LƯU BÁ BẮC
Một Tập Bản Thảo Thơ
Chúng tôi đã nghe đến anh Lưu Bá Bắc từ sau khi anh dịch bài thơ Những Dòng Sông Đều Chảy của Phan Lạc Giang Đông sang tiếng Anh: All Rivers Have Been Flowing, nhưng mãi đến nay (12/2024) chúng tôi mới biết anh Lưu Bá Bắc là người Công giáo, quê ở tỉnh Hải Dương. Biết được điều này, vì tôi có một cô cháu gái lấy chồng Hải Dương. Cách nay đã lâu, người chồng của cháu gái tôi đưa cho tôi một xấp giấy, nói là “cháu gửinói gì thêm, tôi nhìn qua thì biết đấy là một số bài thơ viết tay của Lưu Bá Băc. Tôi cũng không hỏi gì, chỉ nghĩ rằng chồng của chau tôi vốn biết tôi sinh hoạt báo chí và viết văn từ thời cũ, muôn tôi sử dụng những bài thơ này cách nào đó là tôi chọn. Nay (12/2024), tôi hỏi cô cháu gái, rằng Lưu Bá Bắc có đạo không? Cô nói ngay: “Có cậu. Tên thánh là Lôrenxô, như hầu hết những người nam trong họ hàng. Nhà cháu cũng thế. Ông ấy gọi nhà cháu là anh. Hai người là con cô con cậu. Nhà cháu đã đưa cho cậu tất cả những bài thơ của ông ấy rồi còn gì. Mà sao nay cậu hỏi ông Bắc làm gì, mà ông ấy chết lâu rồi”.
Tác giả bài thơ Những Dòng Sông Đều Chảy là Phan Lạc Giang Đông đã mất, người chuyển ngữ bài thơ này sang tiếng Anh là nhà thơ Lưu Bá Bắc cũng đã từ giã cõi đời này mà về cõi tiên với Phan Lạc Giang Đông, vì khi họ còn sống cũng đã cùng nhau làm việc cho thi ca. Hai người họ đã như là hai con cá rồng đã vượt “vũ môn” mà đi vào với thế giới mới. Bởi khi ở tại thế, họ đã sống với thơ, với chữ nghĩa thì tức là họ đã chọn sống cuộc sống cõi tiên rồi. Người đời không hiểu được họ.
Lưu Bá Bắc Với Phan Lạc Giang Đông
Trong bài viết về nhà thơ Phan Lạc Giang Đông dưới đây, người viết đã đề cập đến bài thơ Những Dòng Sông Đều Chảy của ông và in nguyên văn bản tiếng Việt bài thơ này. Nhà thơ Lưu Bá Bắc đã dịch bài thơ này sang tiếng Anh. Qua bài thơ này và bài thứ hai của anh PL Giang Đông là bài Walt Whitman’Lament (Nỗi khổ tâm của Walt Whitman), anh đã nhận được thư mời của Hiệp hội các Tác giả và Nghệ sĩ Quốc tế mời anh trở thành hội viên chính thức của tổ chức này.
Ở đây người viết in lại bài dịch của nhà thơ Lưu Bá Bắc cùng với “Lời Dịch Giả” và một số bài thơ khác của ông.
All Rivers Have Been Flowing
Original Translated into English by Lưu Bá Bắc
Những Dòng Sông Đều Chảy
by Phan Lạc Giang Đông
In Spring evening
Nowaday Seattle’s Sunlight was rising
I was waiting for bus in that direction
That of affection
That of singing voice full of love
.
The Sunlight was flowing on all roads
On brilliant slick black hairs
An Italian girl was imbued with the depth of sea
And with far away region color of the endlessly abundant Mediterrenean
She smiled while speaking up confiding words
A Chinese hard woman was being hurried
Just the same assiduous-because everything is meaningfull to her
And to the Asian wreath that will beautify future
The Ethiopeans were still maintaining their language
And the Sunlight never faded
On their far away country color smile
The Sunshine was dancing on Japanese children’s school bags
The Hungarian-French-Korean workers
The Indian-Pakistani old men
All of them were getting on bus down the South up the North
.
