Khải Triều: HỒ PHONG

HỒ PHONG

Ở cuối tập thơ Cỏ Cháy, Hồ Phong ghi lại đôi dòng tiểu sử của anh, xin dẫn lại:

“Hồ Phong, sinh năm 1936, Hà Nội. Khi xuất bản tập thơ này tháng 4/72 (36 tuổi). Sống ở hậu phương suốt thời kháng chiến 1946-52. Về Hà Nội 1952-54. Đến tháng 8/54 vào Nam một mình. Làm nhiều nghề, bồi nhà hàng, kèm trẻ tư gia, thư ký, viết báo, giáo sư sử địa và văn chương. Tháng 6/66 gia nhập KQ biên tập viên ngành CTCT.

Đã in:

Quê hương đau khổ này (Truyện. 68)

Đồng lửa (truyện. 69)

Ngoài chân mây (Truyện viết với 7 tác giả. 70)

Người phi công chưa về (Truyện. 71)

Cỏ cháy (Thơ. Viết chung với Thanh Chương. 72)” (hết trích)

Hồ Phong, tên thật là Kiều Văn Bảng, hiện sống với vợ chồng người con trai

tại P. 6, Q. Tân Bình, Tp. HCH, (Sài Gòn).

Mấy bài thơ trong tập Cỏ Cháy:

Đỉnh cao

tuôi trẻ ở đỉnh cao tuyệt vời

nhìn ra mênh mông hùng vĩ

đời bẩn chật dưới gót chân xanh

ôi những tuổi trẻ đánh bắc bình nam đuổi tây

ôi những tượng thần yêu nước ngủ vùi trên hai bờ chiến tuyến

tôi mộng du lang thang vào hư vô sương khói

gọi dậy tên các người

các anh các chị việt nam

các tiền bối của miên viễn cuồng lũ

chuyên chở nham thạch phún xuất

dựng hỏa diệm sơn

nổi giận gầm thét

hỏa thiêu cuồng sinh bạch chủng

dựng lại hành lang thái bình dương xanh

ôi việt nam trầm mặc sáng danh trời nam á

(Cỏ cháy, trang 52)

Tạ ơn đời

còn lại nhòe nhoẹt mơ hồ

tình nghĩa trên đầu ngón tay

cơn sốt và ký ức không muốn nhớ

tôi cố quên tôi quên tất cả

cầu mong như chiếc lá bay

như đám mây bềnh bồng

như loài cỏ xanh loài cỏ úa

như cánh chim đây đó thong dong góc biển chân trời

buồn vui chút đỉnh

như tên người thượng

quanh năm lầm lũi núi rừng

như gã ngoại quốc

không liên quan gì đến tình người và đất

nhưng vẫn nguyên hình tôi

không thể ẩn trốn chính mình

không thể từ chối nghe chính tiếng con tim mình

không thể bịt tai nhắm mắt

đau đớn xót xa khốn khổ

thèm khát vô tri như loài rong rêu

tạ ơn loài người đã giúp tôi

chịu đựng và kiên nhẫn

có thể cười với người với ngợm

nhân từ với cả sa tang

hiền khô như cọng cỏ

.

xin tạ ơn loài người

tạ ơn người hai chân

ghi ơn bọn bốn chân nói tiếng người rất sõi

đã giúp ta trở thành tượng đá

(Cỏ cháy, trang 53-54)

Thương tích

có một vết thương nào ở trong đầu

mà những thầy thuốc tìm không ra

khám nghiệm lần mò chữa trị

bệnh càng ngày càng nặng

một thầy thuốc có ý gửi tôi đi biên hòa

nhưng trong buổi nói chuyện

nghe tôi phân tích tỉ mỉ từng góc cạnh sự kiện

nói thật trôi chảy

ngôn từ lưu loát

lý luận sáng suốt

ông ta hoảng sợ

tôi giơ hai tay lên trời

xin ông thầy thuốc đừng vượt quyền thượng đế

tôi ngồi im lặng đọc một bài kinh

tâm tư lóe lên một làn sáng

(Cỏ cháy, trang 58)

Một mình

tôi đi uống cà phê một mình

ngồi dưới giàn hoa giấy

buổi sáng và cà phê cô Hà

nhìn những thân tầu cất cánh

nhớ những người bạn đang bay hành quân mãi những miền xa

có thằng vùng 1 hỏa tuyến

có thằng vùng 2 biển xanh

có thằng cao nguyên pleiku đèo heo hút gió

thỉnh thoảng ghé về sài gòn lang thang vài tiếng

tưởng rằng đỡ tủi

tưởng rũ được một phần đất cát hành quân

những thân tàu cất cánh

gợi nhớ những chuyến công tác

một thuở giang hồ

đà nẵng huế nha trang cam ranh

cần thơ sóc trăng dưới đó

có chuyến đi pleiku năm ngày

dành riêng hai buổi chiều

rủ Hương đáp xe lam đi biển hồ

hai đứa hôn nhau tròng lùm cây

ra về Hương khóc chia tay

tôi nghe lòng rưng rung

                   .                              …

yêu thương chiều chia tay ở pleiku

có con đường hoàng diệu xanh bóng cây

có những đường giốc chập chùng

có gã thiểu số đi về pleimơnu

có bóng gái thượng đi về pleibongbao

có chiều vàng au đát cánh đồng hai bên quốc lộ 19

có Hương nức nở khóc

buồn như đồi núi pleiku gập ghềnh

buồn như lòng tôi tha ma

ôm Hương khóc giữa mộ đá hồn tôi gió hú

(Cỏ cháy, trang 71)

Hồ Phong yêu Tổ quốc, yêu Quê hương tha thiết, nhưng hình như trong cuộc chiến tranh vừa qua, anh thấy trong đầu mình như có một vết thương mà người thầy thuốc không tìm ra căn nguyên. Làm sao tìm ra, vì chỉ anh biết mình mang “bệnh” gì. Cả đến tình yêu, anh cũng thấy mình là tha ma gió hú, rợn người. Có một lần anh đọc kinh, anh thấy “một làn sáng” hy vọng…

Hồ Phong với Quê hương đau khổ này

Về truyện, nhà văn Hồ Phong đã trao tặng chúng tôi hai tập, là Quê hương đau khổ này (1968) và Đồng lửa (1969).

