ lại chiến thắng ông trong trận Bạch-đằng này; chẳng thấy có đặc điểm gì nổi bật ngoại trừ một vết sẹo dài hằn sâu trên khuôn mặt gian khổ dãi dầu. Viên đại tướng Nguyên cũng hiểu rằng những lời Nguyễn Khoái nói chỉ là một cử chỉ xã giao thông thường nhưng ở trong tình huống giữa người thắng kẻ bại hiện nay thì lại trở thành một thái độ giống như khiêu khích hết sức khó chịu. Vả lại, điều mà ông không thể hiểu nổi là những lời đối đáp mơ hồ và hành vi cổ quái của ba người trước mắt. Ô-mã-nhi đùng đùng nổi giận, sẵng giọng, “Chúng ta đã sa cơ thì còn ‘khang hảo’ làm sao được? Nhà ngươi cứ việc băm xẻ, không cần phải nhiều lời.”

“Tại hạ ăn nói vụng về, thực tình không có hậu ý,” Nguyễn Khoái nói. Tuy thiếu sự khôn ngoan về giao tế nhưng ông cũng vừa chợt nhận thấy những lời chào đón của mình vào lúc này có điều không ổn. Thực sự ông không có ý khiêu khích và cũng không hề cảm thấy mất thể diện vì những lời lăng mạ của Ô-mã-nhi, nhưng chưa tìm được cách nào khác hơn là vẫn giữ thái độ trầm tĩnh của mình. “Mời nhị vị an toạ rồi chúng ta hãy nói chuyện,” ông ôn tồn nói.

Không hiểu vì mệt mỏi hay vì thái độ nhã nhặn của Nguyễn Khoái mà cả Ô-mã-nhi lẫn Tích-lệ-cơ, áo quần tả tơi cát bụi, cùng Nguyễn Khoái và Trương Hán Siêu buông mình ngồi xuống chiếu trải trên sàn thuyền. Trà tươi nóng đem ra, không ai khách sáo.

“Trong hoàn cảnh rối loạn hiện nay, tại hạ xin lỗi không thù tiếp được nhị vị tướng quân chu đáo,” đợi mọi người cạn bát trà, Nguyễn Khoái mới lại lên tiếng.

“Ta với ngươi là kẻ thù, kiếm của ta đã vấy đỏ máu bọn Giao-chỉ mà nhà ngươi vẫn một điều mềm mỏng, giả trá là tại làm sao? Đừng có giả vờ nhũn nhặn,” Lửa giận bừng bừng trong mắt, Ô-mã-nhi bậm môi gắt lên.

“Không phải tại hạ ‘giả trá’ đâu. Cũng giống như hai cuộc chiến trước đây, cuộc chiến này xảy đến đều do cao vọng mưu bá đồ vương của Nguyên chủ. Thân là chiến binh, chúng ta bất quá chỉ biết cầm quân chiến đấu, cố gắng hoàn thành sứ mệnh được giao phó,” Nguyễn Khoái thở dài ngừng lại một lúc khá lâu. “Một lần dụng binh là một lần sinh tử, hậu quả tác hại của chiến tranh hết sức hệ trọng cho tất cả những người có liên can. Nếu không vì bị bức bách phải bất đắc dĩ tự vệ cho sự sống còn của dân tộc thì tuyệt nhiên quốc chủ của chúng tôi không hề có ý định dấy động binh đao một cách mù quáng,” ông nói tiếp, giọng không được vui. “Có điều là trong lúc dấy động can qua, đao kiếm không có mắt, tránh sao khỏi cảnh máu đổ thịt rơi, vì thế mà xưa nay người dân vô tội vẫn thường là nạn nhân của khói lửa. Nhưng tướng quân đã không nương tay, nhẫn tâm xua quân chém giết cả trẻ con, đàn bà và người già cả trong một cuộc thảm sát đẫm máu nhất mới đây, lại còn đang tâm xâm phạm tông miếu tiên vương khiến người trong nước tôi không ai không oán trách. Chỉ vì hiếu sát mà gây ra những hậu quả tàn phá kinh hoàng, tướng quân thử nghĩ xem những hành đông thô bạo cố ý ấy có quá đáng hay không? Tuy nhiên bây giờ không phải là lúc nên đôi co mà là lúc chúng ta nên hoà giải. Vì hai nước chiến tranh khiến chúng ta phải ở thế đối nghịch, nhưng dẫu sao hai vị đều là những trang anh hùng hảo hán đương thời của nhà Đại Nguyên, Khoái tôi thật vốn có lòng ngưỡng mộ.”

“Chúng tôi đã là bại tướng, không nghĩ đến tiếng ‘hảo hán anh hùng’ nữa,” chư vươngTích-lệ-cơ là người hào hiệp, ông ăn nói khảng khái nhưng không lỗ mãng như Ô-mã-nhi.

“Người nước tôi từ vua cho đến thứ dân đều chuộng anh hùng nên trong nước đền thờ vua chúa rất ít mà đền thờ anh hùng liệt nữ phá giặc thì nhiều. Chúng tôi không lấy thành bại để luận anh hùng, cũng không tị hiềm bạn hay thù những khi phán đoán về bản sắc của nhau. Năm xưa, vua Lý Thánh-tông đánh Chiêm, giết Sạ Đẩu ở Ngũ-bồ, vương phi Mỵ Ê tử tiết, dân phủ Lý-nhân chúng tôi lập đền thờ bà bên bờ sông Châu-giang. Ít lâu trước, Toa-đô tướng quân tử trận ở Tây-kết, vua nước tôi thương tiếc nhân tài, thân cởi áo bào mà đắp lên di thể rồi lại cho mai táng theo lễ nghi quân cách dành cho một vị chiến tướng dũng cảm.”

“Liệu lý an bài chúng tôi như thế nào là tuỳ thuộc ở trong tay tướng quân,” Tích-lệ-cơ khiêm tốn nói. Ông và Ô-mã-nhi trước đây có nghe nói qua về việc vua Trần Nhân-tông khen Toa-đô là người dũng kiện, lệnh cho hậu táng. Bây giờ lại nghe chính miệng Nguyễn Khoái kể chuyện ấy nên cũng bớt được một phần nghi kỵ.

“Đại vương là đại quý tộc của vương triều, phú quý công danh sẵn có,” Nguyễn Khoái không mấy lộ vẻ ngạc nhiên trước thái độ khác nhau của hai người, ông quay sang Tích-lệ-cơ, hạ giọng. “Nghe nói chỉ vì mối bất bình mà đã cùng với chư vương khởi nghĩa ở Mạc-bắc. Chuyện chưa thành, nhưng hào khí vẫn còn đó.”

Chư vương Tích-lệ-cơ là tộc thuộc của hoàng đế nhà Nguyên, trước kia đã cùng một nhóm tông vương thủ cựu dấy động cuộc Bắc-biên chư-vương chi-loạn do vương tử Nãi-nhan cầm đầu, chủ trương giữ truyền thống Mông-cổ, chống lại một Hốt-tất-liệt mất gốc ở phương nam. Năm ngoái, Nguyên chủ thân chinh bắc phạt bắt được Nãi-nhan, sai quân quấn vào hai tấm thảm lông rồi truyền lệnh đánh chết; những thân vương khác bị bắt đều bị trích thú để chuộc tội phản động. Là một thủ lãnh có năng lực, Tích-lệ-cơ được giữ lại cho phép tòng quân thay vì bị đi đầy. Ông là người hào sảng, dù đang trong cảnh ngộ thảm bại, nghe có người nói đúng tâm ý của mình liền phá lên cười. Ít ra, giữa ông và Nguyễn Khoái có một điểm tương đồng, cả hai đều là kẻ thù của đại hãn Hốt-tất-liệt.

Bắt được đại đô đốc Ô-mã-nhi và thân vương Tích-lệ-cơ, nội minh tự Đỗ Hành sai báo tiệp và cho giải hai người đến hành dinh của Nguyễn Khoái. Ông không đích thân áp tải tù binh vì bận thu dọn chiến trường. Tất nhiên, nhiệm vụ thu dọn chiến trường có thể giao phó cho bất cứ tỳ tướng nào chẳng được. Thực ra đó chỉ là cái cớ để tránh phải giáp mặt chạm trán với kẻ đại thù trên soái hạm vì ông ngại mình không thể đối xử điềm đạm hoà nhã với những người đã ngã ngựa này như vị chủ tướng của ông. Ông chưa nguôi giận về những hành động hung tàn của Ô-mã-nhi trên đường truy đuổi vua Nhân-tông hơn tháng về trước, đã thả lỏng cho quân lính mặc tình tàn sát dân chúng, và khai quật lăng mộ vua Trần Thái-tông ở phủ Long-hưng. Nhưng ý định tránh gặp mặt Ô-mã-nhi và Tích-lệ-cơ của Đỗ Hành chưa kéo dài được bao lâu thì bất ngờ ông nhận lệnh trực tiếp đệ trình khẩn dụ của hoàng đế cho Nguyễn Khoái. Nhìn kẻ tử thù ngồi bên chủ tướng trên soái thuyền, ông đã phải cắn răng nín thở và lập tức xin cáo từ ngay sau khi làm xong nhiệm vụ chuyển giao. Nhân dịp, Trương Hán Siêu quyết định đi cùng Đỗ Hành trở về đại bản doanh của Hưng Đạo đại vương.

Nguyễn Khoái hiểu lòng dạ viên tướng nóng nảy này cũng như ông biết rồi ra nhà vua sẽ đối xử tử tế với tù hàng binh trước khi phóng thích họ, một phần vì bản tâm từ ái của ngài và một phần để chứng tỏ với nhà Nguyên rằng Đại Việt không muốn gây hấn, chỉ muốn hai nước giữ tình hoà hiếu. Sau khi quân sư Trương Hán Siêu và tướng quân Đỗ Hành rời soái thuyền, Nguyễn Khoái nói với Ô-mã-nhi và Tích-lệ-cơ là ông vừa nhận được chỉ dụ của hoàng đế rằng “thượng hoàng và hoàng thượng cùng với Hưng-đạo đại vương hiện có mặt trên bến Rừng, đang nóng lòng muốn gặp nhị vị tướng quân.” Ngoài ra, ông cũng báo cho họ biết là tất cả số đàn bà quyến thuộc họ đem theo trong cuộc viễn chinh này “đã được chăm sóc chu đáo và thu xếp tươm tất đưa lên thuyền lớn đem về kinh sư trước,” nói xong, ông cho lệnh nhổ neo.

Sau trận chiến                 

Sau khi Ô-mã-nhi và Vương-lệ-cơ bị bắt và lúc này, tướng Nguyễn Khoái và Trương Hán Siêu đang dẫn hai tướng của quân Nguyên này đi trình diện Thượng hoàng và Hoàng thượng cùng Hưng-đạo đại vương. Chiến trận đã kết thúc, Chương 8 đã có thể chấm hết ở đây. Thế nhưng, tác giả đã muốn nói đến “bãi chiến trường” về người và xác những chiến thuyền còn rất nóng đang bày ra trên sông và trên bờ. Tác giả cũng còn nói đến những con người vừa mới tham gia cuộc chiến bị thương, tìm nơi ẩn trú, như đôi bạn trẻ “thằng Bòi” và cô gái “mỏ nhọn”. Cậu con trai bị thương, được cô gái mỏ nhọn cứu chữa. Chúng tôi muốn giới thiệu với độc già nhà văn Đỗ Đình Duyệt trong đoạn viết về cậu Bòi và cô gái mỏ nhọn. Đây là một lối mô tả nhân vật rất dân gian trong xã hội Việt Nam, thời Nam Cao, Vũ Trọng Phụng. Còn hai chiến binh của quân Nguyên là Phù Xương Ninh và Phú Hàn và thêm Lão Ngũ, người Bạch y. Qua người lính Phú Hàn, tác giả muốn nói đến sự mù lòa giả hay thật của người đời. Chúng tôi kết thúc Chương 8 này bằng bài ca đệm nhịp phách do Lão Ngũ cất lên trong hang động. Bài ca này hãn hữu, ý nghĩa thâm hậu về một cuộc chiến bi thảm, thắng hay thua, đều chịu thương đau. Tôi chợt liên tưởng đến cuộc chiến lần thứ hai tại Việt Nam, kết thúc vào trưa ngày 30-4-1975.

Nước vào ngập nửa lòng sông, soái thuyền xuôi dòng, nghịch gió lờ lững bơi lên thượng nguồn. Thuỷ triều dâng cao soi bóng rừng già và những giốc đồi lởm chởm xuống hai bên bờ nước, trên đó có những lính chiến mệt mỏi đang bận rộn cứu chữa thương binh, người nằm thoi thóp im lìm ôm vết tử thương đẫm máu, kẻ quằn quại đau đớn rên rỉ trên mặt đất. Đây đó, có những dân binh đang âm thầm tải thương và thu nhặt, chôn cất những tử thi bằm vặp, thịt xương tan nát, cái mất đầu, cái bị chặt lìa cả tứ chi. Từng đám đàn bà trẻ con chạy đôn đáo, cố gắng dập tắt nốt những đám lửa sót lại, và tìm kiếm những gì còn có thể cứu vãn từ đám tro tàn đổ nát trên chiến địa tan hoang.

Nguyễn Khoái ngồi giữa trên sàn mũi tàu, hai bên là Ô-mã-nhi và Tích-lệ-cơ, cả ba đều cầm những bát trà nguội trong tay, cùng thẫn thờ ngao ngán nhìn thảm cảnh khói lửa điêu tàn bên sông với xác người trôi giạt ven bờ giữa những chiến thuyền cháy rụi. Nguyễn Khoái thở dài, “Tổn thất của chúng tôi thật đau lòng!” Một niềm cảm xúc ray rứt giữa vinh quang và hệ lụy bàng bạc trong giọng nói buồn buồn của ông. “Tổn thất bên quý vị thật đau lòng!” ông nói tiếp. Soái thuyền trôi qua ngã ba sông Chanh, những chiến thuyền chưa bị hư hại nặng đã được thuỷ thủ Đại Việt kéo ra tập trung bên hữu ngạn Bạch-đằng, chỉ còn lại những xác thuyền đắm vỡ.    

      Trong ven rừng bên bờ sông Chanh, thằng Bòi nằm sóng soài dưới một tàn cây đốm nắng gần bên bãi cọc. Máu trên vạt áo nó phần nhiều đã khô đen, những vết thương xây sát nhẹ đã lành miệng trừ vài chỗ còn ri rỉ máu. Nhưng vết thương sâu hoắm ở bên sườn thằng nhỏ làm cho con bé mỏ nhọn lo lắng nhất. Nó nhìn thấy từng đợt máu đỏ tươi từ miệng vết thương ứa trào theo nhịp tim dồn dập và hơi thở khò khè. Máu đỏ tươi phọt ra còn nguy kịch hơn là máu đỏ xẫm chảy xối xả. Chẳng bao lâu thằng con trai sẽ mất hết máu, phải cầm lại ngay may ra còn cứu kịp, nó nghĩ.

Thoạt tìm thấy thằng Bòi nằm ngất lịm giữa đám xác người rải rác trong rừng, con bé tưởng nó đã chết. Mãi sau mới biết nó chỉ bị thương nặng. Đứa con gái bèn đỡ nửa trên thân thể đầy thương tích của nó lên một phiến đá mỏng, đầu hơi ngả về phía sau cho dễ thở và bớt ra máu. Trên người đứa con gái lúc này chỉ vỏn vẹn có cái váy đụp rách mướp và một mảnh yếm dầy. Không cần nghĩ đi nghĩ lại, con bé đưa tay lên cởi phăng cái yếm vải ra để đốt lấy tro.

Bây giờ ngồi cạnh bên thằng Bòi, con bé mỏ nhọn buộc trên cổ một chùm cành lá loà xoà che trước ngực; nhấp nhấp ngón tay vào đám tro ấm trước mặt thử xem đã nguội hẳn chưa. Nó không hiểu tại sao trẻ con đứa nào cũng được dạy đốt vải thành tro để rịt thương và cầm máu, chẳng thua gì dùng tơ nhện hay lông con lười.

Nhón từng nhúm tro nguội, đứa con gái rắc lên chỗ chảy máu nhưng chẳng ăn thua gì. Nó sốt ruột bốc từng vốc tro rải lên vết thương nhưng hết lớp này đến lớp khác đều bị ướt sũng máu. Cuối cùng, con bé lần trong bao lấy ra một búi sơ gốc tàu cau khô để làm băng đắp lên lớp tro đẫm máu. Bằng cả hai tay, nó đè chặt xuống trên tấm băng và giữ ở đó thật lâu cho đến khi máu hầu như ngưng chảy. Mầu xanh bầm trên da dẻ thằng con trai dần dần chuyển đổi thành nhợt nhạt, một dấu hiệu đáng vui. Con bé mừng thầm là nó đã cầm được máu cho vết thương. Trong lúc bị kích động, bàn tay nó vô ý đè xuống hơi mạnh. Vết thương bị động, thằng Bòi co rúm người đau đớn kêu ré lên, mở bừng mắt ra khiến con bé giật mình hốt hoảng rụt vội tay về che lấy ngực.

Thằng con trai ngơ ngác, hai mắt yếu ớt nhìn quanh rồi dừng lại trên khuôn mặt đứa con gái. Mặt mày rạng rỡ; nó vui mừng khi nhận ra được cái nét “xuy hoả khẩu” quen thuộc. Nó muốn cất tay lên mà không được, miệng mấp máy nói cũng không ra hơi. Con bé chợt nhớ ra là mất máu thường bị khát, nó tất tưởi chạy xuống bờ sông làm mấy con kên kên đậu bên xác người giật mình ồn ào vỗ cánh bay lên. Trước hết, đứa con gái xé một mảnh váy rách nhúng xuống nước. Sau đó, nó hái một chiếc lá vông to gấp nếp làm thành gáo để đựng miếng giẻ thấm nước.

Về đến nơi, nó vội ngồi xuống vắt cái giẻ ướt, kiên nhẫn nhỏ từng giọt vào miệng thằng bé. Miếng rẻ nhỏ quá không hút được nhiều nước “nhưng cũng chẳng sao,” đứa con gái lẩm bẩm. Những người bị thương cần nước nhưng uống nhiều quá sợ khó cầm máu. Nước sông có thể làm cho đỡ khát vì thiếu nước trong người nhưng không thể thay thế máu bị mất. Nó vét nốt chút nước còn đọng trên gáo lá, đưa những ngón tay ẩm ướt nhẹ nhàng xoa trên cặp môi khô lạnh của đứa con trai.

Chỉ có mấy giọt nước đã làm cho thằng Bòi tỉnh táo hơn để nhận ra được cái cảm giác êm ái từ những ngón tay dịu dàng mơn trớn trên miệng mình. Máu không còn rỉ ra nhiều ở vết thương sâu nhất nữa. Đáng lý không nên thay băng hay động đến vết thương trong mấy ngày liền nhưng vì tro đã quá ướt nên đứa con gái cố gỡ miếng băng cũ để bỏ thêm một lớp tro khô. Động tác nó lúc này trở nên lúng túng vụng về như bắt chuồn chuồn trên miệng vết thương làm thằng con trai lại bị đau nhói, mồ hôi mồ kê toát ra như tắm. Nó nhăn mặt chau mày nghĩ bụng là “cái con khỉ tiều này chỉ được cái khéo tay những lúc đan rá, dệt chiếu, vá lưới thôi.” À, tí nữa thì quên khuấy đi mất, “Cả cái lúc những ngón tay mềm mại ấy thấm nước lên môi nó nữa chứ.” Thằng Bòi nhìn lên chùm lá che ngực đứa con gái, tim đập rộn ràng, miệng nó lại mấp máy giả bộ khát nước.

“Nằm im để người ta cầm máu cho,” biết là thằng con trai vờ vịt, con bé bẽn lẽn gắt lên, tự xưng là “người ta” một cách vu vơ cho đỡ ngượng.

“Im thì im,” thằng Bòi đứt hơi một lúc mới tiếp được, “sợ gì!” Nói xong nó thở dốc lên nhưng mắt lại sáng ra.

“A! Vết thương vừa mới se lại được một tí là cóc đã mở miệng. Đồ sống dai như đỉa,” đứa con gái nói, mắt cũng sáng lên.

“‘Người ta’ có việc gì không?” thằng con trai nhại giọng con bé.

“Không!” con bé bĩu môi bĩu mỏ hờn mát, “Sao không đợi đến mai hãy hỏi?” Nói đến đây nó nhìn xuống đất, dịu giọng hỏi trống không, “Đau lắm hả?”

“Không!”

“Điêu vừa chứ.”

“Thật đấy! Có ai chết không?” thằng Bòi hỏi. Chưa cử động được, nó đảo mắt  vòng quanh tìm kiếm nhưng không thấy được gì.

“Khối người chết!” Liếc nhìn một lưỡi giáo gãy lấp lánh trong nắng bằng con mắt ráo hoảnh, đứa con gái nghĩ đến ông cậu nằm vùi dập đâu đó giữa những xác người ngổn ngang trên chiến địa. Hãi hùng, nó muốn hét lên thật to, nó muốn khóc sướt mướt nhưng đau buồn quá không làm sao chảy nước mắt ra được.

Nắng chiều dìu dịu đổ xuống dòng sông hắt ánh hoàng hôn lên mái tóc xanh rối của đứa gái quê. Nó bồi hồi nhìn theo cánh cò trắng đang uể oải sải cánh qua sông bay về phía núi Phượng-hoàng bên kia bờ sông Giá, nhớ đến những con bạn gái cùng lứa lớn lên với nó ở đấy không biết bây giờ sống chết ra sao.

Ở đấy, những buổi chăn trâu trên đồng cỏ, tụi chúng nó hay rủ nhau vào cái động sâu ở lưng chừng núi để tâm sự về những mẩu chuyện tâm tình, phần lớn là những ước mơ. Có đứa ước mẹ nó sẽ đẻ thêm em, có đứa cầu nguyện cho bà nội còn sống, có đứa ước gì đời nó sẽ có một cái váy lĩnh và cũng có đứa chỉ giản dị muốn nhà mình gần cánh đồng cỏ ngay dưới chân núi Phượng-hoàng để mỗi lần chăn trâu và đàn đúm với lũ bạn không phải đi qua cái cây cổ thụ có ma ở cuối làng những khi trời còn tối.

Một hôm, con Hảo, lớn nhất trong đám, ước gì sau này nó sẽ đẻ con giai. Thần sầu! Chuyện hào hứng như thế mà mãi đến bây giờ mới có đứa nghĩ ra. Chúng nó bèn xúm vào tranh nhau ao ước, đứa muốn sinh con gái, đứa muốn đẻ con giai. Có đứa hôm trước mới thích con giai, qua một đêm, hôm sau đã đổi ý. Chuyện to chuyện nhỏ, cái gì cũng đem ra bù khú.

Lại một hôm khác, con Hảo bảo hình như phải lấy chồng thì mới có con được. Con gái mười bốn mười lăm, tồng ngồng tắm truồng ngoài suối không biết thẹn nhưng vừa đả động đến chuyện vợ chồng, tuy chưa biết gì, là đã đỏ mặt tía tai. Chúng nó thề sẽ không bao giờ nói những điều thầm kín ghê gớm này với ai cả. Chúng nó cũng thoả thuận với nhau, đứa nào có tâm sự riêng, có quyền lên hang nói chuyện một mình rồi gửi gió đưa ra ngoài biển. Từ đó, cái thế giới riêng tư của lũ con gái được đặt tên là Động Gió.

Đó là hồi trước, còn bây giờ thì khác rồi. Ba bốn tháng nay chưa lên Động Gió, nó nhớ. Hết giặc, cả đám sẽ lại rủ nhau lên cái động quỷ không biết thần không hay này, tha hồ mà hàn huyên, có biết bao nhiêu chuyện để mà nói. Chắc chúng nó không còn cãi nhau nhiều như trước nữa bởi vì sau trận đánh tàn khốc này thì rồi ra chuyện gì cũng sẽ là chuyện nhỏ. Nghĩ như vậy, mỏ nó nhọn thêm ra, hướng mắt nhìn sang phía Động Gió mịt mờ xa tít bên sông, vô tình không biết cái hang động lạc thú ấy hiện giờ không còn là của riêng chúng nó nữa. 

Dưới đây là chuyện về hai người lính của quân Nguyên, một người bị thương nặng, một người bị nhẹ, trong lúc đi trốn, vô tình tìm được hang động gió. Đoạn văn này là sứ điệp của nhà văn Đỗ Đình Duyệt về tính nhân bản. Một cô bé Đại Việt biết Phù Xương Ninh và Hàn Phú, hai tên lính của quân Nguyên đi vào hang động gió và cũng đã chỉ cho Lão Ngũ vào đây. Lão để lại một bài ca với nhịp phách, gây bâng khuâng cho tôi. Bài ca với nhịp phách của một người Bạch y vốn mang hận nước mất bởi quân Nguyên, theo Mạc Tăng Thốn từ Dữu Lý về tham chiến với hy vọng Đại Việt chiến thắng kẻ thù. Lý tưởng hoàn thành. Nhà văn Đỗ Đình Duyệt, qua nhân vật Lão Ngũ cất lên bài ca trong hang động sau trận chiến, đã mang nhiều ý nghĩa, âm hưởng của bài ca vang dội tới núi Phượng Hoàng, tồn tại với lịch sử, với thời gian, vạn vật sinh hóa… Thương hải tang điền, trăm năm lạc lõng, dãi dầu mưa nắng, tình sầu vô lượng…    

Cửa Động Gió thắt hẹp cổ bầu khuất sau bụi rậm và đá tảng, phải chui lách qua nhiều kẽ đá ngóc ngách mới vào được, bên trong là một gian thạch thất thiên nhiên rộng rãi khô ráo. Ngồi dựa sát vào vách đá trong cùng, Hàn Phú đầu tóc bê bết máu, thẫn thờ nhìn Phù Xương Ninh nằm bên cạnh, cánh tay trái gãy vắt ngang trên ngực phập phồng theo hơi thở thoi thóp.

Phù, Hàn hai người đáng lý chỉ làm nhiệm vụ tiền thám, nào ngờ thuyền họ vừa áp mạn mở đường cho hải đội cự thạch pháo kéo lên, còn đang luẩn quẩn bên đám xung kích hải thuyền, đúng lúc Phàn Tiếp ra lệnh đổ quân. Lên bờ, gần trăm người của bán đội thám trắc dưới quyền Phù Xương Ninh sáp nhập vào thiên phu đội của Dương Mậu Thiến tiến đánh tự vệ quân trên núi U-bò, trong khi đội thuỷ binh xung kích tấn công giàn cự thạch pháo của Đại Việt.

Mặt trời lên đến đỉnh đầu thì toán xung kích hải thuyền triệt hạ được giàn cự thạch pháo, sau đó những ổ kháng cự của dân binh Đại Việt trên núi U-bò thất thủ. Quân thám trắc chết quá nửa. Xương Ninh dẫn tàn binh theo sau cánh quân của họ Dương tiến về phía nam Tràng-kênh; xế trưa, đến gần núi Phượng-hoàng thì bị phục binh Đại Việt tiêu diệt. Phù Xương Ninh bị đánh gãy tay, trúng tên ở bụng. Hàn Phú cũng bị thương đầu và nhiều chỗ khác nhưng trong lúc hăng máu một tay ôm giáo một tay xốc nách họ Phù chạy trốn vào chân núi, ngẫu nhiên tìm ra khe đá dẫn vào cái hang động trú ẩn này   

Lê được vào trong hang, Hàn Phú chỉ còn đủ sức kéo Khương Ninh nằm lên ổ rơm không biết ai đã trải sẵn trong đó. Tiếng người hò hét xa dần cho đến khi chỉ còn tiếng gió thoảng bên ngoài. Đỡ sợ, nó thò tay sang sờ vai Phù Xương Ninh, cảm được hơi nhiệt của cơn sốt bốc ra ngoài lớp vải áo, nóng hừng hực như lửa mà không thấy toát mồ hôi, có lẽ nước trong người đã kiệt. Túi nước của hai đứa cũng đã cạn từ trước khi xảy ra trận đánh cuối cùng.

Mệt mỏi, Hàn Phú dựa đầu lên vách đá, chập chờn giữa những cơn mê sảng, có lúc là cảnh chém giết hãi hùng nhưng cũng đôi khi lạc lõng được vào những con suối trong mát hiền hoà uốn khúc giữa rừng hoang. Tỉnh dậy, miệng khô lưỡi đắng, đầu cổ nóng như hơ, thương tích trên người nhức nhối, nó lại muốn chìm đắm vào những cơn mê đã qua để tìm lại con suối trong mát, nhưng chỉ thấy toàn là máu mê loang đỏ dòng nước trong giấc mộng mới.

Đang lúc đầu óc hồ đồ, Hàn Phú giật mình, rón rén đưa tay lóng ngóng tìm cây thương, mắt dáo dác nhìn ra luồng ánh sáng mờ nhạt ngoài cửa động đột nhiên bị che khuất một phần khiến trong hang đã tối lại càng thêm tối. Yên lặng!

Nắng chiều phản chiếu qua những khe đá khuất khúc trên lối vào hang thành những vũng ánh sáng tán quang mơ hồ. Những vệt sáng ngoài cửa hang bỗng chuyển động khiến cho Hàn Phú biết chân trái của một người nào đó ở ngoài ấy đang nhè nhẹ bước tới dè dặt như một con dã thú, vẫn không một âm thanh. Không gian ngưng đọng. Những vệt ánh sáng lại chuyển động. Thêm một bước chân phải. Những ngón tay lạnh cóng của Hàn Phú luống cuống tiếp tục lần mò trong bóng tối cuối cùng cũng tìm được cây thương, từ từ nắm chặt lấy cán.

Từng bước, từng bước, một người đang tiến vào cửa động, hình như bây giờ có ý đánh tiếng về sự có mặt của mình bằng tiếng chân lạo xạo giẫm trên sỏi đá, nhưng mặt mũi người ấy còn bị che lấp bởi một mỏm đá nhô ngang trên cao.

“Hài xảo!” Hàn Phú reo lên nho nhỏ khi thấy được hình dáng đôi hài xảo nhuốm bùn hiện ra trong vũng ánh sáng lờ mờ. Những sợi lạt giang đã đứt mòn nhiều chỗ trên đôi dép nhưng vẫn là hài xảo thông dụng ở Hoa Nam, không thể nhầm lẫn được. Tiếng reo của Hàn Phú làm người đi hài xảo ngập ngừng dừng lại trên đường vào.

“Hảo maaaa?” Hàn Phú chào vọng ra.

“Ừ,” nghe tiếng chào hỏi của Hàn Phú, Lão Ngũ mới lầm lì bước hẳn vào trong. “Chúng mày vào đây bao lâu rồi?” lão hỏi.

“Từ lúc sau trận đánh ngoài kia,” Hàn Phú nói. Thấy lão chỉ vỏn vẹn có cái dọc tẩu trong tay lại nói tiếng phương bắc, người đà công yên tâm thở dài nhẹ nhõm, hất hàm về phía cửa động. “Sao biết chúng tôi ở đây mà mò vào?”

“Một con bé chỉ cho tao,” Lão Ngũ trả lời nhát gừng. “Nó thấy chúng mày bị thương nhưng còn bận tay lo cho những kẻ khác bị thương nặng hơn ở bên ngoài. Chúng mày ở trong này mãi rồi lấy gì mà sống?”

“Đợi đêm tối sẽ đi trốn.”

“Trốn đi đâu?” Lão Ngũ lắc đầu. “Dân chúng ở đây đều là dân binh cả.”

“Không trốn cũng chết,” Hàn Phú thở dài, “thà cứ thử thời vận xem sao.”

“Người dân phương bắc và người dân phương nam không có ác cảm với nhau, chỉ có thù nghịch giữa bọn vua chúa gây ra bởi tham vọng của đứa mạnh. Lính cũng là từ dân mà ra nên tù hàng binh không bị giết. Đâu phải chỉ mỗi mình con bé chỉ lối cho tao trông thấy chúng mày trốn vào đây. Chúng nó đã được dặn rằng đừng vì vui mừng chiến thắng hay phẫn hận mà có hành động trả thù. Nếu chúng nó định giết chúng mày thì cái thằng ngớ ngẩn kia đâu còn nằm ngắc ngoải đến tận bây giờ,” Lão Ngũ lại lắc đầu, chỉ vào Phù Xương Ninh.

“Thật hả?”

“Ừ, tao có mấy đứa quen bị bắt ở đây hơn hai năm trước, sau chiến tranh đã được thả về cùng năm vạn tù hàng binh khác. Chúng nó chỉ bị thích chữ vào mặt và bị doạ rằng nếu còn sang nữa sẽ bị chém. Nhưng có lẽ đó chỉ là hăm doạ, tao không biết chắc. Hai đứa mày bị thương có nặng lắm không?” lão hỏi. Nhờ thính giác tinh mẫn nên dù trong động tối mò lão vẫn hình dung ra được phần nào cục diện.

“Không biết!”

“Bỏ thương xuống.” Dứt câu, Lão Ngũ lại gần, ngồi xuống, cởi túi nước bên lưng đưa cho Hàn Phú.

Không nói thêm một lời, họ Hàn buông thương, giằng lấy cái túi da dê. Cầm túi nước vơi gần hết trong tay, nó liếm mép ngập ngừng, nhưng rồi cuối cùng nó kê túi nước lên miệng Phù Xương Ninh. Không thấy phản ứng gì, Hàn Phú tát tát nhẹ lên má bạn. Xương Ninh ú ớ, lờ đờ nhướng mắt, hai hàm răng lập cập vào nhau nhai nước trông như lạc đà nhai lại cỏ. Nhờ thằng Hàn Phú luồn tay đỡ dưới lưng, nó mới ưỡn người vươn cổ lên nuốt trôi được một ngụm nhỏ xuống bụng.

“Tao chưa chết à?” họ Phù tỉnh dậy phều phào.

“Chết rồi thì còn léo nhéo thế đếch nào được?”

“Ừ nhỉ! Bị bắt hả?”

“Không! Đang trốn trong hang.”

“Thế à, tụi chúng nó đâu hết rồi?”

“Tụi chúng nó…” Hàn Phú định nói là tụi chúng nó chết cả rồi nhưng thấy vẻ thiểu não của Xương-Ninh, bèn nói trớ đi, “chui rúc mỗi đứa một nơi, ai mà biết được.”

“Tao mệt quá, chắc mày phải một mình lo… lo… cho tụi nó,” Phù Xương Ninh thở không ra hơi nhưng vẫn cố than thở. “Mẹ kiếp, vậy mà chúng nó bảo sang đánh kỳ này thế như phá trúc, dễ như lấy đồ trong bọc. Chúng nó quả quyết như vậy làm tao cứ đinh ninh là bọn Giao-chỉ đời nào dám chống lại và thế nào rồi quân mình cũng sẽ thắng lớn, hóa ra tất cả chỉ là những lời hứa suông. Ờ, giá biết cơ sự như thế này thì tao đã trốn biệt ở lại nhà.”

“Được, tao sẽ lo cho tụi nó. À,” Hàn Phú vừa nói vừa cởi thắt lưng, dốc hầu bao đổ ra một mớ bạc vung vãi rơi xuống đất, “chia cho mày một nửa, từ nay đừng có xách đèn lồng đi tìm tao đòi nợ nữa đấy.” Nghe giọng nói của bạn càng lúc càng yếu mà vẫn còn lo lắng cho mấy thằng đồng đội, Hàn Phú tội nghiệp lái câu chuyện sang vấn đề nợ nần…

“Con vợ mày nguyền rủa tao ‘chưa bị trời bắt mù nên chưa biết thế nào là mù, vì thế mới không biết thương bà Khằm.’ Mẹ kiếp! đêm đếch nào ông chẳng nhắm mắt ngủ, mỗi ngày như thế là mù mất cha nó một nửa rồi thì còn lạ cóc gì thế nào là mù,” thằng Hàn Phú hiểu nhầm thằng Phù Xương Ninh trách vợ ngu về tội tự ý cho mình vay bạc, nhưng nó chẳng để tâm, thản nhiên kể tiếp. “Nghĩ đến đây, tao định sẽ lấy một miếng giẻ che mắt lại mấy ngày xem sao. Tất nhiên là sẽ chẳng sao cả, bất quá thì cũng giống như ngủ nướng thêm một tí. Mù thật còn chưa chết đứa nào, huống hồ mù vờ mấy ngày thì ăn thua mẹ gì.

“Bao giờ xuống núi, tao sẽ chạy thẳng xuống nhà mày, nói cho con vợ mày biết là tao mới là thằng vừa thử mù suốt mấy ngày đêm, chẳng học được cái khỉ gì cả và cũng chẳng thấy gì đến nỗi phải khó chịu như nó tưởng tượng. Chính nó mới là đứa chưa bao giờ thử mù mà đã dám vác mặt lên dạy đời, chướng không thể tả được.”

Giọng nói đều đều của thằng Hàn Phú làm cho cả hai đứa bắt đầu buồn ngủ. Lạnh quá, nhưng nó không dám nhúm lửa. Mình mang đầy thương tích, Hàn Phú chỉ khá hơn bạn một chút. Nó nhắm mắt dưỡng sức, nhưng chưa được bao lâu thì thằng Xương Ninh húng hắng ho khan thúc nhẹ khuỷu tay sang giục nó kể tiếp.

“Tao kể đến đâu rồi nhỉ?” hỏi xong, Hàn Phú lại tự trả lời. “Nhớ ra rồi. Ăn uống xong, tao trèo lên tảng đá, chửi chó mắng mèo cho đến khản cả tiếng mới tựa mình vào gốc si, buộc hờ mảnh giẻ mỏng lên che mắt, bắt đầu đi một đường mù. Vừa nhắm mắt lại thì con ngươi tao nó chạy láo liên. Tao ra lệnh cho mắt tao khép lại, đứng im, nhưng không được, có lẽ chúng nó tưởng là sắp bị mù đến nơi thật nên cứ nhúc nhích cuống lên tìm cách mở banh ra. Cáu sườn, tao tháo nốt cái khăn trên đầu bịt bố nó lại thật chặt. Tạm ổn.

“Tạm ổn được một lúc thì buồn đái, tao đứng lên dò dẫm trên mặt đá trơn tuột, nhưng ngay bước đầu đã bị hụt hẫng. Tao không ngờ bị mù đi đứng lại khó khăn đến như thế. Trước khi hai thằng mình tìm lên núi thì đã có hàng vạn thằng khốn nạn, kể cả bố mày bố tao, đứng trên hòn đá này chửi rủa, thế mà đến nay nó còn trơ trơ chưa hề suy suyển. Có lẽ nó đã thành thần. Đi đứng khó khăn, bí quá cũng phải cắn răng chứ ai dám đứng vạch quần đái bậy đái bạ trên tảng đá thần bao giờ.

“Ngu đến thế là cùng, thiếu chuẩn bị, đáng lẽ tao phải thu xếp sẵn ít ra là một cái gậy chẳng hạn hay là đừng có uống nhiều nước cho cố xác vào để đến nỗi bây giờ bị bí. Giá lúc này mà có được một thằng mắt mũi tinh quái như mày dẫn dắt thì đỡ biết mấy. Tưởng tượng dại dột đến đây thì đồng thời lại hình dung ra cái mặt mẹt của mày đang nhìn cảnh mù loà của tao một cách ái ngại làm ông điên lên xuýt nữa thì són ra quần, phải cố nhịn không thì đã giật tung cái khăn bịt mắt ra rồi. Ông mù thì kệ tía ông, thèm vào cái thứ khốn kiếp như mày thương hại.

“Cuối cùng, mót đái quá không thể nhịn được nên dù cho khó khăn cách mấy tao vẫn phải quyết định từ trên tảng đá thần mò xuống. Không có cái que dò đường, vất vả mãi chân mới đụng đất. Đi tiểu xong, điều trước tiên là tao phải tìm cho ra một cái que. Từ chân tảng đá tao nhắm hướng chập chững đi thẳng tới, hai tay quờ quạng trước mặt. Tao thề có trời đất làm chứng là rõ ràng tao đi thẳng tới, lòng vòng thế nào lại lộn ngược trở về chỗ chân tảng đá tao vừa bỏ đi. Bị một mẻ ngạc nhiên; tao tá hoả tam tinh. Chẳng lẽ mù loà đã bị mất thăng bằng lại còn mất nốt cả định hướng nữa hay sao. Trước mặt tảng đá độ một trăm thước là con đường mòn dẫn xuống chân núi. Sau lưng tảng đá khoảng một trăm thước là một khe vực sâu, mày còn nhớ không? Hàn Phú hỏi, giọng khàn khàn như vịt đực vì thiếu nước.

“Nhớ là cái chắc,” thằng Xương Ninh trả lời.

“Chỉ nội đi tìm có mỗi một cái que ăn mày như thế mà cũng không nên thân, tao ngồi bệt xuống vì không biết chắc mình đang ở phía trước hay phía sau của tảng đá, tay khư khư nắm chặt bầu nước lã, hy vọng đến khuya sẽ ngủ quên,” Hàn Phú chán nản tiếp tục câu chuyện. “Nhưng một khi đã lỡ nghĩ là mình mù, dù là giả mù, tao không thể nào chợp mắt được. Những tiếng xào xạc huyền bí lẫn trong tiếng gió hú đêm ấy rất đỗi quái gở. Tiếng côn trùng rỉ rả quen thuộc nay bỗng dưng xa lạ trong tai. Tất cả những âm thanh thường tình lúc ban ngày tự nhiên trở thành kỳ dị trong đêm. Những cành lá mịn màng vuốt ve mơn trớn trên mặt mà tưởng như những đốt ngón tay xương xẩu khô đét lạnh lẽo vừa chợt trở mình vùng dậy từ đáy ngục A-tỳ. Một con nhện chân cẳng khòng khoèo bò rập rờn trên tóc, một con cóc sần sùi nhảy tọt vào ống quần, cái gì cũng làm cho tao giật mình khiếp đảm. Chưa hết, còn có loài vật nào khác nữa luẩn quẩn đâu đó mà tao cố hình dung xem là cái giống gì nhưng tao chỉ có thể mường tượng ra đó là một con quái thú ghê gớm đang chực nuốt sống ăn tươi mình. Thế là suốt một đêm đầu, hết ngồi lại nằm, tao thao thức trằn trọc đếch nhắm cái mắt giả mù của mình lại được.

“Khi nhắm mắt ngủ người ta không sợ có lẽ vì yên chí là mình có quyền mở mắt ra bất cứ lúc nào theo ý muốn; khác hẳn với người mù không nhìn thấy gì để mà chống đỡ những mối đe doạ lởn vởn trong đầu. Càng cảm thấy bất lực lại càng thấy tự ti, mất hết tinh thần. Thì ra giả mù không dễ như tao tưởng. Tao đã hàng trăm lần đưa tay lên định gỡ khăn bịt mắt, nhưng vì tự ái lại phải cố nhịn.

“Qua hai ngày hai đêm tao mới làm quen dần với cảnh bị mù và bóng tối vây quanh. Tiếng gió đã bớt phần quái đản. Những mối đe doạ tưởng tượng không còn ám ảnh tao mạnh mẽ như trước. Mùi hăng hắc khó chịu hoá ra là mùi hoắc hương núi bình thường rất dễ chịu. Dường như âm thanh, mùi vị, hình thù, cái gì cũng thay đổi trong thế giới của người mù.

“Đến xế trưa ngày thứ ba, nước trong bầu đã cạn, tao lại muốn bỏ khăn bịt mắt xuống vì mặc cảm bất lực thì ít mà vì khát và thèm nhìn thì nhiều. Nhưng tao cố ngồi lì đến lúc ánh nắng dịu hẳn xuống mới thò tay vén mép khăn. Cả đến ánh mặt trời sắp lặn mà vẫn chói nhức cả mắt. Tao kéo khăn che kín hơn, chỉ chừa lại khe hở bằng cái lỗ kim ở một bên để làm quen dần với ánh sáng.

“Hé mắt từ trong cái khe hở ở mép khăn, tao thấy một vầng hào quang vàng tím phản chiếu màu sắc rực rỡ trên cái cầu vồng xinh sắn xanh biếc. Tao chưa hề thấy một cảnh tượng nào huy hoàng đến như vậy. Khi mắt đã quen với ánh sáng bên ngoài, tao mới biết đó chỉ là một giọt sương chiều nhuộm ánh hoàng hôn đọng trên chiếc lá nhỏ. Đôi bàn chân tao đã chà đạp lên biết bao nhiêu lá rụng và những ngọn cỏ ngậm sương mà không thấy cái đẹp mong manh của nó.

“Con vợ mày nó đã bảo là ‘có bị mù thì mới sáng mắt ra.’ Lúc tự bịt mắt trên tảng đá thần tao mới thấy trước đây tao đã hờ hững coi thường thị giác của mình. Sau khi thấy được cái đẹp của một giọt sương chiều tao cũng chợt hiểu là tao đã không biết thưởng thức những cái đẹp khác trong đời sống. Thế rồi, cái đêm giả mù sa mưa đó đã làm cho tao ‘sáng mắt’ ra thật mới buồn cười chứ; cái con mụ già lẩm cẩm dở người ấy không ngờ lại nói đúng. Tao bắt đầu nhìn thấy sự nhẫn nhục chịu đựng của ông bố và chị Khằm. Tao nhìn ra cái lòng dạ tử tế của con vợ mày. Tao cảm ơn sự mắng mỏ của nó nhiều hơn cái mớ bạc vụn nó cho tao vay.”