I was still standing here
In front of post office
While waiting for bus I hunted poem idea-word for word
What word for me
Which for humanity
And paining me
And my compatriots have ever been living in bad situation
Who are my comrades in arms-hard to distinguish truth from false hood
While waiting for bus
I heard music of separate and detached country
Sung by a black youngster with his round-full melody
And I thought of the European-African spiral feeling
And of the fatigued needy human situation
What that was paying debts of the world’s five parts.
.
On his wheel chair
The veteran was sticking up the flag
To commemorate the Viet Nam war with its very deep wounds
He looked at me with his bright sea blue eyes
The same heart beats clanged in our two feelings
Have passed blach nights already and it’s clear now
We are looking in front together
I gave him a cigarette
He donated me a smile
.
That of a wish “Happy Nice Day”
The fire of poem and music is shouting with joy
Oh you, veteran! Do you see
The Sunlight in Seattle and its spring are very fine.
.
I was still standing here
Every hour in silence
The bus number seven, number three
Number six, number thirteen
They were increasing to the sunny routes
Number of immigrants
.
Quietly and
Assiduously
Were moving up history
A certain painting whose name I did not remember
But surely realistic-Not be vanity
Those buildings-lonely looking ones
As if they were among the desert in spring
A certain flower shop was holding a Spanish girl’ steps
She was buying the freshest rose
To donate it to the passed year civil war
When blood and bones towered.
.
It may be that truth is
That which the Formosan student standing beside me
Next him was a Pekingese or Shanghai nice girl
They were manifesting their love among American open Avenue
That which was effacing the boundary between Red and Blue
Both gave each other a short kiss
Then got on bus together to dreamy Queen Anne.
.
I was still standing
More than an hour in silence
On the third avenue
The up and down spring wind was blowing
Across the street
A romantic looking painter
Was passionately painting the picture of humanity
Without school of art
Without complicatedness
The picture of America in future
That of all immigrants
Who have been being long river branches
Immensely wide
Flowing into the ocean
Brimming over the affection
Brimming over with words of poetry and prose
Brimming over with harmony tomorrow
All rivers
Every wave of them
Was cheerfully flowing into the future
.
All of us
Away with lamentation!
Dark nights must be over
Ghostly nightmares must fade
The writers and the poets every age
All over the world
Have been writing every word line to humanity in joyful season.
Seattle May 8th, 1997
Bài thơ tiếng Anh trên đây do Phan Lạc Giang Đông gửi về cho chúng tôi vào tháng 9/97, có kèm theo mấy bài viết của Lưu Bá Bắc, liên quan đến việc ông dịch bài thơ Những Dòng Sông Đều Chảy tiếng Việt sang tiếng Anh. Ông Lưu Bá Bắc viết:
Lời Dịch Giả