Ở tập truyện Quê hương đau khổ này, tác giả nêu lên một chủ đề, một bố cục chặt chẽ. Hai truyện đầu, tác giả viết về những cuộc đào ngũ của những chiến sĩ Vệ Quốc quân, trong Tự Vệ Thành. Khi kháng chiến bùng nổ năm 1946, các chiến sĩ này rút lên Việt Bắc kháng chiến. Sáu năm sau, một số bỏ ngũ, còn như Bình, ở truyện số 1: Gã liên lạc viên từ triền núi bên kia tới, đưa cho Bình một lệnh giải ngũ…Người ta gạt Bình ra khỏi hàng ngũ kháng chiến…Người ta phản bội… (Trang 7). Còn như Phạm và Lũy, (Truyện số 2) cũng là những chiến sĩ Tự Vệ Thành, rồi theo kháng chiến lên Việt Bắc, như Bình vậy, chỉ khác Bình là Phạm và Lũy sau sáu năm chiến đấu, hai người này đều trốn về, rồi đi buôn thuốc lá. Theo họ, vì chán ghét lãnh đạo. Bọn này đã thủ tiêu, ám sát những thành phần không ngả theo họ, như Tấn, bạn cùng đơn vị với Bình. Một lý do khác khiến Lũy bỏ về đi buôn, cho dù đây là một việc không thích hợp với Lũy, như Phạm nói: “Thằng Lũy mà đi buôn thì chó cũng phải cười…” (Trang 40). Nhưng Lũy nói: “Thà tao đi buôn còn hơn hùa theo chúng nó…lúc nào cũng to họng chửi bọn bán nước cầu vinh, rồi chúng nó cũng đến bán nước cầu vinh. Đi buôn còn hơn theo bọn bán nước cầu vinh.” (Trang 41).

Bỏ tổ chức, một số trở về Hà Nội, một số ở ngoài vì theo họ, vào thành thì không thể sống dưới quyền cai trị của Tây. Rồi cuộc chia hai đất nước, những thành phần này cũng có mặt trong số cả triệu người di cư. Ở đất mới, ngòi bút của Hồ Phong vẫn tiếp tục mô tả những dằn vặt, những thao thức như không bao giờ có thể làm họ nguôi ngoai nỗi buồn và nhục nhằn của đất nước, của lịch sử. Tuy nhiên, trong số những nhân vật này, cũng có người đưa ra một hy vọng sau thời ký đau thương này, anh lý luận theo dòng lịch sử mà theo anh là, “Sức phản kháng của Việt Nam là sức phản kháng thầm lặng, quyết liệt và trường kỳ. Đó là kháng lực tinh thần”. (Truyện số 7, trang 97)

Trích đoan:

– “Thành phố lộng gió. Đã 1 giờ đêm. Đại lộ vắng tanh, dài hun hút. Những căn nhà hai bên nằm im lìm như từng nấm mộ. Thỉnh thoảng tiếng động cơ xích lô máy vang lên, rồi âm thanh chìm tắt, thành phố bỗng rơi vào tĩnh mịch” (Truyện sô 2, trang 40).

– “Vọng bỏ thành phố ra đi đã ba năm. Trở về chiều ba mươi Tết, Vọng thấy đời mình cô đơn, trống trải. Vài người bạn văn đều mất địa chỉ. Một người bạn công chức đã bị đổi đi xa. Đột nhiên Vọng lại muốn đi. Ngày mai sẽ đi. Đi đâu cũng được. Miễn là được đi khỏi thành phố” (Truyện số 3, trang 47).

– “Nhiều khi tha thẩn, Thao tự hỏi Thao là ai? Tại sao Thao có tên có tuổi? Tại sao Thao bỏ cha mẹ, bỏ bạn bè ra đi. Lấy vợ, có vợ, Thao vẫn thấy mình bơ vơ. Gia đình, vợ con, đối với Thao, tất cả chỉ là những bóng dáng nhạt mờ. Cuối cùng, Thao chợt nhớ mấy thằng bạn đã xa cách nhiều năm trong đó có Vũ” (Truyện số 5, trang 70).

Cuộc kháng chiến chống Pháp mặc dù đã kết thúc từ năm 1954, nhưng đối với các nhân vật chính trong truyện, họ đã bỏ về sau khi đã tham gia cuộc chiến quá nửa thời gian, nên họ chưa thể xóa bỏ những ám ảnh của những tên phù thủy cai thầu cuộc chiến cho mưu đồ đảng trị, nên hành trang họ mang về còn nặng nề lắm, lại sống trong môi trường thành phố, càng như đẩy họ ra khỏi đó. Lỗi không phải của họ. Mà lỗi chính thuộc về những tên phù thủy, những tên âm binh, những con buôn chiến tranh.

Trích đoạn (Tiếp theo):

-Bình, nhân vật chính truyện số 1:

    – “Ở lại hay về?

“Ở lại là vùi dập kiếp sống trong tù ngục cùm xích. Về thành là hàng giặc, là theo giặc, là ngồi nghe chúng nó ca hát nhảy múa trên mồ hôi nước mắt dân mình, là ngồi nhìn chúng nó dầy xéo trên lưng trên đầu cả một giống nòi chưa thoát điêu linh (Truyện số 1, tr.8)

Ở trang 38 sau đó, Bình tiếp tục nghĩ đến việc “ở lại hay về thành?”

Nếu về thì:“Làm sao sống nổi với Pháp? Bọn công an liêm phóng Hà Nội sẽ không buông tha chàng. Bọn Việt gian, bầy sói của Pháp, sẽ có dịp trút tất cả thù hận lên đầu chàng. Chúng sẽ tống chàng vào ngục. Chúng sẽ dầy xéo lên đời chàng. Chúng sẽ xé chàng ra làm tram mảnh.

Còn ở lại:

“Không sống nổi với bọn phù thủy. Chúng sẽ giết chàng. Chúng sẽ thủ tiêu chàng như đã từng thủ tiêu hàng vạn người ái quốc chân chính từ ngày chúng nắm chính quyền…” (Truyện số 1, trang 38)

Người vào Nam, dạy học dưới Đồng Tháp Mười, như Thao, dạy môn sử. thì:

“Giờ sử đệ tứ hôm nay giảng về chiến tranh Việt-Pháp. Tình cờ chương trình sử đã khơi dậy trong Thao nhiều kỷ niệm. Là người Việt bên này chiến tuyến, nhắc đến chiến tranh Việt-Pháp 1946-1954 là nhắc đến phản bội, hậu quả trở thành nỗi khốn khổ giây chuyền chưa biết bao giờ thoát. Những người, khởi từ mùa đông 1946 đi vào cuộc chiến đấu, hoài bão mình được theo bước Kinh-Kha đuổi giặc dựng nước. Nhưng cuối cùng, ngày trở về hai bàn tay trắng…

“Gần một trăm học trò ngồi dưới nhìn lên. Im lặng. Câu chuyện, bằng giọng trầm, Thao cứ kể mãi. Thao ngâm thơ kháng chiến, giọng chàng mênh mông phiền muộn. Không khí lớp học chết lịm. Và lòng Thao, vết thương ngót mười năm cũ tấy phát trở lại. Im lặng. Giờ phút này để mặc niệm? (Truyện số 5, tr.70)

Còn với Đăng, sau khi “liều” hay “tếu” cưới vợ, lên Sài Gòn dạy học. Nhưng, Đăng vẫn như người của một thế giới nào đó. Anh ảo tưởng hay muốn phủ nhận thực tại? Không. Đăng nhớ quá khứ, những tháng năm gió bụi, mưa đổ trên chiến trường, trên cuộc đời của Đăng và của bạn hữu.

