Nhà Thơ MẠC TƯỜNG
Tập Thơ Nguyện Cầu Mùa Đơm Hoa, 2023
Vào tuần lễ đầu của tháng 8-2015, tôi nhận được Thư mời của Linh mục Võ Tá Khánh, tức nhà thơ Trăng Thập Tự, Trưởng Ban Văn hóa và Giáo dục Giáo phận Qui Nhơn, ra Qui Nhơn dự cuộc họp mặt và giao lưu các tác giả Công giáo. Đây là cuộc gặp gỡ những cây bút văn thơ Công giáo lần thứ IV, những lần trước cũng tổ chức tại đây.
Theo chương trình đính kèm với Thư mời, là đến những nơi, như nhà Hàn Mạc Tử ở trước kia, nhà tưởng niệm ông ở Qui Hòa và phần mộ của thi sĩ ở Ghềnh Ráng; thăm khu Nước Mặn, nơi in dấu chân đầu tiên của những linh mục thừa sai nước ngoài, nơi phát xuất Chữ Quốc Ngữ. Rồi còn Gò Thị, có Tòa Giám mục Đàng Trong và Dòng Mến Thánh Giá được thiết lập từ lâu. Buổi trưa của ngày hành hương, dừng chân và ăn cơm tại Làng Sông do Dòng Nữ tì Chúa Giêsu Tình thương mời. Nơi đây xưa kia là Tiểu chủng viện và nhà in, đều mang cùng tên Làng Sông.
Chuyến tàu chúng tôi đi hôm ấy, ra tới ga Qui Nhơn lúc 10g10 phút ngày hôm sau, 18-9, trễ đến 100 phút theo hành trình thường lệ. Chúng tôi bước ra ngoài sân ga, gọi chiếc taxi 7 chỗ ngồi tới Nhà thờ nhọn rồi qua bên Chủng viên, cạnh đó. Tại đây, chúng tôi nhận được những nụ cười, những chào hỏi thân thuộc của những người “trong nhà”. Sau đó, những người “trong nhà” hướng dẫn chúng tôi lên lầu nhận phòng nghỉ, tôi thấy có một số tác giả đã có mặt, họ tới trước chúng tôi. Lúc tôi đang đứng ở một đầu giường với mấy người nữa, thì có một người từ phía trong bước nhanh tới phía tôi, vừa cười vừa nói, thơ bác Khải Triều triết lý không à. Đó là nhà thơ Mạc Tường. Anh trao tặng tôi tập thơ của anh: Lạy Trời Mưa Xuống, in năm 2003. Tôi cũng tặng lại anh tuyển tập thơ của tôi : Người Ôm Mặt Khóc (1963-2013). Đến tháng 8 năm 2023, nhà thơ Mạc Tường lại gửi tặng tôi tập Cầu Nguyện Mùa Đơm Hoa. Rồi trong buổi hành hương đi đến nhà thương Qui Hòa, thăm nhà lưu niệm Hàn Mạc Tử, đi viếng mộ Hàn Mạc Tử ở Ghềnh Ráng v.v…, lúc còn trên xe, anh Mạc Tường ngồi cạnh tôi ở ghế trên, tay cầm loa, giới thiệu với đoàn những nơi xe đi qua, như cầu Thị Nại, một cây cầu vượt biển làm người dân Qui Nhơn, tỉnh Bình Định coi như một kỳ tích. Anh cũng nói thêm với tôi về việc xây cầu này, nó còn được gọi là cầu Nhơn Hội…
Bây giờ, 8 năm sau ngày đáng nhớ ấy, nhà thơ Mạc Tường lại có tập Cầu Nguyện Mùa Đơm Hoa và gửi tặng tôi. Sau khi nhận sách, tôi gọi điện cám ơn anh. Anh nhắc tôi “đọc nhá”. Cầm tập thơ trên tay, hình ảnh bìa sách làm tôi dừng lại một chút. Đó là một ngôi nhà thơ do Gioan LS trình bày. Một khung cảnh quen thuộc của quê hương Việt Nam những trăm năm trước, lặng lẽ, đơn sơ, hòa hợp với thiên nhiên. Nơi này, lòng tôi mơ ước được sống, được phục vụ và được lặng lẽ khi “trở về”.