Tôi cảm thấy vô cùng thích thú khi đọc bài thơ “Những Giòng Sông Đều Chảy” của Phan Lạc Giang Đông bởi cái phong cách biểu tượng nhẹ nhàng của bài thơ. Nói chung tôi rất trân quí những giòng thơ của anh, nhưng đặc biệt bài thơ này đã gây cho tôi một ấn tượng sâu đậm, một rung cảm tột cùng bởi going hiện thực sinh động mà anh mô tả bằng một ngôn ngữ thơ có sắc thái riêng – rất tối độc đáo của anh. Vì thế, tôi nảy sinh ý định dịch bài thơ này sang Anh Ngữ: Tôi muốn người Mỹ biết đến những gì người Việt đã sống và cảm nghĩ trên đất nước tự do nay qua bài thơ “Những Giòng Sông Đều Chảy”. Trong giòng hiện thực sinh động, có lẽ Phan Lạc Giang Đông đã có được một niềm cảm hứng tuyệt vời để làm nên một sự giao thoa tuyệt diệu – tôi nghĩ thế – giữa trí tuệ, cảm xúc, tình cảm của anh khi viết bài thơ này. Thơ Phan Lạc Giang Đông rất khó dịch, nhất là những thuộc từ (Attribute) anh dùng có tính cách hàm súc của ngôn ngữ Việt Nam. Trong quá trình dịch, tôi đã nhiều lần lúng túng khi dịch những thuộc từ này và hơn nữa tôi vẫn nghĩ rằng vốn Anh Ngữ của tôi thật ít ỏi, không dễ gì nắm bắt được ngôn ngữ thi ca của Anh Ngữ để có thể chuyển dịch một cách trung thực ngôn ngữ đặc thù và rất Việt Nam của nguyên tắc. Tôi hy vọng một ngày nào đó sẽ có thi sĩ tài ba lỗi lạc nắm bắt được ngôn ngữ thi ca của Anh Ngữ để trả lại sự công bình cho nguyên tác. Tôi cảm thấy tôi đã làm hao hụt quá nhiều, sự súc tích, vẻ sinh động, nét hài hòa và nhất là âm thanh nhịp nhàng và ngọt ngào của ngôn ngữ thơ Phan Lạc Giang Đông khi dịch bài thơ này của anh sang Anh Ngữ.
Lưu Bá Bắc
Mấy Bài Thơ Của Lưu Bá Bắc
Khóc Phan Lạc Giang Đông
Bác Phan thôi đã thôi rồi
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng tôi
Nguyễn Khuyến
Thôi đã thôi rồi Giang Đông ơi
Tin anh mất đất trời tôi sụp đổ
Một cõi thơ – những ngôn từ rạn vỡ
Tiếc thương anh – choáng váng lịm hồn
.
Giang Đông ơi! Giờ là cõi vô ngôn
Tôi chỉ còn thơ anh trong vọng tưởng
Những cảm xúc anh ghi lại nơi nhà Nhượng
Nay trở thành vật trân quy vô biên
.
Thơ anh là sức sống dậy triền mien
Là hơi thở trào dâng ngạo nghễ
Và tự tại trước bao điều nghiệt ngã
Và khoan dung trước ngộ nhận tầm phào
.
Với tôi – Anh là nguồn cảm hứng dâng cao
Niềm hoan lạc chiều cuối tuần hội ngộ
Nơi nhà Nhượng – giờ ngập tràn nỗi nhớ
Nơi Building Bell Tower sóng vỗ dạt dào
.
Giang Đông ơi!
Anh mất đi tôi tức tưởi nghẹn ngào
Bao nhiêu dự định vẫn còn dang dở
Bao nhiêu mộng ước trong tầm tay tan vỡ
Ngọn bút thiêng đang rực rỡ ánh quang vinh
Bởi anh đang dấn thân vào nền văn học đấu tranh
Mà Hải Ngoại Nhân Văn là diễn đàn bày tỏ
Ngọn bút anh đang nương theo dòng lịch sử
Nhưng than ôi! Định mệnh sao nghiệt ngã khô cùng
.
Giang Đông ơi!
Giữa đường đứt gánh nặng văn chương
Đất nước mất một người con yêu quý
Tôi mất một tri âm tri kỷ
Cảm hứng văn chương cùng vút cánh theo anh
.
Giang Đông ơi!
Vĩnh biệt anh – Mộng ước vỡ tan tành
Từ đây thiếu vắng anh-cõi thơ tôi nương tựa
Từ đây xa vắng một nguồn thơ bốc lửa
Của một trái tim dạt dào tình nghĩa yêu thương
Lưu Bá Bắc
Viết trong niềm tưởng nhớ khi nghe lại tiếng nói của Giang Đông và hai bài thơ do nhạc sĩ Cao Hoàng phổ nhạc: “Mùa Thu Seattle” và “Chiều Queen Ann” tại nhà Nguyễn Văn Nhượng–nơi ngập tràn kỷ niệm với Giang Đông trong những chiều vui cuối tuần.