Đêm nay mưa thật lớn. Mưa đập mạnh xuống mái tôn. Mưa muốn phá tung mấy vách gỗ.

Ngọn đèn cầy tắt từ lâu. Căn gác nhỏ tối đặc, thỉnh thoảng bị soi sáng bằng một làn chớp lọt qua kẽ ván. Đăng ngồi uống cà phê thầm và nghe mưa, mưa từ trời cao đổ xuống, đi tìm mưa gió tháng năm xưa đã ngập lụt hồn Đăng.

Đăng nhìn đồng hồ, gần mười một giờ. Đăng nhìn vào giường vợ, chị Dung đã ôm đầu vào yên giấc ngủ. Đăng nghĩ: “Dung ngủ trông thật buồn”. Đứa con đầu lòng của vợ chồng Đăntg chợt cựa mình trong nôi. Đăng thấy cặp môi con như hai cánh hồng tía vừa bay lên vu vơ trong bóng tối. Đăng khẽ nói: “Hai mươi năm sau, con sẽ làm người”.

Một trong những điều làm Đăng khổ nhất là thời gian. Thời gian sẽ đem vợ chồng Đăng già đi. Thời gian sẽ đem con Đăng lớn dậy. Sợ nhất là già đi như một loài cỏ úa. Sợ nhất là lớn lên xanh tốt như một thân cây vô tri.

Đăng đứng dậy tìm chiếc áo mưa mặc vào rồi mở cửa bước ra. Con đường nhựa sạch láng. Mấy ngọn đèn chết lạnh. Gió dìu mưa vào vũ khúc chập chùng. Đường thật vắng. Đăng bước ngược mãi lên. Mưa ào ào không nguôi. Một chiếc xích lô đạp ghé sát vào Đăng. Bên trong xe có bóng đàn bà hút thuốc. Đăng bảo người phu xe: “Đi làm ăn chỗ khác”. Người phu xe già tỏ vẻ chán nản đậu xe lại bên lề đường vươn vai ngáp dài…

Thành phố ban đêm thật rộng. Đăng có thể đi thế này hàng giờ. Nó đi mãi, đi mãi. Nhưng nó chợt dừng lại. Nó ghé vào trạm xe buýt ngồi nhìn ra con đường trải rộng có mưa đổ dữ. Nó ngồi co. Rồi nó nằm trên chiếc ghế băng dài.

Đăng tỉnh dậy. Nó thấy mình vẫn nằm trên chiếc bang dài trong trạm xe buýt. Bên ngoài trời vẫn mưa tầm tã. Mấy viên cảnh sát và lính tuần đêm mặc áo mưa đứng chĩa súng vào Đăng. Một cảnh sát viên đeo súng ngắn hỏi Đăng: “Nằm mơ gì đó cha ?”…

“Đăng ngồi ở sân quận suốt đêm đến tám giờ sang. Đại úy quận trưởng cảnh sát đến. Đăng vào văn phòng nói với ông Đại úy trẻ tuổi đó: “Xin đại úy cho tôi về”. Đại úy quận trưởng ngước nhìn Đăng: “Ông tên là gì?’ – Dạ, Phạm Hữu Đăng”. Đại úy quận trưởng tìm kiếm trong đống kiểm tra một lát: “Đây rồi, ông Phạm Hữu Đăng, giáo sư”. Đại úy quận trưởng hỏi: “Ông dạy trường nào?” – Dạ, nhiều trường”. – “Nhiều giờ không ông?” – “Dạ, nhiều, nhưng nghèo lắm”. Viên đại úy cười dịu: “Tôi hiểu. Trước khi nhập ngũ, tôi cũng là một giáo sư tư thục”.

Viên Đại úy lấy bao thuốc mời Đăng. Đăng rút một điếu, đánh quẹt đốt, cử chỉ quen thuộc như một thằng bạn trong tiệm cà phê nào đó. Viên Đại úy đưa thẻ kiểm tra cho Đăng: “Thôi, mời ông về”. Đăng cầm thẻ kiểm tra nhét vào túi áo ngực, đứng dậy bước ra cửa, quên cả cám ơn. Nếu Đăng ngoảnh lại, nó sẽ thấy viên Đại úy đang nhìn nó cười, nụ cười của tình bạn thân thuộc, của những người nhìn nhau bằng tình.” (Truyện số 6, tr. 82, 86, 88, 90).

Chúng tôi đã giới thiệu với quý vị một vài nhân vật chính trong truyện Quê hương đau khổ này, họ đã tham gia gần hết cuộc kháng chiến (1946-1954) nhưng rồi đã bỏ về vì nhận ra sự thật đằng sau chiêu bài đánh Pháp, để thiết lập đảng cầm quyền bằng mọi biện pháp bạo tàn. Dưới ngòi bút của nhà văn Hồ Phong, họ là những thành phần chán nản, u uất, như bỏ cuộc, tự mình đi tìm mình hay tìm thời gian đau thương đến cho bạn bè cho chính bản thân mình, trên những con đường trong thành phố về đêm hay ẩn mình trong căn nhà gỗ chật hẹp, tăm tối, ở một con hẻm nào đó, tuy đó là nơi tạm dung đầy tình thân bạn bè. Nhưng cũng là biểu hiện một tình trạng ngột ngạt, lẻ loi bên lề xã hội. Bên cạnh những nhân vật này, nhà văn Hồ Phong cũng đã xây dựng một nhân vật nữ với một quan niệm về nhân sinh mang tính nhân văn và tự do đáng quý. Người nữ này là nạn nhân của cuộc chiến, mẹ cô là một thiếu nữ đẹp, đẹp cả tinh thần và thể xác ở   Nguyễn thị Bạch, cái tên nghe gọnmột làng quê, một miền quê trong chiến tranh. Một lần quân Pháp đã tràn đến, người thiếu nữ ấy bị một tên lính Tây hãm hại cuộc đời. Rồi cô sinh ra một bé gái, hoàn toàn mang hình dáng một cô bé lai gốc Tây phương, rất xinh đẹp. Cô đặt tên cho con gái của mình là Nguyễn Thị Bạch. Khi chia cắt đất nước, người thiếu nữ mang con lên tàu vào Nam, nhưng cô đã tự tử trên tàu. Sau đó, Nguyễn Thị Bạch được gửi vào trại tế bần. Thời gian trôi mau, Nguyễn Thị Bạch nhận thấy ngột ngạt, không muốn ở đó nữa. Cô đã trèo tường trốn ra ngoài xin đi theo bà Tư đêm đêm bán chè đậu đen bên ngoài trại Tế bần.