“Con vợ tao không phải là một ‘con mụ già lẩm cẩm dở người’ và nó sẽ không bao giờ già, đừng có nói nhảm, chỉ có đầu óc nó già giặn hơn bọn mình thôi. Tuy nhiên, nghe mày kể tao mới nghĩ lại nhiều khi mình cũng chỉ hời hợt nhìn đời bằng con mắt chứ có thấy mẹ gì đâu,”

Hàn Phú nói chuyện giả mù

Hàn Phú kể chuyện khi còn ở nhà, một lần đến nhà Phù Xương Ninh, khi ra về, vợ Xương Ninh gọi Phú trở lại để cho vay tiền mà chữa mắt cho bà chị của Hàn Phú, tên là Khẳm. Vợ của Phù Xương Ninh là một mụ đàn bà dữ dằn, chửi Hàn Phú rất thậm tệ. Hàn Phú kể:

“Con vợ mày nguyền rủa tao ‘chưa bị trời bắt mù nên chưa biết thế nào là mù, vì thế mới không biết thương bà Khằm.’ Mẹ kiếp! đêm đếch nào ông chẳng nhắm mắt ngủ, mỗi ngày như thế là mù mất cha nó một nửa rồi thì còn lạ cóc gì thế nào là mù,” thằng Hàn Phú hiểu nhầm thằng Phù Xương Ninh trách vợ ngu về tội tự ý cho mình vay bạc, nhưng nó chẳng để tâm, thản nhiên kể tiếp. “Nghĩ đến đây, tao định sẽ lấy một miếng giẻ che mắt lại mấy ngày xem sao. Tất nhiên là sẽ chẳng sao cả, bất quá thì cũng giống như ngủ nướng thêm một tí. Mù thật còn chưa chết đứa nào, huống hồ mù vờ mấy ngày thì ăn thua mẹ gì.

“Bao giờ xuống núi, tao sẽ chạy thẳng xuống nhà mày, nói cho con vợ mày biết là tao mới là thằng vừa thử mù suốt mấy ngày đêm, chẳng học được cái khỉ gì cả và cũng chẳng thấy gì đến nỗi phải khó chịu như nó tưởng tượng. Chính nó mới là đứa chưa bao giờ thử mù mà đã dám vác mặt lên dạy đời, chướng không thể tả được.”

Giọng nói đều đều của thằng Hàn Phú làm cho cả hai đứa bắt đầu buồn ngủ. Lạnh quá, nhưng nó không dám nhúm lửa. Mình mang đầy thương tích, Hàn Phú chỉ khá hơn bạn một chút. Nó nhắm mắt dưỡng sức, nhưng chưa được bao lâu thì thằng Xương Ninh húng hắng ho khan thúc nhẹ khuỷu tay sang giục nó kể tiếp.

“Tao kể đến đâu rồi nhỉ?” hỏi xong, Hàn Phú lại tự trả lời. “Nhớ ra rồi. Ăn uống xong, tao trèo lên tảng đá, chửi chó mắng mèo cho đến khản cả tiếng mới tựa mình vào gốc si, buộc hờ mảnh giẻ mỏng lên che mắt, bắt đầu đi một đường mù. Vừa nhắm mắt lại thì con ngươi tao nó chạy láo liên. Tao ra lệnh cho mắt tao khép lại, đứng im, nhưng không được, có lẽ chúng nó tưởng là sắp bị mù đến nơi thật nên cứ nhúc nhích cuống lên tìm cách mở banh ra. Cáu sườn, tao tháo nốt cái khăn trên đầu bịt bố nó lại thật chặt. Tạm ổn.

“Tạm ổn được một lúc thì buồn đái, tao đứng lên dò dẫm trên mặt đá trơn tuột, nhưng ngay bước đầu đã bị hụt hẫng. Tao không ngờ bị mù đi đứng lại khó khăn đến như thế. Trước khi hai thằng mình tìm lên núi thì đã có hàng vạn thằng khốn nạn, kể cả bố mày bố tao, đứng trên hòn đá này chửi rủa, thế mà đến nay nó còn trơ trơ chưa hề suy suyển. Có lẽ nó đã thành thần. Đi đứng khó khăn, bí quá cũng phải cắn răng chứ ai dám đứng vạch quần đái bậy đái bạ trên tảng đá thần bao giờ.

“Ngu đến thế là cùng, thiếu chuẩn bị, đáng lẽ tao phải thu xếp sẵn ít ra là một cái gậy chẳng hạn hay là đừng có uống nhiều nước cho cố xác vào để đến nỗi bây giờ bị bí. Giá lúc này mà có được một thằng mắt mũi tinh quái như mày dẫn dắt thì đỡ biết mấy. Tưởng tượng dại dột đến đây thì đồng thời lại hình dung ra cái mặt mẹt của mày đang nhìn cảnh mù loà của tao một cách ái ngại làm ông điên lên xuýt nữa thì són ra quần, phải cố nhịn không thì đã giật tung cái khăn bịt mắt ra rồi. Ông mù thì kệ tía ông, thèm vào cái thứ khốn kiếp như mày thương hại.

“Cuối cùng, mót đái quá không thể nhịn được nên dù cho khó khăn cách mấy tao vẫn phải quyết định từ trên tảng đá thần mò xuống. Không có cái que dò đường, vất vả mãi chân mới đụng đất. Đi tiểu xong, điều trước tiên là tao phải tìm cho ra một cái que. Từ chân tảng đá tao nhắm hướng chập chững đi thẳng tới, hai tay quờ quạng trước mặt. Tao thề có trời đất làm chứng là rõ ràng tao đi thẳng tới, lòng vòng thế nào lại lộn ngược trở về chỗ chân tảng đá tao vừa bỏ đi. Bị một mẻ ngạc nhiên; tao tá hoả tam tinh. Chẳng lẽ mù loà đã bị mất thăng bằng lại còn mất nốt cả định hướng nữa hay sao. Trước mặt tảng đá độ một trăm thước là con đường mòn dẫn xuống chân núi. Sau lưng tảng đá khoảng một trăm thước là một khe vực sâu, mày còn nhớ không? Hàn Phú hỏi, giọng khàn khàn như vịt đực vì thiếu nước.

“Nhớ là cái chắc,” thằng Xương Ninh trả lời.

“Chỉ nội đi tìm có mỗi một cái que ăn mày như thế mà cũng không nên thân, tao ngồi bệt xuống vì không biết chắc mình đang ở phía trước hay phía sau của tảng đá, tay khư khư nắm chặt bầu nước lã, hy vọng đến khuya sẽ ngủ quên,” Hàn Phú chán nản tiếp tục câu chuyện. “Nhưng một khi đã lỡ nghĩ là mình mù, dù là giả mù, tao không thể nào chợp mắt được. Những tiếng xào xạc huyền bí lẫn trong tiếng gió hú đêm ấy rất đỗi quái gở. Tiếng côn trùng rỉ rả quen thuộc nay bỗng dưng xa lạ trong tai. Tất cả những âm thanh thường tình lúc ban ngày tự nhiên trở thành kỳ dị trong đêm. Những cành lá mịn màng vuốt ve mơn trớn trên mặt mà tưởng như những đốt ngón tay xương xẩu khô đét lạnh lẽo vừa chợt trở mình vùng dậy từ đáy ngục A-tỳ. Một con nhện chân cẳng khòng khoèo bò rập rờn trên tóc, một con cóc sần sùi nhảy tọt vào ống quần, cái gì cũng làm cho tao giật mình khiếp đảm. Chưa hết, còn có loài vật nào khác nữa luẩn quẩn đâu đó mà tao cố hình dung xem là cái giống gì nhưng tao chỉ có thể mường tượng ra đó là một con quái thú ghê gớm đang chực nuốt sống ăn tươi mình. Thế là suốt một đêm đầu, hết ngồi lại nằm, tao thao thức trằn trọc đếch nhắm cái mắt giả mù của mình lại được.

“Khi nhắm mắt ngủ người ta không sợ có lẽ vì yên chí là mình có quyền mở mắt ra bất cứ lúc nào theo ý muốn; khác hẳn với người mù không nhìn thấy gì để mà chống đỡ những mối đe doạ lởn vởn trong đầu. Càng cảm thấy bất lực lại càng thấy tự ti, mất hết tinh thần. Thì ra giả mù không dễ như tao tưởng. Tao đã hàng trăm lần đưa tay lên định gỡ khăn bịt mắt, nhưng vì tự ái lại phải cố nhịn.

“Qua hai ngày hai đêm tao mới làm quen dần với cảnh bị mù và bóng tối vây quanh. Tiếng gió đã bớt phần quái đản. Những mối đe doạ tưởng tượng không còn ám ảnh tao mạnh mẽ như trước. Mùi hăng hắc khó chịu hoá ra là mùi hoắc hương núi bình thường rất dễ chịu. Dường như âm thanh, mùi vị, hình thù, cái gì cũng thay đổi trong thế giới của người mù.

“Đến xế trưa ngày thứ ba, nước trong bầu đã cạn, tao lại muốn bỏ khăn bịt mắt xuống vì mặc cảm bất lực thì ít mà vì khát và thèm nhìn thì nhiều. Nhưng tao cố ngồi lì đến lúc ánh nắng dịu hẳn xuống mới thò tay vén mép khăn. Cả đến ánh mặt trời sắp lặn mà vẫn chói nhức cả mắt. Tao kéo khăn che kín hơn, chỉ chừa lại khe hở bằng cái lỗ kim ở một bên để làm quen dần với ánh sáng.

“Hé mắt từ trong cái khe hở ở mép khăn, tao thấy một vầng hào quang vàng tím phản chiếu màu sắc rực rỡ trên cái cầu vồng xinh sắn xanh biếc. Tao chưa hề thấy một cảnh tượng nào huy hoàng đến như vậy. Khi mắt đã quen với ánh sáng bên ngoài, tao mới biết đó chỉ là một giọt sương chiều nhuộm ánh hoàng hôn đọng trên chiếc lá nhỏ. Đôi bàn chân tao đã chà đạp lên biết bao nhiêu lá rụng và những ngọn cỏ ngậm sương mà không thấy cái đẹp mong manh của nó.

“Con vợ mày nó đã bảo là ‘có bị mù thì mới sáng mắt ra.’ Lúc tự bịt mắt trên tảng đá thần tao mới thấy trước đây tao đã hờ hững coi thường thị giác của mình. Sau khi thấy được cái đẹp của một giọt sương chiều tao cũng chợt hiểu là tao đã không biết thưởng thức những cái đẹp khác trong đời sống. Thế rồi, cái đêm giả mù sa mưa đó đã làm cho tao ‘sáng mắt’ ra thật mới buồn cười chứ; cái con mụ già lẩm cẩm dở người ấy không ngờ lại nói đúng. Tao bắt đầu nhìn thấy sự nhẫn nhục chịu đựng của ông bố và chị Khằm. Tao nhìn ra cái lòng dạ tử tế của con vợ mày. Tao cảm ơn sự mắng mỏ của nó nhiều hơn cái mớ bạc vụn nó cho tao vay.”

“Con vợ tao không phải là một ‘con mụ già lẩm cẩm dở người’ và nó sẽ không bao giờ già, đừng có nói nhảm, chỉ có đầu óc nó già giặn hơn bọn mình thôi. Tuy nhiên, nghe mày kể tao mới nghĩ lại nhiều khi mình cũng chỉ hời hợt nhìn đời bằng con mắt chứ có thấy mẹ gì đâu,”

Lão Ngũ với bài ca nhịp phách

Cỏ cây sinh hóa-Thương hải tang điền

“Lão huynh,” Hàn Phú ấp úng. “Lão huynh đây đến cho nước uống, không biết ở vệ nào.”

“Tao chẳng ở ‘vệ’ nào cả.”

“Ô hay! Lão huynh là người phương bắc mà,” Hàn Phú thắc mắc.

“Ừ,” nói rồi Lão Ngũ móc thuốc lào trong bọc ra đưa cho Hàn Phú. Họ Hàn vén áo Phù Xương Ninh, sửa soạn rịt thuốc lên vết thương rỉ máu của bạn, nhưng lão gạt đi bảo nó hãy tự lo cho mình trước.  Thủng thẳng quệt chút máu trên bụng họ Phù, Lão Ngũ đưa lên miệng nếm. “Chua lắm,” lão lắc đầu nói, “không cần cầm máu cho nó nữa.”

“Cái gì?” Hàn Phú ngơ ngác, không hiểu cái lão già nói tiếng phương bắc này là ai. Bạn không ra bạn, thù chẳng ra thù. Nó lại càng không hiểu lão đang nói gì.

“Lão nói đúng đấy,” Phù Xương Ninh ngao ngán thở dài, giọng nó khò khè trong cuống họng, “Tao cũng đã nếm thử.”

“Nó bị đứt ruột rồi, không cứu được,” Lão Ngũ nói thêm.

“Còn nước còn tát; mình cứ cầm máu cho nó đã. Biết đâu?” Nói thì nói nhưng Hàn Phú tỏ vẻ thất vọng. Nó thừa biết rằng chỉ vì giỏi đi biển, nhất là nghề nếm bùn, mà thằng Xương Ninh làm đến bách phu trưởng. Một khi nó đã tự nếm vết thương ở ruột và đồng ý với cái lão già quái dị đi hài sảo là vô phương cứu chữa thì không thể sai được.

“Đứt ruột lâu chết,” lão Ngũ miệng nói tay vơ ít cọng rơm và cành khô chất thành một đống nhỏ trước mặt, “cầm máu chỉ tổ kéo dài thêm cái chết đau đớn thôi.” Ngừng nói, lão đập đá mồi lửa.

Hàn Phú buông trôi câu chuyện, nghĩ đến những lần hai đứa cãi nhau ở quê nhà hay ở trên thuyền, nhớ lại lúc này thấy thật là thân ái. Hốt nhiên nó ước mong thằng Xương Ninh ngồi nhỏm dậy xỉ vả nó như ngày xưa, càng thậm tệ càng hay, nhưng bạn nó vẫn nằm im lìm. Muốn bạn chửi mà không được, thằng Hàn Phú đành làu nhàu tự xỉ vả “tổ mẹ mình” một tiếng rồi gạt đất đá và đống bạc sang bên, gượng nhẹ nằm xuống bên cạnh Khương Ninh.

Lửa trước mặt Lão Ngũ bén rơm, leo lét soi bóng lão rung rinh trên vách đá lồi lõm. Lão nghiêm trang dựa cái dọc tẩu mang đầy dấu vết sứt sẹo của cuộc chiến vừa rồi vào lòng, tay cầm cái que khô, cặp mắt mơ màng.

“Hùùùuuuúúúúúú, hùùùùùùù! Cách, cách!” Tiếng hú trầm trầm buồn tẻ của khúc dửu ca bằng thổ ngữ mà Lão Ngũ đã học được từ gánh họ Hà hồi còn ở vùng lâm tuyền Quy-hóa với Mạc Tăng Thốn. Âm thanh ngân vang dội quanh trên vòm đá phong rêu trong hang động, thỉnh thoảng lại điểm thêm những tiếng lách cách của cái que khô lão nhịp vào dọc tẩu.

“Cách!  

Vạn vật hữu hình và vô hình, 

thấy được mà không thấy được.

Vạn vật, ấy vốn dòng sinh hóa,

không có khởi đầu, không có tận cùng.

Như mây trở về nguồn,

cho suối không  khô cạn;

như núi sông rạo rực,

và mưa bay, mưa bay.

Hùuuúúú! Cách! Cách!

Cỏ cây là vạn vật,

Vạn vật biến không cùng.

  Chúng sinh là vạn vật,

Vạn vật biến không cùng.

Thương hải tang điền, trăm năm lạc lõng,

dãi dầu mưa nắng, tình sầu vô lượng.    

Hùuuúúú! Cách! Cách!

Trăng rồi lặn cho bình minh rực rỡ,

cho mầm non chớm nở vào xuân.

Giọt nước mắt vui, cõi lòng hân hoan!

Nắng rồi tắt trăng lên u ám,

héo hắt thu tàn cỏ cây hủ nát.

Giọt nước mắt buồn, cõi lòng sầu muộn!

Hùuuúúú! Cách, cách!

Núi cao cao, mây xanh xanh;

nước mắt lưng trời thác đổ.

Hoàng hôn tịch mịch tiêu sơ;

bến bờ cô quạnh, mây trắng hải hồ!

Hồ! Hồ!

Nước mắt nào vui, nước mắt nào buồn,

đêm nay chớp bể mưa nguồn Biển Đông.

Mưa bay, mưa bay. Mây trắng hải hồồồồồồ!

Cách!”

Góc gian thạch thất lúc này đã bắt đầu ấm áp hơi lửa. Hàn Phú nằm vắt tay lên vai Phù Xương Ninh, thiêm thiếp đi vào giấc ngủ êm đềm trong điệu hát ru buồn. Tiếng hú của Lão Ngũ trôi theo làn khói xanh ra ngoài cửa động, xuôi theo dòng sông, đưa lên đỉnh núi Phượng-hoàng.

Trên đỉnh núi, hai thôn nữ đứng khoanh tay sau lưng một thiếu phụ ngồi trên phiến đá, cùng lẳng lặng buồn trông những cánh nhạn vào mây trong cảnh mung lung của buổi chiều hôm ngoài giang khẩu. Gió hiu hiu nhẹ đưa những cánh buồm ngược xuôi trên sông trôi qua những làn khói còn toả lên từ lửa tro âm ỉ lẩn quẩn như những dáng mây sầu giữa những lá quân kỳ tả tơi trên dãy chiến thuyền nghiêng đổ. Triều dâng cao; một con thuyền nhỏ tách dòng cập bến cho hai phụ nữ dân binh lên bờ. Chẳng bao lâu họ leo đến chỗ người thiếu phụ ngồi trên phiến đá.

“Quân mình bắt được bao nhiêu chiến thuyền?” thiếu phụ nhỏ nhẹ hỏi.

“Dạ, khoảng bốn trăm cái còn tốt,” một dân binh trả lời. “Mạc đại hiệp nhắn với phu nhân rằng ngay sau khi xong việc ở bến Rừng, đại hiệp sẽ đến đây để đón chúng ta.”

“Cảm ơn em. Đường về Vĩnh-an từ đây còn xa, em nào chịu khó xuống dưới động bảo Lão Ngũ sẵn sàng lên đường là vừa kẻo Mạc đại ca lại phải nóng lòng chờ đợi.”

 “Dạ.”

Nắng tắt trên chiến địa tiêu điều. Sương chiều lấm tấm đậu trên bờ vai; người thiếu phụ kéo cao cổ áo tim tím màu hoa cà, thong thả đứng lên buông tiếng thở dài, “Cuộc chiến đã tàn rồi, chúng ta đi về thôi.”

9  

Dấu xưa

Đại Việt, niên-hiệu Hưng-long thứ mười bốn

Vào thu năm đinh mùita là mùa thu năm 1307 dương lịch.

Bắt đầu vào Chương 9, Dấu xưa, tác giả đề cập ngay đến việc, Hốt Tất Liệt uất hận vì đã thua trận. Ngay lập tức, ông muốn mở cuộc tấn công Đại Việt để rửa nhục. Về phía Đại Việt, Thái thượng-hoàng mất, Trần Nhân-tông lên kế vị. Hoàng-thượng đi Chiêm-thành và hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm.

Độc giả sẽ găp lại một số nhân vật mà tác giả đã đề cập ở Chương 3, Dữu-lý. Ở đó, vì vấn đề bảo mật, tác giả chỉ nói đến tính danh. Còn ở Chương 9, Dấu xưa, tác giả đã nói rõ về lai lịch của những người này. Chúng tôi sẽ trích dẫn một số đoạn như thường lệ. Kết thúc Chương, tác giả có vài lời mở ra cho việc triều đình nhà Trần có dự liệu cử một phái đoàn đi Chiêm-thành đón công nương Diệu Trân về nước, sau khi vua Chiêm là Chế Mân từ trần. Về Công chúa Huyền Trân, theo tác giả còn là một điều chưa được tiết lộ. Tuy nhiên, nhân vật đi đón công nương Diệu Trân đã được nêu tên, đó là Trần Khắc Chung.

Sau chiến thắng Bạch-đằng, thượng hoàng Trần Thánh-tông và vua Trần Nhân-tông về đến Thăng-long vào ngày hai mươi bảy tháng ba năm mậu týnhằm ngày 28 tháng tư dương lịch 1288 thì đô thị quân vương đã đổ nát hoang phế. Từ ngày vua sáng nghiệp nhà Lý dựng đô ởđây, kinh thành nhỏ bé dài rộng chưa quá bảy chục dặm chu vi này đã hằn sâu những dấu vết của biết bao nhiêu cảnh tang thương ngẫu lục qua các cuộc binh lửa gây ra hoặc bởi ngoại xâm hoặc do nội loạn. Trong hoàn cảnh đau thương của cả nước lúc này, triều đình Đại Việt đã ban lệnh đại xá, miễn hết tô dịch cho những nơi bị tàn phá giúp cho người dân đỡ khổ trước khi nghĩ đến việc trùng tu đế đô.

Sau chiến bại Bạch-đằng, đại hãn Hốt-tất-liệt giận dữ chán nản đầy Thoát-hoan ra Dương-châu, và Áo-lỗ-xích xuống Giang-tây. Xâm lăng trước kia chỉ đơn thuần là một khát vọng thống trị mà ông hằng ấp ủ, nhưng diệt trừ Đại Việt giờ đây trở nên một ám ảnh ray rứt không thể chịu nổi của Nguyên chủ. Ông ra lệnh cho khu-mật-viện lập nguyên soái phủ, lấy Lưu Đức Lộc làm đô nguyên soái, lo liệu mở mặt trận tấn công tiểu quốc này để rửa hận. Trong khi chuẩn bị thuyền bè binh mã, ông cử một sứ bộ đem chiếu chỉ sang uy hiếp Đại Việt, với những yêu sách đòi hoàng đế nhà Trần phải vào chầu, và lập tức thả hết tù binh, đặc biệt là Ô-mã-nhi Bạt-đô.

Đối phó với một đại địch như vậy, Đại Việt dù mới chiến thắng cũng đã phải lựa chọn một chính sách hòa giải mềm mỏng, triều đình cử trung đại phu Trần Khắc Dụng và tòng nghĩa lang Nguyễn Mạnh Thông đem biểu sang Nguyên. Nội dung biểu chương gồm các điều khoản: thứ nhất, cự tuyệt yêu sách của nhà Nguyên đòi quốc vương Đại Việt sang chầu. Thứ nhì,triều đình Đại Việt kết án chiến tranh tội phạm tham chính Ô-mã-nhi vào mùa đông năm Chí-nguyên thứ hai mươi bốn, 1287,  đã “đem quân thuỷ bộ ra biển, phá phách sản nghiệp thường dân, bé thì cướp đi, lớn thì treo trói mổ cắt, vứt mình một nơi đầu một ngả. Trăm họ bị bức đến chỗ chết, không sót điều tàn ác gì không làm…” Biểu chương cũng nhắc lại chuyện cũ, hài tội bình chương A-lý Hải-nha bạo ngược “tham công ngoài biên giới, tàn sát dân lành khiến sinh linh phải chịu cảnh lầm than trong cuộc tấn công vào Đại Việt năm ất dậu.” 1285.  Mục đích sự kết tội của tờ biểu là để trần tình lý do Đại Việt buộc lòng phải chống lại quân Nguyên, nhưng lời lẽ cũng ám chỉ về sự bội ước những điều khoản về lời tuyên hứa bất tương xâm trong chiếu chỉ của Hốt-tất-liệt gửi sang thông hiếu với Đại Việt năm tân dậu khi ông mới lên ngôi, 1261. Triều đình Đại Việt đã nhũn nhặn không đả động gì đến tội ác của Thoát-hoan để tránh gây cho Nguyên chủ thêm phần phẫn nộ. Thứ ba, Đại Việt bằng lòng thả tù hàng binh.

Cuối tháng năm năm canh dần,1290 thượng hoàng Trần Thánh-tông mất ở cung Nhân-thọ. Thánh-tông là vị hoàng đế anh hùng, suốt ba mươi năm trận mạc, có mặt trong cả ba lần đánh đuổi quân Mông-cổ từ chiến thắng Đông-bộ đầu năm mậu ngọ,1258 đến triệu tập hội nghị Diên-hồng năm ất dậu,1285 kêu gọi toàn dân đánh giặc đi đến thành công, rồi cùng với con là vua Trần Nhân-tông đại thắng quân Nguyên trong cuộc xâm lược lần cuối ở trận Bạch-đằng năm mậu tý, 1288.

Về mặt bang giao với các lân bang, trong ba nước láng giềng thì chỉ có Lão-qua thỉnh thoảng sang đánh phá miền Đà-giang khiến cho Đại Việt phải mấy lần động binh. Chân-lạp vẫn duy trì được hoà hiếu. Riêng Chiêm-thành đã từng hợp lực với Đại Việt kháng Nguyên nên một thời gian sau khi nhường ngôi cho thái tử Thuyên, tức vua Trần Anh-tông, năm tân sửu,1301 thượng hoàng Trần Nhân-tông viếng thăm vương quốc này để củng cố tình hữu nghị tốt đẹp thêm bền vững giữa hai nước. Trong cuộc viếng thăm ấy, ông đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho quốc vương Chế Mân.

Đầu xuân ất tỵ, 305 Chế Mân chính thức cho người sang cầu hôn. Tháng sáu mùa hè năm bính ngọ,1306 Đại Việt gả Huyền Trân cho Chiêm vương. Ngày công chúa xuất giá, dân chúng kinh thành thức dậy từ quá nửa đêm kéo nhau ra đầy đường đốt đèn chờ đợi, một phần để đưa tiễn công chúa lên đường, một phần là do tính hiếu kỳ. Xưa nay, các cuộc gả bán công chúa, công nương ra ngoài thường cốt chỉ để hoà hoãn chiến tranh giữa các lân bang. Dân chúng tuy không ai biết mặt công chúa, nhưng trong cảnh biệt ly với người con gái hồng nhan bạc mệnh ấy, mấy ai đã tránh khỏi tấc dạ bùi ngùi.

Mãi đến đầu giờ mão, chiêng trống trong hoàng thành mới nổi lên, quân Tứ-sương mở rộng cửa nam, hai hàng văn quan võ tướng kéo ra xếp hàng ngay ngắn nghiêm chỉnh, tiếp theo sau là đoàn thị nữ xiêm y diêm dúa mở đường cho đoàn kiệu của công chúa Huyền Trân và công nương Diệu Trân. Vua Trần Anh-tông và hoàng đệ Trần Quốc Chẩn chỉ tiễn các em đến cửa Đại-hưng thì dừng lại bên trong thành nội. Quan hành khiển Đoàn Nhữ Hài được trao trách vụ đưa Huyền Trân và Diệu Trân sang Chiêm.

Dưỡng tử của tướng quân Lý Tất Kiến là Văn-nghi hầu hộ tống đoàn lữ hành đi vòng quanh hướng đông bắc, qua cầu Ngoạn-nguyệt và cửa Tường-phù ở phía đông, đến bến Đông-bộ. Đoàn hộ tống của Văn-nghi hầu dừng lại ở quân cảng này, chỉ có hành khiển Đoàn Nhữ Hài tháp tùng công chúa Huyền Trân, công nương Diệu Trân và đoàn tuỳ tùng kẻ hầu người hạ đông đảo lên thuyền vào sông Nhị, qua sông Tô, sang sông Nhuệ rồi xuống sông Đáy trên đường ra biển xuôi nam…

Thời gian thấm thoát trôi qua, cuộc hôn nhân của Huyền Trân chưa tròn năm thì không may vua Chiêm chết. Khi bàn gả Huyền Trân, chỉ có Văn-túc vương Đạo Tái, nay đã chết, và Trần Khắc Chung tán thành nên dịp này vua Trần Anh-tông cho nhập nội đại hành khiển Trần Khắc Chung sang điếu tang để đón công chúa và công nương Diệu Trân về nước.

Việc này tác giả sẽ trở lại ở Chương 10, nhan đề Hồ điệp, là chương cuối cùng. Còn sau đây tác giả vén tấm màn về những thành phần trong việc kháng Nguyên qua các tổ chức bí mật, hoạt động trên đất địch, nhằm mục đích quấy nhiễu, làm mất an ninh cho nội chính buộc Hốt-tất-liệt phải dồn lực lượng vào việc tiễu trừ các phiến quân. Nhờ đó, Hôt-tất-liệt sẽ phải trì hoãn hoặc kéo dài thời gian đem quân đánh Đại Việt. Còn phía triều đình nhà Trần, có thêm thời giờ để xây dựng lực lượng chiến đấu.

Chẳng hạn, sau thất bại của Thoát Hoan trong trận chiến trên sông Bạch Đằng, Hốt-tất-liệt uất hận, muốn đem quân đánh Đại Việt để rửa hận, nhưng Thừa tướng đương thời của nhà Nguyên là Hoàn-trạch và bình chương Bất-hốt-mộc hết sức can ngăn, dựa vào tình thế bất trị của cuộc nội loạn ở phương bắc còn chưa phân giải, xuất quân bất lợi, xin tạm hoãn binh. Hốt-tất-liệt đành nhẫn nhịn nghe theo.

Thế nhưng, nỗi hận thua trận không thể nguôi ngoai trong lòng Hốt-tất-liệt, nên: Năm quý tỵ Chí-nguyên ba mươi,1293, Hốt-tất-liệt sai Hổ-đô Thiết-mộc-lộc xuống Quảng-đông đôn đốc việc đóng thêm năm trăm chiến thuyền. Lưu Quốc Kiệt và chư vương Ích-cát-lý-đãi được cử chỉ huy lực lượng viễn chinh xâm lược Đại Việt, chuyển quân xuống Tĩnh-giang, dự định đến mùa thu tháng tám năm sau sẽ xuất phát. Quyết định ấy đã đưa hai nước đến bên bờ vực thẳm của chiến tranh, nhưng đại hãn chết vào ngày quý dậu tháng giêng năm giáp ngọ,1284 mưu toan thôn tính Đại Việt của ông lần này tan vỡ ngay khi còn thai nghén.

Những con người âm thầm yêu nước vĩ đại

Đoạn trích dẫn dưới đây, tác giả mô tả vài nét về phiên chợ rằm tháng bảy tại Kẻ chợ xa xưa. Vài nét chấm phá về sinh hoạt chốn kinh kỳ đã thuộc về lịch sử. Độc giả cũng sẽ gặp lại những nhân vật đã xuất hiện ở thị trấn Dữu lý. Nhưng tác giả không kể theo lối biên niên, ông cho đan xen vào những chuyện hàng ngày và diễn tả tình cảm của người trong cuộc. Trên bàn thờ gia tiên nhà Cổ-ngạch Uyển Nhi, độc giả sẽ thấy có di ảnh một vài người ở Dữu lý đã khuất bóng, trong đó có Phạm Tá Phiên. Trong các câu chuyện về lịch sử, tác giả cũng kể chuyện về chiến tranh, những thảm cảnh của chiến tranh mà Lão Ngũ đã trải qua trong cuôc đời lão. Nghe Lão Ngũ nói chuyện, tôi như học hỏi về đạo lý. Chương 9 ngày ngắn, nhưng lại đầy ý tưởng triết lý của cuộc sống.

Từ trong làn sương mù, trước phủ tướng quân Lý Tất Kiến, một kỵ sĩ dẫn ngựa từ trong dinh đi ra, qua khỏi bảng “hạ mã” ngoài cổng mới lên yên. Kỵ sĩ là Văn-nghi hầu, một thanh niên mắt sáng vai rộng, trạc tuổi hăm bốn hăm lăm, giục ngựa thong thả đi nước kiệu bên những hàng cây còn ngậm sương sớm về hướng đông. Qua cổng Diệu-đức, kỵ sĩ rẽ vào khu vực thương cảng ngã ba sông Tô và sông Nhị, nơi phiên chợ chính của Kẻ-chợ mỗi tháng nhóm hai lần, mùng một và ngày rằm. Tả hữu kinh thành có sáu mươi mốt phường, mỗi phường đều có phiên chợ riêng. Hôm nay phiên chợ rằm, nhằm ngày Trung-nguyên giữa tháng bảy, thuyền bè san sát đậu kín cả ngã ba Tô, Nhị mua bán phần nhiều là rau dưa hoa quả.

Vào tới phường Nhai-tân, kỵ sĩ phải xuống bộ dắt ngựa vì kẻ mua người bán đã qua lại tấp nập. Người thanh niên ăn mặc theo lối dân giả đi lẫn trong đám đông, có người biết mặt thì chào mừng nhường bước nhưng phần lớn không biết nên vẫn chen chúc lấn át ồn ào.

Qua mấy gian bán gai, sợi, tơ lụa, the đen, lĩnh, gấm trơn, gấm thêu, đến gần cuối phường, người kỵ sĩ mới dừng lại trước một lão già gầy gò ngồi trên cái ghế đẩu bên cửa ra vào dưới cái liếp tre của một gian hàng nhỏ bán tơ lụa và len dạ. Da mặt da tay dày gió dạn sương của lão nhăn nheo từng lớp nổi lên như những sợi dây bện bằng da bò thuộc nâu xẫm, mắt hướng xuống đất để mặc cho một đứa bé gái bụ bẫm độ sáu tuổi ngồi trên đùi đang nghịch với cái tẩu thuốc bào cũ kỹ lâu năm đã lên nước đen bóng. 

“Lão đại thúc,” vừa lên tiếng chào hỏi, thanh niên vừa buộc ngựa vào cây cột dựng liếp.

“Thiếu gia,” ông lão đứng dậy lộ vẻ mừng rỡ, tay ôm đứa bé hướng về phía người thanh niên, cúi đầu chào.

Con bé vừa trông thấy thanh niên đã giãy đành đạch như con choi choi trong tay ông già, tụt xuống đất, quăng cái dọc tẩu ra xa. “Bố mày!” lão già vừa mắng yêu vừa gọi vọng vào trong, “Uyển-nhi, Uyển-nhi!”

“Con bé nào mà đáng yêu đến thế không biết?” người thanh niên vừa nói vừa bước lại gần, quỳ một gối xuống đất, giang tay đón con bé đang chạy ùa tới ôm chằm lấy ông, hai chân lấm đất đạp bừa lên vạt áo.

“Thôi chết tôi rồi!” một thiếu phụ vừa từ trong nhà đi ra la lên. Nhìn thấy những vết chân trên vạt áo trắng của người thanh niên, bà vội chạy đến định giằng lấy con bé. “Ngoạn Thi, mày có biết là mày bẩn lắm không! Xuống ngay lập tức,” người đàn bà mắng rầm lên.

“Người thanh niên ôm gọn đứa bé vào lòng, ghé tai nó âu yếm thì thầm mấy câu. Được thể con Ngoạn Thi liền quay phắt lại trâng tráo nhìn mẹ, nũng nịu, “Kệ tôi.” Nó cong mỏ lên đanh đá cười rúc rích, hai cánh tay mũm mĩm như rễ cây quấn chặt lấy cổ ông.

“Bây giờ mày cho cả ngoại tổ ra rìa rồi có phải không? Dừ đòn đấy con ạ,” người thiếu phụ gí ngón tay vào gáy con gái, doạ dẫm. Bà đã quá cái tuổi lập thân, trông đẫy đà chững chạc, nhưng cặp mắt xênh xếch màu hạt dẻ vẫn còn tươi tắn hồn nhiên như màu hoa dại mọc giữa biển cát hoang vu ngoài sa mạc của người dân du mục.

“Ra rìa từ lâu rồi; còn phải hỏi. Có giỏi thì đánh nó đi?” Lão Ngũ hất hàm, thách.

“Cổ-ngạch tỷ tỷ dạo này có phát tài không?” Người thanh niên hỏi.

“Nhờ ông bà độ trì, việc làm ăn lúc nào chẳng dễ chịu. Em có việc gì vui mà đến sớm thế?” Cổ-ngạch Uyển-nhi nghiêng đầu cầm tay thanh niên. Con ngươi bà rộng mở như đang ở trong bóng tối, ân cần hỏi han qua đôi môi đầy đặn ấm cúng, nhưng trong giọng nói lại có chiều lo âu. Thường thì người thanh niên vẫn từ bên tướng phủ sang đây thăm vào buổi chiều, chỉ có một lần ít năm trước đến sớm như hôm nay. Lần ấy, ông đem tin buồn về Lưu đại huynh bị giết ở Tân-cương.

“Em đến để báo cho tỷ tỷ một tin mừng,” cảm được mối lo của bà, người thanh niên nói nhanh, “là Điều đại ca đã về đến biên giới.”                

“Thật à?” Uyển-nhi thở mạnh ra như vừa trút bỏ được nỗi buồn rầu lo sợ đã từ lâu chất chứa trong lòng. Ngày Uyển-nhi có chửa con Điều Ngoạn Thi cũng là ngày Điều Dã Phu cùng với Lưu đại huynh bỏ nhà lên vùng quan ngoại cho đến khi bà được tin Lưu đại huynh bị giết ở Tân-cương. Bẵng đi một thời gian sau đó không nghe ngóng được gì, nay chợt biết tin chồng về đến biên giới khiến cho người đàn bà phấn khởi, không ngăn được niềm hân hoan bỗng dưng tràn ngập tâm hồn, hai con mắt long lanh sáng, đôi gò má thoáng ửng sắc hồng. 

“Để em vào lậy bàn thờ gia tiên cái đã,” người thanh niên nói.

“Đã đành,” nói rồi Uyển-nhi kéo tay người thanh niên và con bé vào nhà trong. Ông già đã tìm nhặt lại được cái dọc tẩu, lần bước theo sau. Nhà buôn bán, nhỏ hẹp chật chội nhưng khá ngăn nắp. Đến trước bàn thờ gia tiên, người thiếu phụ lấy một nén hương đưa cho thanh niên, rồi đón ẵm lấy đứa con gái. “Kính Lục nó về thăm ông bà với các huynh trưởng đây này,” Uyển-nhi sụt sịt khóc.

Bàn thờ vỏn vẹn có năm thần chủ của Phạm Tá Phiên, Văn Tú Hoa, Lưu Đại Bản, Cổ-ngạch Kiên-kỳ và trên cái cuối cùng chỉ ghi mấy chữ “tiên mẫu ở Ô-lỗ Mộc-tề” vì Uyển-nhi không biết tên mẹ.

Phạm Kính Lục châm hương vào bấc trên đĩa đèn dầu, quỳ lậy. Song thân thất lộc từ lúc Kính Lục còn bé, chưa có nhiều gắn bó nên nhớ thương chỉ bàng bạc trong lòng. Nhưng nghĩ đến Cổ-ngạch Uyển-nhi đang thầm lặng quỳ bên Lão Ngũ ở sau lưng thì lại bùi ngùi cảm động dưng dưng nước mắt. Họ là những người thật có tình, hai chục năm đi qua mà sớm hôm vẫn khói hương cho những người đã khuất.

Ngay cả Lưu Đại Bản trên bàn thờ cũng hình như gần gũi với Kính Lục hơn cả cha mẹ mình. Chuyện họ Lưu tình cờ gặp gỡ và được Tần-hữu Thọ-Huy giải thoát ở Dữu-lý năm xưa không ngờ đã đưa đẩy họ vào hoàn cảnh sống chung với nhau cả năm ở Quyết-hoa-thôn trước khi được Mạc Tăng Thốn đại hiệp sai Lão Ngũ và Lương Tạ, cựu chiến binh trong quân Chiêu-văn vương, lên đón về với tướng quân Lý Tất Kiến ở kinh thành.

Tá túc trong tướng phủ được gần một năm, đợi cho mọi người bắt đầu quen nước quen cái, Lý Tất Kiến phu nhân mới giúp vốn cho Lưu Đại Bản mở cửa hàng buôn bán vải vóc ở phường Nhai-tân để lo liệu cho Diêu Di-hân và Cổ-ngạch Uyển-nhi.

Ở phường Nhai-tân chưa đầy nửa năm, vừa thích nghi được với đời sống mới thì Diêu Di-hân lấy Lương Tạ, vợ chồng dọn xuống vùng biển Vĩnh-an lập nghiệp bên gia đình Mạc đại hiệp. Lão Ngũ thì chạy đi chạy lại giữa kinh kỳ và Vĩnh-an cho đến khi mắt không còn thấy rõ đường nên ở lại luôn với Uyển-nhi. Năm sau Uyển-nhi lấy Điều Dã Phu, gốc người Tống hương di cư sang Đại Việt khá lâu, nay đã trở thành dân bản địa.

Trước kia, nội tổ của Dã Phu ở trong binh chúng của Tống tướng Vương Công Kiên và Nguyễn Văn Lập ở Hợp-châu, cùng đồng đội kiên thủ thành Điếu-ngư dòng dã năm tháng trường cho đến khi đại hãn Mông-kha bị tử thương trong cuộc tấn công ấy vào tháng bảy năm kỷ mùi.*1s Quân Mông-cổ thất bại không chiếm được cái thành nhỏ bé này, phải rút lui. Nội tổ của Dã Phu chết trong cuộc tử thủ đó.

Đến năm quý dậu,1273 bố của Dã Phu bị giết khi thành Tương-dương thất thủ. Lúc ấy, mẹ con Dã Phu đang ở quê ngoại, trên bờ sông Hàn, ngay bên kia thành Tương-dương. Hai mẹ con may được người ta cứu đưa lên thuyền cùng với đám tai dân chạy sang Đại Việt tỵ nạn rồi được an trí ở phường Nhai-tân.

Rời Lý tướng phủ, Lưu Đại Bản ở nán lại Thăng-long thêm hơn một năm rưỡi nữa, thấy cửa hàng bắt đầu chạy liền giao hết cho Cổ-ngạch Uyển-nhi tự tay quán xuyến rồi bỏ đi cùng với một người cháu của Hà trưởng lão liên lạc với Hồng-cân-quân đồng chí và những thủ lãnh nòng cốt của nông dân ở Hoa Nam để tính chuyện vũ trang nổi dậy.

Nhưng khi ấy, những vận động kháng Mông ở Trung Nguyên chưa có cơ hội phát triển mạnh mẽ; hai người quyết định lên Mạc-bắc, Hoà-lâm trong vùng thượng lưu sông Ngạc-nhĩ-hồn-hà, hoạt động phản Nguyên cùng với nhóm Bắc-biên chư-vương, năm thì mười hoạ mới về thăm nhà, chưa ấm chỗ lại đã ra đi.

Thời gian đó, tông vương Nãi-nhan đã bị giết, nhưng tàn binh của ông tiếp tục hoạt động. Với sự liên kết chặt chẽ giữa các hệ phái chống đối cùng với sự tiếp tay của các phần tử Hồng-cân-quân, Bạch-liên-giáo và Bát-tự-quân, cuộc bạo động ở biên thùy Hoa Bắc lan rộng và trở nên khẩn cấp đến nỗi ngày mùng một tháng bảy năm kỷ sửu,19-7-1289 Nguyên chủ lại phải thân chinh lên đánh dẹp. Nhưng quân phiến loạn của Hải-đô chống cự dữ dội và liên tiếp tấn công vào các vùng Hốt-tất-liệt kiểm soát, buộc lòng ông tạm hoãn ý định đánh Đại Việt.

Quả đúng như thừa tướng Hoàn-trạch và bình chương Bất-hốt-mộc tiên liệu, cho đến khi mất, Nguyên chủ vẫn không tiêu diệt được thế lực của Hải-đô và cũng không thực hiện được giấc mộng xâm chiếm Đại Việt. Năm tân sửu,1301 Hải-đô bị ốm chết. Lưu Đại Bản và một số đồng chí chiến hữu vẫn ở lại Tân-cương và Mạc-bắc, trường kỳ kháng chiến chống Nguyên cùng với nhóm chư vương kế tục ông.

Năm Cổ-ngạch Uyển-nhi có mang, cơ sở buôn bán vải vóc của gia đình ở phường Nhai-tân đã vững chãi, nhân khi Lưu Đại Bản về thăm, Điều Dã Phu xin đi theo.

Từ lúc nhận được hung tin Lưu Đại Bản chết thì Điều Dã Phu cũng biệt tăm. Được cái là chỉ vài tháng sau khi người chồng rời Thăng-long thì Uyển-nhi đẻ con Ngoạn Thi và đó là nguồn an ủi chung cho bà mẹ và Lão Ngũ. Kể từ khi ấy, mỗi thay đổi của con bé khi lớn lên là một ân sủng trong lòng họ, bất cứ thay đổi cách gì. Uyển-nhi là người không thể giữ được tình yêu đứa bé ở trong lòng. “Ngoại ơi, nó biết khóc. Phi thường!” người mẹ hớn hở nói liên tu bất tận về sự lớn lên của con gái. Rồi, “Coi, ngoại có thấy con nhà ai mới chín tháng mà đã bò như nó chưa? Khó thể tưởng tượng được!” Rồi, “Ngoại có nghe nó bi bô học nói suốt cả ngày không; con tôi duyên dáng đến như thế là cùng.” Rồi, “Ngoại, nó đái dầm mà vẫn tươi cười như không; ngoan quá đi mất thôi!” Rồi, “Ngoại ơi, nó đang cãi lại con một cách hết sức thông minh đây này, thần sầu!” Rồi …. Không ai có thể bền chí ngày ngày lắng nghe như Lão Ngũ mà vẫn sống nổi. Thần sầu!