Seattle, 12-11-2001
Bài thơ này được cắt ra từ báo Chính Luận, không ghi ngày tháng.
Thơ và Cuộc Sống
Chỉ riêng cái Đẹp là chung nhất
Cái Tự Do đời vẫn phải mang
(Thơ Phan Lạc Giang Đông)
Phải nói thế nào về một cõi thơ
Khi Thơ không mấy tác dụng vào cuộc sống
Khi Thơ ôm một trời viễn mộng
Huyền hoặc mơ hồ như chính hữu thể ta.
.
Như khi ta thèm hát một bài ca
Không biết để làm gì – vẫn cứ hát
Hát to lên như một niềm khao khát
Chân Thiện Mỹ-cảm xúc đầy hồn.
.
Khi chữ nghĩa trong ta khơi dậy
một cách bồn chồn
Từ đó-Thơ đâm chồi nẩy lộc
Bài thơ viết không ai thèm đọc
Chiều hiu quạnh-đọc một mình, mình nghe.
.
Vắng tri âm vắng nỗi đam mê
đam mê thể hiện mình từ bản chất
nên câu thơ vương nỗi buồn hiu hắt
Viết cho ai? Ai biết mà đưa?
.
Con tằm đến thác vẫn vương tơ
Câu thơ – một chút quên thần thánh
Chén rượu – sưởi ấm đời cô quạnh
Thơ và Rượu – một mối tơ duyên
.
Thơ và Rươu – tẩy rửa nỗi trược phiền
Cưu mang đời – cưu mang Chân Thiện Mỹ.
.
Lưu Bá Bắc
07/1999
(Báo Đông Phương SRBS Newspaper 18 Ngày 10-02-2001)
Bài thơ Khóc Giang Đông, là một biểu hiện cảm xúc chợt đến, khi tác giả nghe lại được tiếng nói của tri âm tri kỷ của ông là PL Giang Đông sau khi người bạn này qua đời, liền đó là tiếng hát từ hai bài thơ của Giang Đông đã phổ nhạc. Đấy là cái nối kết tình bạn mà nay người ấy đã khuất. Bài thơ từ đó phát xuất từ tấm lòng vốn đã gắn bó nhau, thấu hiểu tâm trạng của nhau cũng như hai người đang có những dự tính thực hiện những công trình về văn học Việt Nam hải ngoại. Quả thật, đây là một điều đáng tiếc đối với người còn lại. Phải chăng, vì vậy mà ít lâu sau, Lưu Bá Bắc cũng ra đi theo Phan Lạc Giang Đông hầu có nhau ở cõi tiên.
Còn bài Thơ và Cuộc Sống, tác giả Lưu Bá Bắc gợi lại vấn đề Nghệ thuật và Nhân Sinh, từ cuộc bút chiến giữa nhà báo (thuộc phái Nghệ thuật vị Nhân sinh) Nguyễn Khoa Văn, bút danh Hải Triều và nhà văn Hoài Thanh, (phái Nghệ thuật vị Nghệ thuật) tranh luận trên báo chí từ năm 1935 đến năm 1939 tại Hà Nội. Ngày nay, sang đến thê kỳ 21 rồi, vấn đề trên đây được hiểu rộng hơn. Điều này có nghĩa Nghệ thuật vị Nhân sinh hay Nghệ thuật vị Nghệ thuật khòng được đặt ra nữa và nhà thơ Lưu Bá Bắc viết bài Thơ và Cuộc sống cũng không nhằm muốn nói lại cuộc bút chiến kéo dài mấy năm trời giữa Hoài Thanh và Hải Triều, đại diện cho hai quan điểm trên. Bởi vì, cả hai vị đại diện cho hai quan điểm này, lúc đó đều đang sống ở cõi trần tục. Anh có viết một bài thơ hay một bài văn bày tỏ nỗi lòng mình về một sự phản bội của người tình hay một người bạn thì anh đã phục vụ cho cái tôi của anh, một thành viên của một xã hội hay một cộng đồng nhân loại, anh không phải là một con người đứng một mình, không liên hệ đến bất kỳ ai. Do đó, anh cũng nằm trong quan điểm “Vị Nhân sinh” rồi. Còn những luận điểm “Vị Nhân sinh” do Hải Triều đưa ra chỉ xuất hiện ở giai đoạn đó, chủ nghĩa Cộng sản đang bí mật vào xã hội Việt Nam, chủ trương xóa bỏ tự do cá nhân.