Hồ Phong viết:

Nguyễn thị Bạch, cái tên nghe gọn, trầm lặng, và người mang tên dửng dung, chai đá trước những khốn khổ vây bủa số kiếp mình…

Nguyễn thị Bạch, bây giờ nó ở đây, trong một ngõ hẻm thành phố giữa những bà Tư, bà Năm, anh Sáu, chị Đào…Bạch ở với bà Tư. Bà Tư không chồng con nên bà thương nó nhiều. Ngày tháng qua nhanh trên đời Bạch. Nó xây đắp, vun xới từ những nhỏ vụn. Nó vui buồn thầm lặng.

Bây giờ nó khoảng hai mươi, cao vừa, khỏe mạnh rất con gái. Nó quá đẹp, nó lai, tóc nâu duỗi dài từ đầu xuống vai, mắt biếc mầu biển chiều đậm vẻ buồn sầu. Nó mặc quần đen áo bà ba trắng, quần áo Đông Phương, khung cảnh Đông Phương càng làm tăng vẻ con gái Tây Phương, làm nó nổi bật như một loài hoa lạ…

Nguyễn thị Bạch, không giản dị như một cái tên, không xuôi dòng như một đời người, nó biểu tượng, mỗi người thử ghi nhớ và phát hiện một vấn đề, kết tụ thành khởi điểm một lịch sử (Truyện số 7, tr. 97, 109)

Khởi điểm lịch sử của Nguyễn thị Bạch hay của dân tộc? Tác giả không nói ra. Có lẽ cả hai. Vì, ở một chỗ khác, nhà văn Hồ Phong đã viết về hai người trẻ trao đổi với nhau về tương lai của dân tộc, của đất nước và của mỗi người, khi họ cùng với phái đoàn báo chí Sài Gòn ra thăm khu phi chiến ở Bến Hải, có cầu Hiền Lương bắc qua hai bờ Bắc-Nam. Người thanh niên trong đoạn văn dưới đây là một sĩ quan trẻ. Con người phụ nữ tên là Miên, có người anh trai ở lại trong cuộc chia cắt đất nước. Vì, chị Miên kể: “Anh Đức tôi tham gia gần hết kháng chiến…Anh ở lại, vì muốn đối đầu. Anh ấy giải thích rằng bỏ Bắc vào Nam, bỏ cộng sản theo thực dân trên đường bại trận là một lối rút lui trên vòng tròn…Tôi vào Nam vì không thể cúi đầu trước mặt những người vừa thắng trận nhờ xảo thuật…

Chúng mình còn trẻ. Tuổi trẻ hôm nay phải gánh chịu quá nhiều.

– “Anh thấy thế nào?

– “Hai trường hợp sẽ xảy ra. Thứ nhất, hoàn cảnh này sẽ nung đúc tài năng, sẽ là dịp cho nhiều người biểu tỏ tài năng của họ. Thứ hai, cũng chính hoàn cảnh này sẽ là chiếc máy chém, hạ sát tất cả những kẻ khoanh tay trông chờ định mệnh.

Miên cười: “Chắc Việt Nam sẽ có nhiều nhân tài?”

Miên nói hơi lớn: “Bão tố nổi lên, tro bụi sẽ bay hết, những kẻ bệnh sẽ chết, và những người đứng vững, còn lại, sẽ hoàn thành một thế hệ anh dũng” (Truyện số 4, tr. 63, 64)

Trở lại với nhân vật Nguyễn thị Bạch, sau khi tác giả viết nó (là) biểu tượng, mỗi người thử ghi nhớ và phát hiện một vấn đề, kết tụ thành khởi điểm một lịch sử…

“Một người phi công trẻ bước vào. Anh mặc đồ bay mầu da cam, tay cầm mũ lưỡi trai đỏ.

Bà Tư – Kìa cậu Vĩnh. Về hồi nào vậy?

Người phi công – Dạ mới về tới.

Bà Tư – Ngồi chơi đi cậu. Bạch, rót nước, con.

Không khí căn nhà như ngưng lại một lat. Bạch đã rót ly nước đặt trên bàn. Nàng mỉm cười ngỏ ý mời Vĩnh. Bà Tư quấn thêm một điếu thuốc.

Người phi công – Tôi có anh bạn mới về ở chung. Từ mai, cô Bạch làm ơn cho chúng tôi hai phần ăn.

Bạch – Dạ được. (Một lát) Đồ ăn nấu như thế vừa miệng không anh?

Người phi công – Cô thấy hồi này tôi mập dữ

Bạch (cười) – Anh khen khéo lắm nghe

Người phi công (cười) – Tôi chỉ nói sự thực…

Hồi này đông khách ăn cơm không, cô Bạch?

Bạch (ngẩng đầu, bàn tay nhỏ vuốt chùm tóc vừa xõa trên trán) – Đông anh ạ. Tôi vừa tậu được chiếc xe đạp khá tốt. Tôi sẽ nhận thêm nhiều nơi nữa và nhờ có xe, tôi sẽ đem đến nhà cho họ thật đúng giờ.

Người phi công – Như thế là cô thực hiện được ý muốn.

Bạch – Khỏi phải đi làm cho ai. Tôi muốn tự do. Ổn định được đời sống bằng một nghề tự do, không cần chen lấn, không bị cuốn đi, dù phải đổ rất nhiều mồ hôi, tôi cũng bằng lòng. Anh thấy, đời sống bây giờ, ai đương đầu nổi, ai giữ sạch được bàn tay, ai tự kềm chế được những bước chân liều lĩnh, là đáng hãnh diện lắm. Tôi không dám nói với người khác, sợ họ cho là mình kênh kiệu, có thể, nhiều đứa còn cho là mình ngớ ngẩn. Nhưng, tôi phải nói với má tôi để má tôi hiểu tôi, và nói với anh là chỗ thân thuộc như người nhà. Đối với cuộc sống hôm nay, tôi thấy mình hoàn toàn xa lạ.

Người phi công – Ai còn biết thèm tự do, ai không cần chen lấn, ai còn đứng vững được, ở thời đại mình, đều đáng khâm phục. Cuộc sống hôm nay như một dịp thử thách, sẽ giết chết nhiều người, nhưng cũng giúp nhiều người trở thành người thực sự. Tôi thấy sợ khi nghe một người con gái Hai Mươi như cô vừa nói đến chính cô. Lứa tuổi bây giờ già trong chớp mắt. Những người hôm nay gần như không có tuổi trẻ. Giữa cơn khắc khoải này, tôi thấy ngày mai thật sáng, bởi người đang nhận ra người, người cũng đang nhận ra thú vật hình người. Bọn thú vật hình người sẽ chết. Chỉ còn lại người tái tạo một xã hội người, người ở với nhau trong quê hương vinh quang đích thực. Cầu cho chúng ta có thể đương đầu. Cầu cho chúng ta giữ sạch được bàn tay. Cầu cho chúng ta kềm chế được những bước chân liều lĩnh. Cầu cho chúng ta được gia nhập xã hội người.