Con Ngoạn Thi thấy mọi người quỳ lâu quá, sốt ruột giật áo Kính Lục, vòi vĩnh đòi dẫn đi chơi. Người thanh niên vui vẻ kéo nó và Lão Ngũ ra cửa.

“Lâu nay lão bá bá có hay đi đây đi đó cho đỡ cuồng chân không?” Kính Lục hỏi.

“Có thấy gì nữa đâu mà đi với đứng,” Lão Ngũ trả lời nhát gừng.

“Bá bá chịu khó lên ngựa để giữ Ngoạn Thi cho nó khỏi ngã.”

Lão già lưỡng lự gật đầu, đưa tay lên sờ soạng con ngựa từ bờm đến đuôi. Sau khi xác định vị trí yên cương, lão lần mò cho chân vào bàn đạp, tự mình gọn ghẽ leo lên lưng. Kính Lục bế con bé đặt lên đùi lão, dắt ngựa cho hai ông cháu đi về hướng đông, không để ý đến tiếng Uyển-nhi léo nhéo dặn với theo mọi người về sớm ăn cơm tối.

Đến đầu phường thủ công, con Ngoạn Thi đòi dừng lại để nghe con hát. Có hai nhạc công ngồi xếp bằng bên đường, người chồng kéo nhị còn người vợ vừa gảy đàn bầu vừa hát nhạc dân gian kể chuyện một người đàn bà mù đàn hát giữa chợ để kiếm ăn cho con trong khi chồng đi đánh giặc. Ngón út bên tay phải của thiếu phụ nhẹ gõ trên dây tơ buộc từ bầu sang cần đàn để định âm trong khi những ngón khác cầm một que nứa mỏng để gảy. Tay trái lúc kéo cần đàn vào gần bằng ngón trỏ, lúc lại đẩy ra xa bằng ngón cái để thăng giáng cao độ hoặc để gảy những âm phụ. Gảy đàn bầu đơn giản nhưng tiếng rung réo rắt buồn như giọng hát ai oán ngập ngừng. “Người đàn bà ấy đang hát gì mà hay thế, ngoại tổ?” con bé hỏi.

“Hát Xẩm.”

“Tại sao cả hai người đều mù?”

“ Ừ, hát Xẩm thường do những người mù nghèo khổ hát rong ở những nơi phố thị để sinh nhai.”

Từ trên lưng ngựa, con Ngoạn Thi đón lấy một xu đồng trong tay Kính Lục, ném vào cái bát mẻ của hai người hát Xẩm. Ba ông cháu lại tiếp tục đi sâu vào trong phường, ngang qua những cửa hàng bày bán mâm, chiêng, chuông bằng đồng thau, còn vạc, đỉnh và tượng thì đúc bằng đồng đen. Có những cửa hàng lại chuyên về đồ gốm mỹ thuật, từ đồ khảm đến gốm hoa lam và các loại sứ men rạn. Phần lớn hàng thủ công này được sản xuất từ những làng Đề-cầu ở Kinh-bắc và Đông-mai ở lộ Khoái. Ở đây cũng có ít cửa hàng nhỏ chỉ bán chiếu cói và quạt nan. Con Ngoạn Thi ngồi im thin thít trong lòng Lão Ngũ, tỏ ra không ưa thích, Kính Lục bèn dắt ngựa xuống cuối phường nơi buôn bán sản phẩm mỹ nghệ và có nhiều đồ chơi trẻ con. 

Giữa phố chợ náo nhiệt, Ngoạn Thi háo hức, con mắt đảo ngược liếc xuôi. Nó mồm năm miệng mười không lúc nào ngớt, chỉ chỏ hết chỗ này sang chỗ khác, cái gì cũng vòi vĩnh nằng nặc đòi mua. “Ngoại tổ thích cái quạt nào nhất? Thúc thúc ơi, thúc thúc có thích cái trống bỏi này không? Ối giời ôi, cái con giống đỏ có cái đuôi mầu xanh biếc kia kìa, đẹp quá đi mất thôi!” Ngoạn Thi một tay đẩy cầm, một tay nắm tóc, bẻ đầu bẻ cổ Lão Ngũ hướng về thúng đồ chơi, miệng nó huyên thuyên không kịp mọc da non. Người đàn bà bán hàng bắt gặp cặp mắt thèm thuồng của con bé, vội vàng cầm con giống đưa lên cao khiến nó lại càng háo hức, nhưng không thấy Lão Ngũ nói gì, nó lăn đùng ngã ngửa ra trong lòng ông mè nheo, mếu máo ăn vạ.

“Đừng có nhõng nhẽo nữa, ngã bổ chửng ra bây giờ. Đồ con gái hư,” Lão Ngũ lo âu mắng. Càng bị mắng, con bé càng làm già, người nó nhũn ra như sợi bún ướt chỉ chực nhoài xuống đất; đòi cho mua bằng được con giống nó thích mới thôi.

Ra khỏi phường Nhai-tân, họ đi dọc theo một con đường râm mát đến một khu nhà vừa bị hoả hoạn hôm trước. Ở đây trẻ con lọ lem nheo nhóc bên những đống tro tàn; đàn bà con gái giặt rũ nấu nướng ngay trên vỉa đường. Lính tráng từ các nơi đến đang xúm lại giúp đỡ đàn ông trai trẻ thu dọn.

Những nhà quyền quý, giàu có ở kinh thành dựng nhà bằng gỗ, đá. Nhà dân thì chỉ làm bằng tre nứa nên rất dễ cháy, nhưng cũng dễ cứu hoả vì Thăng-long là một thành phố cây cối sông hồ nằm giữa sông Nhị, sông Tô và chi nhánh sông Kim-ngưu, lấy nước làm hào lấy đê làm luỹ, chỗ nào cũng đầy nước. Kiến trúc tre pheo, thời gian tái tạo chẳng tốn bao lâu, chỉ năm muời bữa nữa nhà cửa lại sẽ mọc lên như nấm.

Từ góc đường, một toán kỵ binh từ Lý tướng phủ kéo đến đem theo một bầy ngựa thồ chở đồ cứu trợ. Những người lính thấy Kính Lục đang dắt ngựa cho một lão nhà quê và một con bé bẩn thỉu thì rất đỗi ngạc nhiên, vội vàng xuống ngựa chào hỏi rồi chọn một con ngựa tốt để lại.

Có thêm ngựa, chỉ thoáng sau ba ông cháu đã đến bến Đông-bộ. Dừng ngựa trên con đê ở ven đô, Kính Lục kể với Lão Ngũ rằng tại nơi đây vào năm Nguyên-phong thứ bảy, 1258 đại nguyên soái Ngột-lương-hợp-thai, con trai của kiệt tướng Tốc-bất-đài, đã bị thảm bại trong cuộc xâm lược lần đầu của quân Mông-cổ vào Đại Việt.

Dưới bầu trời mây man mác, nước cuồn cuộn trên dòng sông mang tên màu phù sa đỏ xẫm chảy ra biển. Tiếng sóng nước rạt rào vỗ dưới chân đê sông Hồng làm Lão Ngũ ngẩn ngơ nhớ lại trận đánh trên Bạch-đằng. Lưng lão bỗng vươn thẳng, tay cầm cái dọc tẩu dài chĩa xuống đất, đôi mắt mờ quắc lên trên nét mặt kiêu hãnh rạng rỡ của một người lính xung trận giữa khói lửa chiến trường khi lão chợt nghe một hồi trống từ ngôi đình nào đó ở phía xa bên kia sông vọng sang. Tiếng trống đình hiền lành theo gió heo may âm vang trên mặt nước đã vô tình gợi nhớ những cơn sóng gió năm xưa trong lòng người chiến binh. “Lại đến lúc lão nhớ chiến tranh rồi,” Kính Lục lắc đầu thở dài, thầm nghĩ.

Hồi còn nhỏ, Lão Ngũ thỉnh thoảng kể cho Kính Lục nghe những mẩu chuyện chiến trận kinh hoàng, bảo rằng lão rất ghét chiến tranh nhưng cũng lại rất nhớ chiến tranh. Một già một trẻ tâm tình, chẳng ai biết tại sao lại nhớ, lại ghét trái ngược nhau như vậy. Lớn lên, Kiến Lụcmới dần dà hiểu rằng người ta thường tìm kiếm những ý nghĩa khác nhau trong đời sống của mình qua chiến tranh. Có những phần tử bại hoại sống cuộc đời bất lương bị xã hội khinh bỉ oán ghét đã được bọn vua chúa hiếu chiến lợi dụng tạo thành những hình nhân thế mạng tự nguyện đổ mồ hôi xương máu phục vụ cho những ý đồ bất chính của họ. Những phần tử bại hoại đó phút chốc trở thành anh hùng trong chiến tranh mặc dầu hành động bạo tàn cố hữu của họ trước sau chỉ là một. Chiến tranh là cơ hội đưa những phần tử này vươn lên, đã đem lại cho họ một giá trị giả tạo khiến họ trở thành những phần tử hiếu chiến yêu thích và hứng khởi mong mỏi chiến tranh.

Lão Ngũ đã không tham dự vào những cuộc chiến với tâm trạng ấy. Thời niên thiếu, chưa đầy mười lăm tuổi, lão đã cùng đồng bào dấn thân vào một cuộc chiến đấu sống còn để bảo vệ thôn ấp giống nòi của mình ở Thương-sơn tuyết phủ, ở Nhĩ-hải biển hồ. Sau này, lão lại ngẫu nhiên có mặt bên cạnh Mạc Tăng Thốn trong trận đánh trên sông Bạch-đằng chống lại kẻ thù chung, quân Nguyên. Cả hai cuộc chiến tang thương lão tham dự  đều chính đáng và sẽ không bao giờ phai mờ trong ký ức. Có lẽ lão nhớ những đồng đội anh dũng chiến đấu cho một lý tưởng, nhớ tuổi trẻ đầy hào khí trong những cuộc chiến tự nguyện ấy. Ngoài những điều đáng nhớ đó, lão đã trải qua quá nhiều thảm cảnh tàn khốc trên chiến địa để chẳng còn có gì phải luyến tiếc những mất mát đau lòng của chiến tranh.

“Piiiiguuuu,” một thứ âm thanh của ngôn ngữ phương bắc kéo dài rất nhỏ trong cổ họng Lão Ngũ, nhưng con Ngoạn Thi đã nghe thấy.

“Piiiiguuuu là gì hở ngoại tổ?” nó cũng cố kéo dài bắt chước giọng Lão Ngũ, tò mò hỏi.

Tiếng con bé léo nhéo đưa Lão Ngũ trở về với thực tế, lưng lão lại nhũn ra, cánh tay cầm dọc tẩu thõng xuống. “Ờ, ờ! Piiiguuuu là… là bề cổ, là… là trống trận,” ông dịu giọng, ngập ngừng nói.

“Trống trận là gì?”

“Là cái trống của chiến tranh.”

“Chiến tranh là gì?”

“Là đánh nhau.”

“Đánh nhau với ai?”

“Người ta đánh nhau với người ta.”

“Ngoại tổ mua cho con cái trống trận ấy đi.”

“Không!”

“Tại sao không?”

“Chiến tranh xấu xa lắm.”

“Tại sao?”

Không ai có thể trả lời được hết những câu hỏi “tại sao” của trẻ con. Lão Ngũ cũng không bao giờ trả lời được, nhưng lão luôn luôn kiên nhẫn đối đáp cho đến khi nào con bé chán ngấy không thèm hỏi nữa.

Vừa thấy bóng mấy người đi ngoạn cảnh từ Đông-bộ-đầu về, Cổ-ngạch Uyển-nhi liền đóng cửa hàng, xuống bếp dọn cơm, giục mọi người ngồi xuống chiếu. Mùi xào nấu quyến rũ lan toả khắp căn nhà. Hễ có dịp gặp nhau là vui mừng trò chuyện, là xum họp quây quần ăn uống. Ngoạn Thi chui gọn vào lòng Kính Lục, tay khư khư ôm lấy trăm thứ bà giằn. Nó say mê thích thú với những món đồ chơi mới đến bỏ cả ăn, mặc cho bà mẹ lên tiếng phàn nàn là chiều như thế thì nó sẽ nhờn. Lời của bà như nước đổ đầu vịt, con bé lờ đi như không.

“Ngoạn Thi cưỡi ngựa hôm nay thích lắm,” Kính Lục vừa dỗ nó ăn vừa nói lảng sang chuyện khác. Con bé và vội một miếng cơm rồi lại quay sang nói chuyện với những món đồ chơi mới, thỉnh thoảng cất tiếng cười ròn như nắc nẻ.

“Một lần thiếu gia đến là một lần nó hư lên một tí. Con bé này sẽ nhiễm thói hư tật xấu cho mà xem,” Uyển-nhi lên tiếng trách mà chẳng thấy mặt mày lộ vẻ khó chịu tí nào.

“Thành tật rồi chứ nhiễm gì mà nhiễm,” Lão Ngũ đứng bên lẩm bẩm. Ngoạn Thi liếc xéo ông già làm mặt giận, thừa biết là lão rất mực cưng nó.

“Em để con ngựa lại đây cho hai ông cháu thỉnh thoảng cưỡi đi chơi cho nó hư thêm tí nữa,” Kính Lục vừa nói vừa đưa mắt trêu ghẹo Uyển-nhi.

“Lão bá bá mắt kém thì làm sao kham nổi,” người thiếu phụ gạt đi.

“Chỉ phiền tỷ tỷ phải chăm lo cho nó chứ lão đại thúc mắt kém thì không sao. Em gọi con ngựa này là con Lãng-tử, đại thúc chỉ cần lỏng tay cương, vỗ vai nó một cái là nó bắt đầu đi lang thang. Bao giờ muốn về thì kéo nhẹ dây cương, vỗ vào mông, không cần hướng dẫn nó cũng tự biết đường trở về nhà. Vả chăng, lão đại thúc là một kỵ thủ ưu tú, đi với nhau ít lần là con bé này cưỡi ngựa thành thạo ngay ấy mà,” Kính lục thuyết phục.

“Chị định xuân này giời âm ấm một tí sẽ đưa hai ông cháu nó xuống Vĩnh-an chơi,” Uyển-nhi tươi cười, nói.

“Lão đại thúc có chịu đi không?” Kiến Lập hỏi.

“Để xem,” Lão ngũ chép miệng thở dài, “đến lúc đó mà vẫn còn có sức thì cũng đi theo mẹ con cô ấy một chuyến giối già xuống thăm gia đình Mạc đại hiệp và vợ chồng cái Di-hân một thể.”

“Em sẽ đưa thêm một con ngựa tốt nữa dùng để đi đường.”

Trong khi cùng với Lão Ngũ nâng chén, Kính Lục báo cho Uyển-nhi biết thêm là Điều Dã Phu đã đi theo Vu Lâm Tuyền về đến Quyết-hoa-thôn từ ngót nửa tháng trước. Họ đang bận báo cáo với Tần-hữu đại lão và Hà đại lão về tình hình Trung Nguyên nói chung và về hoạt động của Hồng-cân-quân, Bạch-liên-giáo và Bát-tự-quân từ trên mạn Tân-cương, Mạc-bắc xuống đến vùng Hoa Nam nói riêng, trước khi cùng với vợ chồng Tần-hữu Lập-chí và Tần-hữu Tế-nhĩ xuôi kinh, chỉ nội ngày một ngày hai sẽ về đến nơi.

“Vu Lâm Tuyền thúc thúc là ai?” Uyển-nhi ngạc nhiên hỏi.   

“Chị không nhớ thầy mo, thủ lãnh của nhóm vũ sĩ Đại Việt ở bên cạnh đội cảnh vệ người Bạch-y và người Di khi mình còn ở Dữu-lý hay sao ?”

“Ồ, ông chú thầy mo thì biết quá đi ấy chứ lị, có điều không biết tên thôi. Còn Bát-tự-quân là gì? Điều đại ca không còn ở trong Hồng-cân-quân nữa hay sao?” Uyển-nhi tươi cười, tò mò hỏi. Bà chỉ biết đại ca Lưu Đại Bản là người của phong trào Hồng-cân thì cho rằng chồng mình hẳn cũng là người trong một hội chứ chưa hề nghe đến Bát-tự-quân bao giờ.

“Bát-tự-quân kháng Kim khởi nghĩa gồm những nghĩa binh có xâm vẽ tám chữ lên mặt còn Hồng-cân-quân thì chít khăn đỏ trên đầu. Hai tổ chức này biệt lập và danh xưng khác nhau nhưng hiện đang cùng có chung mục đích kháng Nguyên. Vì thế, ở vùng quan ngoại người ta thường lẫn lộn gọi chung những hội viên của hai phong trào này là Hồng-cân-quân hay Bát-tự-quân cũng được; giống như gọi tỷ tỷ là Cổ-ngạch Uyển-nhi hay là một bà vợ nhớ chồng của Điều đại ca cũng thế thôi.” Suy bụng ta ra bụng người, biết rõ lòng Uyển-nhi ngày đêm mong đợi Điều Dã Phu về, Kính Lục tủm tỉm khề khà nửa đùa nửa thật.

Vừa nghe nhắc đến tên chồng,Uyển-nhi xấu hổ quá không biết dấu mặt đi đâu phải kiếm cớ xuống bếp lấy thêm rượu và thức nhắm. Rượu nếp cẩm đối với Kính Lục hơi ngọt, nhưng không sao, thức ăn do chị Uyển-nhi và chị Di-hân nấu có khi chỉ là một bữa rau dưa xoàng đơn giản mà vẫn ngon tuyệt. Nấu ăn chẳng những chỉ mất thì giờ không thôi mà hai người đàn bà ấy còn dốc cả lòng dạ mình vào đấy nữa thì không tuyệt sao được. Thật là đơn giản. Đơn giản đến nỗi hồi còn là một đứa bé khờ khạo Kính Lục đã không cảm nhận được trọn vẹn sự chăm sóc và lòng trìu mến của hai người chị này.

“Lão phu cũng nghĩ vậy,” Lão Ngũ vỗ nhẹ lên vai Kính Lục, nói một cách vu vơ. Người thanh niên không hiểu tại sao lão có thể cảm nhận được ý nghĩ trong đầu mình, cứ y như là đi guốc vào bụng người ta không bằng, nhưng đã quen với cái giác quan bén nhạy ấy của lão nên không lấy làm lạ nữa.

Trước khi ra về, Kính Lục cho Lão Ngũ và Uyển-nhi biết triều đình Đại Việt sắp sai người sang Chiêm đón công nương Diệu Trân về nước, không nhắc nhở gì đến việc đón công chúa Huyền Trân vì vụ này còn đang phải giữ kín.

Cổ-ngạch Uyển-nhi và Lão Ngũ không biết mặt Diệu Trân, nhưng vì thương yêu Kính Lục nên một mối hảo cảm lân mẫn với người con gái chưa từng một lần gặp gỡ ấy đã tự nhiên nảy nở trong lòng. Họ không biết lý do tại sao Diệu Trân du nam, chỉ thầm ước cho hai người sau này sẽ không còn bao giờ phải xa nhau nữa.

Cùng một ngày nghe được hai tin mừng, Điều Dã Phu và Diệu Trân sắp hồi hương, Lão Ngũ lim dim mắt, vê một điếu thuốc bào.

10

Hồ điệp

Đại Việt, niên hiệu Hưng-long thứ mười bốn

Tháng mười năm đinh mùi là tháng mười một dương lịch 1307

Chương 10, có tựa đề Hồ điệp, là chương cuối cùng, tác giả gợi hứng từ một cánh bướm thêu trên tà áo khoác ngoài của công nương Diệu Trân, khi nàng tiếp Phùng Kiến Lập và Vương Trọng Liệt, từ triều đình nhà Trần cử sang để đưa Công chúa Huyền Trân và nàng về nước sau khi vua Chiêm Thành là Chế Mân, chồng của Công chúa từ trần.

Chương này dài 56 trang vi tính, nhiều nhân vật và nhiều chi tiết, và cũng nhiều cảm xúc. Đây là một áng văn chương hiếm thấy tại Việt Nam.

Nội dung của Chương cuối này:

Cảnh trí của Chiêm Thành – Trần Khắc Chung – Phùng Kiến Lập – Vương Trọng Liệt – Công nương Diệu Trân – Kinh Vệ Đà – Áo Nghĩa thư – Một biến cố xảy ra trong đại sảnh trước mặt công nương Diệu Trân giữa Vương Trọng Liệt và Phùng Kiến Lập. Cuộc di tản của người dân ở thôn Lữ-dạ đầy gian nan và chết chóc. Một cuộc hoán đổi số mệnh đầy bi thiết. Những lời trăng trối và từ biệt của Công nương Diệu Trân.

Các tiểu mục là của chúng tôi.

Dãy Trường-sơn chạy dọc từ bắc xuống nam Đại Việt như một cột xương sống, đến vùng Ðại- châu thì bắt đầu có nhiều nhánh tách ra như những rẻ sườn chạy từ phía tây ra biển. Các nhánh càng rời xa Trường-sơn càng thấp dần, gần đến ven biển có chỗ chỉ còn là gò đồi.

Từ những vùng gò đồi đó, một dải cát đá dài trên dưới ba chục dặm, khởi đầu từ vùng Cách-thử, men theo duyên hải về phía nam tạo thành một bán đảo nhỏ, bên ngoài là Biển Ðông, bên trong là Hải-hạc-đàm. Chi nhánh các sông Côn và sông Hà-thanh đổ vào đầm chia các mặt tây bắc ra thành nhiều cửa.

Thị-lị-bị-nại ở phía cực nam bán đảo là cửa khẩu chính từ Hải-hạc-đàm ra biển, với những vách đá tai mèo một bên nhọn hoắt như nanh vuốt của mũi Hổ-ky và một bên lởm chởm như mỏ rùa của vách Quy-cảnh-chủy, nên nơi đây còn có tên là Thuỷ-khẩu Giao-nha.

Là cửa ngõ trọng yếu của Chiêm-thành, các thương thuyền ngược xuôi theo vùng duyên hải Ðại-châu bao giờ cũng ghé Hải-hạc-đàm,một trung tâm thương mãi sầm uất trên trục giao thương bắc-nam. Ở đây họ có thể nghỉ ngơi, tiếp tế đồ ăn thức uống và trao đổi hàng hoá, thu mua chẳng những được nhiều sản vật địa phương như đồi mồi, dầu sơn, vây cá, tôm khô, hồ tiêu, cau khô, gỗ, gạo, đường, mà còn có những loại hàng hiếm quý như sừng tê, ngà voi, yến sào, tơ sống, vàng bạc, quế, và đặc sản trong vùng là gỗ trầm hoặc kỳ namdo kết tinh của nhựa dó bầu đại thụ.

Trời chưa sáng rõ mặt người mà quan thượng thư tả bộc xạ nhập nội đại hành khiển Trần khắc Chung đã từ lâu ngồi uống trà bên bàn làm việc trong phòng chỉ huy chiếm hết chiều rộng ở phía sau của soái thuyền Ðại Việt thả neo cách bờ phía bắc Hải-hạc-đàm hơn một dặm. Mũi thuyền chạm trổ đầu phượng sơn son, hai mắt đỏ rực hướng ra xa. Ông trầm ngâm nhìn những ánh đèn đỏ khi tỏ khi mờ trên những thương thuyền và ngư thuyền bồng bềnh trong sương sớm cùng với tiếng ồn ào của dân chài chuẩn bị ra khơi.

Thuyền của hưu quan tư nghiệp thái bảo Phùng Kiến Lập và của an phủ xứ Ðặng Văn đậu gần bên không thấy lên đèn. Trên khoang mười hai chiến thuyền hộ tống thả neo chung quanh, không kể nhiều thuyền cỡ nhỏ khác, lúc nào cũng có vệ binh thay phiên nhau ngày đêm túc trực.

Trên hải trình từ cửa sông Đáy ở phương bắc đến đây chưa bao lâu, đoàn thuyền Đại Việt thuận gió xuôi nam đã vượt qua vùng hải ngạn có những suối nguồn khởi từ cao nguyên đổ vào những dòng sông Thạch-hãn, Thu-bồn đục ngầu phù sa chảy xiết ra đến tận cửa biển Ðại Chiêm. Dãy Hoành-sơn tách ra từ rặng Trường-sơn và những suối nguồn sông cả ấy vô tình đã trở thành những chiến luỹ thiên nhiên ngăn chặn các cuộc nam tiến từ thời Ngô vương lập quốc. Ðến vùng Ðại-châu lại có thêm những nhánh núi mọc ngang tạo cho địa thế nơi này trở nên cực kỳ hiểm trở.

Trần Khắc Chung-Vương Trọng Liệt-Nguyễn Khoái

Trần Khắc Chung suy tính, vạn nhất phải dùng hạ sách mà cướp lấy hoàng hậu và tìm được cách ra khỏi cửa khẩu để ngược gió về bắc thì nhất định kỵ binh Chiêm sẽ dùng con đường ven biển để nhanh chóng huy động hải thuyền của họ ở dọc theo duyên hải ra ngăn chặn một cách dễ dàng. Chỉ nội khó khăn này thôi cũng đủ làm ông lao tâm khổ tứ, huống hồ lại thêm sự cản trở của công nương Diệu Trân khiến ông chưa được giáp mặt hoàng hậu. Có lúc hoang mang, ông nghi ngờ không biết hoàng hậu có thực sự đang ở trong xóm chài? Ông lúng túng chưa nghĩ ra được phương kế gì hay ho khả dĩ đem được hoàng hậu ra khỏi Chiêm quốc.

Là con người trì trí mưu lược, sự khôn ngoan đã nâng ông từ một chỉ hậu cục thư lên đến tột đỉnh danh vọng, đứng vào hàng đầu trong giới sĩ phu quan lại của Đại Việt đương triều. Nhớ lại hai mươi hai năm trước, khi nguyên soái Ô-mã-nhi tiến quân vào Gia-lâm trong cuộc xâm lược lần thứ nhì của quân Mông-cổ, Trần Khắc Chung đã vâng lệnh vua Nhân-tông đến gặp viên dũng tướng này trong một sứ mệnh thăm dò để tìm cách thương nhượng hoãn binh và cũng để tìm hiểu địch tình. Nhưng lúc ấy quân xâm lược Nguyên quá mạnh không đời nào chịu thương lượng với một tiểu quốc đang bị lấn chiếm. Trong khi đôi bên đàm phán, viên tướng Nguyên hạch hỏi, trách cứ về những chữ “Sát Thát” xâm trên tay binh sĩ Ðại Việt thì Khắc Chung đã cứng cỏi trả lời rằng đó là “lòng trung thành của binh sĩ đối với vua và đất nước.” Ô-mã-nhi nể thái độ ngang tàng của Khắc Chung nên thả đi; sau hối hận sai quân đuổi giết thì ông đã chạy thoát về đến doanh trại. Tuy năm ấy không thuyết phục được Ô-mã- nhi hưu chiến nhưng từ đó ông được nhà vua sủng ái.

Khắc Chung người họ Đỗ, từ khi vua tin dùng, được cải quốc tính họ Trần. Cuộc đời ông bắt đầu những chuỗi ngày vinh quang, nhưng đồng thời cũng là những chuỗi ngày đầy tư lự và tính toán để vun xới bảo vệ những gì ông đã tạo dựng được, mất dần đi cái dũng khí trong lúc thiếu thời khi chưa có địa vị, quyền lực, và sự nghiệp gì.

Quan thượng thư đăm chiêu nhìn ra những bờ xôi ruộng mật của cánh đồng lúa mênh mông trong một vùng thung lũng xanh tươi bát ngát với những nương hoa màu luân canh cao thấp thơ mộng trên các sườn đồi nối tiếp nhau chạy dài từ bờ nước trong xanh đến tận chân núi ven rừng. Vài ngôi tháp Chàm và đền đài cổ kính rải rác đâu đây trong mờ sáng như lưu luyến gợi nhắc về một thủa vẻ vang nào đó xa xưa. Sự hùng vĩ kiên cố với thời gian của những cổ tháp và miếu đền thanh tú ấy hẳn là công trình khó nhọc và dự kiến về lâu về dài của những người muôn năm cũ.

Trần Khắc Chung miên man suy nghĩ, rồi lại đưa mắt ngắm nhìn những cử chỉ khoát đạt hồn nhiên của những người đàn bà Chiêm quê mùa nhởn nhơ trên bãi biển. Cao vọng của đời ông là đi tìm một cuộc sống đầy lạc thú, thế mà quan thượng thư vẫn còn thiếu một cái gì đó chính ông không nắm bắt được. Ông khinh khỉnh nghĩ về những người đàn bà quê mùa ấy thế mà bỗng dưng ông lại thấy thèm khát cái khoát đạt hồn nhiên rất đơn giản của họ. Mặc dầu con đường hoạn lộ hanh thông, nhưng ông chưa từng thực sự được nếm qua cái hương vị an nhàn tự tại trong suốt cuộc đời bon chen không ngừng nghỉ của mình.

Thân phận cao sang như ông mà phải ước mơ cái hạnh phúc nhỏ nhoi tầm thường như vậy hay sao? Một cảm xúc bồng bột dâng lên, ông phẫn khích đập mạnh tay xuống mặt bàn. “Không được,” ông quát ầm lên.              

Từ sáng sớm ngồi trầm lặng đối diện Trần Khắc Chung, thuỷ sư đề đốc Vương Trọng Liệt giật bắn mình khi nghe tiếng hét, ngơ ngác nhìn chủ tướng, dò hỏi.

“Chuyến đi này của chúng ta thật là thiên nan vạn nan,” Trần Khắc Chung nhếch mép cười sau một thoáng xúc động nhất thời. Đầu óc xoay trở rất nhanh, ông đã kịp thời thu hồi thái độ bình thản. “Nhưng một khi hoàng thượng đã tin cậy ở hai chúng ta thì dù có phải lấp bể dời non chúng ta cũng không thể khoanh tay.”

Tuy là người từng trải tinh tế, Vương Trọng Liệt cũng không thể dò thấy được chân tướng của những ẩn ý phức tạp đang xoay chuyển trong đầu vị thượng quan đối diện. Nhưng khi nghe Trần Khắc Chung nói đến câu “hai chúng ta” thì viên đề đốc trong lòng cảm thấy khoan khoái, cũng nhếch mép cười, cảm động. “Chúng ta đang ở trên đất người, không có hậu thuẫn, nếu phải dụng lực tất sẽ lâm vào thế quả bất địch chúng. Tệ chức đầu óc nông cạn hồ đồ, chỉ biết trông cậy vào thần cơ diệu kế của tướng công,” Vương đề đốc lên tiếng, không tiếc lời ca tụng.

Trần Khắc Chung đã phải nghĩ tới biện pháp sử dụng con thuyền buôn của ngoại nhân, bằng sự thoả thuận hay bằng võ lực, kín đáo đưa hoàng hậu về nước trong khi  đoàn thuyền của ông còn đậu tại bến, hy vọng có thể lừa gạt che mắt được Chiêm binh. Nhưng đấy vẫn chỉ là dự tính vì ông chưa được gặp hoàng hậu. Dẫu đó chỉ là hạ sách chẳng lấy gì làm đắc ý, thế mà những lời tâng bốc của Vương Trọng Liệt lại làm ông thống khoái. Ông biết thống khoái như thế là không ổn, nhưng không bỏ qua được, tội gì không thống khoái?

Vương Trọng Liệt người gốc lộ Kiến-xương, từ nhỏ đã lấy việc luyện tập võ thuật làm một đặc thú của mình. Lớn lên Trọng Liệt chẳng làm được việc gì đáng kể, chỉ quanh quẩn dậy võ nghệ cho bọn trẻ trong làng. Năm mười tám tuổi họ Vương lấy vợ, ăn ở với nhau hơn hai năm vẫn không con cái, gia đình thường xảy ra lắm chuyện lục đục. Một lần có chuyện xích mích với cha vợ, bị lăng nhục là phường giá áo túi cơm cả đời chỉ biết ăn bám, Vương Trọng Liệt bèn nổi giận giết cả hai cha con rồi bỏ trốn, cầu thực tha phương ở mạn ngược…

Gặp lúc Trịnh Giốc Mật ở đạo Ðà-giang làm loạn, Liệt đi theo. Chưa được bao lâu thì Mật về hàng Chiêu-văn vương Trần Nhật Duật vào năm Thiệu-bảo thứ hai, 1280. Khi Giốc Mật được Nhật Duật dẫn về kinh đô, trong số tuỳ tùng đi theo có Liệt.

Trong thời gian này tướng quân Nguyễn Khoái đang mộ binh mở rộng thêm đơn vị linh hoạt của lực lượng Thánh-dực Dũng-nghĩa quân để sẵn sàng đối phó hữu hiệu với khinh kỵ binh cơ động của quân Nguyên, Trọng Liệt liền bỏ Trịnh Giốc Mật, xin đầu quân. Năm ất dậu niên hiệu Thiệu-bảo thứ bảy,1285 quân Nguyễn Khoái tham dự mặt trận Tây-kết, Liệt có công nên được giao cho trông coi bốn đô gồm ba trăm hai mươi binh sĩ.

Đến năm Trùng-hưng thứ tư,1288 tướng quân Nguyễn Khoái cầm quân Thánh-dực Dũng-nghĩa lại tham gia chiến thắng trong trận Bạch-đằng, Liệt lập được công to và được biết đến. Thấy họ Vương có căn bản võ nghệ và thuỷ tính cũng xuất sắc nên Nguyễn Khoái để ý cất nhắc.

Trần Khắc Chung là người chịu khó, làm việc gì cũng đắn đo cẩn thận nên trong chuyến đi này ông đã dành nhiều thì giờ tuyển chọn đem theo những dũng sĩ xuất sắc nhất trong các đơn vị ưu đẳng, giao cho Vương Trọng Liệt cầm đầu.

Trong cuộc gặp gỡ trước khi Trần Khắc Chung sang Chiêm, Nguyễn Khoái đã cho họ Trần biết về Vương Trọng Liệt có tài có tật, tính nết bất thường, thủ đoạn tàn độc, cần phải được giữ gìn trong khuôn phép. Không ngờ Khắc Chung khí độ hẹp hòi thường hay bới bèo ra bọ lại cho rằng Nguyễn Khoái có ý khiêu khích trịch thượng lên mặt dậy đời nên mỉa mai bắt bẻ là tại sao tướng quân đã biết trước như thế mà vẫn dùng Trọng Liệt.

Chỉ vì thấy nhà vua thương các em quên ăn bỏ ngủ, Nguyễn Khoái mới động lòng trắc ẩn mà thổ lộ ý nghĩ của mình, những mong công việc của quan đại hành khiển sớm thành tựu, vô tình đụng chạm đến tự ái của vị đại thần có tính tình nhỏ mọn này. Ông bẽ bàng tự trách mình đã nhiều lời nên bực dọc, nói, “Tôi thiết nghĩ dụng nhân như dụng mộc. Gỗ xấu gỗ tốt đều có chỗ khả dụng. Người ấy ở với tôi đã lâu năm, làm việc đắc lực, nhưng khi đã ra ngoài vòng kỷ cương thì lão già này không khỏi lo ngại, chẳng hiểu sự tình rồi sẽ như thế nào. Dù sao thì đại nhân cũng chẳng cần lưu tâm đến cái ý nghĩ bâng quơ vớ vẩn của lão hủ làm gì.”

Nguyễn Khoái là người của trận mạc, mặc dù tính khí ôn hoà trầm mặc nhưng không chịu được lòng dạ hẹp hòi của con người, phải bực mình lắm ông mới khinh khỉnh nói như vậy. Trần Khắc Chung giận tím mặt nhưng Nguyễn Khoái nói xong đã bỏ đi liền.

  Trên chuyến hải trình, Trần Khắc Chung kể lại câu chuyện này cho Vương Trọng Liệt khiến họ Vương bàng hoàng lo sợ nhiều đêm mất ngủ. Xưa nay, Trọng Liệt vốn một lòng kính sợ Nguyễn Khoái, càng được ông trọng đãi lại càng cố giữ mình chẳng dám phát tác cố tật ra ngoài. Nay nghe kể vị lão tướng khả kính ấy đã nói ra những lời như thế thì vừa sợ vừa oán giận lại vừa thẹn, tự nghĩ mình chẳng còn mặt mũi nào gặp lại chủ tướng…

Trong con mắt Vương Trọng Liệt lại thêm một tia hãnh diện, vẻ hào hứng toát ra ngoài mặt. Trần thượng thư ghé sát đầu vào họ Vương, hạ thấp giọng, “Hoàng thượng cho Ðặng an phủ xứ đi theo ta bất quá chỉ để thu xếp lo liệu những nghi thức vặt vãnh; còn Phùng thiếu bảo thì giỏi về từ chương văn bản mà thôi, chẳng thể nào trông cậy được. Cho nên, việc ta tiến cử tướng quân với quan gia không phải là do ngẫu hứng. Khi tướng quân bỏ Trịnh Giốc Mật mà về với Nguyễn Khoái là đã tự ý biết rời cái vũng nước cạn để vào chỗ ao hồ. Nhưng chốn ao hồ làm sao có thể cầm giữ mãi được con rồng? Thời thế tạo anh hùng, đại trượng phu phải biết nắm lấy thời cơ mà tìm đất dụng võ. Rồi ra cũng có ngày giao long đắc thuỷ.” Khắc Chung bỗng thân mật để tay lên vai Vương Trọng Liệt, gật gù, “Phen này mã đáo thành công, chúng ta tất sẽ có một thời cùng nhau vẫy vùng nơi trời cao biển rộng cho phỉ chí tang bồng.” Nói dứt câu, Trần thượng thư bật mạnh ngón tay vào nhau trong không gian, cất tiếng cười ròn rã.

Lời nói bóng gió của quan thượng thư thật làm cho người ta mát ruột, chẳng những nó đã mở một lối thoát cho những băn khoăn lo lắng trong lòng Vương Trọng Liệt mấy ngày hôm nay, mà trong lối thoát ấy lại còn ẩn hiện một tương lai đầy hứa hẹn. Họ Vương bỗng thấy thấp thoáng một cơ hội hãn hữu. Được tuyển chọn vào nhiệm vụ đặc biệt ở Chiêm-thành đã vô tình giúp ông có dịp may được gần gũi với con người đầy quyền lực này để có thể vun sới một mối thân tình hiếm quý, không biết rằng vị thượng thư xưa nay chẳng hề có lấy được một người ý hợp tâm đầu. Trọng Liệt phấn khởi vui mừng, chỉ nghẹn ngào “Dạ” được một tiếng. Hai người ghé gần vào nhau thì thầm to nhỏ. “Quả là một giải pháp rất đắc sách,” cuối cùng Vương Trọng Liệt lên tiếng. Một lúc sau, Trần Khắc Chung mới ngồi thẳng lên bảo Vương đề đốc cho vời an phủ xứ Ðặng Văn và thiếu bảo Phùng Kiến Lập.

Phùng Kiến Lập-Vương Trọng Liệt-Kinh Vệ Đà-Áo Nghĩa thư

Đến xế trưa, Phùng Kiến Lập được Trần Khắc Chung phái vào bờ. Mặt trời còn treo trên đỉnh núi cao, thấp thoáng sau những đám mây trắng viền vàng. Chiều buông xuống, cỏ cây trên các triền đồi đã bắt đầu ngả chút màu hoàng hôn. Từng cơn gió nhẹ đầu mùa đem theo cái không khí lành lạnh từ đại lục thổi ra Biển Ðông.

Những ngư thuyền về cảng sớm đang rỡ cá trên cầu phao trong khi những thuyền nhỏ hối hả ra vào các cửa sông trong đầm để kịp trao đổi những mớ hàng chót trước khi các tàu buôn nhổ neo. Nhiều thủy thủ của các thương thuyền đã bắt đầu rời bến trở lại tàu mình để đợi con nước. Những con hải âu đậu trên bãi cát vụt bốc cánh lên không, cất tiếng kêu inh ỏi khi đoàn chiến thuyền cỡ nhỏ chỉ chở được vài chục chiến binh của Đại Việt vừa cặp bến.

Mọi người lục tục lên bờ, dẫn đầu là thiếu bảo Phùng Kiến Lập. Thay vì mặc áo màu tía của hàm nhất phẩm, mặc dù đã về hưu, nhưng ông mặc áo lụa thâm, đầu phủ khăn lụa trắng, chỉ có thắt lưng bằng vải tía buông rủ hai đầu xuống phía trước, nhác trông như một đạo sư. Tuy đã ngoại ngũ tuần nhưng vóc dáng ông vẫn còn trẻ trung linh hoạt. Đề đốc Vương Trọng Liệt mặc quần áo đen, ngang trán buộc một dải khăn đỏ giữ tóc và một cái khăn quàng thắt lỏng quanh cổ, cầm đầu mười một vệ sĩ nối tiếp theo sau. Đội thuỷ quân hộ tống ở lại dưới thuyền.

Tuy đường từ bến đến trang viên nơi hoàng hậu ở khá gần, nhưng những người lính Chiêm thuộc đội kỵ binh duyên hải cũng dẫn đến mười mấy con ngựa dành cho Phùng Kiến Lập và tùy tùng.

Khi đoàn người đến đầu cầu đá, những người lính Chiêm ở điếm canh đã dàn hàng sẵn ở đó chờ đón. Trong số những người lính ấy, có người cầm lao khiên, vài người đeo đao, kiếm. Ai cũng có cung nỏ. Tên của họ làm bằng tre không ngạnh vì đầu có tẩm thuốc độc. Họ mặc giáp mây, quần ngắn, lưng thắt đai có chừa ra một đầu rất dài đằng trước để luồn qua háng buộc ra sau lưng, khúc thừa thả dài lòng thòng xuống như cái đuôi, chân đi dép cỏ, đầu đội nón đỉnh nhọn có nhiều lớp vải phủ lên nhau xuống đến vai, trông giống như những đoá hoa sen úp ngược. Quân pháp Chiêm-thành nghiêm ngặt, lính được chia nhỏ thành từng ngũ năm người yểm trợ lẫn nhau; nếu có một người bỏ trốn thì bốn người còn lại đều bị tử hình.

Người đội trưởng lặng lẽ cúi đầu chào. Phùng Kiến Lập nhã nhặn đáp lễ rồi thúc ngựa đi tới. Dân chúng trên đường đều giạt ra hai bên nhường bước. Một lát sau, người ngựa đến một cổng đá lớn dẫn vào hoa viên trước khi dừng lại ở mặt tiền khu trang viên. Dinh thự này bốn mặt xây gạch quét vôi sáng sủa sạch sẽ ngoại trừ mặt trước mới được tô thêm một lớp tro thú vật màu xám. Hoàng gia Chiêm có tục đốt thú vật lấy tro trộn hồ quét lên cổng thành, tin rằng sẽ được thần linh bảo vệ. Nhà dân chúng không làm như vậy nhưng vì hoàng hậu đang ngụ ở đây nên người ta quét tro thú vật trước cửa trang viên coi như bà còn đang ở trong hoàng thành..

Phùng Kiến Lập và Vương Trọng Liệt vừa kịp xuống ngựa thì mười một người vệ sĩ sau lưng họ đã nhanh nhẹn dàn xong hàng ngang chia nhau đứng hai bên cửa ra vào, mỗi người chỉ giắt bên lưng một lưỡi truỷ thủ. Riêng một người trong bọn tay trái cầm cây trường cung, lưng đeo túi đựng tên bịt sắt làm bằng da chân dê.

Không kể hàng trăm võ sĩ xuất sắc khác được đặc biệt tuyển chọn đem theo trong chuyến sang Chiêm lần này, mười một dũng sĩ cá biệt theo Vương Trọng Liệt hộ tống Phùng Kiến Lập đến trang viên là những nhân vật võ lâm hạng nhất có lai lịch rất đáng kể; mỗi người đều có sở trường, tuyệt nghệ riêng.

Đứng trước cửa, Phùng Kiến Lập sửa sang mũ áo, cung kính chắp tay trước ngực, cao giọng, “Đường-lâm Phùng thị cựu lão mạt thần xin yết kiến hoàng hậu và công nương.”

Họ chờ đợi một lúc lâu mới có thể nữ trong chế phục, tóc cài hoa chải đường ngôi lệch gọn ghẽ, ra mở cửa, nghiêng mình chào đón. “Ða tạ cô nương,” vừa nói Phùng Kiến Lập vừa cùng đề đốc Vương Trọng Liệt bước vào tiền sảnh chờ đợi.

Trên mặt sàn tiền sảnh lót ván trước mặt họ có bệ thờ bày những cỗ tượng cổ trông khá lạ mắt của hai vị thần linh tạc bằng sa thạch, một của thần Hủy diệt bốn tay Nhật-thiên-vương có búi tóc cao trên đỉnh đầu ở vách bên trái và tượng thần Bảo hộ Nguyệt-thiên-vương ở bên phải. Hương hoa được bày biện bên cạnh những cuốn cổ thư của Ấn giáo dưới chân hai vị chủ tể của cung trời sắc giới này. Những cuốn giáo lý đã được đem đến từ hoàng cung trong thời gian ma chay mới đây của Chiêm vương.