Tuy nhiên, ngày nay có lẽ không một nhà thơ nào không một lần đối mặt với nỗi đau của mình, mất cha mất mẹ, mất người yêu, bị phản bội hay có lúc thấy cuộc đời này phi lý, chán sống, nên trút tâm sự, trút nỗi lòng mình vào một bài thơ, rồi đăng báo, hy vọng có người đọc và đồng cảm với mình. Thế nhưng, như trường hợp bài thơ Lưu Bá Bắc, anh có vẻ chán nản. Nhà thơ đã viết xong nỗi lòng mình. Thế là đủ, sứ mạng của anh đã xong.
thì thầm với những giọt cà phê
Những Cái Vẫn Đang Là…
Buổi sáng thu mình vào một góc vắng
những giọt cà phê như những giọt ăn năn
Dấy lên từ một niềm tin ác quỷ
Đó là chân lý
.
Nỗi sỉ nhục cứ mỗi ngày một lớn
như những bóng đè trong cơn ác mộng
Chúng lặng im một cách tục tĩu
Và cô đơn tấy lên như ung nhọt thối tha bẩn thỉu
Đó là sự chết
.
Cơn cuồng dâm mọc từ nỗi khiếp sợ
thành móng nhọn cắm sâu vào da thịt
thành khoái cảm từng hồi rên siết
thành lưỡi sắc rạch nỗi cô lieu
Đó là tình yêu
.
Tôi bước đi trên những going cạn
Nhặt nhãnh từng viên đá cuội
Đắp thành thần tượng gian dối
Con mắt láo liên
Rồi cúi đầu khép nép
Đó là sự nghiệp
.
Tôi tự dấn thân nạp loài lang sói
Chúng nhai thịt xương dòn như que củi
đó là sự thật không bao giờ dám nói
đó là những điều vẫn đang xẩy ra
những điều mà vợ con không thể biết
những điều cho mãi đến bây giờ vẫn không thể viết
những điều dù cố gắng vẫn không thể vẽ
trong những bức tranh siêu thực
những điều mà tôi vẫn đinh ninh
là những điều đã tạo nên cuộc đời tôi.
Seattle May, 1996
Cái Đẹp Là Một Điều Bí Ẩn
(Viết khi nhớ lại những cơn say trí tuệ. Khi trí tuệ say mèm yên ngủ, cơn phỉnh phờ của Trí tuệ…Cái tâm bừng sáng – nhìn thấy Cái Đang Là ẩn hiện lung-linh.)
Lưu Bá Bắc
Viết cho anh bài thơ tám chữ
Mỗi chữ như phạm trù bát quái quẩn quanh
Chữ nghĩa đìu hiu – Thôi thế cũng đành!
Nỗi phiền trược cứ mỗi ngày một lớn
.
Nét Đẹp đôi khi chứa nhiều ân oán
Nên không thể nhìn rõ dung nhan
Nhìn rõ cái Sâu Thẳm tận tâm can
Và Nét Đẹp trở thành điều bí ẩn.
.
Và đàn bà trở thành điều bất nhẫn
Giết chết nỗi đam mê – tự thủơ nào?
Sức sống mỗi ngày một tiêu hao
Con nít khóc than – ngừng cơn hoạn nạn.
.
Tư tưởng kiệt khô – không một lời than vãn
Như con sói hãnh diện nỗi cô liêu
Không phân bua không chấp nhất mọi điều
Vẫn nhìn đời – Ung dung tự tại.
.