Vĩnh nhìn Bạch thật lâu. Bạch ngừng tay, nàng mỉm cười vu vơ, nhìn ra bóng đêm bên ngoài cửa sổ. Bà Tư ngồi lặng thinh. Bà kéo từng hơi thuốc đều đặn.

Ngọn đèn dầu hôi hắt bóng ba người rung rinh lên vách gỗ.” (Truyện số 7, đoạn kết, tr. 111-113)

HỒ PHONG

Với Đồng lửa

Nếu quý vị đọc xong tập truyện Quê hương đau khổ này rồi đọc tiếp quyển Đồng lửa, quý vị sẽ thấy hai tập truyện này có sự tương quan khá chặt chẽ với nhau về dòng tư tưởng của các nhân vật trong truyện, đặc biệt với nhân vật Thượng, là nhân vật trung tâm của Đồng lửa. Trong Quê hương đau khổ này, nhà văn Hồ Phong kể chuyện về một số bạn bè của ông đã theo kháng chiến từ Vệ quốc quân rồi lên Việt Bắc, chiến đấu gần hết cuộc chiến thì họ rời hàng ngũ. Có người nhận giấy “giải ngũ”, một hình thức bị loại trừ, có người thì cáo bệnh hay trốn về, cũng có người về thành, một số khác thì không. Họ đi buôn. Họ không về thành, vì không thể sống với giặc, với thực dân.

Những thành phần này, chúng tôi có cảm tưởng như họ đã có mặt trong truyện Đồng lửa, bởi tư tưởng của họ vẫn là yêu nước, nên trong miền đất tự do sau biến cố đất nước chia hai, họ vẫn thấy một Sài Gòn, hay một miền Nam không phải là một thực tại hay một hình ảnh một Việt Nam vinh quang, anh hùng như trong lịch sử ngàn năm. Điển hình như Thượng, nhân vật chính trong Đồng lửa, còn bị bạn bè phản bội, bị loại trừ khỏi tổ chức, khiến cho Thượng hay đi lang thang một mình trong thành phố vào khuya. Đây là những dịp Thượng suy tưởng về một xã hội mới, một Việt Nam huy hoàng. Anh nghĩ và muốn hành động như một nhà cách mạng. Thượng không chấp nhận được một thành phố nhầy nhụa, tranh giành, cướp giật trong cuộc sống, bẩn thỉu, đĩ điếm, ma cô. Một thành phố đạo đức suy đồi. Cuối truyện Đồng lửa, Thượng xuống Đồng Tháp Mười dạy học tại một tư thục, do một linh mục hiệu trưởng. Anh đã thấy tình cảm thân thương, sự gần gũi từ phụ huynh đến học trò nơi làng quê xa xôi, sát biên giới Campuchia này. Thế nhưng, cuộc sống yên lành ấy đã bị lính bên kia phá vỡ. Người dân tan tác, đi tìm nơi yên lành khác. Tháp chuông nhà thờ gẫy đôi sau những cuộc đánh nhau. Trường học giải tán vì không còn học trò. Thượng trở về thành phố, sống âm thầm héo hon, phiền muộn. Anh rời Đồng Tháp Mười, mang theo một nghĩa trang, một nấm mồ của một nữ sinh đã có những biểu hiện yêu anh. Cô đã mua tặng anh một chiếc áo, trước khi rời xa mảnh đất này, Thượng tới mộ của Nhài, cô nữ sinh ấy, anh treo cái áo nơi cây thánh giá phần mộ của cô học trò thân yêu của mình.

“-Nhài ơi, cầu cho Em bình yên giấc ngủ. Hãy sớm về thinh không mà chiêm ngưỡng dung nhan Chúa nhìn Em nhân từ.

Nẻo bờ kênh chập chùng sương phủ, và Thượng lên đường.” (Kết truyện, trang 146).

Đây là những khoảnh khắc đẹp nhất, hạnh phúc nhất trong đời thượng. Nó vượt ra ngoài những suy nghĩ, trăn trở của con người luôn ấp ủ một cuộc cách mạng xã hội mang lại no ấm và tình thương cho con người.

Trích đoạn:

“Sáu và Long đòi giết thằng K. Nhưng Thượng không muốn đâm trộm nó rồi chạy trốn.     Thượng không muốn hành động như người nóng tính. Phải biết đợi. Và Thượng đành âm thầm nhẫn nhục.

Dù sao thằng K. chỉ là tên kép, mặc giáp, đội mũ đi hia, nhẩy vào sân khấu múa may cho tuồng tích đời nó. Xong một lớp nó sẽ trở về hậu trường. Nó sẽ cởi giầy, cởi giáp, bỏ mũ. Nó sẽ đối diện với chính nó. Nó sẽ nhìn rõ thân phận nó, nhơ bẩn, hèn hạ, bỉ ổi. Và những vai nó vừa đóng, chỉ là ảo ảnh. Cuối cùng nó nguyên hình thằng kép. Nó diễn cho ảo ảnh vinh quang đời nó. Nó diễn cho áo cơm đời nó.

Tội nghiệp thằng K. Nó sống bằng bùa phép. Lương tâm nó bình an? Theo nó, lương tâm là gì? Có bao giờ nó tự hỏi? Nó có nhiều tiền, nhiều thứ. Nó gặp mặt lẽ sống đích thực? Cứ nhìn thấy nó cười hềnh hệch với mọi người, bắt tay mọi người thật chặt dáng vẻ thân thiết, đủ biết nó sợ. Nó sợ người ta hiểu rõ nó? Nó sợ những người nhìn thấu thâm tâm nó, chỉ thẳng vào mặt nó rồi chửi? Nó sợ bị phanh phui? Nó sợ những người chung quanh gọi đích danh ma đầu của nó?          

Thằng K. vị lãnh đạo đàn anh đã lộ hình tích gian thương. Đoàn thể, đấu tranh, cách mạng, với K., tất cả là món hàng kinh doanh kiếm lời. Nó them tiền. Nó buôn bán nhiệt tình tuổi trẻ của bạn bè và những người tin nó.

Lòng Thượng nao nao. Một chút buồn. Một chút chua chát, giận, tủi. Đó là tâm trạng Thượng lúc này (Trích: Đồng lửa, trang 7, 8)

Sau đó, tác giả mô tả về tâm trạng và nỗi u uất của Thượng, Thượng thường đi lang thang trong thành phố và trở về nhà thật khuya hay không trở về, mà đến với bạn cũng là bạn với K, họ là những nhà giáo trẻ, có khuynh hướng cách mạng xã hội. Tiếc thay, K phản bội bạn bè khi có cơ hội trong tay. Thượng suy nghĩ về tuổi trẻ và cách mạng:

Ngoài kia, bóng tối dày đặc ngõ hẻm. Từng dẫy nhà chen chúc, lô nhô, lúp xúp, mái tôn, mái lá, đèn dầu vàng vọt.