Phùng Kiến Lập tiến đến trước bàn thờ Nhật-thiên-vương, đảo mắt nhìn những tạng kinh Vệ-đà cổ kính. Nhiều năm trước, nhân đến Thăng-long chờ đợi sắc chỉ bổ nhiệm về Diễn-châu, ông đã có dịp đọc qua một phần phó bản kinh điển về những tông phái của tôn giáo này được lưu giữ trong tàng kinh viện từ thời vua Lý Nhân-tông sai Lý Thường Kiệt sang đánh Chiêm-thành năm giáp thân, niên hiệu Long-phù thứ năm, 1104 thu lấy đem về. Từ ngày làm quan tư nghiệp ở Quốc tử giám và sau này là thái sư dạy thái tử trong hoàng cung, ông lại được đọc nốt những phần trước đây còn bỏ dở.

Những kinh Vệ-đà nguyên thuỷ mang tính cách đa thần, chỉ chuyên chú vào những giáo lễ tế tự tôn sùng những vị thần Lửa, thần Mưa, thần Trăng, thần Chết hay thần Rắn Vĩnh-hằng bồng bềnh trên cái tịch tịnh tuyệt đối của biển sữa. Những kinh nguyện ấy vẫn còn giữ nguyên vẹn ấn tượng của con người sơ khai trên đường tìm hiểu nội giới cùng những va chạm với những động lực mãnh liệt trong thiên nhiên đã nảy sinh một khởi niệm về vạn vật hữu linh, cho rằng mỗi hiện tượng trong thiên nhiên đều hàm chứa một sức sống sinh động. Từ những suy tưởng bối rối lúc ban đầu này, con người dần dà tiến tới quan niệm đa thần, tìm cách giải quyết mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên để đáp ứng cơ bản nhu cầu tình cảm ổn định sâu đậm của mình.  

Cất tay giở mấy trang Lực-vệ-đà, Phùng Kiến Lập liếc nhanh trên bài thánh ca cuối cùng, “… Thủa ấy, chưa có chết và không chết. Chưa có gì khác biệt giữa ngày và đêm…; chỉ có lặng yên không một hơi thở. Sự thực chỉ có một mà thôi… Từ đâu mà sinh ra vạn vật? Chư vị thần linh cũng không thể nói được vì các vị ấy đã ra đời sau cuộc sinh thành tạo thiên lập địa… Chỉ có ngài là linh hồn của vũ trụ trông nom thế giới, là đấng tạo nên muôn vật ở cõi trời tối cao bất sinh bất tuyệt là biết được mà thôi…” Từ những bước chập chững hiến tế đa thần khi còn ăn lông ở lỗ, Phùng Kiến Lập nghĩ bụng, con người đã từng bước mò mẫm vào cái chốn bất tri và bất khả tri của tâm linh nguyên sơ để nhận ra rằng sự sống của mình với sự sống của vạn vật trong thế giới tự nhiên chẳng có gì khác nhau về bản chất, dẫn tới ý niệm nhất thần. Và từ đây đi tìm một bản thể tuyệt đối vô tịch, vô trụ, vô sinh, một vị chủ tể của muôn loài làm cội nguồn chung cho vạn vật sinh khởi.

Trong lúc Phùng Kiến Lập chuyển bước sang bàn thờ Nguyệt-thiên-vương, Vương Trọng Liệt đi theo sát bên. “Theo thiển ý thì những điều chứa đựng trong kinh sách này chỉ gồm những phương thức sử dụng ma thuật, dựa vào cầu cúng, tụng niệm chân ngôn thần chú để vận dụng những động lực thần bí mà thực hiện những mục tiêu vị kỷ,” họ Vương nói nhỏ vừa đủ cho ông nghe. 

Phùng Kiến Lập thấy nhận xét của Vương trọng Liệt chỉ là một duyên niệm khởi từ ngoại cảnh, tuy thiếu quán triệt nhưng ở một góc nào đó cũng không hẳn đã hoàn toàn phi lý. Thực ra thì đời nào cũng không thiếu những tu sĩ lạc hướng hay những loại người buôn thần bán thánh trong Phật giáo, Bà-la-môn-giáo hay trong các tín ngưỡng khác tìm cách thao túng khống chế sức mạnh thiên nhiên, lợi dụng lòng sùng tín nhẹ dạ của con người để thực hiện những mục tiêu tà đạo. Vì thiếu tiêu chuẩn đạo đức, một số phần tử có địa vị trong những xã hội phức tạp, như tăng lữ hay vua chúa, đã tự thần tượng hóa là có liên hệ với trời đất thánh thần. Nhưng những hành đông tội lỗi đó bất quá chỉ là sản phẩm nhất thời của những khuynh hướng bệnh hoạn hẹp hòi.

Tính tình phóng khoáng, nghĩ vậy, Phùng Kiến Lập bất giác mỉm cười hài lòng về những phán đoán khách quan của mình rồi liếc mắt nhìn xuống những cuốn Áo-nghĩa-thư. Vương Trọng Liệt thấy vị sư biểu mỉm cười, tưởng rằng đã được ông đồng ý nên hớn hở, gật gù ra chiều đắc ý.

Áo-nghĩa-thư mang ý nghĩa của những con người tìm học, được thừa duyên nghe các bậc chân sư thuyết minh về đạo lý hằng cửu. Ðây là những bộ kinh phần lớn viết bằng văn xuôi, đôi khi xen kẽ những bài ca, được các tu sĩ Bà-la-môn trước tác nhằm khai triển những quan điểm giảng dạy trong những bản thánh ca của kinh Vệ-đà, trên phương diện triết lý và giáo lý.

Trước hết, Áo-nghĩa-thư trút bỏ bề mặt đa thần của truyền thống Vệ-đà, đưa ra quan niệm phi nhị pháp, tiểu ngã cùng chung một bản thể độc nhất với linh hồn của đại ngã; bộc lộ bản chất nhất nguyên, vạn vật hữu nhất thể.

Quan niệm kế tiếp là mỗi linh hồn chúng sinh từ vô thuỷ đều phải bôn ba trên một hành trình qua muôn vàn thế giới cho đến khi đạt được thức giác viên mãn. Luật tắc chi phối cuộc hành trình này là luật nhân quả nghiệp báo. Cuối cùng là sự cởi bỏ cái huyễn mộng của thế giới tương đối để giải thoát; tiểu ngã trở về với đại ngã, hợp nhất linh hồn chúng sinh với đấng Phạm-thiên.

Trên căn bản ấy, Áo-nghĩa-thư đã kết tập một số quan niệm thiết yếu làm giềng mối cho hệ thống Bà-la-môn. Phong thái của các bài thánh ca đã thể hiện cái chính khí siêu nhiên của những vị trước tác muốn xiển dương con đường giải thoát, lưu lại cho người sau những điều sở đắc tâm truyền của mình về cái lẽ huyền cơ của tạo vật. Công quả này có khác gì những kiến giải qua kinh luận của các Bồ-tát Mã Minh, Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân đã giúp phát huy nền tảng triết học siêu hình của Phật giáo lên tới cao độ.

Hồi cố lại những điều mình đã được đọc trong kinh Vệ-đà và Áo-nghĩa-thư, Phùng Kiến Lập nhận thấy Phật-giáo, tự nguyên thuỷ đã chống đối khuynh hướng thần hoá quá nhiều của Bà-la-môn. Phật là chúng sinh đã chứng ngộ nên Phật giáo hàm chứa quan niệm bình đẳng chúng sinh trong toàn cõi thế giới ta bà này. Vì vậy, không thể chấp nhận giới luật của Bà-la-môn-giáo rằng con người vốn tự thưở ban sơ đã không bình đẳng để phân chia giai cấp xã hội con người một cách quá khắt khe và bất công. Nhưng nói chung thì nhiều điểm then chốt của hai tôn giáo quả có tương đồng. Cũng những chúng sinh chìm đắm lặn ngụp triền miên trong bể khổ luân hồi; trôi nổi thăng trầm trên các nẻo đường nghiệp quả. Cũng đào xới chiều sâu thăm thẳm của tâm linh cùng với ý thức về bản ngã, khai phá trí tuệ để nhận thức cảnh giới nội tâm mà vạch ra con đường siêu thoát mọi khổ đau phiền não bằng chứng ngộ chân lý. Và cũng thái dụng Du-già-kinh thành một pháp môn đem vào Thiền học để tu tập cách làm chủ lấy giòng sống của hình hài và giòng sống của tâm linh, khả dĩ đưa thức giác lên chỗ viên mãn đại ngộ. Trong chuyến đi mười bảy năm thỉnh kinh ở Thiên-trúc, cao tăng Đường Huyền Trang đã được thầy Giới Hiền dạy Du-già-luận, đem về quảng bá ở Trung Nguyên.

Nghĩ đến đây, Phùng Kiến Lập lại mỉm cười. Có lẽ sự gần gũi giữa hai tôn giáo đã khiến cho hoàng gia Chiêm-thành dễ dàng chấp nhận đề nghị của Ðại Việt để công chúa Huyền Trân làm lễ cầu siêu cho cố quốc vương theo nghi thức đạo Phật. Thêm nữa, Phật-giáo đã một thời xương thịnh ở Chiêm-thành khi Chiêm vương Indravarman II xây dựng triều đại mới ở quốc đô Ðồng-dương năm ất mùi,875 Vương là vị vua đầu tiên theo Phật giáo Đại thừa và xem đây là quốc giáo. Ngay cả trên trán tượng Nhật-thiên-vương trong phòng này cũng có dấu ấn lõm đạo nhãn của nhà Phật, và cũng vẫn còn hình tượng của con Thất-đầu-xà ngày xưa che nắng che mưa cho đức thế tôn, chính là những biểu thị ảnh hưởng của Phật giáo mặc dầu Bà-la-môn bây giờ là quốc giáo.

Phùng Kiến Lập chỉ là một phật tử bình thường, chưa từng lặn lội sâu xa vào Phật học; nhưng kiến văn uyên bác trong đời sống đã cho phép ông có được một cái nhìn tổng cương về những khía cạnh nhân sinh và học thuật của nhà Phật một cách tương đối phóng dật. Nghĩ lại, ông không ngạc nhiên mấy về nhận xét của Vương Trọng Liệt. Ông cho rằng họ Vương là một võ quan thô biền, tri thức thiếu bề sâu sắc, hẳn nhiên không thấy được cái thâm diệu nên khó mà tránh khỏi có cái nhìn phiến diện hời hợt bề ngoài chứ chẳng ích dụng thiết thực gì. Cùng một nguồn nước nhưng mỗi sinh vật, cỏ cây đã hấp thụ, thấm nhuần một cách khác nhau qua nhu cầu và sở năng giới hạn của mình. Vương Trọng Liệt còn có điều gì định nói nữa nhưng chưa kịp lên tiếng thì thể nữ đã ra mời hai người vào khách sảnh.

Vương Trọng Liệt-Phùng Kiến Lập-Công nương Diệu Trân

Sảnh đường này rộng rãi ấm cúng, phần trong có kê hai ghế gỗ mun bắc gần sát nhau phủ nệm thạch-xương-bồ. Một ghế để trống. Tôn nữ Diệu Trân dáng vẻ tao nhã ngồi trên chiếc còn lại, hai chân đặt lên tấm thảm tơ nhỏ dệt mấy cánh sơn trà mơn mởn màu hồng, mình khoác áo gấm nền thiên thanh với khăn choàng mỏng phủ vai. Góc dưới bên trái vạt áo trước có thêu một con bướm nhỏ rất tinh xảo nhởn nhơ giữa mấy cánh phong lan hàm tiếu mong manh trắng mịn. Màu lục bào cực kỳ sinh động trên con bướm thêu đã gây một ấn tượng sâu đậm ngay khi Phùng Kiến Lập vừa nhìn thấy.

Ngồi ngay sau lưng tôn nữ Diệu Trân là một người đàn bà trạc gần tứ tuần, mặt mũi hiền lành trung hậu, bộ dạng chậm chạp. Vào những dịp lễ lạc đàn bà Đại Việt thường mặc áo tứ thân màu đen xẻ từ ngang lưng trở xuống, có lúc hai vạt buộc chéo vào nhau phía trước còn lại hai vạt buộc ra sau. Áo dài của đàn ông trong xứ may rộng hơn và chỉ ngắn tới gối. Riêng bà này mặc áo dài tứ thân màu nâu non phủ trùm lên váy lĩnh, đầu quấn khăn cánh trả thả hai giải lụa xuống vai. Tả hữu có bốn thể nữ chia nhau đứng hầu. Khói trầm trong lư hương nhẹ toả mùi thơm dìu dịu trên bàn thờ Quán-thế-âm, vị đại Bồ-tát cứu khổ cứu nạn, kê ở đằng sau.

Phùng Kiến Lập chưa kịp hành lễ thì Diệu Trân đã mời ông ngồi. “Ða tạ,” ông vội vòng tay cung kính, nói, “Lão phu mừng được gặp lại công nương.” Nói rồi ông ngồi xuống một cái đôn còn Vương Trọng Liệt đứng sau lưng. Kiến Lập không còn làm quan trong triều nữa nên ông không khiêm xưng là “ti chức” như những vị đương quan.

“Chắc Trần thượng thư hôm nay bận?” Diệu Trân chỉ hơi nghiêng đầu đáp lễ, hỏi.

“Bẩm công nương, Trần thượng thư phái lão phu thay mặt lão quan nhân đến vấn an hoàng hậu và công nương.”

“Xin cảm ơn Phùng sư phó. Thấm thoát đã mấy năm, vật hoán tinh di, nào ngờ lại có dịp tương phùng nơi xứ lạ. Sư phó đến thật là đúng lúc. Lời nói không chuyển đạt được hết niềm vui của tôi về cuộc hạnh ngộ này,” Diệu Trân thở dài. “Nhiều khi nhắc chuyện cũ; Huyền Trân và tôi lại nhớ nhung luyến tiếc không còn thường được nghe những lời minh giáo của sư phó như xưa,” Diệu Trân vui vẻ nói, nét mặt rạng rỡ hồn nhiên.

“Công nương thật là rộng lượng nên mới có lòng quá khen như thế, thật là vạn hạnh,” Phùng Kiến Lập cảm động nói. Thái độ dạt dào tình cảm bất ngờ của người con gái làm cho ông hết sức thoải mái.

“Sớm nghe sư phó cũng sang đây chuyến này làm chị em chúng tôi mỏi mắt trông đợi mong được thừa tiếp. Mấy lần Trần Khắc Chung và Ðặng Văn đến đây chúng tôi có nhắn, sao sư phó không cùng đi với họ?”

“Lão phu cũng vẫn ước ao được diện kiến hoàng hậu và công nương, tiếc là mình không được quyền tự quyết.”

“Quốc Chẩn hồi này ra làm sao?” Diệu Trân hỏi sang chuyện khác.

“Huệ võ đại vương rất khoẻ mạnh nhưng mỗi khi nhắc đến hoàng hậu và công nương thì ngài lại buồn chán và còn ngỏ ý phiền trách công nương sao không trở về Ðại Việt từ năm ngoái. Văn-nghi hầu cũng mong đợi công nương, ngài nhờ lão phu chuyển lời vấn an.”

“Cảm ơn sư phó,” một thoáng buồn trong ánh mắt, nhưng Diệu Trân chỉ vắn tắt khi nghe Phùng Kiến Lập nhắc đến Văn-nghi hầu Phạm Kính Lục. Quốc Chẩn là em vua Trần Anh-tông, anh của Huyền Trân. Vì thể lệ triều đình, Phùng Kiến Lập không nhắc đến tên mà chỉ lễ độ xưng hô tước vị Huệ-võ vương của ông. Còn Diệu Trân và Quốc Chẩn rất gần gũi nên cô gọi tên ông một cách thân mật, khác hẳn với lối cô gọi tên Trần Khắc Chung và Ðặng Văn một cách lạnh nhạt.

Hè năm trước, đám cưới Huyền Trân, đáng lý công nương Diệu Trân chỉ đưa công chúa sang Chiêm rồi về, nhưng vì tình cảm quyến luyến giữa hai người chưa dứt ra được nên còn bịn rịn ở lại cho đến bây giờ. Tất nhiên Quốc Chẩn rất đỗi cảm kích mối tình cảm gia đình khăng khít đã khiến cho Diệu Trân còn nấn ná ở lại Chiêm-thành. Nhưng cái chết đột ngột của Chiêm vương đã ngẫu nhiên du hai cô vào hiện trạng nguy ngập. Càng bớt được người nào liên hệ vào cảnh huống khó khăn này càng tốt; lòng ông quá lo cho họ nên đã tỏ ý phiền trách Diệu Trân sao không sớm hồi hương như đã định. Diệu Trân cảm nhận được nỗi lòng trắc ẩn của ông, trên môi cô thoáng một nụ cười vui buồn lẫn lộn.       

Phùng Kiến Lập thấy Diệu Trân có vẻ thờ ơ khi nghe mình nhắc đến Văn-nghi hầu Phạm Kính Lục. Ông không biết đó là trạng thái xa mặt cách lòng hay chỉ vì cô không muốn thổ lộ tâm can. “Chẳng hay lão phu có được phép ra mắt hoàng hậu?” ông hỏi, đổi hướng về vấn đề liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ của mình. Dẫu đã gặp lại Diệu Trân nhưng chưa thấy mặt Huyền Trân, trong niềm vui và giọng nói của ông có chen lẫn đôi chút lo âu.

“Ít lâu nay Huyền Trân không được khoẻ trong người,” Diệu Trân liếc nhìn Vương Trọng Liệt; ngắt lời Phùng Kiến Lập. “Bao giờ quý vị sẽ về nước?”

“Bẩm công nương, Trần đại quan nhân dự định sẽ lên đường đêm nay nếu hoàn cảnh cho phép,” Phùng Kiến Lập trả lời.

“Trước khi thuyền rời bến, tôi muốn phiền sư phó tối nay đích thân trở lại đây có được không?”

“Lão phu xin tuân mệnh công nương.”

“Sư phó chỉ nên đem theo vài người tuỳ tùng là đủ, không cần phải nhiêu khê tiền hô hậu ủng rườm rà. Phùng sư phó còn có điều gì cần chỉ giáo nữa không?” Đang ân cần, thái độ Diệu Trân đột ngột thay đổi, câu hỏi của cô rõ ràng có ý tiễn khách.

Biến cố xảy ra trong đại sảnh trước mặt Công nương Diệu Trân

“Thưa công nương,” lần này không phải là lời của Phùng Kiến Lập nữa mà là giọng nói trầm ồn của Vương Trọng Liệt. “Ti chức mạn phép thay lời Phùng đại quan nhân. Hoàng thượng sai chúng ti chức sang đây để đón hoàng hậu và công nương hồi hương. Trần thượng thư và Đặng an phủ xứ đã sắp xếp mọi sự sẵn sàng, chỉ còn đợi hiểu dụ của lệnh bà và của công nương. Theo chỗ ti chức được biết thì hoàng gia Chiêm-thành sẽ rước hoàng hậu hồi cung tối nay. Việc đón rước hoàng hậu cùng công nương ra khỏi nơi đây không thể trì hoãn được nữa.”

Vương Trọng Liệt nói về việc hoàng gia Chiêm sẽ đón hoàng hậu hồi cung là để tránh phải đề cập đến việc đưa hoàng hậu lên giàn hoả. Phùng Kiến Lập lúng túng đưa tay ra sau ngăn cản, miệng lắp bắp xúc động, “Lão hủ bất tài để thuộc hạ tự tung tự tác, nói năng càn rỡ, xúc phạm đến công nương…,” Họ Phùng chưa dứt lời bỗng từ sau lưng, Vương đề đốc đặt bàn tay lên những huyệt Ðại-chuỳ và Ðào-đạo trên Đốc-mạch ở sát gáy ông…

Phùng Kiến Lập cảm thấy hổ thẹn đã không kịp thời phát giác được hành động ám hại sau lưng có lẽ vì ông không ngờ Vương Trọng Liệt lại dám hành động lỗ mãng và ngông cuồng đến như vậy. Thái độ ngạo mạn sỗ sàng, hỗn xược của họ Vương đã khiến cho con người hào kiệt xứ Đường-lâm nổi dạ bất bình, nhưng sau khi những yếu huyệt đã bị khống chế thì dù là một nội gia cao thủ ông cũng đành phải bó tay. Trong lúc diễn tiến bất ngờ xảy ra, bốn thể nữ hộ vệ trong sảnh đường chỉ còn biết gườm gườm dồn mắt vào Vương đề đốc, chờ lệnh.

“Nhà ngươi là ai?” Công nương Diệu Trân đột nhiên lên tiếng hỏi.

“Ti chức họ Vương, thuộc hạ dưới trướng Nguyễn tướng quân,” Trọng Liệt đáp.

“Nhà ngươi đang nói về tướng quân Nguyễn Khoái?”

“Dạ phải.”

“Xưa nay Nguyễn Khoái là người nghiêm cẩn đầy uy vọng; ta chưa hề nghe tướng quân dùng người cẩu thả như thế này bao giờ,” Diệu Trân xoi bói nhìn họ Vương, nói.

“Thưa công nương, ti chức hiện thuộc quyền điều động trực tiếp của Trần đại quan nhân.”

“Thảo nào! Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Thật là chủ nào tớ ấy. Trần Khắc Chung sai ngươi đến đây mưu đồ chuyện gì?”

“Như ti chức đã cung kính trình lên công nương,” dù bị miệt thị Vương Trọng Liệt vẫn điềm nhiên đáp, mặt không đổi sắc, “là hoàng thượng sai chúng ti chức đi theo thượng quan nhập nội đại hành khiển đến đón hoàng hậu và công nương về nước.”

“Phùng quốc sư cũng đến đây vì việc đó, tại sao ngươi phải đối xử với ngài như vậy?”

“Phùng đại nhân là bậc trưởng giả văn nhã khả kính, không quen lối ứng xử dứt khoát trong những cảnh ngộ bất thường như thế này nên ti chức mới bắt buộc phải nhiều lời.”

“Ðã biết Phùng đại nhân là nhân vật ‘văn nhã khả kính’ hà tất nhà ngươi phải dùng cường lực. Ðường đường một cao thủ mà lại dùng thủ đoạn ám muội hại người sau lưng, sao không biết tự sỉ.” Diệu Trân cao giọng với vẻ khinh thị ra mặt.

“Cảm tạ công nương đã quá khen. Công nương là cành vàng lá ngọc không bận tâm đến những chuyện bất trắc trên chốn giang hồ. Thiếu bảo thượng quan nhân đây là một bậc đại nho học vấn uyên thâm giỏi việc trị dân; nhưng đồng thời cũng là một danh gia cao thủ về võ học. Giả dụ trong lúc bình thời, ti chức mà được hân hạnh cùng Phùng đại nhân chiết giải một vài chiêu số thì thật là một cơ hội hứng thú hiếm có trong đời. Nhưng cục diện bữa nay đã đưa đến tình thế bất khả diên trì. Ti chức tự biết mình tài hèn sức mọn cần phải tính đến những biến chuyển có thể xảy ra, không thể cùng một lúc vừa đối phó với Phùng đại nhân, vừa phải đối phó với…, với…”

Vương Trọng Liệt còn đang ấp úng lựa lời thì Diệu Trân cắt ngang, “Ở đây, ngoài Phùng đại nhân mà ngươi không muốn đương đầu vào lúc này thì chỉ còn lại mình ta. Nói như vậy là ám chỉ nhà ngươi muốn đối phó với ta?”

“Không dám,” thoạt tỏ ra hơi lúng túng nhưng Vương Trọng Liệt lập tức lấy lại bình tĩnh và cười nhạt trả lời cô.

“Nếu không dám,” Diệu Trân quắc mắt nhìn Vương đề đốc, “thì về bảo Trần Khắc Chung đến gặp ta.”

“Xin công nương hiểu cho là ti chức không thể vâng lời vì thời giờ không còn cho phép.” …

Sắc diện Phùng Kiến Lập bây giờ lúc trắng lúc xanh với những giọt mồ hôi bằng hạt đậu từ trên mặt chảy xuống thấm vào cổ áo. Diệu Trân nhận thấy vị lão quan hiển nhiên đang vừa tức giận vừa đau đớn; cô thở dài, hạ thấp giọng, “Binh đội hoàng gia Chiêm-thành bủa vây bên ngoài như thiên la địa võng. Nếu buộc người ta phải đối phó, ta e rằng chưa kịp bước qua ngưỡng cửa thì cái mạng nhỏ xíu của nhà ngươi đã không còn giữ được vẹn toàn.”

“Thiết tưởng công nương đã không dung tình thì ti chức còn màng đến ‘cái mạng nhỏ xíu’ này làm gì nữa.” Mặc dầu ăn nói vẫn lễ phép nhưng thái độ của Vương đề đốc lại rất quyết liệt. “Hỡi ôi! Chúng ti chức chỉ mong ước được diện kiến lệnh bà có một lần thôi mà cũng không được!”

“Hoàng hậu không muốn cho các ngươi gặp mặt lệnh bà.”

“Ti chức e rằng đó chỉ là tôn ý của công nương. Trần thượng quan cũng đã tiên liệu là khó có thể thuyết phục công nương chuyển ý nhưng vẫn một mực hạ lệnh cho ti chức phải hết sức kiên nhẫn lễ phép cho đến khi…,” nói đến đây, Vương Trọng Liệt ngưỡng mặt nhìn vào khoảng không bỏ lửng câu nói, chép miệng, “Nhà Ngô nhà Ðinh nổi dậy giành lại nền tự chủ. Đó là một thời. Nhà Lê nhà Lý khởi nghiệp võ công lừng lẫy đến tận bắc phương. Đó cũng là một thời. Những thời ấy đã qua không thể níu kéo lại được. Ðó là mệnh trời. Thiết tưởng công nương có hoài vọng nhà Lý cũng là chuyện tự nhiên. Lý vương tử có mưu sự phục hồi triều đại cũ cũng là chuyện hiểu được. Nhưng riêng công nương đã được nhà Trần đối xử như thế nào? Và hoàng hậu đã một lòng ruột thịt gắn bó với công nương ra sao?”

Vương Trọng Liệt mặt lạnh như tiền, hạ thấp ánh mắt xuống nhìn Diệu Trân, giọng càng thêm gay gắt quyết liệt, “Lý cô nương! Cô nương đã phụ cái tình của mọi người, đã bức bách tại hạ phải có lời đường đột,” miệng nói, họ Vương tay giắt vạt áo trước ra sau lưng trong tư thế chuẩn bị xuất chiêu. “Tại hạ đã bày tỏ cạn lời, xin cô nương cho biết tôn ý. Nếu cô nương không sớm hồi chuyển tâm ý thì có lẽ kẻ hèn này đành phải mang tội bất kính mất thôi!”

Nãy giờ Phùng Kiến Lập vẫn chịu đau cố gắng theo dõi cuộc đối thoại giữa hai người. Trước nay ông vẫn tưởng họ Vương là một võ sĩ thô bạo, không ngờ y lại ăn nói đanh thép đáo để như vậy…

Khi Vương Trọng Liệt nói về một “Lý Vương tử” nào đó và thay đổi cách xưng hô gọi công nương Diệu Trân là “Lý cô nương” thì đầu óc ông lại càng mơ hồ. Nguyên uỷ hẳn phải có những điều bí ẩn mà ông không thể hình dung ra được. Ðúng hay sai, một khi họ Vương đã thốt ra những lời quyết đoán ấy, lại chuyển xưng là “tại hạ” thay vì “ti chức” thì người này đã quyết ý chặt cầu, chẳng còn gì có thể thu xếp ổn thoả được nữa. Phùng Kiến Lập biết rằng nhiên hậu viên đề đốc sắp phát tác những hành động đen tối thô bạo, chẳng những sẽ tiết mạn đến Diệu Trân mà còn nguy khốn đến cả mọi người.

Thái độ lạnh lùng bình tĩnh của Vương Trọng Liệt trong khi đối đáp với Diệu Trân đã tỏ lộ cái bản lãnh của một tuyệt đại cao thủ mà Phùng Kiến Lập tự biết là mình khó có thể đương đầu huống chi trong hoàn cảnh đang bị cưỡng chế; nói gì đến những người đàn bà chân yếu tay mềm chung quanh ông. Ông cảm thấy lo âu cho số phận của họ vì trong mắt ông chắc chắn chẳng có ai trong gian phòng này có thể mon men sánh được gần với công phu của họ Vương. Khí huyết bị khích động, Phùng Kiến Lập cảm thấy ruột gan đau buốt như kim châm. 

Dù đang ở trong tư thế bất khả đối kháng, nhưng họ Phùng là người đầy dũng khí, tổ tiên xưa vốn dòng chiến sĩ thô biền, gặp chuyện bất ưng thì máu thổ hào lại nổi lên, ông không còn có thể chịu đựng được sự xỉ nhục này lâu hơn nữa. Kiến Lập đột nhiên xoay người liều mạng vung song quyền ra sau đánh ngược vào bụng họ Vương. Ðây là đòn Lưỡng bại câu thương, chỉ dùng trong trường hợp hoàn toàn tuyệt vọng, thường dẫn đến tình trạng cả hai cùng chết. Tiếng là Lưỡng bại câu thương, nhưng ông biết là không thể đả thương được Vương Trọng Liệt mà cầm chắc cái chết trong tay, chỉ hy vọng vào yếu tố bất ngờ tạo ra sự xáo trộn để cảnh giác Diệu Trân may ra cô có đủ thời cơ huy động trợ lực.

Không lý gì đến ngọn đòn chí tử của Phùng Kiến Lập, Vương Trọng Liệt cười nhạt một tiếng, mặt hằm hằm sát khí, tay phải đánh xuống lưng đẩy ông ngã chúi xuống đất. Viên đề đốc đồng thời như một con đại bàng đen bay vút về phía Diệu Trân. Mặc cho những người đàn bà trong sảnh đường phản ứng cách nào thì họ Vương dường như đã liệu sẵn mọi động tác đối phó trong khi ra đòn, tay trái theo bản năng phất trúng lưỡi diệp đao ở trên không bay ngược lại, cắm ngập vào vai người thể nữ vừa phóng ra làm thị rú lên đau đớn. Một thể nữ khác vừa kịp rút kiếm chém xuống nhưng cũng bị Vương Trọng Liệt vung chân phải đá cả người lẫn kiếm bắn tung lên cao.     

Trong lúc tấn công, một chuỗi cười kinh dị ằng ặc kéo dài thoát ra từ cổ họng Vương Trọng Liệt, âm thanh vừa sắc bén như hai lưỡi dao cứa vào nhau lại vừa lạnh lùng như tiếng thở dài ai oán cay độc toát ra từ bên trong. Tiếng cười quái gở này xuất phát từ lúc họ Vương thành tựu pháp môn thượng thừa Chu-sa-thủ. Hiển nhiên vì một sai lầm nào đó trong khi luyện tập đã biến cải Trọng Liệt thành một con người nghiệt ngã hung bạo, cứ mỗi lần vận công xuất thủ là mỗi lần lửa hận trong lòng lại vô cố nổi lên không cưỡng chế được, tự nhiên phát tiết ra chiêu thức và ra cả ngoài miệng. Những lúc ấy họ Vương ra tay hết sức tàn độc với bất cứ ai, dù đối phương trước nay chưa hề kết chuộc oán cừu.

Chỉ trong chớp mắt, hành động đả thương bạt kiếm xảy ra nhanh như cắt; thuỷ chung, thân hình Vương Trọng Liệt vẫn bay vút trên không. Khi những ngón tay như móc câu vồ tới chỉ cách Diệu Trân trong gang tấc, bỗng dưng cái thân thể chắc nịch của họ Vương ngã bật ngửa về phía sau. Viên đề đốc rít lên một tiếng như lụa xé, hai vai bị co xiết lại run lên bần bật, mặt mũi dúm dó, bụng uốn cong lên trước khi rơi xuống. Nằm ngửa trên nền nhà, hai mắt họ Vương trợn trừng ngạc nhiên, đôi hàm răng nghiến chặt. Một tia máu ứa ra khoé miệng.

Tuy bị trọng thương nằm dưới đất trong tình trạng nửa sống nửa chết, Phùng Kiến Lập vẫn nhìn thấy rõ những ngón tay ưng trảo của Vương Trọng Liệt chụp xuống vai Diệu Trân cơ hồ sét đánh không kịp bưng tai. Ðến lúc ấy, người đàn bà ngồi phía sau mới đứng dậy, thò ngón tay chỏ qua vai Diệu Trân nhắm điểm vào huyệt Thiếu-hải trên cánh tay của Trọng Liệt. Động tác của bà nhanh đến nỗi khi họ Vương phát giác được đòn thế phản công chớp nhoáng thì chỉ còn kịp thời xoay tay né tránh, không ngờ ngón tay đánh xuống huyệt Thiếu-hải chỉ là một hư chiêu, mục tiêu thực sự là huyệt Xích-trạch ở bên cạnh đã bị ngón tay út của người đàn bà đón trước búng vào khiến cả cánh tay của Trọng Liệt rũ xuống, nhưng thân mình vẫn trên đà lao tới.

Phàm khi xuất chiêu võ sĩ có thể tuỳ nghi sử dụng từ một đến hai chiêu. Trường hợp xuất hai chiêu một lúc thường là một chiêu thủ kèm với một chiêu công; hoặc giả trong hai đòn có một hư chiêu đi kèm. Chiêu lại đi đôi với thức trong các thế công và thủ để người xuất chiêu được bảo vệ trong tư thế vững chãi kín đáo, xuất thủ nhanh và mạnh hơn.

Sau khi điểm trúng huyệt Xích-trạch, mấy ngón tay nhạt nhòa mờ ảo của người đàn bà liên tiếp điểm nhanh vào các huyệt Khố- phòng, Trung-phủ trên vai Trọng Liệt. Thân thể họ Vương bỗng dưng co rút lại trên không gian rồi tự giật người ngã ra phía sau giống như các huyệt Bối-du và một số những huyệt đạo khác ở sau lưng như Thần-đường, Y-hi và Thiên-liêu cùng lúc bị đánh.

Huyệt đạo trên thân thể con người có phương vị và chức năng khác nhau nhưng lại tương quan mật thiết trong dòng khí lực chu lưu qua những kinh mạch. Nhưng chỉ có hai huyệt Khố-phòng và Trung-phủ ở vai trước bị người đàn bà điểm vào mà có thể làm cho mười hai bối huyệt sau lưng Vương Trọng Liệt bị chấn đoạn co thắt lại, thân thể đang lao tới tự chuyển đà bật ngửa ra sau thì thật quái lạ.  

Người đàn bà kỳ dị lúc ấy đã thu tay về buông thõng ngang hông, dáng vẻ thật thà chậm chạp trước sau không hề thay đổi trong khi Diệu Trân vẫn toạ thị điềm nhiên dường như không có chuyện gì bất trắc đã xảy ra. Phùng Kiến Lập không tin được vào chính mắt mình nhưng có điều vị lão sư có thể đoan chắc là thái độ bình tĩnh của cô gái cùng với động tác tuyệt diệu của người đàn bà không phải ngẫu nhiên mà có. Thủ pháp điểm huyệt cao minh như vậy, ông chưa từng nghe nói.

Tuy nhiên, trong chớp mắt đối chưởng giữa hai cao thủ, Phùng Kiến Lập thấy và hiểu được một phần là khi Vương Trọng Liệt ra tay vũ bão sát phạt bao nhiêu thì thủ pháp của người đàn bà lại ung dung khoan nhượng bấy nhiêu khiến ông nhận được ra chiêu Di-hoa tiếp-mộc trong Kim-ti chỉ pháp, lộ số võ công của nhà họ Khúc. Chiêu này phần hư điểm vào huyệt Thiếu-hải, và phần thực điểm vào huyệt Xích-trạch…

Ðáng lý ra, những vệ sĩ có bổn phận canh giữ bên ngoài không được phép tự ý hành động nếu không có lệnh nhưng khi Trần Tích nghe tiếng rú của thể nữ, sau lại nghe chủ tướng rít lên the thé thì vội vàng đẩy cửa tung mình nhảy vào, tiếp đó bị anh em Lý Sóc, Lý Cẩm đuổi theo bắt giữ bằng Cầm-nã-thủ. Từng được nghe Biều kể về nghịch cảnh của Tích nên dù trong tình thế khẩn trương, anh em Sóc, Cẩm khi ra tay đã hết sức khoan nhượng.

Lúc này, trong sảnh đường lại có thêm một số thể nữ từ nhà trong kéo ra, kẻ lo săn sóc đồng bạn bị thương, người xúm lại dìu quan tư nghiệp ngồi lên ghế. Từ khi Vương Trọng Liệt ngã xuống đất, Phùng Kiến Lập đã lợi dụng thời gian ngắn ngủi này để vận hành pháp môn thổ nạp điều dưỡng chân khí nhưng thương thế chẳng thuyên giảm được chút nào.

Diệu Trân đi xuống xem thương tích của hai thể nữ, tuy không nguy kịch nhưng cô cũng rất buồn bã an ủi rồi sai người đem vào hậu đường thuốc men băng bó. Trong khi ấy, một thể nữ được sai ra tiền sảnh hỏi chuyện Lý Sóc và Lý Cẩm rồi trở về kể lại nội tình cho Diệu Trân. Sau đó, họ Lý hai người được phép vào phòng khách hầu hạ bên Phùng Kiến Lập. Tình hình trong phòng đã bắt đầu lắng dịu.

Trong lúc Vương Trọng Liệt tấn công, Phùng Kiến Lập lo lắng bồn chồn cho số phận của những người đàn bà trong phòng. Bây giờ, họ Vương nằm bất động dưới đất, ông mới có thì giờ lo nghĩ cho mình. Những lần đến trang viên trước đây, Trần Khắc Chung và Ðặng Văn đã không để ông cùng đi. Ông không được họ cho biết tình hình và cũng không được hỏi ý. Duy có điều ông được biết là Khắc Chung và Ðặng Văn đã không hài lòng qua các cuộc tiếp xúc với Diệu Trân và có thể đó là một trở ngại chính mà cho đến nay họ vẫn chưa được diện kiến Huyền Trân.

Mãi đến khi Trọng Liệt phát tác những hành động cổ quái, Phùng Kiến Lập mới ngờ rằng trong tình trạng quẫn bách, viên thượng thư đã quyết định dùng bạo lực. Có lẽ vì vậy mà đến giờ phút chót Khắc Chung mới phái ông đơn phương dẫn Vương Trọng Liệt và Trần Tích đến đây. Sứ mệnh thành công thì họ Trần hưởng lợi. Vạn nhất chuyện không thành, mình ông gánh chịu mọi hậu quả.

Tiếng nhã nhạc giải khai các huyệt đạo của Phùng Kiến Lập.         

Nhà văn Đỗ Đình Duyệt đã dồn nhiều tâm thức của một người xa xứ, một chiến sĩ yêu nước, tha thiết với cuộc sống bình yên của dân tộc. Qua nhân vật Diệu Trân, ông đem tình cảm trao đổi với người đọc về nhiều vấn đề, tâm huyết và tình tự dân tộc. Cho nên, Chương Hồ Điệp là một tác phẩm nổi nhất và đẹp nhất trong tất cả 10 Chương. Nếu tách riêng ra thì Chương này cũng là một tác phẩm văn chương đặc sắc.

Cuối cùng, Phùng Kiến Lập phải thừa nhận công phu thượng thừa của Vương Trọng Liệt, ông vội ngưng vận hành chân khí, chỉ ngồi tập trung tĩnh mặc. Tình trạng căng thẳng trong người hiển nhiên có chiều hướng giảm bớt đôi chút, và ở hoàn cảnh này ông chỉ mong đạt được đến chừng ấy thôi cũng đã là may lắm rồi.

Trong lúc tâm hồn khuấy động, Phùng Kiến Lập đột nhiên nghe có tiếng nhã nhạc réo rắt từ đâu đó lọt vào cái trạng thái nhĩ mục hỗn loạn mắt hoa tai ù của mình. Âm thanh xa xăm thực thực hư hư. Hình như có cả tiếng sáo khi bổng khi trầm lẫn trong tiếng kèn Saranai và giai điệu của đàn nhị đàn tranh lỗi nhịp, cung bậc khác nhau, tiết tấu cũng tương phản đối chọi.

Tiết tấu đối chọi ấy không ngờ lại đi đôi với trạng thái khích động bất kham đang giằng xé trong các kinh mạch của Kiến Lập. Nhạc khúc trỗi lên có lúc cuồng nộ như ngọn nước đầu ghềnh đổ xuống những giòng suối ngoằn ngoèo trong một thung lũng mịt mù buồn thảm, thanh âm chợt nghe phẫn hận chợt tiêu sái lâm ly. Có lúc lại trở nên tha thiết êm đềm, âm hưởng nhịp nhàng nghe dịu dàng thô thiển, cho đến khi những sôi động trong lòng chỉ còn là tiếng gió thoảng, là mơ hồ giòng suối mát róc rách theo từng hơi thở bắt đầu ổn định của Kiến Lập. Một luồng chân khí ấm áp trong ông càng lúc càng tích luỹ sung mãn trong cái tĩnh lặng sâu thẳm ở Ðan-điền ứ tràn xuống huyệt Quan-nguyên, Hội-âm chuyển sang huyệt Trường-cường, chạy ngược lên qua Ðào-đạo, Ðại-chuỳ, Bách-hội rồi Tố-liêu. Sẵn có nhã thú về âm nhạc Kiến Lập cảm thấy tâm thần lắng dịu. Tiếng tơ và tiếng lòng tương ứng; tâm hồn ông chợt lâng lâng thanh thản lạ thường.

Phùng Kiến Lập mở bừng mắt và nhận ra đó không phải là ảo tưởng mà không gian ngây ngất mùi hương toả lên từ một cái khay bạc đựng khăn ướp hoa oải hương ấm áp trên tay một thể nữ đứng trước mặt. Sau lưng cô là những nhạc công Ðại Việt và Chiêm-thành trong trang phục áo cánh lót vải thưa tay dài viền cổ trắng và áo ngoài tay ngắn che khuất một phần những cái váy rộng dài. Trang sức duy nhất của họ là những chuỗi hạt đồi mồi hay kiềng bạc. Những nhạc công ấy đang nghiêm trang ngồi im lặng trong góc phòng, kẻ ôm đàn người cầm sáo. Khúc nhạc họ vừa trình tấu đã chấm dứt đồng thời với những huyệt đạo sau lưng ông cũng được đả thông. Ông có cảm giác thật dễ chịu khi cầm tấm khăn nóng lau những giọt mồ hôi ướt đẫm trên mặt và thầm nghĩ, vừa đây ông cố ý nhưng đã không vận dụng được nội lực, nào ngờ trong lúc bâng khuâng thả hồn theo tiếng nhạc thì bế huyệt vô tình lại được giải khai.

Khoảnh khắc của nhân văn, của tình cảm con người

“Phùng sư phó hãy an toạ nghỉ ngơi và cho phép tôi được nhờ Lý huynh đệ giúp cho vài việc trước khi chúng ta có thể trò chuyện với nhau,” Diệu Trân lễ phép nói.

“Xin công nương cứ tuỳ tiện.”

Diệu Trân liền bảo Sóc, Cẩm đem Vương Trọng Liệt ra tiền sảnh. Khi hai anh em họ Lý đặt Trọng Liệt nằm xuống cạnh Trần Tích thì bên ngoài có tiếng người ngựa rộn ràng lọt vào. Diệu Trân lại sai thể nữ ra mở cửa.

“Bảo Bảo tướng quân hết sức quan tâm và chuyển lời vấn an lệnh bà và công nương,” từ ngoài hoa viên hướng vào trong nhà, người đội trưởng nữ vệ binh hoàng gia Chiêm-thành đứng chắp tay nghiêm cẩn, lên tiếng. Cô gái chưa đầy vài chục tuổi, mặc áo dài tơ màu ngà trùm lên quần vải trắng ở khoảng đầu gối. Lưng thắt đai đỏ, trên vai phải vắt một dải lụa đào bắt chéo xuống buộc ngang hông. Ánh chiều tà xô đẩy trên vạt áo phất phơ trước gió trong khi đội nữ binh đàng sau cô và toán vệ sĩ Ðại Việt chặn ngoài cửa ra vào đang đứng gườm nhau.

“Trà Nhu, em hãy vào đây.”

Không đợi Diệu Trân dứt lời, người đội trưởng nữ vệ binh hoàng gia đã hấp tấp băng mình vào. Bấy giờ Trà Nhu mới trông thấy Vương Trọng Liệt nằm ngửa mặt dưới đất bên cạnh Trần Tích ngoài tiền sảnh. Vào sâu hơn nữa cô lại càng ngạc nhiên không thấy hoàng hậu trong đại sảnh. “Công nương,” mặt mày lo lắng, cô hốt hoảng kêu lên.

“Không sao đâu,” Diệu Trân nói. Nụ cười hiền hậu trên đôi môi người tôn nữ Ðại Việt đã lập tức trấn tĩnh được Trà Nhu. Cô gái mừng rỡ quá vụt chạy lại ôm chặt lấy Diệu Trân, chảy nước mắt ra, quên cả lễ nghi phép tắc.

Trong cung cấm, Huyền Trân và Diệu Trân mỗi người ở một biệt điện. Trà Nhu là đội trưởng toán nữ vệ binh do hoàng gia Chiêm quốc sai phái bảo vệ và hầu cận Diệu Trân, được nàng thương như em ruột, lại thỉnh thoảng chỉ điểm thêm võ công nên tình cảm giữa hai người ngày thêm khăng khít.