Khi chúng ta bắt đầu biết sợ hãi
Là lúc cái Đẹp nẩy sinh
Từ một khúc xương sườn – bỗng nhiên biết tự tình
Kéo theo nhiều nỗi oan khiên – lung-linh lấp-lánh.
.
Nỗi khen chê không cần nghiêng vai gánh
Chân Lý Mặt Trời cũng khó đậu trên vai
Cơn phĩnh phờ của trí tuệ mới nguy tai
Bởi chỉ thấy toàn những điều huyễn hoặc
…
Chân lý nhạt nhòa trong cơn say bí tỉ
Ta mơ hồ nghe tiếng vạc kêu sương
Nhiều lần muốn thoát tục lụy tơ vương
Chữ nghĩa vứt đi – không cần làm thơ nữa
.
Nhưng ô kìa! Mùa thu rực lửa
Cả một vùng Vàng Sắc Yêu Thương
Gió thu hiu hắt quyện mối tơ vương
Lại một lần khẳng định: Cái Đẹp là một điều bí ẩn.
Seattle 09-01-1998
Văn Chương Và Sự Đau Khổ
Nếu phải nói thực về một cõi văn chương
Thì văn chương không làm được gì cả
Như giọt nắng chiều trong ly nước lã:
Giọt nắng tắt – tính chất nước vẫn còn.
.
Như những nỗi đau khổ vẫn trường tồn
Và hiện hữu như một cái cớ
Để văn chương bầy tỏ cơn phẫn nộ
Cơn phẫn nộ nguôi ngoai, đau khổ vẫn còn.
.
Như anh phế binh thương tật tủi hờn
Đang bơ vơ giữa đầu đường xó chợ
Văn chương – dĩ nhiên – không phải là con nợ
Chữ nghĩa đã phủi tay – món nợ vẫn còn.
.
Như Jean Paul Sartre với cuốn “Buồn Nôn”
Văn chương dấn thân – Buồn Nôn tự phủ nhận
Văn chương dấn thân cũng là chuyện vớ vẩn
Có một thời ồn ào,
Có một thời xôn xao,
Rồi cũng chìm vào quên lãng.
Nỗi đau khổ – văn chương làm sao cáng đáng?
Và thân phận anh phế binh
Như xác chết trương sình
Tấy lên trong buổi chiều tà ủ dột,
Với những nỗi buồn nôn…
Seattle 08/1999
Chả lẽ Mai Một Sao?
Đã ba mươi năm cuộc sống lưu vong
Đã ổn định đã sinh sôi nẩy nở
Thế hệ thứ hai thứ ba cuộc đời rộng mở
Thế hệ chạy trốn – liệu đã yên bề!
.
Lòng tuổi già vẫn trĩu nặng tình quê
Thế hệ thứ hai mòn dần ngôn ngữ Việt
Lịch sử Dân Tộc gần như quên hết
Ngôn ngữ mòn – truyền thống văn hóa hẳn mòn theo.
.
Tôi thường gặp vào những buổi chiều
Đám trẻ em Việt nói chuyện bằng tiếng Mỹ
(Tôi hỏi chúng: “Why don’t you speak Vietname?
Chúng cười văng: “You’re crazy.”
Tôi thấy buồn lòng bâng khuâng thầm nghĩ:
Cớ sự này –rồi sẽ ra sao?
.
Truyền thống văn hóa mỗi ngày một tiêu hao,
Sẽ mất hẳn – dăm ba thế hệ nữa
Chuyện đã muộn – nhưng xin đừng để lỡ
Như đã lỡ nhiều phen trong quá khứ tủi hờn)
.
Trên bước đường lưu vong,
Hành trình lịch sử trải dài mở rộng
Gốc gác cội nguồn Giòng Giống Lạc Hồng
Chả lẽ mai một sao?