Thượng không quên nổi thằng K. Nó trắng trẻo, nhỏ thó. Nó xách cặp da. Nó mặc đồ lớn. Nó luôn luôn cười. Nụ cười đó để cám dỗ tuổi trẻ dễ tin, thành khẩn và nhiệt tình? Từ sáu năm qua. Thượng không nghi ngờ nó? Lý tưởng như hào quang rực rỡ chói lòa, khiến mắt Thượng không nhận được hình tích những vết đen trên giọc đường thằng K đi tới. Tuổi trẻ là thế? Là say mê mải miết hành trình? Là giấc mơ gặp mặt lịch sử?  Và không cần tra hỏi lịch sử là gì, đấu tranh là gì, cách mạng là gì? Và tuổi trẻ là trọn vẹn bài thơ lãng mạn? Tuổi trẻ quyết dâng vào đời đôi cánh tay châu báu, từng hơi thở còn đập, từng bước chân đi? Tuổi trẻ không thể tưởng tượng hình dáng những vực thẳm, những lường gạt yêu ma, những bàn tay lông lá? Tuổi trẻ không thể phân tích giữa cách mạng và tà thuật cách mạng? Tuổi trẻ là thiên thần ngây thơ? Tuổi trẻ đi tới và khi choàng tỉnh thì thua lỗ đã ngổn ngang nửa đời?

Thượng ngồi hút thuốc ở đó để nghe đau đớn ngấm sâu vào hồn. (Trích trong: Đồng lửa, tr.16, 17)

K. và Thượng là hai khuôn mặt thuộc lớp người sau cuộc chiến 1946-1954 có quan điểm khác nhau, có thể đối kháng nhau, Thượng là mẫu người cách mạng lý tưởng, ngả về bảo thủ và truyền thống. Còn K. là kẻ cơ hội, có thể bán rẻ lương tâm và chà đạp lên đạo lý miễn là có danh lợi. Một người bạn khác trong các bạn của Thượng là Thảo thì khác với Thượng và K. ở quan điểm về cuộc sống: Thảo thực tế. Tác giả đã ghi lại quan điểm của Thảo:

Có lần Thượng nằm với Thảo một đêm, hai thằng cũng không ngủ, cùng hút thuốc uống cà phê, nhưng lý luận là dòng nước chảy hai chiều cuốn xoáy, chiều nào cũng hăm hở tàn nhẫn vô độ.

Thượng nói:

-Chỉ sống không thôi thì nhục quá. Phải làm một cái gì cho ra người.

Thảo cười diễu cợt:

-Phải làm một cái gì là cái gì? Có ai không làm đâu? Con điếm, gã rước mối, thằng kẻ sĩ, thằng cách mạng, ai cũng có việc làm riêng đúng cương vị họ. Con điếm làm bẩn xã hội. Gã rước mối tiếp tay con điếm bôi bẩn xã hội. Nhưng ở xã hội này, mảnh đất nào sạch dành riêng cho thằng kẻ sĩ và thằng cách mạng? Cách mạng, tự nó sẽ xảy ra. Không cần phải múa rối, la hét om xòm. Cách mạng là sản nghiệp chung của cả một xã hội, không phải của riêng bọn đấu thầu múa rối, la hét chuyên nghiệp. Mày đến với tao phải với tư cách bạn, tình cảm và ngôn ngữ phải chân thành, không được nuôi thâm ý vận động, mở đường, dẫn đạo, khai sáng. Xã hội không phải tao cũng không phải mày. Xã hội, chính xác nhất, là một diễn tiến tổng hợp. Con người, cần sống và quyết sống. Tao tha thiết với đời sống của tao. Tao cần sống và quyết sống. Không thể chết được. Bọn múa rối thường dại dột hô hào hy sinh cuộc sống này cho cuộc sống khác. Không có những cuộc sống khác nhau. Sống, chỉ có một chữ, đầy đặn, bằng phẳng. Đừng có nhân danh lý thuyết này, chủ nghĩa nọ, phân chia thành cuộc sống này, cuộc sống kia. Xã hội, tự nó chuyển động phân thân muôn mặt, đối nghịch, ma sát, lắng đọng rồi tụ về duy nhất, rồi lại chuyển động, phân thân, đối nghịc, ma sát, tụ về. Con đường duy nhất đã có đó là đời người, có những bước chân mực thước, thì cũng có những dáng đi hào phóng, ngang ngửa, cũng có những kẻ say, cũng có sự hoang toàng. Những hào phong, ngang ngửa, kẻ say, hoang toàng sẽ phải tìm về con đường. Cần gì phải vận động, hò hét, như thể ta đây có sứ mạng, mà thâm tâm chỉ là tranh ngôi thứ với đồng loại. Không có địa vị dẫn đạo. Không có quyền uy số 1. Chỉ có giá trị tổng hợp, một người được coi là đại diện tâm tư chung, thực hiện ước vọng chung, đứng chung với mọi người, nhận lệnh mọi người, hành động như một phần tử của số đông. Không có quyền uy số 1.  Không có những đặc quyền ưu đãi trên sự đói khổ của số đông. Kẻ đại diện được nhìn nhận như một phần tử bằng hữu, không phải một kẻ dẫn đạo hay soi sáng. Công việc chung. Hành động chung. Tiến bộ chung. Đó là chân thân lịch sử. Phải nhìn rõ chân thân lịch sử, đừng hợm hĩnh đáng thương. Đừng làm cách mạng bằng tâm tư và sự sống hoàn toàn vô cách mạng. Nhà cách mạng không phải gã lừa bịp chuyên nghiệp, cũng không phải đào kép của gánh hát. Nhà cách mạng là công dân ưu tú, trong nhịp sống chung, được số đông nhận biết, cử làm đại diện. Khi đã được cử, thoát lên thể hiện hoài bão của cộng đồng, không phải bằng quyền uy số 1, mà bằng quyền uy toàn thể. Nhà cách mạng là một chiến sĩ cảm thông tuyệt vời, không phải một kẻ đầu cơ chỗ đứng, củng cố quyền uy cá nhân, phe nhóm. Nhà cách mạng là điểm hội tụ toàn thể, là năng lực dung hóa phân thân, chuyển biến từ duy nhất đến toàn thể, hội tụ từ toàn thể về duy nhất, chuyển động nhịp nhàng, đa năng, đa hiệu.