Trà Nhu nửa ngồi nửa quỳ dưới đất vòng tay ôm ngang thắt lưng Diệu Trân, gối đầu lên đùi, kể lể rằng lúc cô phát giác trong trang có đại biến thì lập tức dẫn toán vệ binh vừa chạy bộ đến đây vừa bắn tên lửa lên trời báo động. Khi các cô tới trước hoa viên thì đội kỵ binh hoàng gia của Bảo Bảo cũng vừa kéo đến. Hiện giờ binh chúng Chiêm-thành đã vây kín xóm chài.

Miệng lưỡi Trà Nhu thật linh hoạt, chợt nói chợt cười, buồn vui lẫn lộn. Cảm xúc chân tình toát ra một cách hồn nhiên của người con gái mộc mạc không thiết gì đến giữ gìn ý tứ càng làm cho Diệu Trân cảm động, đưa tay xoa xoa trên lưng Trà Nhu, cúi người xuống thấp, ghé miệng sát vào tai cô bé, thì thầm, “Ô hay! Cái con nhãi ranh tai quái này, sao dám bày trò giở quẻ giữa chốn nhĩ mục quan chiêm mà không biết thẹn? Đứng dậy đi cô nương.”

Bỗng có tiếng cười khúc khích từ cửa miệng Trà Nhu phát ra, âm thanh rung chuyển cả một vùng huyệt Khí-hải ngay trước bụng làm cho Diệu Trân sẵn có máu buồn, trong lúc bất phòng, tí nữa thì phá lên cười. Mặt đỏ bừng, cô bối rối cuống cuồng chụp vội lấy tóc cô bé; nắm đầu kéo giật ngược lên, đưa mắt liếc nhanh về phía Phùng Kiến Lập. May sao, ông đang ngồi lim dim nhìn xuống đất như đang chìm đắm trong suy tưởng. Khí-hải là một huyệt đạo rất nhạy cảm nằm trên Nhâm mạch, dưới rốn một thốn rưỡi.

Trà Nhu đứng thẳng lên, một tay vẫn nắm lấy chéo áo của Diệu Trân, một tay che nửa miệng cười. Những móng tay sơn nhựa giáp-chỉ-hoa óng ánh màu hồng nhạt.

“Ðó là những vệ binh phạm tội bất kính nên đã bị trừng trị,” Diệu Trân trỏ vào Vương Trọng Liệt, thở dài. “Người này là một tay kiệt hiệt; chỉ vì tâm địa chẳng ra gì mà tài năng bị mai một. Tuy Hà Diệp nương không nỡ giết nhưng võ công người ấy đã bị tước bỏ, từ nay chỉ còn là một phế nhân. Em về thưa lại nội tình với Bảo Bảo tướng quân, chuyện làm kinh động đến quan quân khiến ta áy náy và hãy thay lời ta cảm tạ mối quan hoài của ông. Sang canh hai, tướng quân có thể đến đón hoàng hậu. Em làm ơn thu xếp sẵn cho ta dăm cái võng, trao cho những vệ sĩ Đại Việt ở trước cửa để lát nữa họ sẽ cáng những người bị thương về thuyền. Nhớ lo liệu cơm tối cho họ. Bây giờ em có thể về được rồi.”

“Thưa công nương,” Trà Nhu vẫn còn dùng dằng.

“Về ngay đi kẻo mọi người chờ đợi ở bên ngoài phải sốt ruột.”

Người nữ vệ binh vái chào rồi thoăn thoắt đi ra. Qua khỏi cửa, cô ngoảnh lại nhìn, miệng toe toét cười. Đuôi mắt dài như lá răm.

Trời đã bắt đầu nhá nhem. Bên cạnh những ngọn nến nhỏ đang cháy, hai đĩa đèn trên bàn thờ cũng vừa được thêm dầu châm lửa. Cửa ra vào bây giờ khép chặt nhưng thỉnh thoảng gió bấc vẫn luồn qua kẽ vách làm lung linh ánh sáng trong phòng.

Trời đã bắt đầu nhá nhem. Bên cạnh những ngọn nến nhỏ đang cháy, hai đĩa đèn trên bàn thờ cũng vừa được thêm dầu châm lửa. Cửa ra vào bây giờ khép chặt nhưng thỉnh thoảng gió bấc vẫn luồn qua kẽ vách làm lung linh ánh sáng trong phòng.

Thể nữ dâng nước. Trong không khí tịch mịch, Kiến Lập trầm ngâm thưởng thức mùi sơn trà quyến rũ mang cả hương vị nồng ấm của nắng cháy trên sỏi đá và đậm đà của gió mùa vùng biển mặn. Biến cố vừa xảy ra như giấc mộng còn vương vấn trong tâm hồn ông một mối xúc cảm bàng hoàng.

“Phùng sư phó thấy dễ chịu hơn được chút nào không?” vừa rảnh tay Diệu Trân vội hỏi han đến thương thế của Kiến Lập.

“Lão phu hiện thời cảm thấy trong người thật thoải mái,” Phùng Kiến Lập đứng lên thong thả nói. “Lão phu thẹn mình bất tài không đủ định lực kìm chế loạn tâm. Nhờ khúc nhạc tuyệt vời vừa qua mà cái mạng già này mới được bảo toàn. Xin cảm tạ công nương.”

“Bản chất tự nhiên của âm thanh vốn dĩ vô tình, cảm xúc là do lòng người tế nhị phân biệt mà ra. Chính sư phó đã tự chữa trị cho mình đấy thôi, không cần phải khiêm tốn thái quá,” Diệu Trân cười dễ dãi.

Nói về bản chất của âm thanh như vậy là phải, nhưng tình trạng hồi phục của ông hiển nhiên là do thành quả của một dàn xếp tinh vi bởi những thanh âm thích nghi theo cao độ, cường độ, và âm sắc đã giúp ông cảm thụ được những âm điệu của thiên nhiên, của nước đổ đầu ghềnh, của núi rừng cỏ cây hoang dại, của một vệt mây bay theo gió nhẹ đìu hiu. Và nhạc âm hòa khúc ấy đã điều khiển, dẫn dắt nguồn khí lực rối loạn của ông đến chỗ bình phục. Trong đầu nghĩ ngợi về thái độ khiêm tốn của cô gái, Phùng Kiến Lập ngập ngừng nói, “Nếu công nương đã không tha mạng cho Vương Trọng Liệt…”

“Nếu Trọng Liệt không bị sư phó ngăn cản đúng lúc thì tôi cũng không biết sự tình rồi sẽ ra sao cho tất cả chúng ta,” Diệu Trân ngắt lời. “Lý ra chúng tôi phải cảm ơn Phùng sư phó mới phải.”

“Không phải đâu, lão phu có mắt mà không thấy được sự đời thiên ngoại hữu thiên, nhân ngoại hữu nhân!” Phùng Kiến Lập nói tiếp. “Nếu công nương đã không tha mạng cho Vương Trọng Liệt thì lão phu còn lấy đâu ra đất dung thân khi trở về nước?”

“Dù sao thì việc sống chết của Vương Trọng Liệt hoàn toàn là do Hà Diệp cô đây quyết định. Họ Vương được tha mạng có lẽ là vì người này có thể không ra gì nhưng không hèn. Còn mối quan tâm của sư phó khi trở về nước cũng là sự lo nghĩ trong lòng tôi. Xin cứ yên tâm,” nói xong, Diệu Trân thò tay nắm lấy bàn tay của người đàn bà một cách âu yếm.

Trong cảnh huống nan giải này, Phùng Kiến Lập làm sao có thể vượt qua được những trở ngại để mà yên tâm? Tình hình mỗi lúc thêm phức tạp; tuy nhiên, những lời trấn an của Diệu Trân cũng làm cho ông đỡ bứt rứt. Nét mặt bối rối, ông lúng túng đứng dậy hướng về phía người đàn bà Hà Diệp, vái một vái, nhưng bà vẫn đứng yên tựa hồ như chẳng lý gì đến câu chuyện đang trao đổi giữa hai người.

“Xin sư phó an tọa. Lúc nãy, tôi định phiền sư phó trở lại đây tối nay, nhưng bây giờ thì không còn cần thiết nữa,” Diệu Trân mỉm cười dịu dàng. “Mọi chuyện rồi ra sẽ ổn thoả.”

Thêm một lần nữa, lời nói bâng quơ của Diệu Trân tuy không hàm chứa một hứa hẹn rõ ràng nhưng ít ra cũng đem lại một chút hy vọng cho Phùng Kiến Lập. Dù chưa biết cục diện sẽ chuyển hướng cách nào nhưng gánh nặng chất chứa trong lòng ông đã tạm thời vơi bớt được vài phần. Nhấp một chút trà, Diệu Trân nói thêm, “Vừa rồi, Vương trọng Liệt có nói đến một vài điều không được mạch lạc cho lắm khiến người nghe phải băn khoăn.”

“Dạ phải.”

“Tuy vậy, không phải tất cả những gì người ấy nói đều hoàn toàn vô cớ, uyên nguyên thật ra cũng có một phần sự thực,” nói đến đây Diệu Trân đưa tay lên gỡ cái trâm cài tóc, bảo thể nữ đưa đến cho Phùng Kiến Lập. “Sư phó hãy xem qua cho biết.”

Cầm cây trâm làm bằng vỏ ốc xà cừ đơn giản trong tay; Phùng Kiến Lập không thấy có gì lạ. Lật sang phía trong ông mới tìm ra hàng chữ “Ðại Việt vương tử Lý Long Tường.” Ở dưới có thêm một hàng chữ nhỏ khắc bên cạnh hình cái trống. Ông nhẹ lắc đầu ngỏ ý không hiểu.

“Đại Việt vương tử Lý Long Tường là tằng tổ thúc phụ của tôi,” nhìn vẻ mặt ngạc nhiên của Kiến Lập, Diệu Trân kể. “Tằng tổ phụ tôi là Lý Long Xưởng, hoàng trưởng tử của vua Lý Anh-tông, anh của hoàng tử Lý Long Trát tức vua Lý Cao-tông và hoàng tử Lý Long Tường.

“Năm Kiến-trung thứ hai, 1226 vua Lý Huệ-tông bị thái sư Trần Thủ Ðộ bức tử. Cùng trong năm ấy, Lý vương tử thế cô bèn đem gia quyến và quân bản bộ xuống thuyền ra Biển Ðông. Thoạt đầu, ông đã ghé vào quần đảo Bành-hồ ở ngoài khơi Phúc-kiến trên vùng biển Hoa Bắc, sau lại đổi ý cho thuyền tiếp tục cuộc hải hành.”

“Thưa công nương, tại sao Lý vương tử lại đổi ý?” Kiến Lập xen vào.

“Tôi không biết. Có người nói rằng con trai ông là Lý Long Hiền bị bạo bệnh nên đoàn thuyền phải ghé vào một hải đảo để chạy chữa. Nhưng cứ theo như lời mẹ tôi kể thì lúc sinh tiền, thân phụ tôi đã võ đoán rằng có lẽ vương tử không muốn dựa vào thế lực của ngoại bang để trở về gây cảnh nồi da xáo thịt. Một điều nữa cũng có thể là nguyên do khiến vương tử quyết định không dừng chân lại Trung Nguyên vì ở Cao-ly đã có cơ sở của một dòng họ Lý đã ngụ cư ở đây qua nhiều thế hệ. Dù sao thì vương tử cũng đã rời Hoa Bắc, tiếp tục cuộc hành trình lên Biển Bắc, cuối cùng cập bãi Bồn-tân ở Trấn-sơn thuộc đạo Hoàng-hải.

“Giống như các hoàng tử và tướng lãnh hiện nay học hỏi Binh thư  của Hưng-đạo đại vương tại điện Giảng-vũ nơi giảng tập binh pháp ở Thăng-long, các hoàng tử vào thời Lý cũng đều phải học tập văn võ và cai trị nên khi còn ở quê nhà, vương tử đã có dịp nghiên cứu chiến pháp của thượng tướng Lý Thường Kiệt, và tham vấn thêm bộ Võ kinh thất thư.*3 Tằng tổ thúc phụ tôi là một trong những người được thừa hưởng nền võ nghiệp truyền thống ấy nhưng chưa kịp thi thố ở quê nhà đã phải đột ngột bỏ nước mà đi. Tuy vậy, ở cuối đời của người anh hùng mạt lộ này, ông đã có cơ duyên đóng góp tài năng của mình vào một phần cuộc chiến chống xâm lược Mông-cổ ở Cao-ly.

“Suốt thời gian vương tử sống lưu vong ở Trấn-sơn, Cao-ly hai lần bị quân Mông xâm lấn, lần nào vương-tử cũng hết lòng chiến đấu bảo vệ mảnh đất đã cưu mang ông. Vua Cao-tông biết ơn, tôn xưng ông là hoàng thúc, phong đất Trấn-sơn, đổi tên thành Hoa-sơn. Nhưng lòng vương tử lúc nào cũng vẫn còn hướng về đất tổ nên ngay sau khi quân Mông-cổ bãi binh; ông lui về vùng biển Hoa-sơn mở trường dậy học, sống đời ẩn dật.”*4

Thể nữ lại dâng trà nóng, nhân đó Phùng Kiến Lập hỏi Diệu Trân về ý nghĩa của những hàng chữ nhỏ và hình ảnh cái trống khắc trong trâm. Diệu Trân nói rằng tuy Lý long Tường được triều đình Cao-ly phong là Hoa-sơn quân, nhưng dân chúng ưa gọi ông là Bạch-mã tướng quân vì ông cưỡi ngựa trắng mỗi khi lâm trận. Hàng chữ nhỏ “Hữu khách hữu khách, diệc bạch kỳ mã”.

Diệu Trân ngừng kể; chậm dãi vén mái tóc che khuất một phần câu hát với nghĩa đơn giản ở dưới huý của vương tử chỉ là một phần câu hát với nghĩa đơn giản là “có khách có khách; vẫn là ngựa trắng” trong một bài ca dân gian xuất phát tự cảm tình sâu đậm của người dân Cao-ly dành cho ông, nói về những lần xuất hiện trên chiến trường của Bạch mã tướng quân trong lúc Cao-ly ngộ biến. Còn cái trống khắc trong trâm là biểu hiệu riêng của nỗi lòng ông đối với quê hương. Tại Hoa-sơn, vương tử đã cho dựng một ngôi chùa, dựa theo khuôn mẫu chùa Ðình-bảng của giòng họ Lý ở Đại Việt Kinh-bắc, để mọi người tụ tập tế lễ vào những ngày sóc, vọng hay những dịp nguyên đán, giỗ chạp. Trong mỗi buổi lễ, trống chùa Hoa-sơn cũng được giục lên ba hồi nhưng không có chín tiếng điểm như tập tục. Ðó là chín tiếng trống lặng thinh “tâm thanh cố quốc” tượng trưng cho tiếng lòng câm nín của những con người phải xa lìa đất nước.

“Ở Hoa-sơn, chiều chiều Lý vương tử lững thững bách bộ ngoài bãi biển hay lên đỉnh núi, trông vời phương nam,” Diệu Trân chép miệng, “Rồi từ mảnh đất phong xa xôi ấy, mỗi khi có dịp, ông lại gửi người về để giữ liên lạc với bên nhà. Họ thường mang theo sản vật địa phương trong đó có những cây thoa khảm trống giản dị làm bằng vỏ ốc nhặt trên bờ cát Hoàng-hải để làm quà. Nhờ thế họ hàng ở đây mới phong thanh đôi chút về cuộc sống lưu lạc của ông. Bích trung hữu nhĩ, những liên hệ này đã cách nào đó lọt ra bên ngoài, phần nhiều trở thành những đồn đãi thiếu trung thực. Cứ theo như khẩu khiếu của Vương trọng Liệt thì dù trong lời nói có hàm chứa chút ít sự thật nhưng cả người ấy lẫn Trần khắc Chung đều tưởng Lý Long Tường là một nhân vật đương thời, không biết rằng ngoại ngũ tuần ông mới rời cố quốc khi nhà Lý vừa mất. Họ có hiểu sai ra như thế cũng không phải là điều đáng ngạc nhiên vì chính tôi khi còn nhỏ cũng không biết mình mang giòng máu họ Lý.”

Phùng Kiến Lập đã bất ngờ được nghe một câu chuyện đau lòng nhưng bi hùng kỳ thú. Ở trong một hoàn cảnh không nghịch thuờng, có lẽ ông đã tò mò muốn tìm hiểu thêm. Nhưng trước thái độ xuất thần của người con gái, ông giữ ý không muốn làm phiền cô, chỉ nhẫn nại lẳng lặng chờ nghe.

“Hoàng tử Long Xưởng vì phạm gia pháp mà bị truất ngôi thái tử. Ông là người lãng mạn phóng túng, có tình ý với một cung phi, vua không nỡ bắt tội chết, chỉ giam vào ngụcthất rồi đày làm thứ dân, lập Long Trát làm thái tử,” Diệu Trân kể tiếp, giọng nhớ nhung xa vắng. “Mùa thu năm Thiên-cảm Chí-bảo thứ hai,1175 vua Lý Anh-tông băng ở điện Thuỵ-quang, Thế tử Long Trát lên ngôi lúc mới hai tuổi. Ấu chúa lên nắm quyền bính lúc còn quá thơ dại chưa có được một chút kinh nghiệm hiểu biết nào để trị vì thì thật là một điều thiếu may mắn. Tình hình Đại Việt khi ấy rối loạn, bắc biên bị quân Tống đe dọa, người Lão-qua cướp phá từ phía tây và Chiêm Thành lấn chiếm ở miền nam. Trong nước thì giặc giã nổi dậy như ong, dân tình đói khổ. Vua còn nhỏ ham chơi biếng nhác, chính hình không rõ ràng. Cơ nghiệp nhà Lý bắt đầu suy sụp.

“Tằng tổ phụ tôi có ý ép vua Cao-tông thay đổi chính sự nhưng không được; mấy lần đem hết gia thuộc nổi lên, việc cũng không thành. Tổ phụ tôi ra đời khá muộn trong cuộc binh biến cuối cùng, quyến thuộc phải đem ông đi ẩn trốn, tránh hoạ sát thân ở châu Thủy-vĩ. Sau khi tổ phụ mất đi, gia phụ lập gia đình với họ Khúc và tiếp tục sống ở miền thượng du cho đến cuối đông ất dậu1285 thì ông bị mất tích trong trận đánh với quân của Nạp-tốc-lạt-đinh ở trại Thu-vật. Mẹ con tôi mất chỗ nương tựa. Lúc ấy tôi mới lên ba.

“Năm đó, quân Nguyên từ Vân-nam tràn xuống Thủy-vĩ, chúng tôi theo đám tai dân lũ lượt chạy về xuôi cùng với chú Túc đi theo. Cha ông chú nhiều đời là gia bộc nhà họ Khúc. Đến thôn Lữ-dạ, chúng tôi tá túc với một bằng hữu của gia phụ là Quách lão quyền sư. Không hiểu sao chú Túc lại ở tách riêng, người ta gọi chú là Tam Thất. Hình như không ai để ý đến chú và chúng tôi có liên hệ từ trước. Ðược ít lâu thì Quách Nhật Thăng tiền bối thu xếp để mẹ con tôi ở riêng một căn nhà nhỏ mới cất sau vườn và nhờ mẹ tôi dậy học người trong thôn. Người ta gọi bà là Khúc lão sư và gọi tôi là Tường Vân. Hồi ấy, tôi tưởng mình họ Khúc…

 “Thỉnh thoảng, vào những lúc trời đêm yên ả phảng phất hương vị ngày xuân ngọt ngào từ những cụm kim ngân hoa, chúng tôi lại có dịp say sưa ngắm nhìn từng đôi thôn nữ tát nước và những cặp gàu dai làm dao động ánh trăng lung linh trên mặt suối. Rồi những ngày đằng đẵng cày sâu cuốc bẫm, chân lấm tay bùn. Rồi những lúc hân hoan khi cánh đồng tràn ngập hương thơm mùi lúa chín.

“Mọi người đối xử với mẹ tôi rất cung kính và càng ngày càng tỏ ra thân thiết với chúng tôi hơn. Cứ như vậy, tôi lớn lên chẳng những bắt đầu yêu thích người và thôn Lữ-dạ mà cả đến suối đồi, cái đình, con trâu, nhất nhất đều là những hình ảnh đầm ấm. Giữa đồng ruộng bao la núi rừng bát ngát, niềm hạnh phúc đơn sơ của tôi đã được gói trọn trong lũy tre làng nho nhỏ xanh tươi ấy. Và đó là chuỗi ngày thơ ấu đẹp đẽ êm đềm nhất của tôi.

“Tôi có mấy đứa bạn nhưng thân nhất là con Quế, con của thím Hạo. Vợ chồng thím thỉnh thoảng mời mẹ con tôi sang ăn cơm. Thím làm bếp khéo, có nhiều món ngon lắm. Tôi thích ăn nấm hương thím xào với nụ hoa mướp. Và canh mồng tơi thím nấu cua đồng ăn với bánh đa. Những thứ ấy đi đôi với nhau vừa thơm vừa ngọt không chê vào đâu được. Thường cuối mỗi bữa, chúng tôi còn được lót dạ thêm một miếng cơm cháy nóng giòn ăn với cà dầm tương.

“Có lần tôi ngớ ngẩn hỏi tại sao năm ngoái thím ít cho mẹ con tôi ăn hơn năm nay? Thím bảo tại tôi với con Quế thành khẩn cầu nguyện nên trời thương, năm nay cho được mùa, chưa bao giờ lúa rộ tốt như vậy. Hai đứa tôi ngạc nhiên nhìn nhau tự hỏi mình có bao giờ biết cầu nguyện đâu? Hiểu ý, thím vui vẻ giải thích rằng mỗi lần gặp gỡ, chúng tôi thường hay cùng nhau hát bài đồng dao “Lạy giời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm, lấy rơm đun bếp….”  Thím bảo đấy chẳng là những lời khấn nguyện cho mưa thuận gió hoà, cho mọi người được ăn no mặc ấm là gì?…

 “Ðời sống của thôn nghèo bắt đầu phấn chấn vì được mùa. Người ta hân hoan và thời gian cứ như thế êm ả trôi đi, cho đến một buổi chiều mùa đông tôi sung sướng được nghỉ học. Thêm nữa, tôi và con Quế, mỗi đứa vừa được may cho một bộ quần áo và một đôi guốc mới để diện vào ngày cưới cô Diệp. Mọi người chỉ còn đợi chú Sửu ở Cổ-độ về là cử hành gia lễ. Ăn cưới xong, những bộ quần áo mới đó sẽ được để dành mặc tết.

“Chiều ấy, Quách lão bá cho người mời mẹ tôi đến từ đường. Hai người nói chuyện với nhau lâu quá nên tôi ngủ thiếp đi trong lòng mẹ lúc nào không biết cho đến khi những hồi trống ngũ liên nổi lên. Lúc tỉnh ngủ tôi mới biết là trong khi nói chuyện với mẹ tôi, Quách lão bá đã cho thúc trống tụ dân để loan báo quyết định chạy giặc. Đôi mắt mẹ tôi buồn vô tả. Tôi nghĩ mẹ muốn khóc cho số phận hẩm hiu của mình, nhưng cũng như trước đây khi nghe tin gia phụ thất tung, bà chỉ âm thầm nuốt những giọt nước mắt vào trong lòng. Bà nói rằng chúng tôi sẽ đi đến nhà bác Lý Tất Kiến ở Kinh bắc, bao giờ yên thì về. 

Cuộc di tản gian khổ 

Ở Chương thôn Lữ-dạ, tác giả đã viết về việc thôn dân ở đây di tản và việc chống quân Nguyên, ở chương này, tác giả để cho Công nương Diệu Trân kể lại những chặng đường gian khổ, hiểm nguy trong cuộc di tản của mẹ con nàng cũng như của những người khác. Cuối cùng thì mẹ nàng đã gục ngã vì kiệt sức…       

“Gần sáng hôm sau, chúng tôi khởi sự rời thôn Lữ-dạ. Mấy ngày liền trời ấm áp dễ chịu là thế, đột nhiên hôm ấy trở lạnh bất ngờ. Chăn màn đồ đạc và thức ăn choán mất quá nhiều chỗ trên xe trâu của chú Hạo, vậy mà tôi và con Quế vẫn được phép chui rúc trong một góc nhỏ. Ngồi trên xe trâu, chúng tôi sợ nhiều hơn buồn trong khi những cụ già ốm yếu và trẻ nhỏ cũng được cưỡi ngựa cưỡi trâu theo sau xe chúng tôi. Quấn chăn kín mít thủ thỉ với nhau mà vẫn còn thấy cái giá buốt lạnh thấm vào người nhưng hai đứa chúng tôi còn nhỏ dại chưa biết nghĩ đến người lớn đang phải đi bộ chân đất vất vả trên đường.

“Chúng tôi nhắm hướng Phù-hoa mà đi. Để tránh bị du quân Nguyên phát giác bất chợt trên các đoạn đường dài quá trống trải, nhiều khi cả đoàn phải len lỏi vào những cánh rừng thưa, vì vậy chậm lắm. Một buổi xế trưa, sau mấy ngày vất vả trên đường ai cũng đã mệt mỏi nhất là các ông già bà cả, chúng tôi gặp một con suối chảy giữa một bên là con đường đang đi, còn bên kia là một dải đồng cỏ nhỏ hẹp. Cây cành bên bờ suối đã khô héo nhưng những cụm dã lan vẫn còn rực rỡ nhiều màu. Tôi loáng thoáng nghe người lớn xầm xì với nhau rồi quyết định dừng chân hạ trại vì từ đây tới ngã ba Cây Gạo còn phải đi mất hơn nửa ngày đường. Từ ngã ba này, đi theo chính lộ độ bốn năm ngày nữa thì vào địa giới Phù-hoa. Ở đó chúng tôi sẽ được thổ tù Cầm đại lão giúp đỡ, qua trung gian liên hệ với Quách lão bá.

“Ðêm ấy, chúng tôi ngủ lại dưới những gốc hoè lá đã úa vàng ở ven rừng. Khi tôi bừng tỉnh bởi những tiếng hò hét và ánh lửa đỏ rực thì trời đã gần sáng. Trâu bò hoảng sợ lồng lộn bỏ chạy tứ tán. Cái xe tôi với con Quế đang ngủ bị rung chuyển dữ dội, lắc lư tròng trành lao nhanh xuống khe suối. Sau đó, tôi không còn hay biết gì thêm.   

“Lúc tôi mở được mắt ra thì trời đã sáng, gia mẫu đang ngồi bên cạnh, quần áo bê bết máu, mặt mũi lem luốc tro than. Tôi nhỏm dậy ôm chầm lấy bà. Chung quanh chúng tôi có nhiều xác chết la liệt nằm bên những mớ khí giới rải rác trên mặt đất. Quần áo chăn chiếu vung vãi khắp nơi. Xe bò ngổn ngang gãy đổ, và một ít gia súc sống sót còn đang ngơ ngác luẩn quẩn trên sườn núi. Lát sau, mẹ tôi mới nhẹ nhàng gỡ tay tôi ra, đặt nằm xuống, an ủi tôi là bà không bị thương. Máu đọng trên quần áo bà là của những du binh Mông-cổ hay của những người thương vong bên phía chúng tôi. Mẹ tôi trìu mến nhìn tôi ngậm ngùi cười, đôi mắt lại u buồn vô tả. Lần đầu tiên và cũng là lần cuối trong đời tôi nhìn thấy những giọt nước mắt từ ái của bà. Thì ra đó là cuộc tấn công của một toán quân Nguyên tuần thám nhỏ đã vô tình phát hiện nơi chúng tôi trú ẩn trong đêm. Người ta kể rằng mẹ tôi, người đàn bà mảnh khảnh này, đã cầm đầu cuộc chiến đấu ấy. Một chuyện không ngờ đối với họ, với tôi; dù ai cũng biết ngoài việc dậy chữ nghĩa, đôi khi gia mẫu còn chỉ dạy võ công cho đám phụ nữ trong thôn.

“Sau khi hoàn hồn, tôi mới thấy mình và con Quế không phải ở trên xe trâu nữa mà đang quấn lấy nhau trong chăn, trên một chiếc chiếu trải bên gò mối. Thím Hạo quỳ một bên, nghẹn ngào khóc không thành tiếng. Hình như Quế bị thương nặng, máu thấm ra đến phần chăn đắp trên người, tay vẫn khư khư ôm con bò gỗ. Tôi lẳng lặng thò tay sang nắm lấy bàn tay nhỏ lạnh ngắt của nó. Con Quế cũng lần mò trong chăn, đưa cho tôi con bò gỗ, con mắt dài dại nhìn tôi, miệng thều thào rằng nó hơi mền mệt, buồn ngủ, nhờ tôi giữ hộ, bao giờ nó dậy hai đứa sẽ chơi chung.”

Phùng Kiến Lập bị lôi cuốn vào câu chuyện. Mấy lần nghe Diệu Trân nói về đôi mắt bà mẹ “buồn vô tả” ông không thể hình dung được nỗi buồn ấy sâu thẳm đến đâu. Bây giờ, nhìn vào đáy mắt của người con gái, ông chợt hiểu thế nào là một nỗi “buồn vô tả.”

“Cô có nhớ cái đêm hôm ấy không?” Hỏi để mà hỏi thôi chứ không đợi trả lời. Với vẻ ray rứt còn lưu giữ trên nét mặt của những người còn sót lại bên lề cơn hoạn nạn, Diệu Trân dàu dàu nhìn người đàn bà. Cô ân cần áp tay bà lên má mình. “Đêm ấy có rất nhiều người chết, cả chú Hạo, hai người con của Quách lão bá, chị Thắm và chị Nhài. Còn có cả …” Diệu Trân bỗng ngừng lại, cảm nhận được niềm xúc động qua những ngón tay run rẩy của người đàn bà. Nếu cô còn vô ý tiếp tục nêu tên những người đã khuất thì không khỏi gợi lại số mệnh vùi dập của thân mẫu Hà Diệp. Xiết nhẹ những ngón tay lành lạnh của bà trong lòng bàn tay ấm áp, cô ngập ngừng một chút rồi mới kể tiếp, “Nhiều lắm! Chôn vội chôn vàng từ sáng sớm mà mãi đến buổi chiều mới xong. Xác những người Mông-cổ được chôn chung vào một chỗ ngoài xa. Người ta tin rằng vong linh của những người đã nằm xuống không muốn ở gần những người đã gây ra cái chết cho họ.

“Sau cuộc thảm sát, những cánh hoa tan nát trên thảo nguyên bên suối đã qua rồi một thời rực rỡ. Đau xót quá vì những gì mất mát nhưng không thể ấp ủ mãi những nguồn cơn buồn khổ, chúng tôi phải tiếp tục lên đường. Trước khi ra đi tôi buộc con bò gỗ vào một cành cây trên mộ con Quế. Có người bảo tôi có thể giữ lại vì con Quế không cần nó nữa, nhưng tôi nhất định không chịu, nghĩ rằng hơn ai hết Thị Quế lúc này mới càng cần có bạn hơn tôi.

“Trưa hôm sau một toán người ngựa cũng từ mạn ngược chạy về xuôi và bắt kịp đoàn chúng tôi ở gần ngã ba Cây Gạo. Những người này cho biết nhiều toán quân Nguyên hiện đang có mặt ở đằng sau và chẳng bao lâu trục lộ kế cận bình nguyên trước mặt cũng sẽ không còn an toàn nữa. Những kỵ mã ấy không vướng bận đàn bà con trẻ, gặp gỡ nhau xong là chia tay. Tin tức của họ cùng với trận tấn công bất ngờ đêm qua của toán du quân Nguyên cho thấy địch có khả năng tiến quân và hành động rất nhanh làm cho chúng tôi rất đỗi hoang mang dao động.

“Tại ngã ba Cây Gạo, chúng tôi gặp lại hai người, trước đây Quách lão bá sai đem thư đến thổ tù Cầm Doãn Bối, đang ngược đường trở về thôn Lữ-dạ. Chúng tôi chia xẻ tin tức, những người này cho biết dân chúng Phù-hoa cũng đang chuẩn bị tản cư, tình thế có lẽ sẽ chẳng hơn gì nơi chúng tôi vừa đi qua là mấy. Không còn do dự đắn đo nữa, chúng tôi nhập bọn quyết định bỏ chính lộ, chọn lối vào sơn đạo tây nam. Sơn đạo này có vẻ là con đường huyết mạch của chúng tôi, tuy gồ ghề khúc khuỷu nhưng kín đáo, có chỗ chật hẹp người ngựa cũng khó qua lọt. Vả chăng, trên sơn đạo này, khi đi qua địa giới Phù-hoa, nếu thấy tình hình ổn định, chúng tôi vẫn còn có thể rẽ xuống đồng bằng tìm gặp Cầm trưởng bối sau cũng không muộn.

“Không thể mang theo trâu bò vào sơn đạo nên lúc sắp rời ngã ba, người lớn xót xa bàn chuyện làm thịt theo “kế hoạch thanh dã” của triều đình, quyết không để lương thực lọt vào tay địch. Nhưng không ai nỡ xuống tay. Có người muốn dẫn chúng xuống thả hoang trong đồng cỏ. Đây là ý kiến hay nhất, ai cũng thích nhưng rồi lại thấy không ổn, vì làm như thế khác nào tiếp tế lương thực cho quân Nguyên. Cuối cùng mọi người đồng ý để lại ba đàn ông có sức để họ liệu tính với nhau về số phận của lũ trâu bò.

“Còn lại chưa đầy trăm người nhưng chúng tôi lại đi chậm hơn vì những người bị thương và trẻ con cũng phải đi bộ. Thím Hạo không bị thương nhưng lúc nào cũng chùn bước lọt lại đằng sau. Người thím rũ ra vô hồn vô cốt, mẹ tôi và cô Diệp phải thay phiên nhau dìu đỡ.

“Mất gần hết những gì mang theo từ thôn trong cuộc đột kích ở rừng hoè, ít lương thực còn lại cạn dần trên một hành trình có sáu bảy ngày mặc dầu chúng tôi hết sức tằn tiện. Những cái bánh chưng nhân đậu thịt ngon lành cuối cùng rồi cũng hết. Ði thêm vài ba ngày nhịn đói nữa, lúc mặt trời đứng bóng, chúng tôi may mắn gặp được hai thiếu nữ bản địa, một người quấn khăn màu chàm, còn một người đầu tóc bù xù cắt ngang đều chung quanh trông như cái nồi đất to úp lên. Hai người đều mặc váy đen dài tới quá gối, áo ngắn màu xám nhạt, sau lưng đeo gùi đầy măng tươi, rau trái và nấm rừng. Người con gái ít tuổi hơn cầm thanh mã tấu, vác trên vai một con hoẵng nhỏ. Người kia trong tay có ngọn mác, miệng đang nhóp nhép nhai trầu. Vũ khí tùy thân trong tay họ tất nhiên được dùng để săn bắn và tự vệ, nhưng thực ra đấy cũng là một phần ăn mặc hàng ngày của người sơn cước giống như đeo kiềng hay hoa tai. Đó là những nông dân ở bản Mường nhưng vẫn giữ tập tục kiếm thêm cây trái và thịt thà muông thú trong rừng sâu núi thẳm như trước khi con người lập cư. Tính tình của hai cô gái này cởi mở rất dễ bắt chuyện, có bao nhiêu cơm lam và trái rừng đem hết ra cho chúng tôi, nói rằng bản của họ ở không xa, ngay bên kia bờ suối, lại có nhiều đồ ăn.

Dừng chân tại bản Mường: đời sống của người dân ở đây.

“Các bộ tộc người sơn cước thường nấu cơm lam bằng cách cho gạo nếp vào ống giang rỗng, lấy bùn hay đất sét bịt kín lại rồi lùi trong than hồng, ngon hơn cơm nếp thổi bằng nồi chõ. Những khi rời nhà, người ta đem theo những ống giang cơm lam để ăn trên đường xa rất tiện. Cơm không nhiều, chia nhau mỗi người được một vắt nhỏ, nhưng đỡ đói, không gì có thể ngon hơn được vào lúc ấy.

“Sau một hồi nghỉ mệt, chúng tôi theo hai người con gái vào một đường mòn hẹp hơn. Đi từ buổi trưa qua nhiều con suối và những ngọn đồi nhấp nhô, quá nửa đêm chúng tôi mới đến bản Mường ‘không xa, ngay bên kia bờ suối’ của họ. Đời sống của người Mường rất hồn nhiên, đến cả tuổi tác của mình cũng chẳng có mấy ai để ý, cho nên cái nhìn về khoảng cách của họ không giống như lối chúng ta tính toán.

“Mệt mỏi rã rời nhưng từ trên đỉnh cao tôi vẫn cảm nhận được cái đẹp thơ mộng của ánh sao lấp lánh trên những mái gianh phủ dài xuống thấp che quá nửa bốn vách trống của những căn nhà sàn lác đác dọc bên sườn đồi đá thoai thoải trong thung lũng xanh thẫm dưới chân chúng tôi chạy dài về phía mặt trời lặn. Ở tận cùng phía ấy, có ánh lửa đốt rẫy chập chờn trong đêm. Thường nhật họ vào rừng săn bắt lượm mót nhưng đốn cây đốt rẫy ở ven những chỗ đất trũng để trồng mầu vẫn là đời sống căn bản của người Mường.

“Tuy chân ướt chân ráo xa lạ, nhưng những người Mường chân phác trong bản đãi ngộ chúng tôi cực kỳ tử tế. Họ chữa chạy tận tình cho những người bị thương, và tất cả chúng tôi đều được ăn uống rất no đủ. Ba người đàn ông được cắt ở lại ngã ba Cây Gạo bây giờ đã bắt kịp đoàn, chúng tôi xúm lại hỏi han về lũ trâu bò nhưng họ chỉ thờ dài không trả lời!

“Cả bản Mường sửng sốt khi được biết mẹ tôi, một người đàn bà nhỏ nhắn mảnh khảnh, lại là người cầm đầu dân Lữ-dạ, họ lập tức tổ chức tiệc rượu thịt đãi bà tù trưởng nhỏ nhắn trông chả giống tù trưởng chút nào. Mẹ tôi giải thích rằng ‘tù trưởng Ðại Việt đàn ông uống rượu, tù trưởng Ðại Việt đàn bà không uống rượu.’ Vì phong tục lề thói bản địa, lúc đầu họ không thuận. Nhưng nài ép cách nào cũng không được, mãi rồi họ cũng đành bỏ qua, và vẫn thừa tiếp gia mẫu như tù trưởng, một tù trưởng không uống rượu. Họ dành cho mẹ con tôi ở riêng một căn nhà sàn dài mái dốc, mỗi bữa đem cơm nếp, gà luộc hoặc thịt rừng, rau trái đến tận nơi. Có nhiều thứ rất ngon vì lạ miệng, nhưng lợn rừng thui lòng đào và món thịt khỉ nướng tái thì tôi chịu dù không khểnh ăn. Gia mẫu không muốn được biệt đãi cũng không xong với họ. Thực ra, những người khác cũng được tiếp đãi ăn uống tử tế như vậy, chỉ phải cái ăn ở chung đụng chật chội hơn thôi.

“Đến bản Mường sau một chuyến đi dài khó nhọc trong rừng sâu, chúng tôi được hưởng một không khí cao nguyên thật thoáng đãng và mát mẻ. Ở lại bản ít ngày giữa ngàn cây và muông thú, riêng tôi ngủ nhiều, ăn nhiều hơn là thức. Hai thiếu nữ dẫn chúng tôi về bản thật vui vẻ khả ái, nhưng tiếng sáo trúc êm ả của họ vào những lúc chiều tà lại rất gợi buồn. Sang sáng ngày thứ ba, tôi thức dậy trong lúc ngoài trời mưa lâm dâm vì những tiếng hú lớn vang lên trong rừng rậm. Từ trong lòng mẹ ấm áp an toàn, tôi tò mò hé mắt nhìn ra ngoài vòm trời sương phủ. Mẹ tôi nói đó là tiếng hú của loài bạch viên. Suốt một buổi sáng cuối thu ảm đạm ấy, tiếng vượn hót từng chuỗi dài lanh lảnh lên cao rồi hạ dần xuống thấp thành những âm điệu rền rỉ dịu buồn hoà nhập với tiếng hú của những bầy vượn khác dội xuống khe núi sâu thẳm, rồi vang vọng lên đến tận những đỉnh cao chập chùng, cho đến khi tắt lịm mà âm hưởng vẫn còn chan chứa trong lòng.

“Tôi thầm nghĩ tiếng vượn hú là một âm thanh sầu muộn nhất tôi từng được nghe. Nhưng ngay buổi chiều hôm ấy, khi màn sương bắt đầu giăng mắc dưới lòng thung lũng, và mùi hương của lạc diệp tùng, trắc bách diệp và cỏ cây hoang dại phảng phất trên những mái gianh tắm ánh trăng vàng dìu dịu, thì cũng là lúc tôi nghe có tiếng người rên rỉ thê lương ‘bắt-cô-trói-cột’ từ trong rừng thẳm vọng ra. Đó mới thực sự là một tiếng kêu thương ảo não! Tôi sợ hãi mặt mày xanh xám. Lúc ấy, mẹ tôi đang ngồi chuyện vãn với bà vợ của ông tù trưởng. Cũng như nhiều đàn ông khác trong bản, ông chồng thường vắng nhà vào rừng kiếm ăn còn bà vợ cùng những người đàn bà khác thường ở nhà dành nhiều thì giờ trồng cấy. Bà là một người có khuôn mặt rất dễ coi, đôi môi thắm đỏ quết trầu. Trang phục của bà mang nhiều màu sắc đẹp đẽ và trên cổ đeo một chuỗi hạt cùng những vòng kiềng bạc. Thấy tôi sợ hãi, bà nhẹ nhàng cầm tay an ủi rằng đó chỉ là tiếng kêu của một loài tu hú chứ không phải tiếng người. Bà nói rằng con chim này buồn nên tiếng kêu của nó cũng buồn. ‘Ngày xửa ngày xưa, có một con tu hú,’ bà bắt đầu kể cho tôi nghe câu chuyện về con chim đó. Những chiếc vòng đồng trên cổ tay kêu leng keng mỗi khi chuyển động làm cho giọng nói thủ thỉ của người đàn bà tính khí vui vẻ dễ thân cận này càng thêm dễ tin. Ngay lập tức, tôi bị lôi cuốn say mê vào câu chuyện.

“Bà vợ ông tù trưởng kể tiếp, ‘Con chim muốn có con nhưng không biết làm tổ bèn đẻ trứng vào một tổ chim khác nhờ ấp hộ. Trứng nở thành một chim non xinh xắn và được một chim mẹ khác nuôi lớn lên. Tu hú muốn đòi lại đứa con yêu mến nhưng chim nhỏ lạc đàn bay đi, không nhận ra mẹ ruột. Chim mẹ cô đơn đuổi theo muốn buộc giữ con lại để được gần gũi, nhưng ngày xuân mòn mỏi, cánh chim tơi tả của buổi xế chiều không thể nào bắt kịp cánh chim non nhẹ nhàng lướt gió. Trông đợi nhớ nhung không nguôi, chim mẹ sầu muộn tiếp tục tìm đuổi theo con, cất tiếng buồn thảm kêu ‘bắt-cô-trói-cột’ mỗi khi chiều xuống.’ Người đàn bà ngừng câu chuyện với một nụ cười má lúm đồng tiền duyên dáng. Chuyện tu hú mất con chỉ là huyền thoại, người đàn bà sắc tộc chân thực nhưng không ngây thơ đến nỗi tin vào đó là chuyện thật, tuy vậy tiếng kêu thương ảo não của loài chim này quả đã làm cho người ta phải mủi lòng. Mấy ngày sau người đàn bà chân phác ấy, qua những mẩu chuyện khẩu truyền lâu đời hấp dẫn khác, đã nhỏ nhẹ dậy tôi rất nhiều điều sâu sắc trong đời sống phong phú của những con người giữa chốn sơn khê.

“Trong thời gian ở bản, mẹ tôi báo cho những người Mường tử tế này về tình hình quân Nguyên đang tràn xuống nhưng họ đã biết trước, và còn biết nhiều hơn nữa. Họ nói rằng trước khi chúng tôi đến bản vài ngày, quân Nguyên đã đánh phá cửa quan Phú-lương và hiện làm chủ tình hình ở đấy. Người Kinh dưới châu thổ sông Hồng đang chạy giặc. Du quân Nguyên hoạt động mạnh trong vùng. Từ đường cái ngoài bìa rừng, có nhánh sơn đạo khá rộng dẫn thẳng lên bản rất thuận tiện, sớm muộn gì quân Mông-cổ cũng lên tới đây. Mặc dầu muốn lưu giữ chúng tôi ở lại nhưng họ nghĩ tốt hơn chúng tôi nên khởi hành sớm. Và trên đường về xuôi, thay vì đi theo con đường thông dụng, chúng tôi nên dùng một con đường mòn ở sâu hơn trong núi, tuy hiểm trở và dài hơn nhưng an toàn vì kỵ binh không vào được. Về phần họ, hễ địch đến thì đánh, bao giờ thua mới chạy.