Seattle 20/10/2004
Mấy Lời Cuối Về Nhà Thơ Quá Cố Lưu Vong Lưu Bá Bắc
Trong một lá thư gửi về Sài Gòn cho Nguyễn Khắc Hiên, một người anh trong họ hàng với Lưu Bá Bắc, (Hiên là con rể của một người chị trong dòng họ tôi, Hiên đã trao gửi tôi tập bản thảo viết tay của Lưu Bá Bắc, có 30 bài), có kèm mấy lá thư Lưu Bá Bắc viết riêng cho Nguyễn Khắc Hiên. Lá thư của Bắc tôi trích dẫn dưới đây, viết tại Seattle, miền Tây Bắc Hoa Thịnh Đốn (Mỹ) ngày 07-11-2006. Trong thư, Lưu Bá Bắc đã nói về nỗi đam mê văn chương của anh:
“Đam mê văn chương – đó là cái nghiệp, đôi khi trở thành nghiệp chướng, một nỗi phiền trược bởi khi ta nhìn vào đời sống, đời sống có những trạng huống, những tình cảnh thúc đẩy ta đưa vào cõi văn chương. Nhưng có rất nhiều sự kiện của đời sống ta muốn cưu mang, muốn viết ra mà không dám viết. “Cái tự do đời vẫn phải mang” và nghĩ rằng phải cưu mang với những điều không dám viết đã trở thành một mối xung đột mãnh liệt và biến thành nỗi u uẩn ám ảnh khôn nguôi. Hai câu thơ của Phan Lạc Giang Đông mà em đã trích như một tiêu đề trong một bài thơ của em đã gửi cho anh. Đó là hai câu cuối cùng của bài thơ Giang Đông viết tặng em khi em gặp Đông lần đầu tiên và em đã chuyển dịch sang Anh Ngữ:
“Chỉ riêng Cái Đẹp là chung nhất
Cái Tự Do đời vẫn phải mang
(Only the Beauty is the the most common
And the Liberty for which our life must be responsible)
Cái muốn viết ra không thể viết được – trong một thư khác viết cho anh, em sẽ đề cập tới đó là cái gì và tại sao lại không thể viết ra được mặc dầu em có hoàn toàn tự do viết.
Em vẫn chưa nói được gì trong thư này vì là thư gửi kèm với 3 bài thơ – Cuối thư là niềm ước mong và cầu chúc anh, chú Khánh và hai gia đình sức khỏe và sự bình an.
Ký
Một vài ý tưởng về văn chương, về lịch sử về những cái đang là v.v…mà nhà thơ Lưu Bá Bắc nói đến trong thư gửi cho người thân mà chúng tôi trích dẫn trên đây, cả mấy bài thơ này nữa. Đó là các bài: “Thơ và cuộc sống”, “Văn chương và sự đau khổ”, “Những cái vẫn đang là…” … là “lịch sử” tác giả đã nói đến ở một bài thơ khác mà bài này ông buông 3 dấu chấm.
Thơ của Lưu Bá Bắc nhiều ý tưởng mới và triết lý. Ông suy nghĩ nhiều quá. Có không ít bài, tác giả tạo nên những trầm tư nơi người đọc. Đọc thơ Lưu Bá Bắc không thể không có ý tưởng, đồng quan điểm với ông cũng có mà khác ông một vài điều cũng có. Thí dụ như bài Thơ và cuộc sống hay Văn chương và sự đau khổ. Ở một vài chỗ trong bài này, tác giả như muốn gạt bỏ văn chương, vì nó không “thực hiện” được gì trước những khổ đau của con người. Ông nêu ra cuốn sách “Buồn nôn” của triết gia người Pháp Jean Paul Sartre, hay hình ảnh của người thương phế binh lê bước trên đường phố. Có lẽ khi ông nghĩ đến điều này là lúc ông muốn hành động triệt để nhằm cứu người đang đau khổ. Thế nhưng, dẫu vậy, tác giả cũng nói lên sự giới hạn của văn chương, (hay của chính con người), còn sự đau khổ của con người thì không có giới hạn nào. Xem ra con người bất lực trước sự đau khổ của nhân loại.
Khải Triều