Ở cuối hai trang bìa, 1 và 4, có ghi hàng chữ: “Ấn phẩm dọn mừng 400 năm Văn học Công Giáo (1632-2032). Ghi chú này đập vào lương tâm tôi, là một nhắc nhở đối với những người làm văn học nghệ thuật Công giáo Việt Nam hiện nay. Nó cũng nhắc nhở đến hàng Giáo phẩm, Giáo sĩ Việt Nam xin đừng dửng dưng nữa, đừng lãng quên hay rẻ rúng mảng văn học nghệ thuật này. Nó là một món quà, đôi khi gợi đến những xót xa, cay đắng, phiền muộn. Nhưng nó cũng là một công trình đầy gian lao, nhiều hy sinh, cả nước mắt và máu quyện với nhau để làm nên tặng phẩm cho đời, cho nhân gian. Làm sao không thể nói là Thiên Chúa vắng mặt trong những công trình ấy (Chỉ trừ khi anh không có đức tin). Toàn bộ Kinh Thánh, Cựu ước và Tân ước, chẳng phải là một kho tàng văn chương vô giá của những người tôn thờ Thiên Chúa sao!? Xin đừng xé nhỏ Kinh Thánh ra từng mảnh vụn cũng như chỉ đọc từng doạn, từng trang sách, từng câu thơ rồi lên án. Đọc văn chương và thi ca như thế thì bất cứ một nhà văn, một thi sĩ nào cũng phải lên dàn hỏa.
Tôi xin ghi lại đây một câu nói rất ngắn của Hồng y Phêrô Nguyễn Văn Nhơn tại một thánh lễ truyền chức Linh mục cho 10 thầy Phó tế tại nhà thờ Chính tòa Hà Nội ngày 19-10-2017, khi ngài còn là TGM Tổng Giáo phận Hà Nội. Trong số 10 thầy Phó tế này, có một người thân thuộc họ hàng tôi. Tôi từ trong Sài Gòn được mời về dự.
Sau nghi thức truyền chức Linh mục cho 10 thầy Phó tế, Đức Hồng Y chỉ nói vỏn vẹn 30 từ: “Sau 50 năm làm linh mục, cha chỉ thấy có một điều cần phải nhắc nhở: khiêm nhường, khiêm nhường, và khiêm nhường. Chúng ta thất bại vì kiêu ngạo”.
“Kiêu ngạo”, không phải là một vấn đề xót xa, cay đắng, phiền muộn cho những người theo Chúa Giêsu, mà một Hồng y phải nói đến sau 50 năm ngài ở vị trí Linh mục!?
Trở lại với tập thơ Cầu Nguyện Mùa Đơm Hoa của Mạc Tườngra, tôi đọc trước hết bài “Thơ đạo về nguồn” của Linh mục Cao Gia An S.J. Giáo Hoàng Học Viện Kinh Thánh, Roma-24/07/2020. Phải nói đây là một điều đặc biệt đối với nhà thơ Mạc Tường, nếu chúng ta đã đọc bài “Lời thưa” của tác giả trước đó, và biết tâm tư của ông có những đắn đo về việc có nên xuất bản tập thơ này không, bởi ông đã nói đến những điều “xáu xí” của người Công giáo, “khiến nhiều người ái ngại hoặc lo lắng cho tôi”, tức tác giả, “một khi tập thơ hiện diện trước công chúng. Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều bạn bè, thi hữu lại khuyến khích tôi cứ mạnh dạn in ra, mạnh dạn nói tiếng nói của mình (Trang 7). Sau đó, tác giả nói đến việc ông “quyết định làm theo lương tâm”, bởi ông viết “trong tâm tình sẻ chia, chân thành, tôi ý thức được rằng bản thân tôi cũng muôn vàn “xấu xí” và muốn thay đổi, những “xấu xí” kia là của tôi và của chúng ta, của con người nói chung” (trang 8).
Đến đây thì tôi mới hiểu rõ lời anh Mạc Tường nhắc tôi “đọc nha”.
Vậy, tôi đọc và thấy gì trong tập Cầu Nguyện Mùa Đơm Hoa của nhà thơ Mạc Tường, đất Qui Nhơn, Bình Định, đất có Hàn Mạc Tử, có Nước Măn, có Làng Sông, những nơi tôi đã đến, đã dừng chân buổi trưa và được dự phần cơm trưa do các Nữ tu Dòng Nữ tì Chúa Giêsu Tình thương nấu và phục vụ bằng cả tâm tình thân thiện, hòa nhã, đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng.
Những hình ảnh trong thơ Mạc Tường, từ “Lạy trời mưa xuống” đến “Cầu nguyện Mùa đơm hoa”.
Chúng tôi đã nói về những hình ảnh trong thơ Mạc Tường trong quyển Những nhà thơ Công giáo Việt Nam hiện nay, 2022, khi chúng tôi đề cập đến tập thơ “Lạy trời mưa xuống” của tác giả, xuất bản năm 2013. Đó là những hình ảnh về đời thường, như quê hương, tình yêu, phận người v.v…đều mềm mại, gần gũi, lung linh và rất tha thiết. Tôi thấy man mác những sắc màu của những bức tranh, vừa hiện thực, vừa tượng trưng và rất ấn tượng.
Thí dụ:
Nhớ nhung ngậm ngùi tuổi xế
Đôi khi chân bước ơ hờ
Có đêm lòng buồn ứa lệ
Một mình ngồi khóc trong mơ
.