“Ngày chúng tôi rời bản, gia mẫu trích một phần của cải Quách lão bá đưa cho trước đây chia với họ. Không những họ khăng khăng từ chối mà còn cho chúng tôi nhiều thực phẩm khô, và thuốc dấu trị thương. Ông tù trưởng bảo rằng khi nào chúng tôi trở lại thì đem về cho bản một ít muối làm quà là quý hoá lắm rồi. Thím Hạo yếu quá không đi được. Mẹ tôi muốn đợi nhưng thím không chịu, sợ vì mình mà mọi người phải chậm trễ có thể bị vạ lây. Người trong bản cũng khuyên nên để thím ở lại, khi bình phục họ sẽ cho người giúp đuổi theo. Chúng tôi bịn rịn chia tay.

Đoàn người thôn Lữ-dạ lại lên đường: cảnh núi rừng

“Trời vừa tối, khi người ta hướng dẫn chúng tôi đến nơi con đường mòn tiếp giáp với đường đất nhỏ thì tu hú bắt đầu kêu, gần như cùng lúc với tiếng hú xé ruột não lòng của thím Hạo từ phía bản Mường vọng lại. Tôi phải bịt chặt hai tai, mò mẫm theo chân mẹ tôi vào sâu trong rừng, lâu lắm mới dám buông tay ra nhưng hình ảnh gầy mòn rũ rượi của thím Hạo vẫn lởn vởn trong đầu. Chuyện cũ sau này mỗi khi nhắc đến thường gợi lại mối thương tâm. Những ngày thanh thản ở Lữ-dạ đâu còn nữa, và những tiếng kêu bi thảm chiều ấy ở bản Mường vẫn còn làm cho cô Diệp và tôi thương cảm vô ngần.

“Ðối với những người không quen đi rừng như chúng tôi, con đường mòn này có vẻ hiểm trở hơn là người dẫn lộ đã nói. Nhưng thoạt tiên, hành trình của chúng tôi vào đường mòn không quá tệ mặc dầu người ta thường phải luôn tay phạt quang mở lối, nhiều khi phải trèo qua những khúc cây mục đổ ngổn ngang hoặc đi vòng quanh những khoảnh đất đai nứt nẻ. Buổi tối, chúng tôi có thể đốt lửa vừa sưởi vừa đun nấu mà không sợ bị phát giác. Chúng tôi ăn cơm lam chấm với gio nứa, không đậm đà như muối nhưng cũng thấy hơi mằn mặn.

“Càng vào sâu rừng càng rậm rạp hiểm trở, giây leo mọc lan tràn chằng chịt quấn quanh những gốc cổ thụ vươn tít lên cao với rễ xoắn mọc dài từ những cành to xuống đất, và lá cành giao nhau trên ngọn thành một vòm xanh dầy đặc che kín bầu trời. Vào những ngày nhiều mây hay sương mù dầy đặc, tàn cây xen lẫn vào nền đất rêu phủ không còn phân biệt ranh giới trong bóng mờ mờ xám tưởng như bất tận. Rất dễ bị mất phương hướng trong rừng rậm, chúng tôi không bị lạc là nhờ vào cảm thức hơn là dùng đầu óc. Đến cả những ngày ấm áp tốt trời mà cũng chỉ lốm đốm ít giọt nắng mơ hồ lọt xuống những cụm tầm xuân đong đưa trên cành cao và những bụi dương xỉ rậm rạp dưới mặt đất.

“Chỉ được ít ngày, trời bắt đầu u ám với những trận mưa nhỏ từng cơn làm cho đất đá dăm bị lầy dính như cơm nếp nát; nhấc chân lên cũng đã vất vả. Nhưng khó khăn nguy hiểm nhất là những lúc phải băng suối ở những đoạn nước từ nguồn chảy xiết xuống trên ghềnh thác đổ. Chỉ cần một cơn dông bất ngờ cũng đủ biến những con suối lững lờ nhỏ hẹp trong chốc lát bỗng trở thành những cơn nước lũ kéo dài nhiều ngày. Không ai một mình có thể cưỡng lại được dòng nước mạnh gần như không thể vượt nổi ấy mà không bị khốn đốn. Nếu chúng tôi không thể tìm được một chỗ đất bằng phẳng nơi dòng suối chia ra thành nhiều nhánh nhỏ và cạn ít cam go thì cũng đành phải vượt qua khúc rộng gay cấn hơn nhiều. Trước hết, chúng tôi thắt một đầu sợi dây thừng rất dài vào gốc cây. Một người xung sức nhất trong chúng tôi được lựa chọn, mình buộc vào một đầu dây còn lại trước khi bơi xeo xéo ra theo dòng. Mở đường băng suối thật là nguy hiểm, người ấy thường bị nước cuốn xuống dưới xa mới giạt được vào bờ bên kia rồi đi ngược lại chỗ trước mặt chúng tôi đang đợi thì quấn thừng vào một gốc cây để căng thành một sợi dây an toàn giăng ngang suối. Đến lúc đó, người lớn mới từng bước dò dẫm lần theo dây thay phiên nhau đưa trẻ con qua để giữ cho chúng tôi khỏi bị trượt té.  

“Trèo lên những con dốc ngược trên đường mòn khó khăn vất vả bao nhiêu thì khi trèo xuống cũng nguy hiểm cực nhọc bấy nhiêu. Tôi và mấy đứa trẻ khác có đôi lúc được cõng, được dìu nhưng chỉ thỉnh thoảng thôi vì người lớn ai cũng mệt lả, không thể cáng đáng cho xuể tất cả mọi việc. Ướt át bẩn thỉu, chân tay nứt nẻ sưng tấy đau đớn mỗi lần cất bước. Trời lạnh lắm. Chúng tôi thường phải ngồi nấp sau mấy gốc cây to để tránh gió.

“Cho dù không khí ẩm thấp rất khó kiếm bổi, đóm và củi khô nhưng đám đàn ông giàu kinh nghiệm vẫn không gặp khó khăn tìm nước uống và nhóm lửa. Họ cũng thừa khả năng mót nhặt cây trái hay bắt sâu bọ muông thú để cầm hơi. Nhưng dù thiếu đồ ăn, mẹ tôi vẫn cẩn thận không cho phép họ mạo hiểm quá xa tầm mắt trong khi tìm kiếm lương thực để tránh nguy hiểm bất ngờ và có thể bị lạc trong rừng rậm làm chậm trễ cuộc di chuyển. Xét cho cùng, thêm việc thì cũng cần thêm ăn để bù trừ, chưa chắc đã bõ. Thay vì phí phạm thì giờ và năng lực tìm kiếm thực phẩm, chúng tôi nhẫn nại di chuyển chậm rãi để giữ sức. Thỉnh thoảng trời không đến nỗi tệ lắm, chúng tôi đập dập hạt và vỏ bả đậu thả xuống đầu dòng để bắt ít cá ở những khúc suối hẹp, nước sâu và chảy chậm. Lá, quả và hạt bả đậu đều ăn được nhưng chất nhựa màu vàng lạt hoà tan trong nước làm cho cá bị choáng váng bất tỉnh.

“Rồi đồ ăn lại gần cạn, không đủ chia cho mọi người, chúng tôi phải liệu cơm gắp mắm, chỉ có trẻ con hoạ hoằn mới được một chút cơm độn lá rừng để lót dạ. Tôi phải chừa cái thói kén ăn dù mùi vị của một số những cây trái hay thú nhỏ thu lượm dọc đường có dở tệ nhiều hay ít. Sự thử thách về khả năng chịu đựng khi thiếu ăn của chúng tôi thật gay go. Đói làm cho chúng tôi yếu đuối, tinh thần suy xụp. Chỉ mẹ tôi là còn tỉnh táo để giúp cho mọi người có đủ sức giữ vững tinh thần. Sau nhiều ngày, cái đói càng kéo dài cái lạnh khắc nghiệt càng thêm da diết, đầu óc tôi không còn nghĩ đến gì hơn là cái bếp lửa. Mẹ tôi ủ cái bong bóng lợn đựng nước vào trước bụng của bà, thỉnh thoảng lấy ra cho tôi uống một ngụm nước ấm để dỗ lòng

“Chúng tôi mải miết băng đèo vượt suối như thế nhiều ngày nữa cho đến một hôm, tôi chỉ còn như một cái xác tê cóng mò mẫm trong sương mù dầy đặc không rõ mặt người. Chốc chốc, lại có tiếng linh cẩu từ xa theo những ngọn gió hú vọng về qua rừng mưa, nghe như những tiếng khóc lạnh lùng rờn rợn trong cái trống vắng của màn đêm. Người ta nói sơn cẩu là một trong những loài thú dữ độc ác, săn giỏi và gây nhiều chết chóc nhất. Nhưng tôi sợ hơn cả là những con vắt. Những con đỉa rừng bé tí này chui sâu vào dưới da hút máu mà mình vẫn không hay biết.

“Trời bắt đầu mưa lại. Sao có thể lạnh lẽo khổ sở đến như thế này! Chỉ có nước mắt tôi là còn giữ được một chút hơi ấm, và chỉ có tiếng rú thảm sầu của loài linh cẩu phá vỡ sự yên lặng cô đơn. Không biết lúc nào sáng hay tối. ‘Con hãy tưởng tượng đến một điều bất hạnh hơn nếu như mình bị giặc Nguyên bắt thì nỗi khốn khổ của chúng ta bây giờ chỉ là tạm bợ chưa có gì đáng gọi là quá quắt. Đã không khước từ được thực trạng của mình thì hãy chấp nhận nó giống như chúng ta đang thích ứng với môi trường mới xung quanh. Đừng nhược lòng lo nghĩ quá nhiều về những khó khăn đằng nào cũng không gạt bỏ được kẻo mệt mỏi tinh thần vô ích,’ mẹ tôi nói, tay vuốt nhẹ lên tóc tôi. Đó là những lời bà dậy dỗ và hướng dẫn tôi sống với thực tại, vượt thắng những ham muốn an nhàn và sợ hãi cảnh vật mới lạ xung quanh mà tiếp tục cuộc hành trình. Nghe câu được câu chăng vì quá mệt mỏi, nhưng tôi vẫn cảm nhận thấm thía được từ nơi bà một lòng bất khuất trước mọi khó khăn. Tôi tự an ủi là hoàn cảnh này cũng chưa đến nỗi nào. Cảm tưởng khổ sở và sợ hãi giảm dần nhưng vẫn còn bị lạnh quá, tôi rúc đầu vào lòng mẹ, thiếp đi. Ai nấy kiệt quệ, chúng tôi phải dừng nghỉ nhiều chặng.

“Một lần, chúng tôi nghỉ ngơi chưa được bao lâu thì nghe được tiếng vó câu đơn độc từ xa. Dù không nghĩ rằng ngựa chiến có thể vào được sơn đạo này; song le, tiếng vó câu làm cho chúng tôi lo sợ. May quá chúng tôi không phải đợi lâu đã nghe được tiếng kêu be be, và ở giữa màn sương tranh tối tranh sáng có một người cưỡi lừa đến. Chỉ giống lừa núi, chân móng khẳng khiu như sơn dương, mới đi qua được những khúc đường mòn chênh vênh bên vách núi đá như thế này.

“Không như đồng loại ở đồng bằng, loài lừa núi này có thể thấy rõ ban đêm nhờ vào sự cảm ứng của hai cái móng nhỏ ở chân trước. Ngựa dù chỉ bị sẩy một chân trên dốc sỏi hiểm trở cũng đủ làm cho ba chân kia mất thăng bằng lăn xuống vực, nhưng lừa núi lỡ có bị sẩy hết ba chân vẫn còn có thể đứng vững trên vách đá cheo leo với một chân còn lại. Lừa núi tinh khôn, hễ cảm thấy hiểm nguy đe doạ đằng trước thì thà bị giết chết chứ không chịu đi tới, dù một bước, vì thế, nhiều người không biết đã lầm tưởng loài thú này vừa ngu lại vừa bướng. Cô Diệp là người đầu tiên loạng choạng chạy ngược lại đón, nhưng không phải thím Hạo. Cũng không phải chú Sửu!

“Người kỵ lư dạ hành vừa cho con lừa ăn mấy hột ngô vừa cho chúng tôi biết bây giờ là cuối tháng chạp, chúng tôi đã vượt qua những con đường chông gai nhất ở Phù-yên, chỉ còn vài rặng núi chót nữa thì đến đồng bằng. Ông là người địa phương, thạo đường, chỉ vẽ cho chúng tôi biết lựa chọn đúng các khe trong những dẫy núi đá vôi mà đi. Nhà ông ở lộ Thiên-trường, làm ăn ở mạn ngược, đang trên đường trở về làng. Ông tử tế chỉ dẫn phương hướng về nhà ông nếu chúng tôi muốn ghé. Nghe chúng tôi định đi Kinh bắc, ông lắc đầu phản đối, bảo rằng đại quân Nguyên hiện đang có mặt dọc theo sông Hồng trên đường tiến về kinh sư. Kinh-bắc nằm ngay bên bờ sông Hồng quá gần với Thăng-long, ông khuyên chúng tôi nên đi về đồng bằng hướng đông dễ tìm được chỗ lánh nạn, hoặc có thể theo thuyền chạy ra ngoài biển. Ông để lại cho chúng tôi không nhiều, nhưng là tất cả lương khô ông có.

“Sau khi gặp khách kỵ lư, chúng tôi rồi cũng ra được khỏi rừng đến đồng bằng Thiên-trường yên ổn như ông đã chỉ dẫn. Thật là nhẹ cả người. Thoạt tiên, mặc dầu có lời khuyên của ông, chúng tôi vẫn định về Kinh-bắc, nhưng quân Nguyên tiến mau quá chẳng bao lâu đã lại đẩy chúng tôi ngược vào rừng sâu. Tiếp tục vất vả lẩn quẩn thêm một khoảng thời gian nữa trên đường mòn, rốt cuộc, chúng tôi đến một nơi ngoài dự liệu. Lâu rồi mới lại thấy mái nhà, vườn ruộng. Buổi sáng, trời nắng ráo, nhưng không khí tịch mịch khác thường. Nhìn lại, hoá ra những mái tranh không có khói, cánh đồng vắng bóng trâu bò. Dân chúng đã bỏ vườn không nhà trống, tản cư.

“Nhắm hướng đông, chúng tôi lếch thếch kéo nhau đi qua thôn ấp và những cánh đồng hoang. Chẳng ở đâu nghe được một tiếng chó sủa quen thuộc. Lúc nào cũng sợ gặp phải quân Nguyên, chúng tôi đêm đi ngày ẩn trốn trong các lùm bụi hoặc thôn xóm không người. Trên đường, chúng tôi mót bầu bí hoa quả mà ăn. Sắn là hoa màu chính của miền trung du nên chúng tôi đào được nhiều lắm, nhưng mọi người chỉ bắt đầu ăn ít một cầmchừng theo lời mẹ tôi dặn,vì khi quá đói người ta có thể chết nếu vội vã ăn no một cách hấp tấp. Rất khó mà tuân theo, nhưng chúng tôi vâng lời bà.

“Ði được dăm ngày; chúng tôi đến một bờ sông, chỗ hợp lưu sông Hồng và sông Luộc thì gặp hai người đàn ông từ giang khẩu Hải-thị đi ra. Họ cho biết quan quân ta đang đóng ở cửa sông này chuẩn bị giao tranh. Họ là hai người cuối cùng rời Hải-thị, tính chạy xuống với thân quyến ở cửa biển Giao-thuỷ. Được biết chúng tôi cũng đang dò dẫm tìm đường ra miền duyên hải, họ quyết định nhập bọn và tình nguyện dẫn đường.

“Chúng tôi cứ men theo bờ nước mà đi, được một hai ngày gì đó thì đến một làng. Ở đấy chúng tôi gặp được mấy chục dân binh. Những người đàn ông đàn bà võ trang này cho chúng tôi biết rằng họ là một trong nhiều toán dân binh lưu động hoạt động trong những hoàn cảnh nghiệt ngã khó khăn nhất ở hậu phương với nhiệm vụ quấy phá tấn công lẻ tẻ nhằm tạo tình trạng bất ổn buộc lực lượng địch phải tập trung tại những cứ điểm cô lập. Toán dân binh rất niềm nở lại có lương thực, họ nhờ những người đàn bà trong chúng tôi tiếp tay nấu nướng.

“Lúc này, chúng tôi nhếch nhác bẩn thỉu không thể tưởng tượng được. Tuy thức ăn lượm mót trên đường đã phần nào giúp chúng tôi hồi lực, không còn đói khát khổ sở quá như khi còn lạc lõng trong rừng, nhưng ngửi thấy mùi đồ ăn nấu nướng, bọn trẻ con chúng tôi vẫn xúm xít lại với nhau chung quanh bếp lửa như một lũ ma đói. Người chỉ huy dân binh mỉm cười thông cảm, nói với mẹ tôi nên cho trẻ con ăn trước. Được lời như cởi tấm lòng, chúng tôi ngấu nghiến ăn không còn biết e dè ngượng ngập là gì sau khi mẹ tôi gật đầu chấp nhận. Ở đây vùng biển, nhiều muối, thức ăn chưa bao giờ đậm đà đến thế. Thực ra, đói lòng thì ăn gì mà chẳng ngon.

“Sắp đến bữa cho người lớn, họ lấy đóm ổi bện rơm đốt thay hương, cùng chúng tôi lễ tạ tổ tiên đón giao thừa. Bấy giờ tôi mới hay bữa đó là hai mươi chín tháng chạp thiếu năm đinh hợi, 1287. Nửa đêm hôm ấy, chúng tôi ăn mừng đón xuân mậu tý 1288 và chuyện vãn trong không khí ấm áp bên ngọn lửa hồng nổ tí tách. Hôm sau là nguyên đán nhằm ngày 3-2-1288.Tình hình yên; chúng tôi lại được ăn tết với nhau, thêm một bữa thịnh soạn. Có muối. Tuyệt!

“Tối mùng một tết, sau khi từ biệt toán dân binh, chúng tôi lại khăn gói lên đường. Trưa ngày mùng ba, chúng tôi đi theo lối mòn cũ của trâu bò đến một khúc quanh lượn theo triền sông. Vừa qua khỏi khúc quanh ấy, chúng tôi đã thấy một xóm chài nằm trong tầm mắt sát ngay bên bờ nước đằng trước, nhưng không có dấu hiệu sinh hoạt. Xa hơn nữa là biển cả, có nhiều hải thuyền cỡ to thả neo ngoài khơi.

“Lần đầu tiên trong đời tôi thấy nước lớn như thế. Ngót hai tháng hành trình cơ cực xuyên rừng, chúng tôi quá vui mừng vì đã ra tới được cửa biển. Ngoài kia, những cánh buồm đẹp đẽ rung rinh trong nắng ấm chẳng khác nào niềm hân hoan bột phát trong lòng những người vừa tìm được con đường sống. Lòng người bớt sầu khổ thì tự nhiên cảnh vật cũng tươi sáng hẳn lên, chúng tôi hăng hái phấn khởi đi nhanh về phía trước.

“Chúng tôi còn cách bờ biển chừng một dặm thì có một đoàn giang thuyền Ðại Việt từ trong cửa sông Luộc, chỗ khúc quanh nơi chúng tôi vừa đi qua, lướt sóng tiến ra. Lúc những khinh thuyền này bắt kịp và chạy song song với bờ sông chúng tôi đang đi, binh sĩ trên thuyền hô hoán vẫy gọi, chúng tôi mừng quá vẫy lại. Tiếng hô hoán của họ càng về sau càng lớn nhưng bị bạt gió không nghe rõ và cử chỉ của họ lại càng thêm kích động, chỉ chỏ ngược xuôi, hình như có ý bảo chúng tôi phải chạy nhanh ra cửa biển. Hoang mang ngó quanh ngó quẩn, chúng tôi kinh hoàng thấy một đội mấy trăm kỵ binh Mông-cổ đang từ khúc quanh ồ ạt phi nhanh tới. Chúng tôi cũng đồng thời nhìn thấy toán dân quân ăn tết với nhau mấy ngày vừa qua bất ngờ xuất hiện và đang tấn công vào đội hình kỵ binh Nguyên. Không hiểu do đã biết trước về sự có mặt của quân Nguyên để bố trí sẵn một cuộc phục kích đón đầu hay là vì đi theo ngầm bảo vệ chúng tôi trên đường xuống vùng biển mà ngẫu nhiên chạm trán với đối phương, nhưng đơn vị dân binh này quá nhỏ đến nỗi muốn kìm chân địch lại cũng không nổi.

“Một số giang thuyền vội vã hạ buồm cho chậm lại có lẽ với ý định giúp chúng tôi, nhưng cập bãi những con thuyền đang thuận gió xuôi dòng như thế không thể nhanh chóng dễ dàng được. Trong khi đó thì địch quân đã đến gần lắm; mẹ tôi chỉ kịp hô mọi người chuẩn bị nghênh chiến, và thu xếp cho trẻ con cùng những người thương tật già yếu nằm xuống sau lưng những người cầm vũ khí. Mục tiêu của toán quân Nguyên này là những chiến thuyền vừa rồi của Ðại Việt, chúng tôi không may tình cờ có mặt ở giữa đôi bên. Toán kỵ binh đông đảo xông vào đoàn người chúng tôi như một cơn lốc xoáy cuồng bạo. Chỉ một lần cơn lốc chớp nhoáng đi qua; đoàn người chúng tôi còn lại có quá nửa. Nhiều kỵ sĩ Mông-cổ cũng đã bị thương vong. Có lẽ vì sự cản trở vô tình của chúng tôi đã bất ngờ gây ra tổn thất nên trước khi tiếp tục đuổi theo đoàn giang thuyền, họ cắt ra một toán dăm chục kỵ binh quay lại tấn công chúng tôi để trả đũa.

“Cô Diệp đứng cạnh mẹ tôi, tay cầm giáo, lưỡi cắm dưới đất để giữ thăng bằng. Máu từ trong người cô theo cánh tay chảy dài xuống cán. Tôi mải nhìn mẹ, không thấy cô Diệp chiến đấu ra làm sao, nhưng có lẽ vì cô là người tiến bộ nhất trong đám môn sinh của mẹ tôi nên sau đợt tấn công vũ bão vừa rồi cô vẫn chưa ngã gục. Tuy miễn cưỡng cầm cự được đợt tấn công mở đầu nhưng nhận biết lực lượng đôi bên quá chênh lệch, mẹ tôi cởi cái bao tượng buộc bụng đưa cho cô Diệp, bảo cô đợi bao giờ bà ra hiệu thì hai cô cháu chạy về phía quân nhà. Cô Diệp như không nghe thấy gì, mắt vẫn trừng trừng nhìn vào cơn lốc bụi của vó ngựa Mông-cổ mỗi lúc mỗi gần, cho đến khi mẹ tôi ghé tai cô thì thầm mấy câu gì đó, cô mới do dự buông giáo đón lấy bao tượng, quấn tôi vào trước ngực. Sau này tôi mới biết ngày hôm ấy mẹ tôi nhắc nhở cô Diệp rằng cô từng nói đã coi mẹ tôi là một người chị lớn, và hỏi cô tại sao trong cơn hoạn nạn này lại không chịu cứu đứa cháu của mình khi còn có thể cứu được? ‘Em hãy cưu mang lấy nó.’ Đó là lời trối trăng dịu dàng của bà!

“Mẹ tôi cầm ngọn giáo trong hai tay; mắt hướng thẳng đằng trước về phía những chiến binh Mông-cổ. Gió mặn từ biển khơi theo triền sông gờn gợn lùa vào mái tóc xổ của bà bay ra sau trông như từng đợt sóng lăn tăn đuổi nhau trên cái bờm dài của một con chiến mã. Buộc xong tôi vào người, cô Diệp mất sức khuỵu gối xuống thở hổn hển. Sau cùng, hai cô cháu tôi ôm nhau nằm lăn ra mặt đất. Tiếng vó ngựa dồn dập lại gần. Khi toán kỵ binh Mông-cổ lao nhanh vào chúng tôi thì tiếng thét lâm chiến của mẹ tôi chợt vút lên cao, lên cao như tiếng vượn hót nghe được ở bản Mường dạo ấy. Rồi tiếp theo là tiếng binh khí va chạm loảng xoảng chát chúa và tiếng người hò hét. Tất cả chỉ toàn là những âm thanh sát phạt. Lại một cơn lốc cuồng bạo nữa đi qua. Bây giờ chỉ có mẹ tôi và chưa đầy mươi người nữa còn đứng vững. Trong lúc nguy kịch như thế này, thêm bất cứ một người nào trong đám chúng tôi ngã xuống cũng là một mất mát lớn lao vô kể. Sau đợt tấn công, đội lính Mông-cổ cũng bị chết thêm một ít. Vài chục kỵ binh còn lại của họ bắt đầu chỉnh đốn người ngựa cho cuộc tấn công tới.

“Những giang thuyền lúc này đã trôi khá xa chỗ chúng tôi đứng, ra tới gần phía đông cửa biển một số mới cập vội được vào bờ. Binh lính tranh nhau đổ bộ nghênh chiến và giáp công với quân Nguyên lúc đó cũng đã vừa đuổi kịp tới nơi. Trong lúc đôi bên hỗn chiến, một toán quân thuỷ Ðại Việt tách ra khỏi lực lượng đổ bộ và từ đó chạy ngược lại về phía chúng tôi. Mọi người còn một chút hy vọng vì sắp được tiếp viện thì bỗng một vầng cát bụi mịt mờ dấy lên nơi khúc quanh ở hướng tây. Họa vô đơn chí, hàng nghìn chiến binh của đại quân Mông-cổ vừa xuất hiện từ xa sau lưng toán hai chục kỵ binh Nguyên còn lại. Không đợi đại quân của họ đến hội chiến, hai chục kỵ binh này quyết định khởi công đơn phương. Bề nào thì lực lượng của riêng hai chục kỵ binh này cũng đã gấp đôi của chúng tôi, cần gì đến đại binh của họ. Vô vọng trước một lực lượng địch đông đảo, mẹ tôi cúi xuống kéo cô Diệp lên. Cô nắm chặt lấy tay bà, hai người đứng im, đăm đăm nhìn vào mắt nhau bất động. “Ði!” mẹ tôi âu yếm nhìn chúng tôi, nhỏ nhẹ. Ngọn giáo trong tay bà thắm đỏ trong ánh hoàng hôn. Lực đã kiệt nhưng không biết lấy sức đâu ra, cô Diệp nhắm mắt lặng lẽ hít một hơi dài rồi mím môi mím lợi ôm tôi trong vòng tay che chở của cô, chạy thục mạng ra cửa biển. Định mệnh đã chia lìa mẹ con tôi giữa những tiếng thét lâm chiến cuối cùng ở nơi trận địa sắp tàn ấy.

“Người ta đón hai cô cháu tôi xuống thuyền nhỏ ở cửa biển, chèo ra khơi, chuyển sang một hải thuyền rất lớn. Trong hoàn cảnh khốc liệt ấy, đáng lẽ chúng tôi không thể sống nếu cô Diệp không vì muốn cứu tôi. Chính lòng vị tha của cô mà chúng tôi đã thoát hiểm.

Vừa lên thuyền thì cô Diệp đuối sức lăn ra bất tỉnh. Vì hai cô cháu tôi đã được buộc chặt vào nhau, người ta phải cắt cái bao tượng đẫm máu để gỡ chúng tôi ra khiến một mớ vàng bạc vụn và mấy cuộn giấy bản rơi vãi tung toé xuống sàn. Ngước lên, tôi bắt gặp đôi mắt rất trong sáng của một người đàn ông trung niên búi tó, đầu phủ khăn lụa toả rộng xuống hai vai, đang cúi nhìn xuống. Tôi khóc, đòi mẹ tôi. ‘Con sẽ gặp lại mẹ con,’ ông ôn tồn nói, rồi bảo tôi đang mệt mỏi cần ngủ một giấc cho lại sức. Giọng ông chan chứa niềm an ủi và có sức trấn tĩnh phi thường. Không biết cô Diệp đã tỉnh dậy chưa, tôi chui vào lòng cô mệt mỏi ngủ vùi. Người đàn ông trung niên đó là vua Trần Nhân-tông trên đường chạy vào lộ Thanh-hoá.”

Gió heo may cuối thu lành lạnh ngoài song, hiu hắt lùa vào qua ngưỡng cửa. Suối tóc óng ả xoã trên bờ vai người tôn nữ che khuất ánh nến leo lét sau lưng làm cho đôi mắt đã sầu muộn càng thêm phần u uẩn. Ngôi sảnh đường bỗng ngập tràn không khí buồn buồn lưu luyến của một thời xa xưa.

“Sau khi quân Nguyên thua chạy về bắc,” Diệu Trân tiếp, “cô Diệp và tôi theo hoàng thượng trở về Thăng-long sống trong nội cung. Trong mấy anh em chúng tôi, thái tử Thuyên lớn hơn cả. Huyền Trân lúc ấy còn bé lắm, và hoàng đệ Quốc Chẩn chỉ nhích hơn tôi có một tuổi. Sự nhớ thương mẹ tôi có phần nào nguôi ngoai đôi chút có lẽ vì thời gian học tập của hoàng gia quá nặng nề nhưng phần chính là nhờ niềm an ủi tinh thần của cô Diệp lúc nào cũng ở một bên. Vua Nhân-tông bận nhiều việc thưởng phạt, cải tổ, tu bổ lăng miếu, kinh thành, mãi sau mới gặp lại chúng tôi.

“Một trong những lần gặp gỡ, nhà vua lấy ra cái bao tượng rách của mẹ tôi và những cuộn giấy bản, tưởng đã bị thất lạc trên đường vào Thanh, trao trả cho cô Diệp. Cất giữ lâu ngày, những cuộn giấy bản cũ nay đã ố vàng nhưng vàng bạc vẫn còn nguyên vẹn. Vua Nhân-tông nói những tập giấy bản đó gồm mấy cuốn võ kinh của nhà Lý, một cuốn đao phổ của họ Khúc và một di cảo tự sự mẹ tôi viết về gốc tích họ Lý của phụ thân tôi, và về đời sống lưu lạc của bà từ khi thành gia thất cho đến thời gian dậy học ở thôn Lữ-dạ.

“Trong buổi sum họp đó, hoàng thượng đặt tên tôi là Diệu Trân, giải thích rằng tên mới của tôi đi đôi với tên của Huyền Trân là hàm ý về một cơ duyên ngài may mắn có được hai viên ngọc quý chúng tôi, hai đứa con gái huyền diệu của ngài. Ngoài ý nghĩa tình cảm tượng trưng ấy ra, ngài muốn tôi đừng bao giờ quên nguồn gốc của mình; vẫn là Tường Vân, họ Lý.

“Một đêm, chúng tôi giật mình thức giấc vì tiếng kẻng báo động. Cấm binh bắt được một tên thích khách đột nhập khu vực chúng tôi ở nội cung, nghe nói nguy hiểm lợi hại lắm, may mà không ai việc gì. Từ sau biến cố đó, ngoài chương trình giáo dục văn võ vốn đã khá nặng, nhà vua còn cho vời tướng quân Lý Tất Kiến cùng những môn khách của ông vào dạy dỗ thêm võ công cho cô Diệp và  ba đứa chúng tôi, kể cả võ kinh nhà Lý và đao phổ của họ Khúc.

“Tôi lên mười một. Tháng ba năm ấy, hoàng thái tử Thuyên lên ngôi. Vua Nhân-tông trở thành thượng hoàng về ở lộ Thiên-trường nhưng vẫn còn gián tiếp nắm giữ quyền bính như trước để giúp con. Đến tháng tám năm Hưng-long thứ bảy 1288 ngài mới rời Thiên-trường, lên núi Yên-tử xuất gia ẩn tu khổ hạnh ở ngọn Từ-phong.*5 Ðể giữ thể thống của triều đình, người ta ép Huyền Trân và tôi phải vào khuôn phép nhường nhịn Anh-tông, nhà vua mới, ít ra là bề ngoài. Chán thật, bỏ thói quen tốt thì dễ chứ chừa tật xấu thì khó quá. Tuy vậy, chúng tôi vẫn chưa xui xẻo cho lắm vì ít ra cũng còn lại hoàng đệ Quốc Chẩn để mà tròng ghẹo.

“Năm tôi mười bảy, hai chị em tôi theo Anh-tông lên Yên-tử thăm thượng hoàng. Lớn lên trong cung cấm, sống nếp sống vương giả tù túng, nhưng tâm hồn tôi vẫn hoàn toàn là của một đứa bé quê mùa phóng dật khi du hành qua những vùng suối đồi hoang dã. Tôi vẫn yêu cái sống và thích những món ăn của đồng ruộng, và vẫn rộn ràng sung sướng mỗi lần được rời khỏi kinh thành về miền thôn ổ…

 “Trên Yên-tử, ngoại trừ Anh-tông và Quốc Chẩn phải chấp lễ nghiêm trang quỳ dưới đất, hai đứa chúng tôi vừa thấy mặt thượng hoàng đã hớn hở xúm lại ngồi sát hai bên. Ngài nhìn ngắm chúng tôi một lúc rồi thở dài, ‘Giả như lòng dạ của con người chỉ đẹp bằng một nửa sắc diện bề ngoài của chúng mày thì thiên hạ làm gì có chuyện tranh giành mưu hại lẫn nhau,’ ngài nói. Khi ấy chúng tôi còn nhỏ dại tưởng đó là lời khen vội vàng cảm ơn rối rít, chưa hiểu được diệu ý của ngài.

“Sau khi hỏi han dặn bảo Anh-tông và Quốc Chẩn về quốc sự, thượng hoàng cho gọi một nhà sư ra chính điện. Ông khoảng trên bốn chục; có một vết kiếm thương từ dưới đuôi mắt trái chạy dài qua gò má xuống cổ rồi mất hút vào trong áo cà sa. Ngài bảo bốn chúng tôi ra mắt ‘chú Thích.’ Chúng tôi vái chào và lấy làm lạ vì rằng pháp tính của những người xuất gia đều lấy theo giòng họ Thích của đức Thích Ca Mâu Ni, nhưng trong tiếp xúc trực tiếp ngoài thế tục thường chỉ được gọi bằng pháp danh hay pháp hiệu. Ngoài ra, tại sao pháp danh của sư ông này lại chỉ có một tiếng ‘Thích’ không thôi, nghe cộc lốc và kỳ dị khiến hai chị em ôm bụng cười khúc khích. Quen thói được chiều lâu ngày sinh nhờn, Huyền Trân tinh nghịch hỏi là nhà sư ‘Thích gì?’ ‘Thích Khách,’ thượng hoàng đáp. Huyền Trân và tôi lại thêm một phen ngạc nhiên không nén được cười. ‘Các con quên vụ thích khách đột nhập hoàng cung mấy năm trước rồi hay sao? Chú Lý đây chính là người thích khách đêm hôm ấy,’ ngài nói.

“‘Con người ta đeo đuổi giấc mộng mưu bá đồ vương, đem tính mệnh của mình và của người ra đổi lấy những tham vọng ham muốn tầm thường thì chẳng có gì lạ. Chú Lý Thích Khách chỉ vì tìm cái con bé con này,’ nói đến đây thượng hoàng chỉ vào mặt tôi, ‘mà dám đơn phương xông xáo giữa một rừng gươm giáo, coi hoàng cung như chỗ không người. Ta nghĩ cái mật của chú hẳn phải to hơn cái chuông chùa Yên-tử nên giữ lại đem về đây để nghiệm xem có phải đúng như vậy không.’

“‘Thượng hoàng đã thử thỉnh cái chuông này chưa?’ Huyền Trân liếc vào nhà sư, hỏi. Hồi ấy còn nhỏ chúng tiểu nữ thích đùa nghịch và vô tư lắm. ‘Chuông không kêu,’ thượng hoàng nói. Ngài thường hay thân mật đùa như vậy mỗi khi trò chuyện, nhưng lần này có lẽ ngại chúng tiểu nữ còn nhỏ có thể lầm tưởng là ngài có ý đánh giá thấp nhà sư như chúng tiểu nữ đã hiểu nhầm ẩn ý của ngài khi so sánh lòng dạ con người với sắc diện bề ngoài của mình nên phải nói thêm, ‘Từ ngày về đây, sớm khuya bầu bạn với ta, chú ít nói lắm.’

“Thiết tưởng, thích khách là một trọng tội thường phải chịu cực hình nên tiểu nữ quên bẵng chuyện cũ, tưởng người thích khách năm ấy đã bị hành quyết, không ngờ người ấy còn sống và trở thành một nhà sư đang đứng trước mắt mình. Tiểu nữ đoán chắc nhà sư họ Lý này đã được gửi từ Biển Bắc về liên lạc với họ hàng, nhưng không biết ý định của chú là gì vì nếu chỉ đi tìm tiểu nữ thì không cần phải mạo hiểm nhập cung như thế. Cũng có thể chú định hành thích thiên tử nhà Trần để trả thù cho dòng họ Lý chăng. Nhân đấy tiểu nữ tò mò hỏi về thân thế ông. Nhà sư mặt sẹo hiền lành mỉm cười, ‘Ðại sĩ đây,’ ông hướng mắt về phía thượng hoàng, nói, ‘còn không màng đến thân thế của ngài thì phận tôi có đáng gì để mà nói.’ Tuy nhiên, chú cũng thuật qua hành trình của chú đến thôn Lữ-dạ trước khi về đến kinh đô.

“‘Chuông kêu rồi!’ Nghe nhà sư lên tiếng, Huyền Trân thích thú chỉ vào bụng nhà sư, cười ngặt nghẽo; nhưng thấy tiểu nữ không đồng tình cười góp nữa, vội vàng bụm miệng lại. Trước khi chia tay, thượng hoàng nhắc nhở đến những mẩu chuyện vui buồn về hai chị em chúng tiểu nữ lúc nhỏ khi ngài còn ở hoàng cung. Quá nhiều kỷ niệm xa xưa đã được gợi dậy trong buổi hàn huyên ngày ấy.”

Có tiếng mõ cầm canh từ xa vọng đến. “Ðã vào canh một rồi,” Diệu Trân thở dài. “Tiểu nữ kể chuyện chú Lý Thích Khách và nói thêm một vài điều có liên quan đến thân thế của mình để sư phó hiểu được tại sao Vương Trọng Liệt đã nói về một ‘Lý vương tử’ và gọi tiểu nữ là ‘Lý cô nương.’ Hơn nữa, tiểu nữ muốn nhờ sư phó giúp cho vài việc.”

Những lời trối trăng và từ biệt của công nương Diệu Trân

Phùng Kiến Lập trầm ngâm hồi tưởng lại những ngày Diệu Trân và Huyền Trân cùng lớn lên bên nhau ở cung cấm, cùng mang chung cái đẹp bên trong như nhau, nhưng tư dung mỗi người mỗi vẻ. Huyền Trân có nét đẹp lộng lẫy vương giả, hiện thân của một đoá hoa cao quý được chăm sóc uốn nắn trong ngự uyển, còn Diệu Trân lại thanh tú như cánh hoa sinh trưởng tự nhiên ở chốn cỏ nội mây ngàn. Ông chưa từng thấy có hai người nào lại thắm thiết được với nhau như vậy.

Thượng hoàng Trần Nhân-tông khó khăn với con trai nhưng lại nuông chiều hai cô bé bướng bỉnh này một cách đặc biệt. Triều thần tuyển chọn nhiều người tài giỏi vào dậy học; chỉ cần một cô không thích ai thì nhất định cả hai hùa nhau không chịu học người ấy, trong số có Trần Khắc Chung. Thường thì thái độ chống đối là do Diệu Trân đầu têu. Ðược cái, khi họ đã chấp nhận người nào thì chịu khó ngoan ngoãn chăm chỉ theo học.

Là sư bảo dậy thái tử và Quốc Chẩn, Kiến Lập thỉnh thoảng có dịp gặp gỡ hai cô bé này trong cung. Đôi khi hứng thú về một khía cạnh văn học nghệ thuật nào đó họ lại nhờ ông chỉ dậy thêm. Vì vậy, tuy không mang danh nghĩa sư đồ; họ vẫn gọi ông là “sư phó” và thường khi còn tự giản xưng là “tiểu nữ” theo lối dân giả một cách thân ái đối với bậc trưởng thượng, bỏ cả khuôn sáo ở chốn cung đình. Cái bản chất hồn nhiên ấy đã tạo nên tình thầy trò giữa ông và họ mật thiết hơn là giữa ông và những hoàng tử ông dậy.

Một trong những lý do Quốc Chẩn muốn ông du nam chuyến này cũng là vì tình thâm nghĩa trọng giữa ông và hai cô gái. Dù hiện tình khó khăn nghiêm trọng hiện nay có thể do Diệu Trân gây ra hay không, nhưng cô đã chọn ông để bộc lộ lai lịch và nỗi lòng của mình khiến ông cảm kích. Người con gái trước mặt ông là công nương Diệu Trân hay Lý cô nương, đối với vị lão sư giáo thụ, vẫn chỉ là đứa học trò nhỏ bé nghịch ngợm khả ái của những ngày xưa trong triều nội.

“Không biết công nương định sai phái chuyện gì, tự xét chưa biết mình có làm nổi hay không lão phu thật không dám đường đột nhận lời một cách hàm hồ,” Phùng Kiến Lập vuốt chùm râu đốm bạc, nói. “Nếu những việc công nương giao phó không quá quyền hạn và khả năng, lão phu sẽ xin tận lực.”

“Cảm ơn sư phó, tiểu nữ sẽ xin trình bày về vấn đề này.”

“Lão phu xin thỉnh mệnh.”

“Cô vào dùng cơm với Huyền Trân cho có bạn,” Diệu Trân quay sang nói với Hà Diệp. “Xong bữa, cô cùng Huyền Trân ra đây tiếp chuyện sư phó một thể.” Người đàn bà vẫn lặng thinh. “Cô hết chiều em rồi à?” Hà Diệp do dự một chút trước khi đứng lên. “Em biết ngay mà, trước sau gì thì cô cũng chiều em.” Người đàn bà dớm bước. “Cô làm ơn cười lên một tiếng cho người ta đỡ áy náy có được không?” Im lặng! “Mỗi ngày mà không hành cho em khổ một lần thì chắc là cô không thể chịu được?” Diệu Trân khúc khích cười. Hà Diệp đành quay lại, khoé miệng nhếch lên, không được tươi tắn cho lắm. Cũng là một nụ cười.

Trong phòng chỉ còn lại hai người. “Cảm ơn sư phó đã nhận lời hỗ trợ. Tiểu nữ thực tình không biết sẽ phải thu xếp ra sao nếu không có sự tiếp tay của sư phó. Bây giờ thì tiểu nữ hoàn toàn tin tưởng vào sự giúp đỡ của sư phó khả dĩ đáp ứng được dự tính khiêm nhượng của mình,” Diệu Trân mở lời. “Như sư phó đã biết trước, Khắc Chung và Đặng Văn đã không được diện kiến Huyền Trân từ ngày đến Chiêm quốc. Điều đó hoàn toàn do tiểu nữ quyết định và sắp đặt, bởi vì tiểu nữ có hai việc nhất thiết chỉ có thể trông cậy được vào một mình sư phó. Hiển nhiên, những trở ngại dễ làm thoái chí ấy đã buộc hai người không còn đường nào khác hơn là phải cử sư phó thay mặt đến đây với hy vọng giải quyết được những khó khăn mà họ đã không thể trực tiếp tự giải quyết. Rốt cuộc, tiểu nữ đã may mắn được gặp sư phó như đã liệu định. Cả Huyền Trân và Hà Diệp cô chưa ai hay biết gì về sự dàn xếp này.

“Việc đầu tiên tiểu nữ sở cậy có liên quan đến Hà Diệp cô. Khi mọi người rời thôn Lữ dạ, cô Diệp đòi ở lại đợi chú Sửu. Ai cũng xúm vào khuyên nhủ rằng ở cảnh ngộ khó khăn chú Sửu một thân một mình sẽ dễ bề xoay sở linh động hơn; có thêm mẹ con cô là có thêm một gánh nặng cho chú. Thúc ép mãi mới thuyết phục được cô đi. Từ ngày đó, lúc nào cô cũng trông ngóng tin tức của chú Sửu.

“Về sau, tiểu nữ dần dà nghe được một số việc có thể liên hệ tới tung tích của chú Sửu, nhưng trong đó có vài uẩn khúc đến nay vẫn chưa hiểu được. Thứ nhất, khi chú Lý Thích Khách tìm đến thôn Lữ-dạ thì nhà cửa ruộng vườn nơi đây đã bị thiêu hủy hoang tàn. Chú cho biết là mãi trung tuần tháng ba mới theo dõi được dấu vết của chúng tiểu nữ đến ngã ba Cây Gạo, rồi bản Mường. Lúc chú ra tới cửa Giao-thủy thì đã cuối xuân, dấu vết cuối cùng của đoàn người thôn Lữ-dạ ở đó chỉ còn là rải rác mồ mả giữa một vùng ngổn ngang gò đống. Chú Lý nhận được tên gia mẫu trên một trong những nấm mồ. Mộ chí lập vào thượng tuần tháng giêng, tiết lập xuân.