Tiếng Thảo đêm đó sang sảng mê say không cùng. Thượng rờn rợn như có mảnh thủy tinh sắc cạnh cắt trên da thịt. Tại sao nó đủ bình tĩnh, lý luận sang sảng khi đã ném áo kẻ sĩ, lái xe du lịch đi rước mối ngoại quốc hành lạc trên thân phận quê hương nó nghèo đói cùng cực và tan vỡ? Tại sao nó không là kẻ thù của bằng hữu? Tại sao nó với bạn bè như dòng nước hai chiều cuốn xoáy, mâu thuẫn, trái nghịch vô độ? Tại sao nó với bạn bè lại chưa có ung nhọt hận thù? Vẫn nằm với nhau, thiết tha, chí tình, nhưng đối kháng. Thảm trạng phân ly khởi từ bằng hữu? Mỗi người là một ốc đảo tự mình vẽ phác? Thằng Thảo là một nhiệt tình rẽ lối, buông lơi, phá sản? Nó vong thân hợp lý trong quay cuồng lịch sử? Nó rơi rụng đúng lúc để bón vào đất cho những mầm mới chồi lên? (Trích: Đồng lửa, tr. 104-107).

Có một lần Thượng lang thang trên mấy con đường trung tâm thành phố, vô định. Anh đi mãi rồi nghe tiếng chuông nhà thờ văng vẳng bên tai. Anh bước tới con đường Tự Do và thấy mấy cô bé đang đi về phía nhà thờ. Trước mặt anh là bức tượng trắng. Anh thầm nghĩ, anh là “gã du mụctheo dấu chân tìm về quê hương? Quê hương là vùng trú ngụ tuyệt vời? Thằng con trai từ ấu thời ra đi, lúc nào cũng ước mơ tìm thấy trong không gian mơ hồ ý nghĩa gì đó chỉ thị rõ ràng thân phận và cõi trú? Thằng con trai lớn lên từ một đầu đường hư ảo mù sương luôn luôn mong muốn một lần nào đó về đứng giữa quê hương bình yên tuyệt vời? Và trong đó, con người phô diễn toàn diện tài năng vận hành cuộc đi tới của Người và của thế hệ Người? (Trích: Đồng lửa, tr. 46)

Thượng như thế! Nhà văn Hồ Phong đã xây dựng nhân vật Thượng là trung tâm của truyện Đồng lửa. Trong các nhân vật của truyện, Thượng thất bại trong tình yêu. Anh rất cô đơn bên bạn hữu. Đến với bạn, nhưng rồi anh lại rời xa họ, bỏ đi lang thang trong thành phố về đêm. Một lần anh đi giọc theo bến sông Sài Gòn. Vựa cây, vựa cá, ghe xuồng, nhà sàn chi chít dầy đặc trên sình lầy hôi thối. Đàn ông, đàn bà, con nít ngồi phanh áo hóng Tgió trên mui ghe, trên mũi xuồng, tha thẩn trên bờ cỏ đông đặc như kiến. Đèn chai, dèn cầy chi chít trong lòng ghe, trên mũi xuồng như những vì sao sắp tắt. Đêm ở đây, thế giới người nghèo trên bế song ngoại ô này, với Sài Gòn trong đó, như hai miền cách nhau chặng đường thế kỷ,,  tuy chỉ cần hai đồng xe buýt, hoặc ba chục đồng xích lô, hoặc đi chân một giờ (Trích: Đồng lửa, tr. 19)

Từ khi Thượng bị K. phản bội, loại trừ anh ra khỏi tổ chức thì Sài Gòn không có mái nhà ấm êm cho Thượng, chỉ có nơi dừng chân với bạn hữu. Anh chỉ ghé thăm bạn rồi lại âm thầm đi lang thang trên đường phố về đêm. Thượng không nhắc tới vết thương do K. gây ra cho anh, nhưng cuộc đời anh như “gã du mục”, rầy đây mai đó, vô định. Tuy nhiên, tâm tư đầy trăn trở lý tưởng cách mạng, thay dổi và kiến tạo một lịch sử Người, nhân bản, khai phóng.

Tuy nhiên, trong tư cách nhà văn, tác giả đã viết những trang sách trong Đồng lửa về một Đồng Tháp Mười yêu dấu, ẩn chứa điều kỳ diệu với nước, lửa và cá. Đồng Tháp Mười trở nên bến đậu, là quê hương của Thương.

Trích đoạn:

Đồng Tháp tháng nắng mùa khô lửa bốc lưng trời, khói ngút vùng trời. Khói lửa ngùn ngụt ngày đêm ròng rã miên man hàng tuần. Có tên Néron nào lại đốt thành La Mã? Đây là mùa đốt đồng thứ ba từ ngày Thượng về. Mỗi năm một mùa đốt đồng. Khoảng tháng ba tháng tư dương lịch, đồng ruộng còn trơ những gốc rạ khô, dài hàng thước, nông dân lại phóng lửa đốt. Gió quạt lộng, đồng cháy mê man, khói bốc mịt mùng. Ban đêm đứng ở xóm làng nhìn ra, đồng lửa ngun ngút. Đốt đồng để cày, xạ lúa chờ mưa. Cày xong, xạ xong, mà trời đổ mưa, mầm nẩy trong đất, là năm trúng mùa, nông dân no ấm. Sau mùa mưa là mùa nước. Nước từ Cửu Long Giang dâng lên chảy về. Nước vùn vụt dâng cao. Ngập ruộng. Ngập đường. Ngập nhà cửa. Nông dân bắc sàn ở trên nóc nhà, đi lại bằng xuồng. Do đó, Đồng Tháp thường xạ lúa Nàng Chi, thứ lúa đặc biệt nước cao đến đâu lúa cao tới đó, dù thiên tai lụt lội nước cũng không thể tàn phá lúa được. Cây lúa thường cao hơn hai thước. Khi nước rút, lúa ngả dài mặt ruộng. Lúa cho thứ gạo đỏ, ăn cứng nhưng ngọt bùi. Mùa nước Đồng Tháp cá về đông đặc, cá rô, cá lóc, cá trắng đỏ đuôi.  Cá đỏ đuôi và cá rô ron (nhỏ bằng đầu ngón tay) quá nhiều, dân quê cất vó được hàng thùng, làm đồ ăn nuôi heo. Cá lóc cũng quá nhiều. Ngày nào Thượng cũng ăn cá lóc. Ăn đến nỗi đêm ngủ cũng thấy cá lóc bơi trong đầu. Đồng Tháp, với Thượng, được hiểu là Đồng Tháp cơm đỏ cá lóc. Nghe thật dễ thương, thoáng vẻ bùi ngùi.

Những tháng về Sài Gòn, Thượng thường bảo Khải:

-Ráng về xứ cơm đỏ cá lóc của tao mà xem.

Xứ cơm đỏ cá lóc của tao. Của Thượng? Bây giờ quê hương Thượng ở đó? Con thuyền vừa tìm ra một bến đậu. Quê hương là gì? Là căn nhà ở, con đường đi, và đời chung quanh tình người vây phủ?