“Người địa phương cho chú Lý biết đại để là ngay sau trận đánh nhỏ đầu xuân năm ấy, đại quân Nguyên của Trấn-nam vương Thoát Hoan và thuỷ sư đại đô đốc Ô-mã-nhi đuổi theo đến nơi nhưng hoàng đế Nhân-tông và thượng hoàng đã vượt thoát ra biển. Điên tiết, họ xuống lệnh đốt phá nhà cửa và tàn sát dân chúng các làng trong vùng. Ngày hôm sau những người làng sống sót làng Tức-mặc từ nơi ẩn trốn kéo ra đã tìm được mảnh vải viết bằng ngón tay đẫm máu bên xác một người đàn bà. Trong di bút dở dang có ghi lại tên tuổi người viết, vài hàng vắn tắt về lai lịch dân Lữ-dạ, và bà cũng không quên nhắc đến đứa con mồ côi lạc lõng này. Dân làng đã mất nhiều ngày mới chôn cất xong người chết. Ít lâu sau, trẻ mục đồng báo tin có người đến khóc trước mộ dân Lữ-dạ. Khi dân làng kéo đến thì người ấy đã bỏ đi. Vị tiên chỉ nghe chuyện bèn viết bốn chữ ‘Lữ-dạ cô vân’ trên thẻ tre, sai người ra cắm bên mộ.

“Thứ nhì, trước khi gặp chú Lý Thích Khách, thượng hoàng có lần cũng đã nghe tiểu nữ kể lể sự tình về những ngày bôn ba từ Lữ-dạ, qua bản Mường cho đến khi ra tới cửa biển Giao-thủy. Ngoài thảm cảnh của dân Lữ-dạ, thượng hoàng còn cảm nhận được cả tiếng chim kêu vượn hót thảm não vào những chiều mưa buồn ở bản Mường ngày nào vẫn còn là một mối ám ảnh ray rứt trong lòng tiểu nữ, ngài thương cảm phái người ra biển tu sửa những mồ vô chủ của dân Lữ-dạ và của những người lính đã chết trong lúc giải cứu họ; tiện thể gửi muối và tiền bạc cho bản Mường.

“Nhận được quà của hoàng thượng, những người dân Mường chân phác hết sức cảm động và hãnh diện, họ cho biết là mẹ con tiểu nữ vừa rời bản được một ngày, thím Hạo đang đêm bỏ đi không tìm đâu ra được. Mươi bữa sau, có một kỵ mã độc hành mình mẩy còn mang đầy thương tích ghé qua bản dọ hỏi tin tức về dân Lữ-dạ. Sau đó không lâu, bản Mường bị du quân Nguyên tấn công đốt phá, họ chống trả rồi bỏ chạy vào rừng gần hai tháng. Nhiều người bị giết trong đó có ông tù trưởng. Khi họ trở về bản, lại có thêm một lữ khách khác, mặt có vết sẹo kiếm thương dưới đuôi mắt trái chạy dài qua gò má, tìm đến. Người lữ khách sau đích thị là chú Lý Thích Khách.

“Người kỵ mã độc hành mình mẩy mang đầy thương tích đã đến bản Mường trước chú Lý Thích Khách là ai? Người Lữ-dạ cô vân bí ẩn đã khóc trước mộ phần của dân Lữ-dạ là ai? Tất cả những điều ấy đều quy vào một mối. Ngoài cô cháu tiểu nữ ra, chỉ có Quách lão bá, chú Túc, chú Sửu và chú Hồi biết hết những người trong thôn. Giả sử Quách lão bá hoặc chú Túc đã tìm được đến đấy thì họ đều có khả năng tìm ra tung tích và liên lạc với tiểu nữ, ít nhất là qua trung gian tướng quân Lý Tất Kiến. Như vậy, còn lại hai người là chú Sửu và chú Hồi, cả hai chú ấy không biết chút gì về sự liên hệ giữa gia đình tiểu nữ với Lý tướng quân; vì thế, dù họ còn sống sót cũng khó có thể tìm ra cô cháu tiểu nữ. Ðó chỉ là một chút hy vọng mong manh, nhưng biết đâu? Dù sao, xin sư phó hãy bao bọc lấy cô Diệp khi về đến cố quốc, và hãy cố gắng giúp cô tìm lại chú Sửu.”…

“Thưa công nương, Bảo Bảo tướng quân đã cùng mọi người sẵn sàng nghênh đón lệnh bà, hiện đang tề tựu ngoài trang chờ lệnh,” người thể nữ thân tín nhất của Diệu Trân từ sảnh đường bước vào rưng rưng nước mắt thưa. Phùng Kiến Lập và Diệu Trân đều đã có dự kiến về việc này thế mà vẫn không tránh khỏi xúc động bàng hoàng.           

“Em trình lại với lệnh bà và Hà Diệp phu nhân,” Diệu Trân nói, “Bao giờ ta gọi, em hãy rước hoàng hậu đồng thời cho đem kiệu của lệnh bà và của ta ra sảnh đường. Bẩm với phu nhân nhờ bà thay mặt ta cắt đặt mọi người trong hậu đường chuẩn bị sẵn sàng. Khi nào ta loan báo hoàng hậu khởi giá thì Hà Diệp phu nhân hãy bắt đầu lên kiệu và hướng dẫn tất cả thị nữ Đại Việt ra đây nhập bọn với chúng ta ngoài này để lên đường hồi hương. Em đã thu xếp xong những gì ta đã dặn bảo trước đây chưa?”

Ngẫm đến cảnh người đàn bà tuẫn nạn sẽ âm thầm tự quấn mình trong chăn trên đường đến giàn hỏa để lúc được rước ra khỏi kiệu trước khi hỏa thiêu bà sẽ không còn phải nhìn vào cái cõi đời ô trọc này nữa và những kẻ ở lại cũng không ai có dịp được thấy mặt bà một lần cuối, người thể nữ không cầm lòng được, cô rũ rượi ôm mặt gục đầu nức nở thay tiếng trả lời.

Người thể nữ thân tín vừa khuất bóng vào hậu đường, Diệu Trân ra dấu vời Phùng Kiến Lập tiến lại gần hơn. Ngoài trời tối đen, gió bấc đem theo cái giá buốt thê lương từ những vùng sóc mạc hoang vu khắc nghiệt xào xạc về trên mái nhà cô quạnh. Nhìn vẻ đẹp huyền ảo của cô gái, ông chưa từng thấy ai trầm mặc đến như thế bao giờ. Giọng cô nhỏ nhẹ lẫn trong tiếng gió lộng ngoài hiên, chỉ vừa đủ lọt vào tai một mình vị sư bảo.

“Thưa công nương,” bàng hoàng nghe những gì Diệu Trân nói, Phùng Kiến Lập nóng lòng đợi cho cô vừa dứt lời, ông vội lên tiếng. “Hoàng thượng đã có chỉ dụ nhất thiết là phải đón hoàng hậu và công nương, cả hai cùng về nước.” Ông đã nhấn mạnh ở câu cuối cố tình nhắc đến quyết ý của nhà vua là phải đón cả hai người cùng về nước.

“Tiểu nữ có nghe qua về chỉ dụ này của hoàng thượng rồi, nhưng đó chỉ là một phần câu chuyện. Còn chủ ý của thượng hoàng ra sao?”

“Lão phu không nghe nói gì về chủ ý của ngài.”

“Không nói gì không hẳn là thượng hoàng đã không có chủ ý. Trước đây, sau khi quân ta thắng quân Nguyên ở trận Bạch-đằng, tiểu nữ không biết cá nhân nào đã nuôi dưỡng mối bất bình dai dẳng như vậy để đưa ra mưu kế giết Ô-mã-nhi ngoài biển sau khi triều đình hứa trao trả tù hàng binh cho Hốt-tất-liệt, điều mà chúng ta đã thật lòng thực hiện trừ mạng sống của tên bạo tướng khát máu ấy. Tuy còn nhiều uẩn khúc, nhưng sai lầm không gột rửa được ấy chẳng những chỉ gây thêm thù nghịch giữa hai nước mà còn làm cho thái thượng hoàng và thượng hoàng là những người nắm vận mệnh đất nước phải gánh chịu tai tiếng rất nhiều về hành động thất ước cho dù có biết trước sự việc này hay không. Hiện giờ, mặc dầu không khỏi đứt ruột đứt gan về đứa con bạc mệnh của mình, thượng hoàng vẫn không muốn và cũng không thể thêm một lần nữa dính líu vào một chuyện bội ước có phương hại đến thanh danh ngay thẳng của Đại Việt, cho nên ngài không nói gì là phải. Và trong niềm tĩnh lặng trên ngọn Yên-tử, ngài đang âm thầm chiến đấu cuộc chiến sau cùng khó khăn nhất của một chiến sĩ dành cho đất nước của mình. Anh-tông là người có tình ruột thịt như phụ hoàng nhưng không có được cái lòng dạ của ngài. Dù sao chăng nữa, với một lực lượng trừ bị yếu kém của Khắc Chung như thế, hảo ý cứu em của nhà vua không thể miễn cưỡng thực hiện được.”

“Chúng ta có năm trăm võ sĩ và hơn hai trăm tuyệt đại cao thủ hiện đang túc trực trong cảng, thưa công nương.”

“Ngần ấy người không đủ đối phó với lực lượng đông đảo của hoàng gia Chiêm-thành. Họ có thừa khả năng trấn áp toàn bộ nhân lực của ta.”

“Là một nhân vật đầy bản lãnh, Trần thượng thư quyết sẽ tuân thủ hành động theo thánh chỉ nên rất nhiều vệ sĩ sang đây chuyến này do chính tay thượng quan nhân tuyển lựa. Họ là những cao thủ kiệt xuất của chúng ta,” Phùng Kiến Lập đang cố gắng thuyết phục Diệu Trân nhưng nói đến đây ông bỗng lúng túng ngập ngừng khi chợt nhớ đến Vương Trọng Liệt là một trong những cao thủ lợi hại vào bậc nhất của toán võ sĩ chọn lọc mà chỉ mới xuất thủ đã bị người đàn bà vô danh khống chế.

“Tiểu nữ không nghĩ rằng thánh chỉ lại đưa ra một kế hoạch liều lĩnh như vậy.”

“Dạ không, thưa công nương.”

“Đó là do Trần Khắc Chung sắp đặt, nhưng vì kế hoạch dụng võ vào lúc này đầy rẫy những khó khăn bất trắc nên người ấy đã không có đủ gan dạ tự tay thực hiện mưu đồ đen tối của mình mà đùn cho sư phó thay thế làm chuyện liều lĩnh không đi đến đâu này để có thể phủi tay trong trường hợp thất bại.” Cô mỉm nụ cười buồn rồi nói tiếp, “Khi thượng hoàng quyết định gả Huyền Trân cho thái tử Bổ-đích, trong triều ai cũng không bằng lòng, chỉ có Đạo Tái và Khắc Chung thuận theo. Đạo Tái là bậc thiếu niên anh tuấn sở dĩ đã không chống đối vì ông hiểu lòng dạ ngài đã đặt quyền lợi của hai dân tộc lên trên tình riêng. Còn như Khắc Chung theo gió thuận chiều chỉ vì muốn đẹp ý ngài. Con người này thông minh can đảm nhưng tâm địa điên đảo, phẩm hạnh bất đoan, chỉ cốt được việc cho mình mà không đoái hoài đến hệ quả người khác phải gánh chịu; bây giờ lại gieo gió, sẵn sàng gây đổ máu cố ý tìm cách đem Huyền Trân về nước bằng mọi giá là để chiều lòng hoàng thượng mà thôi.

“Tạm gác bỏ cái toan tính vị kỷ của Khắc Chung sang một bên, chúng ta hãy xét đến hậu quả của nó. Năm xưa, trước khi nguyên soái Toa Đô đem quân vào Thị-lị-bị-nại, thượng hoàng đã nhìn được thâm ý của Nguyên chủ, một đối thủ quyết tâm thôn tính cả Chiêm-thành lẫn Đại Việt. Ngài hiểu rằng trong tình trạng cấp thiết Chiêm-thành và Đại Việt cần phải nương tựa lẫn nhau để đương đầu với một đế chế hiếu chiến. Cấp thiết đến độ thượng hoàng chẳng những không chịu nhân nhượng cho quân Nguyên mượn đường sang đánh Chiêm mà còn gửi viện binh hộ chiến. Đồng thời ngài cũng thấy được cái bản sắc hào kiệt nơi thái tử Bổ-đích mà chọn mặt gửi vàng.” Diệu Trân khẽ thở dài, nói, “Sở dĩ Chiêm vương cầu hôn cũng vì kính trọng viễn kiến của ngài. Anh hùng tao ngộ, cảm kích lẫn nhau, họ đã làm cái việc mà người thường không làm nổi, đã tạo được một mối giao hảo tốt đẹp mà chúng ta nên gìn giữ.

“Ta nên nhớ là sự liên minh tích cực của Đại Việt và Chiêm-thành trong công cuộc kháng Nguyên năm ấy chẳng phải chỉ dựa trên lợi ích bảo vệ chủ quyền của nhau trong phạm vi cuộc chiến không thôi mà còn mang ý nghĩa rộng rãi hơn về mặt lịch sử láng giềng. Chiêm-thành trở nên một vương quốc tự hào cả nghìn năm nay không phải vì đã đồng minh hay dựa vào chúng ta trước đây mà có, cũng giống như Đại Việt là một vương quốc tự trị không phải là nhờ cậy vào sự giúp đỡ của những nhà cai trị từ phương bắc. Do đấy, sự hợp tác giữa hai nước là một lựa chọn khôn ngoan và cần thiết cho tình trạng bình ổn lâu dài của toàn vùng. Bởi vậy, muốn giải quyết bất cứ khó khăn nào trước mắt, chúng ta cũng cần phải công bằng nghĩ đến những mối quan tâm của cả đôi bên. Vì những lý do sâu xa đó, giả sử ta có ý ra mặt gây hấn và bọn võ sĩ hành động thành công thì bất quá cũng chỉ đạt được cái mong muốn thường tình của hoàng thượng. Ham cái lợi nhỏ mà bỏ mất đi cái thành tựu lâu dài là mưu đồ thắng lợi nhất thời chứ không phải tính chuyện trường cửu. Mục đích của chúng ta là giải quyết vấn đề này càng yên ổn càng tốt, và tìm mọi cách ngăn ngừa một cuộc chiến tương tàn. Dựa vào ưu thế của mình để tìm một thắng lợi giai đoạn chỉ khiến cho tình hình đã tệ lại càng thêm tệ, và chắc chắn sẽ tạo mối hiềm oán khó bề hàn gắn sau này.”

“Cứ theo như kế hoạch của công nương thì mối bất hoà, nặng hay nhẹ, giữa Chiêm-thành và Đại Việt cũng vẫn sẽ xảy ra chẳng chóng thì chầy không thể nào tránh được. Đã không tránh được thì hà tất ta phải quá hy sinh?” Phùng Kiến Lập lại cố thuyết phục.

“Hiển nhiên là không thể tránh được, nhưng nếu đã phải kén cá chọn canh thì sao ta không lựa cái ‘nhẹ’ hơn là phải gánh vác lấy cái ‘nặng’ làm gì? Đắc thất là lẽ thường, làm sao có thể giữ trọn sở ước mà không chịu mất mát thiệt thòi đôi chút. Những hậu quả đáng tiếc sau này do quyết định của chúng ta hôm nay, cứ đổ diệt lên đầu tiểu nữ để tránh khỏi tình trạng rạn nứt sâu xa thì dù mối bất hòa giữa đôi bên nếu có căng thẳng chắc cũng có thể hàn gắn, không đến nỗi quá trầm trọng. Tiểu nữ mong chờ sư phó đến đây vì cần một người quán triệt nhân tình giúp đỡ mới không làm hỏng cái công nghiệp bất hủ của thượng hoàng, và cũng không đến nỗi hoàn toàn phụ lòng vương tể Chiêm-thành, người có đầy nhiệt huyết với đất nước ông và cũng là người giàu tình với quê hương của hoàng hậu. Thượng hoàng muốn để lại cho hậu thế một công nghiệp lâu dài, đó chính là điều mà chúng ta may mắn được thụ nhận.” Nét mặt Diệu Trân bỗng trở nên trầm tư mặc tưởng, cô ngước nhìn Phùng Kiến Lập thật lâu rồi mới lại nói tiếp, “Sư phó …”

“Lão phu cung kính lắng nghe,” Phùng Kiến Lập nói, “nhưng rất tiếc không thể tuân mệnh công nương được.” Ông vẫn còn đang cố xoay trở tình hình.

Diệu Trân uy nghiêm nhìn Kiến Lập, cô thở dài nói bằng lời lẽ dứt khoát rõ ràng, “Đã đến lúc sư phó ra gặp Bảo Bảo tướng quân theo nghi thức tiễn đưa hoàng hậu. Đệ tử còn cần đôi chút thì giờ thu xếp mọi việc trước khi cáo biệt, xin sư phó chuyển lời tiểu nữ vấn an Văn-nghi hầu. Hãy trao cái trâm của tiểu nữ cho ông và nhắn với ông là …, là …” Giọng chao động vì xúc cảm, cô nghẹn ngào nhưng không dứt được lời chia tay. Vẫy gọi thể nữ; nét mặt cô buồn như đóa cúc vào độ tàn thu

Ý cô đã quyết. Thái độ cứng rắn của Diệu Trân khiến cho Phùng Kiến Lập sững sờ không nói được gì nữa. “Có lẽ vì sớm mồ côi cha mẹ và phải chịu đựng quá nhiều thử thách cùng những mất mát bi thảm lớn lao trong cuộc chiến tàn khốc có thể là một nguyên nhân phát sinh ra cách nhìn đời yếm thế nơi người con gái đạo hạnh tràn đầy nhựa sống này,” vị lão sư nghĩ. Ông đã cố gắng, bây giờ có nói thêm cũng bằng vô ích vì ông còn lạ gì cái tính khí cương ngạnh của cô. Khi vua Anh-tông mới lên ngôi rất thích uống rượu, sợ thượng hoàng biết, cấm mọi người không ai được mách. Một hôm, thượng hoàng từ chùa ở lộ Thiên-trường đột ngột về cung thiết triều nhưng không thấy Anh-tông ra đón. Nghi nhà vua uống rượu say, ngài đưa mắt nhìn quần thần dò hỏi nhưng không ai dám nói gì. Khi nhìn đến Diệu Trân thì cô gật đầu. Thượng hoàng nổi giận lập tức trở về chùa. Lúc tỉnh rượu, Anh-tông cả sợ vội vàng dâng sớ xin tha tội. Đọc sớ xong, thượng hoàng vẫn còn giận, hỏi ý quần thần xem Anh-tông có chắc chắn hối cải, lại cũng không có ai dám đoan chắc, duy một mình Diệu Trân quả quyết tin tưởng vào thực tâm của nhà vua. Từ đó, Anh-tông không uống một giọt rượu nào nữa. Người ta còn kể rằng hồi nhỏ có lần Quốc Chẩn bị Diệu Trân và Huyền Trân bắt nạt, chạy đến mách với Anh-tông, khi đó còn là thái tử Thuyên. Thái tử không bênh em, chỉ lắc đầu khuyên Quốc Chẩn đừng bao giờ chọc ghẹo vào “hai cái tổ ong” ấy. Đến như tình nghĩa của cô gắn bó với  Nhân-tông sâu đậm là thế mà khi nói về vụ bội ước giết Ô-mã-nhi, người mà cô rất oán ghét, Diệu Trân vẫn không ngần ngại che đậy nỗi bất bình của mình. Cô đã không sợ hãi phơi bầy cái phần đen tối của lòng người để tìm cách chế ngự và vượt thắng chứ không ấp ủ nuôi dưỡng nó cho dù có phải nhận chịu những hậu quả thiệt thòi khó khăn. Mới đây, cô vừa nói rằng “trong niềm tĩnh lặng trên ngọn Yên-tử,” thượng hoàng Trần Nhân-tông “đang âm thầm chiến đấu cuộc chiến sau cùng khó khăn nhất của một chiến sĩ,” Phùng Kiến Lập chợt thấy ra trong tình huống tuyệt vọng trên bờ biển xa lạ này, thật là trớ trêu, chính cô cũng đang chiến đấu cuộc chiến khó khăn nhất của mình.

Thấy hai thể nữ từ trong hậu đường vén rèm đi vào khách sảnh, Diệu Trân chậm dãi đứng lên nghiêng đầu chắp tay tống biệt Kiến Lập. Cửa tiền đường vừa mở, gió từ bên ngoài đem theo cái giá buốt tràn vào, dập dờn khép mở tà áo người tôn nữ. Hai ngọn hồng lạp cháy dở trên bàn thờ Quan-âm sau lưng Diệu Trân chập chờn rồi vụt tắt làm cho không khí trong đại sảnh càng tăng thêm phần huyền bí.

Trong gian sảnh đường vừa chợt tối, Diệu Trân tóc xõa ngang vai, nét hoa ủ dột với nụ cười héo hắt trên môi; đôi mắt u uẩn mông lung hướng về một chân trời xa xăm vời vợi. Phùng Kiến Lập mím môi cung kính nghiêng mình vái chào từ biệt, dùng dằng trở bước. Trước mặt ông, hàng trăm bó đuốc bập bùng trong đêm đen của vệ kỵ binh hoàng gia Chiêm-thành đang nghiêm chỉnh xếp hàng chờ đợi. Hai hàng vệ sĩ Đại Việt vẫn lặng lẽ đứng bên ngoài cửa tiền sảnh như những pho tượng uy nghi trong sân thái miếu. Phía sau trang cũng có ánh lửa hắt lên rực sáng cả xóm chài. Quả như lời Diệu Trân nói, quân Chiêm đã bố trí khu vực này rất chặt chẽ. Giả thử Trần Khắc Chung có đem theo vài nghìn võ sĩ nữa cũng không thể đánh cướp được hoàng hậu ra thoát khỏi cửa khẩu Hải-hạc-đàm. Sau khi mắt đã làm quen với ánh đuốc, Kiến Lập thong thả bước tới.

Hai viên tướng chỉ huy Chiêm binh xuống ngựa. Họ mặc chiến phục bằng vải dệt thô, đầu trần, không mang đai giáp. Người trẻ tuổi có nước da ngăm ngăm với cặp mắt sâu, mũi cao, tóc búi gọn ra sau, tự báo danh là Bảo Bảo, rồi hướng sang vị tướng già có bộ tóc quăn muối tiêu thả dài xuống vai, giới thiệu ông là tướng quân Kiều Tuyến. Kiến Lập cũng tự giới thiệu rồi cùng nhau vái chào.

Chiêm binh người ngựa đông đảo nhưng kỷ cương nghiêm túc, hàng ngũ chỉnh tề im lặng ngoại trừ tiếng ngựa hý hay dẫm chân tại chỗ. Trước đây, Kiều Tuyến và Bảo Bảo đã nhiều lần gặp gỡ Trần Khắc Chung và Đặng Văn, nhưng với Phùng Kiến Lập là nhất kiến nên đôi bên có phần bỡ ngỡ. Họ mới kịp trao đổi với nhau được vài câu xã giao thì thể nữ ra mở cổng, loan báo hoàng hậu và công nương Diệu Trân xuất trang. Bảo Bảo xin lỗi Phùng Kiến Lập phải bỏ dở câu chuyện rồi ông sai vệ sĩ Chàm lực lưỡng tiến vào cổng trang, nhập bọn với các vệ sĩ Đại Việt. Những vệ sĩ này được giao nhiệm vụ khiêng kiệu. Họ cởi phần trên áo khoác để hở một vai trần theo tập tục, cùng nhau đi theo thể nữ vào trong.

Một lúc sau, có bốn thể nữ Chiêm-thành từ tiền sảnh khoan thai yểu điệu đi ra mở đường cho bà bóng dẫn đầu một đám rước gồm hai hàng phó tế và tục gia đệ tử. Bà bóng mặc áo dài xám nhạt, khăn quấn tóc và đai lưng đều màu trắng, tay phe phẩy quạt nan dù tiết trời giá lạnh. Ngay sau lưng bà, hai thiếu nữ ăn mặc sô gai nhảy múa theo tiếng lễ nhạc trong vũ điệu nghênh tiếp tử thần. Mọi người theo sau đều chân bước uyển chuyển theo từng nhịp trống đôi Baranâng và Gineng cùng với tiếng hát rung cảm lòng người và giai điệu đàn nhị tang quy Kuni Kura ai oán não nùng trong nghi thức tống tiễn của hoàng gia Chiêm quốc. Một nghi lễ múa hát là lạ đang diễn ra trước mắt Phùng Kiến Lập.

Cũng từ trong tiền sảnh tiến ra, bốn vệ sĩ Chiêm-thành khiêng một cỗ kiệu đầu đòn khắc con Linh điểu biểu tượng của quyền năng mà Nhật-thiên-vương vẫn thường cưỡi. “Hạ mã,” người vệ sĩ cầm lọng tía đi sau, hô lớn. “Hoàng hậu giá lâm.”

Đám đông xuống ngựa nghiêm trang đứng im lặng khi đoàn rước cỗ kiệu của hoàng hậu Đại Việt tiến đến trước hàng vệ binh Chiêm-thành rồi rẽ sang phải di chuyển về hướng giàn hỏa dựng trên đồi Knor. Những thể nữ đồng loạt quỳ xuống làm lễ nhất bái tam khấu. Một mối u sầu đè nặng lên tâm tư của mọi người; ai nấy nước mắt ròng ròng tiễn đưa người đàn bà cô đơn trên đường đi về một phương trời khác. Thanh nhạc hòa nhập cùng nhịp trống điểm và âm hưởng não nuột từ những ngón tay mềm mại lướt trên phím đàn tang quy từ xa đang chuyển dần vào một cõi nhạc buồn thấm thía.

Phùng Kiến Lập cùng Bảo Bảo và Kiều Tuyến khấu biệt. Kỵ binh Chiêm-thành được lệnh lên ngựa. Kiến Lập nhìn theo đoàn hộ tống cỗ kiệu của hoàng hậu mỗi lúc mỗi xa, ông bỗng nghiêng mình xá một xá thật sâu. Đời ông chưa một lần chào kính ai trịnh trọng như vậy. Ngay cả khi vái lậy trước hoàng đế khi ông còn là đệ nhất phẩm đại thần tại triều, hàng đầu trong cửu phẩm văn giai.

Khi Phùng Kiến Lập ngửng đầu lên thì đoàn múa hát đốt đuốc rước kiệu cùng với những thể nữ Chàm theo sau đang từ từ đi xuống cuối xóm chài và những đội kỵ binh hoàng gia cuối cùng trước cổng trang cũng đang lần lượt nối đuôi nhau lên đường. Bên cạnh ông, toán vệ sĩ Đại Việt hộ tống đang đứng im chờ đợi, trên vai họ là cỗ kiệu khắc phượng màu vàng ở đầu đòn, biểu hiệu của dòng tôn thất. Nhìn thấy những thể nữ mảnh khảnh xếp hàng bên kiệu, hai tay ôm trước ngực co ro thu mình trong áo ấm, Kiến Lập mới nhớ ra là trời đang rất lạnh. Ông uể oải lên ngựa, lòng băng giá không còn cảm nhận được cái tê buốt của những hạt mưa bụi bám trên mặt.

Vị sư phó ra đến bến thì những tấm ván dầy đã được bắc sẵn từ trong bờ ra thuyền. Trên sông nước bồng bềnh, tám vệ sĩ chia nhau khiêng hai cỗ kiệu trên vai bằng những đòn ngang thoăn thoắt bước trên ván cầu. Họ nhẹ nhàng đặt kiệu xuống khoang một chiếc thuyền lớn nhất, động tác vững vàng như trên mặt đất. Thuyền ra khơi, anh em họ Lý và Trần Biều theo chân Phùng Kiến Lập rời bến trên một con thuyền nhỏ.

Đứng trên khoang giữa, Kiến Lập quay nhìn hàng lửa đuốc giờ đã lập lòe sau những rặng cây ngoài cuối xóm. Ngoại trừ ánh sáng tỏa ra từ hai ngọn đèn bão lủng lẳng trước trại binh và trên xà tầu ngựa, bãi biển chìm trong bóng đêm của cuối tháng mười tịch mịch. Tình hình có vẻ ổn thoả, nhưng Diệu Trân đã dặn dò ông nên tìm cách tạo tình trạng rối loạn vô hại trước khi khởi hành cốt để giữ cho Chiêm binh bận rộn không thể rảnh tay trong trường hợp xảy ra biến cố bất thường. Ông ngó Trần Biều, gật đầu.

Biều lập tức ra hiệu cho thuỷ thủ giảm chèo, chỉ khua động vừa đủ cho thuyền ngưng lại trên mặt nước, hướng mũi vào đầu gió. Còn quá gần bờ; thuyền nhấp nhô chòng chành theo những đợt sóng dạt dào làm cho mọi người phải cố gắng lo giữ thế thăng bằng. Riêng Trần Biều vẫn thoải mái vô tâm đứng ở khoang lái, hai chân dính chặt xuống ván thuyền vững vàng như rễ cây bén sâu trong lòng đất. Rễ bám càng sâu thì cây càng vững. Người cung thủ thong thả nâng cung, quên hết ngoại cảnh trừ đôi mắt dán chặt vào hai ngọn đèn bão lấp lánh ngoài xa chẳng khác gì sự chú ý hồn nhiên của một đứa trẻ vô tư lự. Đuôi sợi tơ buộc trên đầu cánh cung theo gió từ Biển Đông lất phất xuôi về hướng tây bắc. Khoảng cách từ mũi tên vào đến trong bờ ướm chừng trên dưới một trăm tám mươi thước một chút, và từ mé nước lên cây đèn bão trước cổng chuồng ngựa chỉ mười bốn thước là cùng. Gió, nước, khoảng cách và những chuyển động trong không gian không bao giờ cố định. Thời gian ngưng đọng trong trạng thái tập trung ráo riết cho phép người cung thủ điều chỉnh những sai biệt và thay đổi theo bản năng.

Cầm cánh cung tạ có sức bắn tên nặng ra một tầm rất xa và rất nhanh, nhưng những ngón tay Biều lại uyển chuyển nhẹ nhàng như đang nắm giữ một sinh vật mong manh, không chặt quá để khỏi làm nó bị thương, và cũng không lỏng quá để bị vuột mất. Lúc buông dây, họ Trần đã trút bỏ mọi tạp niệm của mình để hợp nhất với cây cung. Cung không có vọng niệm.

Tiếng bật giây cung thanh thoát chỉ như làn gió thoảng trên dòng suối, mũi tên đầu vừa chìm vào màn đêm thì mũi thứ nhì đã nối tiếp theo sau bay vào bờ. Xong xuôi, Trần Biều khoác cung lên vai, vẫy tay cho thuỷ thủ động chèo. Con thuyền nhẹ nhàng cưỡi sóng ra khơi. Trước những hoàn cảnh nghịch thường như vậy, người đại cung thủ ấy vẫn luôn luôn giữ được khả năng hành động chuẩn xác, kịp thời, chưa hề bị lúng túng sai lầm bao giờ cả.

Trong bờ, hai chiếc đèn bão treo trên kèo cái trước cái sau vỡ tan, dầu lửa bắn tung toé trên mái tranh, trên vách lá dừa và trên máng cỏ, bùng cháy. Tiếng huyên náo và bóng người cứu hoả bắt đầu đôn đáo dọc ngang trên bãi biển nhưng ngọn lửa đã theo gió lan bén khắp nơi. Cổng tầu ngựa bị xập đổ, những con chiến mã sổ chuồng lồng chạy tứ tung. Ngược gió từ ngoài khơi, âm thanh náo động, tiếng vó câu rồn rập lẫn trong tiếng ngựa hí hoảng loạn cũng vẫn còn nghe được.

Ngoài khơi, Trần Khắc Chung từ soái thuyền xao xuyến bồn chồn nhìn ra những bóng đen của đoàn thuyền Đại Việt đang chậm chạp rời bến cùng lúc những đám cháy bộc phát và Chiêm binh tập hợp đông đảo trong bờ. Tình hình thật đáng lo ngại. Triển vọng hoàn thành công tác hiển nhiên không mấy khích lệ; ông hằm hằm đảo mắt lướt nhanh trên những chiến thuyền Đại Việt bố trí trong bóng tối bên mạn trái của soái thuyền trong vị thế chuẩn bị đổ bộ để suy nghĩ về những gì có thể xảy ra và những gì có thể hành động. Nhưng những gì không chắc chắn vẫn là những điều ông hằng lo sợ, Trần Khắc Chung hiểu rằng một khi chưa gặp Phùng Kiến Lập, chưa nắm vững được tình hình thì ông vẫn chưa có thể có quyết định nào thích nghi với hoàn cảnh để giải quyết vấn đề. Những con thuyền bồng bềnh trái gió ngoài kia hầu như không di động trên mặt nước, nhưng quan hành khiển không có cách nào khác hơn là chờ đợi. Ông đã phải đợi thật lâu, rồi còn lâu hơn nữa.

Thuyền chở khẳm trên chuyến về quả có chậm thật nhưng chèo mãi rốt cuộc rồi cũng tới. Khi hai cỗ kiệu chạm đầu phượng vàng hiện rõ dưới ánh đèn bão trên cột buồm bên mạn phải của soái thuyền mà vẫn không thấy kiệu của hoàng hậu thì Trần Khắc Chung lại càng thêm phần tuyệt vọng.

Không mảy may quan tâm đến hai cỗ kiệu vừa được gọn gàng chuyển lên đặt trên sàn cùng với đám đông thể nữ theo hầu, Khắc Chung nôn nóng đợi Phùng Kiến Lập và Lý Sóc lên thuyền. “Lệnh bà đâu rồi?” vừa thấy họ ông đã hấp tấp chỉ tay vào mặt, dữ tợn gầm lên vặn hỏi trống không.

Được Phùng Kiến Lập gật đầu chấp thuận, hai thể nữ vén rèm cỗ kiệu thứ nhất, dìu đỡ ra một thiếu phụ yếu đuối hai mắt nhắm nghiền, đầu ngả trên vai một cô. Nước da xanh tái trên khuôn mặt hôn mê cũng không làm mất đi cái tư dung đài các của Huyền Trân trong triều phục lộng lẫy.  

“Lệnh bà,” Khắc Chung giật mình sững sờ vì kinh ngạc, lắp bắp, “Lệnh bà!”

Thuỷ chung, Phùng Kiến Lập vẫn không nói gì hoặc trả lời câu hỏi nào của Trần Khắc Chung; ông còn đang quá xúc động khi nhìn thấy Hà Diệp lúc này vừa tự ra khỏi cỗ kiệu thứ nhì. Biết bao nhiêu lo lắng buồn phiền nặng trĩu trong lòng Phùng Kiến Lập qua những sự việc dồn dập xảy ra chỉ nội trong một buổi chiều đến nỗi ông đã quên khuấy mất người đàn bà võ công cái thế này. Dĩ nhiên ông biết Diệu Trân không trở vế xứ sở, nhưng sự xuất hiện bất ngờ của Hà Diệp làm ông sững sờ; thì ra Diệu Trân đã không nói cho bà biết về quyết định tối hậu của cô. Vẻ mặt của Hà Diệp chìm đắm trong đau khổ, người đàn bà thảng thốt một tay đưa lên che miệng; tay kia thoăn thoắt giải khai huyệt đạo cho Vương Trọng Liệt và Trần Tích trong khi họ đang được chuyển từ thuyền dưới lên soái thuyền. Đôi mắt bà mở to đầy ngạc nhiên, ngơ ngác hết nhìn công chúa Huyền Trân rồi lại nhìn Kiến Lập nửa như muốn hỏi, nửa trách móc.

Nghĩ đến Diệu Trân và Hà Diệp; Phùng Kiến Lập tự hỏi tại sao muốn đạt được một điều gì có ý nghĩa lại cứ phải đánh đổi mất một cái gì quý báu khác. Ông bỗng nhớ lại lời nói của cô gái mới đây, rằng “Đắc thất là lẽ thường, làm sao có thể giữ trọn sở ước mà không chịu mất mát thiệt thòi đôi chút!” Kiến Lập buông tiếng thở dài cảm thán; có nhiều lúc con người ta đã buộc phải hành động ngược lại với sở nguyện, đã bỏ quên cả tình cảm của riêng mình. 

Những ý tưởng luẩn quẩn trong đầu Phùng Kiến Lập thình lình bị dứt đoạn vì tiếng quát “Phùng lão tặc” rất to của Trần Khắc Chung. Nguyên lai khi hai cỗ kiệu được đem lên soái thuyền, quan thượng thư không hề nghi ngờ là người được đón ra khỏi kiệu lại là hoàng hậu. Vị đại thần đã kinh ngạc nhìn thấy một Huyền Trân rũ rượi, đôi vai rủ xuống như một cái xác không hồn. Trong lúc lo âu quá đỗi mất khôn, phản ứng nóng giận bồng bột của Khắc Trung là hốt hoảng thét lên đồng thời vươn tay chụp xuống vai Kiến Lập, nhưng liền bị Lý Sóc đứng bên bắt lấy cổ tay giữ lại. Thêm một lần kinh ngạc, Khắc Chung mở miệng nhưng đau quá không thốt nên lời. Sẵn biết quan nhập nội đại hành khiển là người thiếu phẩm giá; Kiến Lập vẫn không ngờ người ấy lại có thể thô bỉ đến như vậy.

“Lệnh bà chỉ bị nhiễm mê hồn hương, khoảng nửa đêm sẽ tỉnh lại,” dứt lời, Lý Sóc lạnh lùng buông cổ tay Khắc Chung ra. Họ Lý không ngạc nhiên về sự hoán đổi giữa Huyền Trân và Diệu Trân vì đã được Phùng lão sư cho biết trước sự tình ngay khi thuyền rời bến.

Ở vùng biển, thiên hạ làm xà du phấn bằng trứng và xương toàn bộ của ba loại cạp nong biển khác nhau. Nọc của loại rắn biển này độc hơn bất cứ loài rắn nào sống trên cạn. Đem xà du phấn trộn với mã tiền tinh, kỷ tử, hạt bưởi và củ đậu, hong khô trên vỏ đại, rồi tán ra thành bột nhào nhuyễn mà luyện mê hồn hương. Đạo tặc thường dùng hương này xông khói cho nạn nhân hôn mê. Uống phải nọc rắn biển đã chế biến với những độc tố khác trong hợp chất sẽ bị co giật cho đến chết. Nhưng mê hồn hương chỉ làm cho người ta bị bất tỉnh, lâu mau tuỳ theo lượng khói nhiễm vào phế phủ.

Cắn răng nhịn đau, Trần Khắc Chung bậm môi phất tay ra lệnh. Một vệ sĩ của quan hành khiển lập tức hoành ngọn mâu sa ngư nha đâm vào lưng Lý Sóc; đồng thời một vệ sĩ khác đứng dưới cột buồm cái vung tay phóng ra một loạt hai lưỡi truỷ thủ, một lưỡi bay đến Lý Sóc như tia chớp, lưỡi kia bay thẳng vào gáy Phùng Kiến Lập trong lúc ông vừa đang quay gót ngao ngán bước đi bỏ về thuyền mình. Nghe tiếng xé gió sau lưng nhưng Sóc chỉ kịp vươn tay bắt lấy lưỡi truỷ thủ đang nhắm vào vị lão sư. Trong khi ấy, từ chỗ Trần Biều đang đứng dưới thuyền, một mũi tên bay vút lên không hất văng lưỡi truỳ thủ còn lại. Mũi tên thình lình đổi chiều chệch sang lối khác, tiếp tục bay sát da đầu người vệ sĩ vừa phóng dao, xuyên qua búi tó của người ấy ghim chặt vào cột buồm.

Trong khi Lý Sóc bắt được lưỡi truỷ thủ nhắm vào Phùng Kiến Lập, cầm trong tay thì cũng vừa lúc mũi mâu từ sau lưng đâm thủng qua một lớp áo ngoài. Đúng lúc thập phần nguy hiểm này, Trần Tích, khi đó đã được Hà Diệp giải toả huyệt đạo, từ dưới sàn đột nhiên vùng dậy vung tay nắm lấy thân mâu kéo chệch đi. Chuyển hướng được ngọn mâu nhưng bốn ngón tay của người võ sĩ này đã bị hai hàng răng cá mập sắc bén gắn thêm trên cổ mâu cắt đứt lìa rơi xuống sàn tàu. Vương Trọng Liệt cũng đã được giải huyệt nằm bên cạnh Trần Tích nhưng võ công đã bị Hà Diệp phế bỏ không còn cử động bình thường như trước đành chỉ cay đắng giương mắt bất lực lạnh lùng theo dõi hành động của thủ hạ.

Dù chỉ mới một lần gặp gỡ, chuyện hoán đổi do Diệu Trân âm thầm thu xếp để thế mạng cho hoàng hậu cũng đủ khiến cho Lý Sóc phải quặn lòng. Việc cứu thoát Huyền Trân khỏi đất Chiêm đáng lẽ phải được coi là một thành quả đáng mừng cho Trần Khắc Chung toại nguyện thế mà ông vẫn một hai tỏ thái độ thù nghịch. Nghĩ đến đây, Lý Sóc đùng đùng nổi giận lại muốn động thủ, nhưng liếc quanh chỉ thấy Trần Biều buông tên cảnh cáo chứ không có ý giết người vệ sĩ phóng dao ám hại thì đành dằn cơn thịnh nộ. Đưa mắt nhìn Khắc Chung như muốn ăn tươi nuốt sống, họ Lý dùng mũi dép hất bổng Trần Tích lên cao bay qua đầu mọi người rơi xuống lòng thuyền của Phùng Kiến Lập.

Đứng giữa chín người vệ sĩ khoanh tay vây quanh trên thuyền mình, Phùng Kiến Lập chú mục vào những chiến thuyền Chiêm-thành đang lũ lượt kéo đến. Võ sĩ trên những chiến thuyền Đại Việt cũng dồn cả mắt vào những di động của hải lực Chiêm-thành. “Nhiệm vụ chúng ta đón rước lệnh bà đã hoàn tất,” Phùng Kiến Lập dõng dạc loan báo sau khi đã yên tâm nhận thấy thuỷ quân Chiêm không có ý thù nghịch, họ chỉ được huy động đến để giúp lính trên bờ chữa lửa. “Các anh em ai về thuyền nấy, chúng ta chuẩn bị hồi hương.” Ông dùng tiếng “lệnh bà” thay vì nhắc đến tước hiệu của hoàng hậu đề phòng lời nói của mình có thể lọt vào tai bất cứ Chiêm binh nào nghe hiểu tiếng Đại Việt. Nói chung, tiếng “lệnh bà” để tôn xưng công nương Diệu Trân hay hoàng hậu Huyền Trân đều được.*8

Hàng trăm cánh tay phấn khởi thầm lặng giơ cao trong đêm. Các vệ sĩ đều đã chứng kiến đại khái câu chuyện gay cấn xảy ra giữa quan nhập nội đại hành khiển và cựu lão đại thần sư cung giáo thụ, nhưng họ tụ thủ bàng quan vì chưa có ai ra lệnh gì. Mặt khác, tuy họ không biết nhiều về Phùng Kiến Lập nhưng những dũng sĩ đứng bên ông đều là những thủ lãnh của từng nhóm võ sĩ có mặt trong chuyến đi này và dù sao thì họ cùng có một chủ định chung.

Trần Biều tay cầm cung, mắt vẫn đăm đăm cẩn thận nhìn lên trong khi thuyền Kiến Lập từ từ tách khỏi soái thuyền, khi ấy Lý Sóc mới từ trên cao liệng người nhảy xuống. Bên dưới, Lý Cẩm từ khoang sau nâng cán chèo đưa ra xa trên mặt nước cho Lý Sóc sà xuống như một cánh chim đậu trên đầu mái, rồi nhún mình lộn một vòng, êm ả đáp xuống thuyền. Anh em họ Lý chuyên luyện Cầm-nã thủ pháp nên công phu hạ bàn và khinh công đều có căn bản vững chãi hơn người. Thấy đã ra khỏi tầm tên, Lý Sóc ngồi xuống băng bó vết thương cho Trần Tích, miệng nói với Phùng Kiến Lập, “Vị hảo hán này đã ra tay giúp đệ tử; nếu không đem theo tất không thể sống được với họ.”

Việc Trần Tích cứu Lý Sóc trên soái thuyền cũng như Hà Diệp đã cứu ông trong khách sảnh ở trang viên, và người thể nữ thân tín của Diệu Trân đã chung thủy theo gót cô lên tận đỉnh đồi Knor là một ân tình, là nỗi đau lòng và cũng là nguồn an ủi của Phùng Kiến Lập trong cuộc thử thách gay go này. Nghĩ đến nghịch cảnh của họ ông cảm thấy một nỗi buồn thắm thía, những bực dọc canh cánh bên lòng đối với Trần Khắc Chung bỗng dưng trở thành chuyện nhỏ bay theo chiều gió.

Những ngọn đèn bão cuối cùng trên soái thuyền lúc này đã tắt ngấm, nhưng nghe tiếng cồng gióng lên từng chặp trong đêm để giữ đều khoảng cách di hành và tiếng buồm phần phật lộng gió, Kiến Lập biết rằng đoàn thuyền Khắc Chung đang rời cảng. Riêng ông không mấy bận tâm, để mặc cho thuyền mình trôi chưa chịu hạ lệnh giương buồm.

Phùng Khiến Lập đưa mắt thẫn thờ nhìn những gợn sóng nhấp nhô lấp lánh ánh lửa rọi sáng từ trong bờ, thoạt trông như những cánh bướm nhởn nhơ đầy màu sắc. Mỗi ngọn sóng trở bỗng thành một cánh bướm huyễn hóa sinh động. Sinh động đến nỗi nhà Phật đã từng ví mỗi chúng sinh là mỗi ngọn sóng, chợt còn chợt mất. Mỗi ngọn sóng là mỗi cá thể trong một thoáng nhất thời chuyển động trên mặt nước bồng bột nhô lên để rồi lại lắng xuống hoà nhập trở về với nước, chẳng khác nào như tiểu ngã đã từ cõi vô minh lạc lõng vào cái thế giới vô thường của huyễn mộng trước khi trở về chốn hư vô tịch nhiên của cái đại thể vô cùng.

Lát nữa đây, khi lửa cháy trên bờ tàn rụi thì những cánh bướm hoá thân của hằng hà ngọn sóng thấm nhuần nguồn ánh sáng lung linh chỉ một lần rực rỡ sẽ không còn nữa. Những cánh bướm ấy chợt đi như chợt đến. Cái phù du rực rỡ ngắn ngủi chưa gì đã chìm vào một thời đã qua. Phùng Kiến Lập nhớ đến cánh bướm nhỏ màu lục bào dệt trên nền tà áo thiên thanh, cũng hoá thân kỳ diệu từ một tiền kiếp con sâu cái kén nào đó, cũng một lần chập chờn trên sóng nước mung lung của cái thế giới huyễn mộng rất đẹp, rất sầu muộn này.

Huyễn mộng vui buồn sướng khổ bao giờ cũng tràn đầy những hệ luỵ đau buồn vô lượng của kiếp nhân sinh nên mới có duyên khởi diệt trừ cái huyễn mộng của dục giới để đi vào cõi an lạc bất tận. Cây trâm trong tay ông còn ấm áp một mùi hương tràn ngập trong tâm tư hoài niệm, Phùng Kiến Lập thở dài não nuột. Trước mặt ông, một con thuyền không bến lênh đênh trên sóng nước mênh mông, thấp thoáng bóng người đàn bà Hà Diệp cô đơn bí ẩn đang một mình xoã tóc đưa đẩy mái chèo uốn cong trong lòng nước. Ít có điều gì xảy ra trong đời lại khiến ông bối rối như trong cảnh ngộ này. Trải qua một cuộc bể dâu, ông tự hỏi, chẳng hiểu trong cõi người còn gì có thể khuây khỏa được nỗi thống khổ của người đàn bà bất hạnh đang bơ vơ ở tận chốn góc bể bên trời?

Ở cái cuộc đời bèo bọt quá ngắn ngủi này, hà tất nhân sinh phải trải qua nhiều thử thách đau thương đến thế? Kiến Lập lại thở dài, nghĩ. Chẳng lẽ chỉ vì tu thân cho cái giá trị của lẽ sống mà phải trả đắt bằng ngần ấy đau khổ hay sao? Có lẽ vậy! Nhưng những gì mới xảy ra vừa hiển nhiên vừa mơ hồ đều ở ngoài tầm hiểu biết và ước vọng của ông. Từ vị công chúa hồi hương và cô con gái ở lại trên mảnh đất quê người, từ ngọn lửa bập bùng trên bãi biển và ánh hồng đang nhảy múa trên ngọn sóng dưới lườn thuyền, và tất cả những chuyện khác vui buồn gần xa lẫn lộn, mỗi mỗi trong cái vòng luẩn quẩn đều dính líu vào nhau cách này hay cách khác mà ông không thể nào nhận thức thấu đáo được.

Kiến Lập là người có đạo tâm nhưng không là một Phật tử thuần thành. Dẫu cho ông đã quá cái tuổi tri thiên mệnh, đã tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm, đã từ lâu dửng dưng với công danh phú quý, những muốn yên bần lạc đạo vào lúc cuối đời; nhưng tự nghĩ mình chưa thấm nhuần được cái ý nghĩa uyên nguyên của nhà Phật, chưa có được cái duyên hoá độ để vượt biển dục. Tình là nền tảng của chốn thế tục; giải thoát là chân lý của cõi tâm linh; và còn nữa, những điều bất tri và bất khả tri ở đâu đó trong muôn vàn thế giới ta bà. Dù sao ông cũng vẫn chỉ là một con người của thế tục. Tự cõi lòng, ông chưa sẵn sàng ra khỏi cái vòng sinh hoá luẩn quẩn, chưa muốn dứt bỏ cái túc duyên nó trói buộc vào mình. Ông còn quá ràng buộc thiết tha với cái đẹp đau buồn trong cơn huyễn mộng của kiếp nhân sinh.

Quanh co trên lưng đồi Knor, những bó đuốc xa xa bây giờ đã dính liền vào nhau thành một sợi giây dài nhỏ quăn queo rực màu lửa đỏ.

—————

Ghi chú                                     Đôi mắt hoài cảm mơ màng

Trong bài có mấy ghi chú, tác giả ghi bằng chữ. Những ghi chú này dài, như số 3 và 4. Chúng tôi chỉ trích mấy dòng chữ đầu của ghi chú số 3 về binh pháp và số 4 về Lý Long Tường.

*3. Đại Việt Hành quân pháp yếu lược do thượng tướng Lý Thường Kiệt thời nhà Lý viết, Binh gia diệu lý yếu lược và Vạn-kiếp bí truyền thư do Hưng-đạo vương Trần Quốc Tuấn biên soạn. Toàn bộ binh thư trên do hai thiên tài trác việt thời Lý-Trần trước tác đều đã bị thất lạc trong chiến tranh với phương bắc. Sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn (1726-1784) có trích lại một đoạn Tống sử nói về tri châu đất Hoạt là Thái Duyên Khánh đã học được phép tổ chức quân đội trong Ðại Việt Hành quân pháp yếu lược. Họ Thái đề nghị nhà Tống bắt chước binh chế quân đội của nhà Lý và được vua Tống Thần-tông (1067-1085) chấp thuận.

*4. Lai lịch Lý Long Tường ở Cao-ly được phát hiện dựa trên sự khảo sát những di tích ở Hoa-sơn và một số tư liệu từ Hàn quốc như bài văn bia Thụ-hàng-môn kỷ tích bi do Doãn Trụ Vinh, quận thú quận Hải-châu soạn, nói về hành trạng và chiến công của họ Lý; tập Hoa-sơn quân bản chuyện của Thôi Thường Thọ chép về sự tích và sư nghiệp của ông; và bộ Hoa-sơn Lý thị tộc phả ghi chép các đời của dòng họ, từ thuỷ tổ Lý Công Uẩn (Lý Thái-tổ) người hương Cổ-pháp, tỉnh Bắc-ninh, Việt Nam, đến tổ Lý Long Tường ở Hoa-sơn, Hàn Quốc và một số ít thế hệ hậu duệ kế cận.

*5. Phái Trúc Lâm Yên tử do sơ Tổ Trần Nhân Tông khai sáng

***

Về những năm tháng được nêu lên trong các chương sach trên đây, tác giả đều có ghi chú cẩn thận, năm âm lịch và năm dương lịch, bằng chữ thường (abc…), tách riêng ra với bài, có lẽ tác giả không muốn làm chậm lại dòng văn đang chảy, để độc giả lần xuống cuối bài đọc ghi chú. Chúng tôi có lỗi với tác giả, khi đưa các ghi chú lên bài.

Như chúng tôi đã thưa chuyện với độc giả ở trên, sách này không phải là một quyển sách phê bình văn chương, vì không phải là lãnh vực chuyên ngành của chúng tôi. Sách chỉ có mục đích giới thiệu với độc giả gần gũi, thân cận với chúng tôi những người bạn của chung tôi là những người có lòng tha thiết với chữ nghĩa, đã để lại và trao gửi chúng tôi những trang sách yêu quý của mình, chỉ mong chúng tôi đọc. Rồi sau khi đọc thì có sự thích thú và mến mộ. Riêng với Đỗ Đình Duyệt, từ trước biến cố năm 1975 và suốt những năm anh ở Mỹ sau biến cố này, cho đến khi anh trở về nước rồi trao cho tôi cục usb là năm 2013, thì tôi mới biết anh đã viết văn. Cuộc đời của anh nếu không ghi lại gì cho hậu thế, thì thiệt thòi quá cho văn học. Thế nhưng, anh là người đã “đạt đạo”, qua nhân vật Phùng Kiến Lập ở Chương Hồ điệp, khi ông là người thầy dạy thái tử, các hoàng tử, công chúa Huyền Trân và công nương Diệu Trân, nói về cái vi diệu của Kinh Vệ-đà và Áo-nghĩa-thư cũng như cách ông ứng xử với Vương Trọng Liệt khi ông tướng này bất ngờ xuống tay thô bạo sau lưng ông, triệt tiêu nội lực của ông qua các huyệt đạo, bởi vì Phùng Kiến Lập  muốn ngăn chặn hành động bạo ngược của Vương Trọng Liệt muốn ra tay khống chế công nương Diệu Trân để đột nhập vào nội sảnh với mưu đồ cướp công Chúa Huyền Trân.

Có lẽ vì hiểu được cái “lẽ sống” của nhân sinh qua điều vi diệu của kinh Vệ-đà và Áo-nghĩa-thư, nên Đỗ Đình Duyệt coi cái sử mệnh của mình nhẹ nhàng, thanh thoát, không dính bén làm chi. Vì thế mà anh lui về một trang trại ẩn dật. Dẫu thế, Đỗ Đình Duyệt không thể tự hủy hết cái tâm tư của mình khi nghĩ đến những người bạn thân cận của mình, nghĩ về đất nước đỗ vỡ và tiêu tán tất cả, từ văn hóa, tinh thần liên đới giữa con người với con người. Cho nên, khi dọc đến những đoạn văn ông viết về tình cảm giữa những con người với nhau một cách thân thiết, dù họ ở thôn Lữ-dạ quê nghèo, hay tại một bản Mường ở rừng núi, hay những người lính trong hàng ngũ quân Nguyên bỏ đơn vị đi trốn, băng bó vết thương cho nhau, v.v…thì tôi không ngăn được nước mắt. Cả một đoạn văn trong Chương Dữu-lý, Phạm Tá Phiên phê phán những hành động bạo ngược của Thành-cát-tư-hãn và Hốt-tất-liệt trong khi xua quân đi xâm chiếm những nước khác, người dân đầu hàng xin tha mạng, cũng vẫn bị giết cách thê thảm, thì tôi lại chạnh lòng nghĩ đến đất nước mình từ 100 năm trở lại đây cũng đỗ nát và đau thương lắm. Tôi nghĩ là Đỗ Đình Duyệt yêu mến con người. Ông cũng yêu mến cả muông thú, cỏ cây, dòng suối và cái hoang vu huyền bí của núi rừng. Những điều này ông đã để lại trong quyển tiều thuyết lịch sử này. Nhưng hình như tác giả đã không phổ biến ra ngoài chỗ thân tình của ông. Tôi đưa vào sách này là phạm đến đức khiêm hạ của bạn mình. Xin miễn chấp, anh Duyệt ơi!

  • DÒNG VĂN CHƯƠNG LÃNG MẠN CỦA ĐỖ ĐÌNH DUYỆT

Tôi dùng chữ lãng mạn để chỉ dòngvăn chương thứ hai của Đỗ Đình Duyệt, dòng văn này không nhiều. Tôi có chút bâng khuâng khi dùng chữ lãng mạn để chỉ dòng văn chương thứ hai này, chỉ cốt để phân biệt với dòng tiểu thuyết lịch sử. Cuối cùng thì tôi dùng chữ lãng mạn, vì lúc tôi chọn hai từ này cũng là lúc tôi nhớ đến ngày chúng tôi gặp lại nhau, chúng tôi có trao đổi với nhau qua loa về tính “lãng mạn” của các lãnh tụ và một số chiến sĩ cách mạng của bên Quốc gia từ thế hệ Nguyễn Thái Học, Lý Đông A, Đỗ Đình Đạo…Vị sau này là anh em thúc bá với Đỗ Đình Duyệt.

Thực ra, hiểu theo nghĩa rộng, trong dòng văn tiểu thuyết lịch sử của Đỗ Đình Duyệt, cũng ẩn chứa một tinh thần lãng mạn, khi ông nói đến cảnh thiên nhiên hay về con người khi đứng trước bối cảnh ấy.

Qua dòng văn chương lãng mạn, nhà văn Đỗ Đình Duyệt chỉ viết một chữ Nhớ rất đơn giản như nội dung của bài văn này, về một chuyến viếng thăm một gia đình đánh cá, con chiên cũ ở họ đạo Phước-tỉnh của cha Long và bạn mấy năm về trước. Bài văn ngắn. Cóchỗ chỉ vàichấm phá về cảnh vật và người chung quanh, như họa sĩ phác họa bức tranh rất tĩnh với mầu sắc buồn.

Nhớ

Thành phố nhỏ ở sa mạc Arizona. Trên một dãy phố tiêu điều.

Ông già Mỹ đội cái nón rộng vành của người Mễ dù lúc nào cũng ngồi dưới hàng hiên cùng với con chó ghẻ nằm dưới chân lười đến nỗi không buồn đuổi ruồi. Hình như ông biết tất cả hàng xóm nhưng chỉ liên hệ với họ bằng những cái vẫy tay và nụ cười nở trên đôi môi dầy làm hở cái răng cửa đã gãy mỗi khi thấy họ đi làm sớm hay trở về vào lúc buổi chiều. Có những ngày ẩm thấp âm u vào hạ nhưng vẫn có nụ cười “mặt trời” của ông lão mỗi khi có hàng xóm về qua. Hai vợ chồng mới đến. Cuối tuần đi chợ sách vài bao plastic đồ ăn. Đôi nhạn làm tổ ở góc hiên, điềm lành.

Hình như lá đã bắt đầu héo? Người đàn bà nằm dính chặt xuống nệm giường, hỏi.

Ừ, người đàn ông ngồi ở cái ghế đẩu bên giường trả lời nhấm nhẳng.

Giê-su-ma đáng lẽ chúng con phải đến thăm cha mới phải. Vị linh mục ở cái tuổi trung niên chỉ nở một nụ cười hồn nhiên và chân phác thay cho câu trả lời. Cuộc gặp gỡ giữa những người đồng hương tỵ nạn nơi xứ lạ thật đầm ấm thiết tha. Trong số lèo tèo mươi người tỵ nạn mới, lương có giáo có, được mời tới ăn tối để chào mừng khách quý, có người đàn bà ngồi thù tiếp chuyện cha Long một cách đặc biệt. Người đàn bà nhan sắc ấy được giới thiệu là em vợ của ông hiệu trưởng trường Hưng Đạo hồi còn ở Sài-gòn. Vị linh mục đưa mắt cầu cứu nhưng ông Dung và ông Duyệt lờ đi, ngặt nghẽo cười đùa với nhau ở một góc đến nỗi đổ cà rượu ra nhà. Khách chợt đến chợt đi. Ngoại trừ những tấm thiệp chúc tết, Giáng sinh gửi đến ông cha xứ, cuộc viếng thăm chỉ còn để lại một vệt rượu ố trên mặt thảm. Ngay hôm sau ông đã mua thuốc tẩy để giặt, bà giành phần giặt rửa nhưng mấy năm rồi mà vết ố vẫn còn đó.

Màu đỏ sẫm của rượu vang tươi quá. Ừ. Ông liếc nhìn xuống tấm thảm dưới chân giường, màu rượu ố đã phai nhạt nhưng có lẽ trí nhớ của bà về cuộc gặp gỡ còn tươi thắm thì đúng hơn. Ừ.

Sao cái gì bố cũng ừ?

Ừ. (Sống với nhau nhiều năm đã quen với thói quen ‘ừ’ của ông nên bà dễ dãi mỉm cười ‘ừ’ lên một tiếng.)

Bây giờ bố còn bận lo cho em nhưng vài bữa nữa rảnh thì có thể tẩy vết ố ấy đi. Ừ.

Lấy tấm hình trong ngăn kéo ra. Hình một người thiếu phụ tuyệt đẹp, đối với ông, mới đây. Người vợ không muốn trưng ra vì nghĩ rằng bà không có nhan sắc. Bạn bè cũng nói như vậy sau lưng ông bà. (Có những lúc hai vợ chồng nói chuyện lỗi phải, vợ ông có lúc nhận phần sai về mình có lúc không trong những khi tinh thần thoải mái hay khó chịu. vì thế mà ông biết là thái độ của bà thành thực, là hiếm hoi trong cuộc đời. Ông chỉ nhìn thấy ở nhiều người đàn bà khác những “tại bị” để bào chữa…Ông cảm thấy hối hận vì cho đến ngần này tuổi ông mới thấy được cái đẹp của vợ mình. Quá muộn. Cho đến nay ông mới thấy ông có nhiều điều không phải. Quá muộn. Nhưng ông lại tự an ủi rằng con người ta ai cũng…và cảm thấy đỡ bứt rứt.)

Tuần lễ sau, người đàn ông lùi thủi về nhà một mình. Mắt nhìn đâu đâu, vấp té trên bậc thềm trước cửa, không nhìn thấy cánh tay ông già môi dầy uể oải giơ tay lên chào. Lặng lẽ đứng dậy, đi vào căn nhà không ánh sáng.

Cầu nguyện: … một bà mẹ đứt ruột chứng kiến con mình bị hành hình trên thập giá. Ông không muốn học bài học ấy nhưng ông tự nghĩ không thể xin bà giúp giảm bớt nỗi đau khổ đang giày vò mình không thể so sánh với của bà. Xuân này không thấy đôi nhạn về làm tổ. Only the desert tumble weed búi cỏ bồng rolling on the desolate street. Và ông già môi dầy. Và con chó ghẻ nằm dưới chân. Không nhìn thấy cái răng cửa gãy.

Trên đường đi làm

Đỗ Đình Duyệt là bạn thân của họa sĩ Ngọc Dũng và tôi. Anh về sống cách khuất ở cái trang…, (rách không đọc được) mỗi lần gặp nhau, rất vui. Đỗ Đình Duyệt còn viết văn và viết rất được. Bài viết dưới đây thuật tả lại một buổi sáng đi làm của một người đàn ông trên một con đường miền Đông buốt lạnh. Và đây là cái hay, trên khúc đường nào hắn vẫn chỉ bắt gặp cái khuôn mặt trang nghiêm vô chừng ấy của từng giờ phút sống.

Mai Thảo (Văn, số 69-1987)

Trên đây là mấy lời giới thiệu của Mai Thảo, trên báo VĂN, số 69-1987, số báo có đăng bài Trên đường đi làm của Đỗ Đình Duyệt.

Trên đường đi làm là một truyện ngắn, tác giả viết về một cuộc gặp gỡ giữa một người đàn ông ẩn danh và một cô gái Tây Tạng tại khu vực đài tưởng niệm chiến sĩ trận vong Việt Nam. Truyện phảng phất quyển tiểu thuyết lịch sử của cùng tác giả truyện ngắn này. Ở điều này, cuộc gặp gỡ giữa hai nhân vật trong truyện là một điều kỳ bí. Đây là nghệ thuật xây dựng truyện mang tính “lịch sử”.

“Đôi khi ông có dừng bước, bâng khuâng nhìn về phía ấy. Phía ấy, im lìm những khối đồng điêu khắc tương phản bên con sông Potomac ngày đêm cuộn chảy ra cửa biển.

“Cái đài tưởng niệm bất động và giòng nước hững hờ đó không hề là một mối trắc ẩn đối với ông. Nó thực ra chỉ là một bối cảnh, một chất liệu tác động vào những điều tiềm ẩn trong giòng cảm xúc của ông. Những dao động ngấm ngầm ấy thường làm ông mệt mỏi, nhiều khi đến kiệt quệ.

“Nhưng bữa đó ông đã ở lại đây khá lâu. Chiều tháng Mười xám ngắt. Tháng Mười, miề”n Đông buồn nhất, lòng người.

“Chiều nay, gió bắc theo triền sông dấy lên càng lúc càng mạnh. Mây xám vụt chuyển thành trời đen vần vũ. Từng cơn lốc quay cuồng cuốn bay cát bụi xoáy vào những cành cây xô ngả vật vã. Chính vì thế mà ông còn nấn ná ở lại.

“Ông vốn thích bão tố từ hồi còn rất trẻ. Ở đấy, ông nhìn rõ hơn về con người nhỏ bé giữa cơn thịnh nộ của thiên nhiên; nhưng cũng ở đấy, ông có được sự hãnh diện, thách đố. Phong ba là một trạng huống gần gũi quen thuộc của đời ông. Trong sự lạnh lùng của nó, ông đã thấy được lửa nồng ấm hơn. Không gần gũi sao được khi những gì gắn bó nhất với ông lại là những kỷ niệm giông tố.

“Cảnh người ta chạy ngược chạy xuôi tán loạn đã hết. Chỉ còn tàn phá gãy đổ. Chỉ còn hình tượng ba người lính đồng ẩn hiện theo những lằn chớp như hoạt cảnh phục kích của một thời chiến đấu xa xưa. Chỉ còn một mình ông ở giữa hoang tàn như cảnh tượng một buổi chợ chiều đã vãn. Không, còn đột nhiên xuất hiện một người, thình lình kéo tay ông hối hả chạy về hướng đài tưởng niệm. Bất ngờ, nhưng không ngạc nhiên. Trong giông bão, không có gì khác cần phải sửng sốt.

“Đến chân bức tường kim khí, ông thấy một người nằm sóng sượt dưới đất và một người đàn ông da đen ngồi bên đang làm những động tác cấp cứu. Người này chỉ hơi nghiêng đầu liếc nhìn ông thật nhanh rồi lại cúi xuống vừa tiếp tục công việc vừa nói, “Hình như người con gái này không biết nói tiếng Mỹ. Bảo cô ta đừng sợ. Nhẹ thôi.”

“Máu trên vai nạn nhân lan rộng xuống tận ngực áo. Người thiếu nữ mắt vẫn mở, sắc mặt nhợt nhạt nhưng không lưu giữ một dấu hiệu gì của sợ hãi. Đôi mắt một mí kéo dài trên hai gò má hơi cao so với khuôn mặt phụ nữ Việt Nam. Đó là loại gò má của những vùng vách đá cheo leo, tuyết băng lạnh giá. Đây là một biến dạng của hội nhập giữa hình hài và thiên nhiên như loài thú đổi sắc lông theo thời tiết, như loài bò sát tiệp màu cùng cây cỏ.

“Người đàn bà này không phải cùng từ nơi ông đến. Một chút khôi hài châm biếm trong ông. Người Mỹ thật ít kỳ thị. Cứ da vàng là xuất xứ gần nhau đâu đó, là có thể khác giọng nhưng cùng tiếng nói, là xứ sở còn hay mất, đại loại cũng thế thôi.

“Ông chậm rãi ngồi xuống cạnh nạn nhân và nhắc lại, cũng bằng tiếng Mỹ, những điều mà người đàn ông da đen vừa nhờ ông thông dịch. Người thiếu nữ nằm dưới đất, rất nhẹ, gật đầu.

“Mải chăm chú vào việc cấp cứu, người đàn ông da đen vô tình lẩm bẩm, “Good! Good!” mà không biết là mình đã nhờ người chuyển dịch từ tiếng Mỹ ra tiếng Mỹ. Sự tận tụy của nghề nghiệp đang hoàn toàn chiếm hữu con người đó. Lòng ông bỗng phát sinh hảo cảm…

“Ông được toán cấp cứu yêu cầu theo lên xe cứu thương để đi cùng nạn nhân, mặc nhiên để cho người ta đưa đẩy. Thiếu gì những khoảng trống trong đời, ông đã sống vô hồn vô cốt như thế. Mãi cho đến khi người ta bảo ông khai báo hồ sơ tại bệnh viện, họ mới vỡ lẽ là giữa ông và nạn nhân chẳng mảy may liên hệ.

“Ông quen biết Choedon từ đó. Cô bị cành gãy đập trúng người, nặng nhất là vai, nhưng được phép rời nhà thương chỉ sau 3 ngày điều trị. Sự hồi phục được coi là mau lẹ dị thường. Từ bệnh viện, ông đưa Choedon về nhà người thím của cô ở vùng Woodbridge, khoảng vài chục dặm phía nam Hoa Thịnh Đốn. Bà cụ đã lớn tuổi, chỉ thấy hiền từ trong cung cách chào đón, không nghe nói năng gì. Bà có vẻ cũng ít nói như cô cháu.

“Đi cùng Choedon vào tận trong nhà và khi ông vừa muốn lên tiếng từ biệt thì bà cụ cũng vừa mở rộng cánh cửa ở cuối phòng rồi chuyển bước có ý nhường chỗ cho hai người. Thì ra đó là cửa thang lầu dẫn xuống từng hầm. Ông còn đang tần ngần nhưng thấy vẻ mệt mỏi yếu đuối của Choedon nên dẫn đường xuống trước để cô lần bước theo sau.

“Gian phòng chính ở dưới hầm thật rộng với những hàng kệ gỗ chứa đựng sách vở choán gần hết các mặt tường. Một cái bàn lớn kê dọc theo chiều dài gian phòng trên mặt chất nhiều đồ đạc bừa bộn.

“Choedon ra hiệu mời ông ngồi đợi một chút trước khi thong thả đi vào phòng riêng. Dựa lưng trên chiếc ghế gỗ cũ, ông lười biếng đưa mắt qua những giỏ mây, ống tre thủ công và những mớ giấy tờ lộn xộn. Bỗng mắt ông dừng lại trên một bản thống kê những biến cố xảy ra ở Tây Tạng từ khi bị Trung Hoa chiếm 1949-1950. Những năm sau đó, 1956 vận động kháng chiến nhen nhúm, 1958-1959 chí nguyện quân hình thành cùng với cuộc nổi dậy ở Lhasa và Đức Đạt Lai Lạt Ma lưu vong, 1961, 1967, 1972, và tháng 9/1987 với những cuộc biểu tình, xô sát, đàn áp. Ông tẩn mẩn lật tiếp từng trang giấy. 433 ngàn người chết trong các cuộc nổi dậy, 173 ngàn chết đói, 93 ngàn bị hành hình, và tự tử 9 ngàn người. Từng năm tháng một trải dài, chỉ toàn những tang thương ngẫu lục.

“Trong đầu ông cũng sẵn có những số liệu thống kê tương tự mà ông đã nằm lòng như bản cửu chương. Thứ cửu chương của hai với hai là bốn thằng bạn nữa vừa chết trong tù.

“Ở dưới cùng của tập tài liệu, ông bắt gặp một bức vẽ mực màu trên giấy bìa. Ở chiều sâu bối cảnh là nhạt nhòa những mặt phẳng bình nguyên trắng sữa với những đỉnh cao chót vót núi non. Nhiều chỗ mực loãng đến độ mơ hồ. Ngược lại, mặt nổi của bức tranh lại là những cấu tạo kỷ hà bằng những đường cọ lớn, đậm và mạnh như từng nhát đao.

“Đối diện với ông, Choedon trong chiếc áo dài truyền thống màu vàng đất đã lặng lẽ ra ngồi đó tự lúc nào. Ông hình dung những nét vẽ như đao chém khi nhìn vào đôi mắt dài của người con gái, trông giống như một cặp liễu diệp đao xinh đẹp. Bất giác ông buột miệng hỏi tại sao bữa đó cô lại lạc lõng ở chỗ đài tưởng niệm trận chiến tại Việt Nam.

“Choedon nhìn ông thật lâu rồi cúi đầu nhỏ nhẹ, “Tôi tới đó để tận mắt nhìn cái dấu tích của những người Mỹ đã đến chiến đấu và đã chết ở một chiến trường xa lạ,” giọng cô trở nên đứt quãng, nghẹn ngào, “Và tôi cũng muốn nhắc nhở và đoan chắc với mình rằng cuộc nổi dậy của chúng tôi cho tới nay vẫn chỉ là những vận động đơn phương!”

“Ông định xin lỗi vì câu hỏi của ông đã vô tình chạm vào mối thương tâm của Choedon, nhưng không nói được vì ông cũng nghẹn ngào.

“Ánh sáng đọng trên hai gò má của người con gái khiến đôi má trở thành khuất lấp hom hem. Ông liên tưởng đến những đỉnh cao trên Hy Mã Lạp Sơn, chói sáng trước sự ngưỡng mộ của mọi người. Thế thôi! Còn lại những gì khác là bóng tối, là cặp má hom hem, là không biết tới. Mối thương tâm ấy vừa được nói lên nhỏ nhẹ, âm thầm như dân tộc cô, không tiếng nói.

“Trước khi ra về, Choedon cho ông biết là bức tranh ông vừa tìm ra là của người em trai cô. Người ấy không học hội họa nhưng yêu vẽ. Có thể đây là bức họa cuối cùng vì người em đã mất tích trong những biến động tháng trước ở Lhasa.

“Trong những ngày bình phục sau đó, Choedon còn cảm thấy nhức nhối nhiều hơn là khi tai nạn mới xảy ra. Điều đó khiến cô ngạc nhiên. Và từ đó ông cũng dành thì giờ đến thăm cô nhiều hơn”…

“Choedon thỉnh thoảng kể cho ông nghe về tập tục của người bản xứ. Có lần cô hát một bài trường ca du mục. Ông không hiểu, chỉ nghe tiếng vó câu lẫn trong gió cát, tuyết bay. Âm thanh có khi xa vắng, có khi dồn dập, không được êm đềm nhưng lại ra chiều thắm thiết.

“Lại có lần Choedon cho ông xem mấy tấm hình. Một tấm chụp du khách Trung Hoa hút thuốc cười đùa ngả ngớn ngay giữa chính điện ngôi cổ tự lớn nhất ở Amdo. Một tấm khác chụp lũ trẻ nhỏ lam lũ với những con mắt mở to nhớn nhác. Choedon lo âu than thở vì không tìm thấy tuổi thơ hồn nhiên trong những ánh mắt hoang mang khờ dại ấy. Chỉ thấy những tia nhìn bối rối nghi hoặc nhiều khi pha trộn cả gian dối khuất tất. Cô sợ rằng bản chất của những thế hệ nhỏ dại sẽ hoàn toàn bị thay đổi, sẽ ngày càng trở thành xấu xa đồi bại. Nhiều lớp thanh niên Tạng hiện lâm vào cảnh rượu chè, lười biếng, ưa đàn đúm trò chuyện viển vông và chỉ thích nói lời cay đắng.

 “Ông nói với Choedon về mối băn khoăn của cô cũng chẳng khác gì sự quan tâm của đồng bào ông. Ông quan niệm rằng con người chỉ có thể nhất thời cưỡng đoạt tự do no ấm của con người chứ không thể hủy diệt được bản chất của nhau, và rằng sẽ không có những con người muôn đời bại hoại.

“Câu chuyện nhiều khi xoay quanh mối tương quan mật thiết giữa xấu và tốt. “Giả như một nhà sư không rung động trước sắc đẹp thì sự tu hành trong trắng của ông chẳng chút khó khăn. Như thế thì ai chẳng tu được,” nói đến đây ông ngừng lại mỉm cười, “Chính cái dục mà nhà sư phải nghiến răng kiềm chế, những mù quáng mà ông cố gắng minh tỏ mới là nhân tố biểu hiện cái bản sắc của mình.”

“Ông không thể ví dụ một cách nào khác hay sao?” Choedon phàn nàn nhưng không thấy vẻ trách cứ. Ở Tây Tạng, hơn một phần trăm đàn ông mặc áo thầy tu với hơn sáu ngàn đền chùa cổ kính trước khi bị phá hủy rất nhiều trong vài chục năm qua. Đem vai trò của một nhà sư ra để mà diễn đạt ý tưởng của mình quả là không ổn, ông chợt nghĩ. Nhưng là người hào sảng, ông liền gạt bỏ vấn đề sang bên, nhìn người con gái, nói đùa, “Cô quen biết với tôi là rất có lợi vì những cái xấu của tôi chỉ làm rực rỡ thêm cái tốt đẹp của cô.”

“Chứ không phải ‘gần mực thì đen gần đèn thì sáng’ hay sao?” Không nhớ rõ mình đã nói với Choedon về thành ngữ này lúc nào, không dè cô còn giữ trong dạ và bất ngờ  buột miệng nhắc lại làm ông sảng khoái bật cười ha hả.

“Tôi gặp ai vừa xấu cả người lẫn nết thì thấy tâm địa mình thật trong sáng; nhưng hễ thấy người nào đẹp đẽ ngây thơ trong trắng là lập tức nổi lòng hiêu dạ vượn. Người như tôi thì càng gần đèn lại càng tối.”

“Như thế chẳng thà tôi là mực còn hơn.”

“Tôi cũng là mực. Chúng ta cùng là mực.” Ông thấy Choedon giãy nảy lên, hai má đỏ bừng » …

Cầm lấy bàn tay mềm mại của người bạn, ông xúc động. Những ngón tay lành lạnh mảnh mai như đang cần được ấp ủ săn sóc. Ông mường tượng vết thương của Choedon có liên hệ đến ông. Không phải là những vết thương ở vai, ở đầu ngón tay, hay ở đâu màendorphins có thể làm cho tê dại. Ông đã đọc thấy những u uẩn không dứt trong đôi mắt đang nhìn ông.Ông đã phát hiện trong đó cũng có những vết thương, như của ông, không bao giờ lành cả.

“Ngày mai ông có thể cho tôi ra phi trường?” câu hỏi bâng quơ của Choedon như gió thoảng. Chỉ vỏn vẹn đơn giản là thế. Bàng hoàng, dù cho ông đã thấy từ buổi quen nhau vốn sẵn có một xa cách rất gần mà không có gì để buông để nắm. Đó là tiếng nói của đôi gò má cao, của vách đá đứng dựng, của hồng hoang băng giá. Đó là lời giã biệt ngậm ngùi nhưng ngang nhiên và dứt khoát đến lạnh lùng. Mặc cho những lúc mềm lòng, ông vẫn yêu thích xiết bao cái vị thế sừng sững ấy của con người trong những trạn »g huống thống khổ tuyệt vời….

« Hôm nay, có những chuyến bay đi về mọi ngả. Chỉ có một chuyến sẽ vượt biển Thái Bình để đến một nơi xa xôi cực kỳ bất ổn. Nơi đó, Dharamsala, có những con người muốn ra vào đất nước của chính mình phải mỗi lần mỗi vượt nghìn trùng Hy Mã.

« Ông nhớ về rừng phong Việt Bắc. Ông nghĩ đến giông tố Trường-sơn. Ông không nghe thấy gì khác nữa. Chỉ có trong mắt ông, tuyết đổ chập chùng, đất trời trắng xóa. »

Đỗ Đình Duyệt (cuối thu, 1987)

Những trầm tư của Đỗ Đình Duyệt

Cuối cùng là một bài của nhà báo Lê Thiệp : kim thiền thoát xác, kể chuyện tác giả đến gia trang của Đỗ Đình Duyệt để ra rừng phong nhặt ve sàu thoát xác, đem về xào hay rang lên làm món nhậu thú vị.

Tựa đề trên đây là của chúng tôi, mượn ý của tác giả Lê Thiệp viết ở phần cuối trong bài Kim thiền thoát xác. Mở đầu, ông Lê Thiệp viết :

« Tôi không thể không xuống với ông. Vài chục dặm dễ cũng chỉ suýt soát một tiếng đồng hồ. Không thể không đi không hẳn vì cái phần nhớ nhung vốn đã có ở đó nhưng còn tiếng ve inh ỏi buổi đầu hè như đánh thức con tì con vị và nó cứ như giục giã tôi. Không đi thì quả là có lỗi, không chỉ với ông mà cả với tôi, với những con ve sầu nữa.

« Ông không ngạc nhiên khi thấy tôi đẩy chiếc cửa lúc nào cũng để ngỏ :

– « Ông xuống sớm thế này phải lúc. Ta ra ngoài là vừa.

« Nơi ông ở là một cái trại lớn. Gọi là trại nhưng thật ra không trồng trọt gì, toàn dải mấy mươi mẫu là cây phong cây sồi. Căn nhà ông ở chỉ có hai phòng ngủ nhỏ do chính ông vẽ kiểu và mướn thợ xây nằm gọn giữa một mảnh đất bằng phẳng. Tí rau thơm, vài khóm cải, rau mùng tơi, bụi lá mơ, một góc có ít bạc hà, ít ớt. Ông bảo một mình ăn uống là bao, con cái lại cứ tiếp tế nên cũng chả buồn trồng tỉa gì nhiều. Định nuôi vài con gà lấy trứng nhưng chồn cáo nhiều quá, lại còn diều hâu chim ưng nữa.

Ve sầu đẻ rất nhiều, mỗi con ước lượng cả ngàn trứng dấu ở vỏ thân cây. Trứng nở thành ấu trùng li ti và ngoi ra lăn xuống đất. Cuộc chiến đấu để sinh tồn bắt đầu ngay lập tức. Ấu trùng ve là món ăn khoái khẩu của chim chóc, nhện, kiến… Con nào thoát nanh vuốt của địch thì cũng chưa chắc đã tồn tại nếu mặt đất không đủ ẩm, quá khô, quá cứng hoặc toàn đá, nó sẽ không thể nào chui xuống sâu trong lòng đất được. Tỷ lệ sống còn e cỡ một phần trăm.

Rồi tác giả viết tiếp :

Cũng chẳng vội vàng gì. Ông và tôi lững thững đi trong rừng phong thưa vừa đi vừa nhặt những con ve sầu vừa chui khỏi vỏ trắng như sữa bám vào vỏ cây xù xì. Cái vỏ màu trắng đục, nếu không rơi xuống đất hoặc bị gió thổi đi, đôi khi cũng còn toòng teng ngay phía dưới. Ve sầu vừa lột nằm gần như bất động, cái sống chỉ hiện ra ở mấy cái chân tí xíu hơi đậy. Nó nằm đó để chuyển hóa…

Chỉ đi một vòng là đã lượm được một mớ ve kha khá. Ông bảo chỉ nên bắt những con ở độ cao cỡ một thước tây và ở những thân cây lớn…

Trời đã bắt đầu hửng nắng, ông và tôi trở lại căn nhà nhỏ. Cái rổ nhỏ cũng đà lưng lưng những con ve mới lột nằm sắp lớp cựa quậy. Ông nhẹ nhàng nghiêng rổ, trút cả vào cái thẫu đựng đầy nước mắm…

Cái thẫu thủy tinh trông vui mắt hẳn lên với những con ve non trắng nõn trong cái nước màu nâu hổ phách. Ông lắc nhẹ cho những con ve đều trong chiếc thẫu bảo :

– Ngâm ve vào đây để nước mắm đánh tan cái chất nhờn ve tiết ra khi lột xác. Cái bào sinh ve chứa rất nhiều bí mật. Làm sao từ một con ve non mong manh trắng như sữa mà chỉ vài tiếng sau cánh đã cứng, màu đã đổi. Hẳn là phải có tác dụng của quang năng và cái sinh hóa của những chất đặc biệt để nó biến thái nhanh như vậy. Nước mắm tôi nghĩ là giúp để bảo trì cái năng lượng quý giá của trời đất nơi con ve. Thôi ta làm một tuần trà trước đã.

Ông lấy một lát bơ lạt bỏ vào chảo bắc lên bếp và vặn lửa nhỏ. Ông bảo chiên khác, rang khác. Chiên là phải ngập dầu, ngập bơ và lửa lớn. Còn rang là lửa phải nhỏ và bơ chỉ loáng thoáng lấy vị. Khi bơ đã tan và hơi có bọt li ti, ông trút cả mớ ve vào, nhanh tay đảo.

Màu ve đổi dần từ trắng sang hơi vàng, và khi thấy đã đến độ, ông với tay tắt bếp, đổ mẻ ve ra cái dĩa sứ lớn.

Ngoài kia trời đã đứng bóng. Mấy cây phong vào thu sẽ đổi màu nhưng nay thì lá vẫn xanh rì lao xao trong gió nhẹ, như cùng nhịp với tiếng ve não nuột. Ông và tôi ngồi đó nhìn ra ngoài. Cả trời đất như thu gọn lại trong cái tịch liêu của trưa mùa hạ. Dĩa ve rang cũng đã vơi đi một nửa. Ông bùi ngùi:

– Ngần này tuổi đầu rồi, mộng lớn, mộng nhỏ cũng đã qua cả. Bạn bè cũng vơi gần hết nên tôi lui về đây di dưỡng. Ấy, ngày xưa còn, năm nào ông Bé cũng làm một mẻ ve rang với tôi. Ông nhớ đại tá Nguyễn Bé của lực lượng Xây Dựng Nông Thôn chứ nhỉ? Vậy mà ông ấy đã qua đời cũng gần hai chục năm rồi. Lại sắp sửa đến giỗ anh Ngọc Dũng nữa.

Bỗng tôi thấy ông như một người khác. Khuôn mặt ông đăm chiêu hẳn đi, như muốn níu kéo những gì không giữ lại được. Ông đẩy dĩa ve sang gần tôi hơn:

– Ông không xuống thì tôi cũng không làm tội làm tình mấy con ve non. Cả chục năm tôi không săn bắn nữa. Ngay cả đến đi câu cũng thôi. Chiều chiều bắc ghế ra sân chờ mấy con nai ngơ ngác đi qua cũng đủ vui chán.

Tôi ngây người nhìn ông. Giống như con ve sầu nhưng chỉ khác là con ve chui ra khỏi vỏ còn ông thì đang cố chui trở lại cái vỏ của thời gian vốn đã mất đi.

Có cái gì ngậm ngùi khi chia tay. Ông Đỗ Đình Duyệt ân cần nắm tay tôi:

– Tôi vừa gầy được một bè rau rút nhỏ. Sang tháng ông xuống ta làm một bữa rau rút chấm muối vừng có khi lại hay”.

                                                                                                    Lê Thiệp (6-2004)

Tôi mất nhiều tuần lễ để đọc không bỏ sót một trang sách nào trong cục USB của Đỗ Đình Duyệt, chỉ tính riêng 10 Chương của quyển tiểu thuyết mà tôi xếp vào loại lịch sử, thì có khoảng 282 trang vi tính. Nếu in ra giấy thì số trang có thể dài gấp đôi số này. Vì vậy, đây là quyển tiểu thuyết dài.

Theo hai dòng văn chươngcủaĐỗ Đình Duyệt, tôi nhận ra một điều: anh lặng lẽ trong những bão tố của đời anh, lặng lẽ trong những vấn đề quốc sự, trong cuộc nội chiến (từ 1955-1975), ngoại trừ hai tiểu mục trích dẫn trước đây và bài: Một thoáng nhìn về lịch sử Việt Nam và cuộc chiến tranh Đông Dương cận đại, tuy vậy, anh cũng chỉ nhìn về “một thoáng” thôi. Tất nhiên đấy là quyền chọn lựa của anh. Anh như “dửng dưng”, một phong cách dửng dưng của người chiến sĩ lúc hai tay phải bỏ vũ khí…Nhưng Đỗ Đình Duyệt đã không thể dối với lòng mình nên đã để cho Lê Thiệp nhận ra nỗi trầm tư của mình trong bài Kim thiền thoát xác. Và anh đã cầm bút chiến, mở trang sách lịch sử của sự nghiệp kháng Mông chống lại chủ nghĩa thống trị và bạo lực của Thành-cát-tư-hãn và Hốt-tất-liệt.

Theo tôi, sứ điệp của những trang sách lịch sử kháng Nguyên-Mông này, là trao cho các thế hệ trẻ Việt Nam tinh thần bất khuất của tổ tiên, cho dù phải gian lao, hiểm nguy trước kẻ thù nhan hiểm. Tuy nhiên, những chiến sĩ vị quốc đấu tranh ấy, vẫn giữ một tâm thức căn cơ trong lịch sử ngàn đời của tổ tiên Việt.

Đỗ Đình Duyệt đã từ bên kia bờ Thái Bình Dương, trở về cố quốc, cùng đáp một chuyến máy bay trở về Thăng Long, nhìn lại mảnh đất phố huyện, nơi cả tram năm trước là làng Chân Cầm, dòng họ anh đã sống. Anh còn dẫn tôi tới khu nhà thờ Hàm Long, nhìn lại ngôi nhà của gia đình anh. Anh nghĩ gì khi đứng trước nơi dấu yêu này?

Với tổ quốc Việt Nam ngàn năm, anh phải yêu quý lắm nên mới lao tâm khổ tứ để có thể nói, Đỗ Đình Duyệt quên cả tuổi trẻ của mình ngay khi còn hiện diện trên quê hương thương đau của mình, mà khi phải ra đi trong u uẩn, sống đời lưu trú, anh cũng thế. Nay, theo Lê Thiệp, bạn thân của anh trong bài “Kim thiền thoát xác” đã nói về anh, khi chỉ có anh và Lê Thiệp nơi căn nhà “lặng lẽ” của anh:

“Ngoài kia trời đã đứng bóng. Mấy cây phong vào thu sẽ đổi màu nhưng nay thì lá vẫn xanh rì lao xao trong gió nhẹ, như cùng nhịp với tiếng ve não nuột. Ông và tôi ngồi đó nhìn ra ngoài. Cả trời đất như thu gọn lại trong cái tịch liêu của trưa mùa hạ. Dĩa ve rang cũng đã vơi đi một nửa. Ông bùi ngùi”.

Nay thì Lê Thiệp cũng đã mất hơn 10 năm rồi. Đỗ Đình Duyệt còn có ai ở nơi ấy!

                                                                                                                   Khải Triều

Bài Mới Nhất
Search