Nghe Thượng mô tả đời cơm đỏ cá lóc, có thả xuồng trôi trên kinh đào đêm trăng, cảm như mình giong chơi ở nguyệt cầu, Khải thấy thèm đi vài ngày để có dịp ngoái cổ nhìn lại thành phố áo cơm, bụi bậm. Đi để tìm gặp cánh đồng xanh, những căn nhà nghèo khổ lưa thưa, vài con kinh nhỏ. Đồng Tháp Mười, như mấy nốt vĩ cầm vút lên cuốn hồn mất hút. Đồng Tháp Mười, như bàn tay mẹ vỗ về dỗ con vào giấc ngủ êm đềm.

Thượng nói với Khải về mùa đốt đồng:

-Cánh đồng không còn xanh nữa. Cả một cánh đồng mênh mông toàn lửa. Khói bốc mịt mù. Mày nghĩ sao? Ý nghĩ tâm linh của mày là gì? Mày đã quên trang sử nào chưa? Lương tri mày, giờ này, có thể xéo lên đồng bào mà sống? Mày còn nhớ rõ quốc tịch của mày? Mày còn khao khát được thương yêu? Mày chưa đui mù câm điếc. Mày đã quên trang sử nào chưa? Mày còn nhớ rõ quốc tịch của mày? Mày còn khao khát được thương yêu? Cánh đồng không còn xanh nữa. Cả một cánh đồng toàn lửa. Khói bốc mịt mù. Đồng cháy mê man. Mày đứng trong làng mạc thôn xóm nhìn ra. Ý nghĩ tâm linh của mày là gì? Đâu là thân phận mày? Đâu là thân phận những người cùng màu da tiếng nói với mày? Lửa quá nhiều, nhưng chỉ đó thôi sao? Lửa đốt đồng hay thiêu đốt tâm linh tri thức và nhiệt tình của mày về một trang sử đang âm thầm chép nốt?

Mùa đốt đồng, nghe như tiếng kêu gào mê say, nghe như nhịp chân ngựa vội vã qua cầu đưa dũng sĩ dấn thân vào quốc sử. Đồng lửa, hiện thân cuộc tàn phá lớn lao mịt mùng? Đời sống cánh đồng bình yên đang thành tro than. Chỉ còn trơ đất khô và dấu tích. Bàn tay người lại cần cù phá đất, gieo giống. Mùa gặt có bình yên? Ban đêm bóng đen nào lẻn về đốt lúa? Với nông dân, lúa cháy sẽ còn gì? Còn lại một đời sống héo khô, không cơm ăn áo mặc. Đời sống không cơm áo, tinh thần héo khô, là đời sống gì? Người có thể sống như súc vật? Giá không suy nghĩ gì…

Hãy gắng thành tâm một lần, ngồi trong xó xỉnh nào đó, lục soát đời mình, thành y thanh tra khắc nghiệt, xem mình là gì, cây cỏ là gì?  Có tiếng gọi nào từ thinh không vọng đến hay chưa?

Ôi cánh đồng xanh muôn thuở.

Lịch sử thăng trầm. Quê hương không may mắn khổ đau thường trực. Hạnh phúc như chút quà mọn nhiều đời ước mơ vẫn chưa cầm được. Nhưng con người sẵn sàng đối đầu với cam go, và hạnh phúc là ý chí chống đỡ. Niềm kiêu hãnh là truyền thống quyết đứng thẳng giữa số kiếp mình. Ôi cánh đồng xanh muôn thuở, còn một chút gì mong manh về đất nước cho người dân neo giữ cuộc sống (Trích: Đồng lửa, tr. 109-112)

Chúng tôi muốn kết thúc bài viết về nhà văn Hồ Phong ở đây. Vì tác giả đã biểu hiện tấm lòng tha thiết với cánh đồng xanh, tha thiết và đau đớn với lịch sử với quê hương đất nước của mình. Ông còn tha thiết đến thân phận khốn cùng của người dân nghèo. Với họ xuyên suốt lịch sử, ông chỉ thấy họ quá đỗi đau thương. Lúa gieo xuống, ban đêm những bóng đen về đốt sạch. Rồi chiến tranh, công đồn. Đời sống người dân nghèo lại khăn gói bỏ cánh đồng xanh, bỏ đất và căn nhà nhỏ bé nghèo nàn mà đi. Một số người nằm xuống trong lúc đồn bị bắn phá, ngôi trường nhỏ Thượng dạy học, ngôi tháp chuông nhà thờ gẫy đôi. Thượng đã tưởng Đồng Tháp Mười là bến đậu của ông, một “gã du mục”. Nhưng không ngờ, mọi sự đều đổ vỡ, tang thương! Có một lúc, nhà văn Hồ Phong khi nhìn thấy cảnh tàn phá trong đời sống của dân nghèo, ông đã liên tưởng đến lịch sử của dân tộc. Bao giờ mới kiến tạo một cuộc sống bình yên, một cuộc sống của Người? Có lúc, chúng tôi cũng đã khóc vì cảm thông với tâm tư không bình yên của ông.

Thế nhưng, tác giả tâm tư tiếp và niềm hy vọng về cánh đồng xanh sẽ vẫn nẩy mầm:

Có tiếng hát nào từ cánh đồng xanh phải không? Có cánh đồng xanh mông mênh ở linh  hồn đó hả? Thực tại này không được nhìn nhận? Thực tại tiếng nổ và tàn sát chuyển đến thực tại nào? Người có tìm đến tương lai của mình? Hay không gì cả? Trôi xuôi trên một dòng sông? Ngủ vùi trên bãi hoang hoặc giữa rừng già thú dữ và tai nạn?

Có tiếng hát nào trên cánh đồng xanh phải không? Hạnh phúc như chút quà mọn nhiều đới ước mơ vẫn chưa cầm được. Con người tỉnh thức sẵn sàng đối đầu với cam go và hạnh phúc là ý chí chống đỡ bền bỉ tuyệt vời.

Có tiếng gọi của truyền thống đòi đứng bật dậy giữa số kiếp, chống đánh muôn nghìn tà thuật từ bên trong mọc lên từ bên ngoài lọt vào.

Cánh đồng xanh còn đó. Chân đứng không đổi rời. Lửa đốt dồng sáng rực đêm sâu hừng hực chuyển vào đời sống. Tất cả sẽ cháy hết. Lớp tro phủ dầy. Nông dân sẽ cày ruộng và tro làm mầu trộn lẫn vào đất. Lúa giống sẽ đem gieo. Trời đổ mưa giống sẽ nẩy mầm. Mạ nhú lên. Mưa thuận thì mạ tốt. Lúa non xanh rì dẫn đến vụ mùa. Từ thôn xóm nhìn ra, ôi cánh đồng xanh muôn thuở… (Trích: Đồng lửa, tr. 112-113)

Khải Triều

Bài Mới Nhất
Search