Chiều nay rót tràn chén rượu
Buồn vui lênh láng đời người
Tỉnh say quay cuồng cát bụi
Ngắn dài một thoáng rong chơi.
(Bài: Một thoáng rong chơi, đoạn đầu và cuối)
Hoặc:
Tôi yêu cuộc đời
Đôi bờ thiện ác
Tôi yêu phận người
Cười khóc cuộc chơi.
(Bài: Tôi yêu, đoạn cuối)
(Sđd, tr. 127).
Nay, với tập “Cầu nguyện Mùa đơm hoa”, những hình ảnh về đạo và nhất là về con người nói chung, tất nhiên là những Kitô hữu, cũng như hình ảnh về đời thường, được nâng cao hơn, trăn trở và xót xa, điều này chính tác giả viết trong bài “Lời thưa” là “xấu xí”. Thực ra, một số người có đạo không ít, chỉ theo Chúa Giêsu lúc còn ở trong nhà thờ, còn về đến nhà, ra đến chợ, vào các công sở v.v…chúng ta thấy khác, hiếm gặp người của Giêsu Nadaret! Hiếm gặp cả Mẹ Maria nơi các người nữ ngoài xã hội và ngay trong gia đình của họ. Cho nên, khi nhà thơ Mạc Tường nói đến những cái “xấu xí”, là tác giả đã sống Tin Mừng một cách triệt để, đã chuẩn bị một cách tốt nhất cho dịp mừng ngày ghi dấu 400 năm Văn học Công giáo (1632-2032), mà giáo phận Qui Nhơn đi hàng đầu. Đó chẳng phải là một đóng góp lớn lao của tác giả Mạc Tường sao?
Chúng ta hãy đến với Mạc Tường để “bắt lấy” những hình ảnh của ông hay chính xác hơn, để chiêm niệm, để cầu nguyện với ông. Sau đó, chúng ta sẽ cùng với ông đi vào những trăn trở của ông để xem ông trăn trở những gì, phiền muộn ra sao? Làm được việc này là chúng ta đã đi sâu vào tác phẩm, và đọc tác phẩm cách trọn vẹn.
Những hình ảnh một người con gái vọng mỏi mòn nơi góc phố, người tư tế, gã giang hồ, hang Bê lem, những mục đồng và hình ảnh những đồi núi mãi nhô cao (phải chăng là ám chỉ sự kiêu ngạo của con người) là gì, qua bài Vọng dưới đây:
Em cứ vọng mỏi mòn nơi góc phố
Tư tế ngang qua chẳng đoái mắt nhìn
Nhưng gã giang hồ còn chút đức tin
Sẽ cúi xuống bồng em về băng bó
.
Em cứ vọng giữa muôn trùng giông bão
Bởi Bêlem nhiều lắm những hang lừa!
Đám mục đồng chiều xuống ngóng cơn mưa
Manh áo rách che đời em đỡ lạnh
.
Em cứ vọng nơi đền thờ, đất thánh
Và tìm xem Chúa ngự ở phương nào
Mà quanh mình đồi núi mãi nhô cao
Mãi ngạo nghễ những sắc màu chói lọi
.
Em cứ vọng cồn cào trong cơn đói
Yến tiệc chiều nay phải có thiệp mời
Phép lạ ngày xưa Chúa đã làm rồi
Em đến muộn hai ngàn năm, đành chịu!
.
Em cứ vọng cùng đoàn người dắt díu
Tay bế tay bồng, sấp ngửa trời Âu
Chúa Hài Đồng cũng chẳng biết về đâu
Bởi giăng mắc lũy rào vây tứ phía
.
Em cứ vọng trong niềm tin Thập Giá
Vọng đến khi người có quả tim người
Trên đất này sữa mật chảy tràn khơi
Và tất cả gối quỳ, Đêm Rất Thánh.
(Trích: Nguyện cầu Mùa đơm hoa, tr. 20-21)
Người con gái trong bài, là tượng trưng cho những thành phần bất hạnh, dễ bị tổn thương trên toàn cầu từ ngàn năm cho đến nay. Nhưng với niềm tin vào Thập giá Chúa Giêsu, con người cũng sẽ được Cứu Rỗi.
Tác giả tiếp tục nói lên tiếng lương tâm, mời gọi con người hãy mở rộng cánh cửa vì sau cánh cửa là hình ảnh một con người co ro trong manh áo. Với những con người chỉ biết hận thù và một quả tim bằng đá, hãy biết rằng: “Phúc âm này không phải để hát ru – Mà để sống đến tận cùng thập giá” (Bài Người vọng gì, tr. 22)
Người vọng gì lại ngồi im như thế
Đứng dậy đi làm muối ướp cho đời
Làm ngọn đèn dầu thắp tối ba mươi
Bởi đâu phải chỉ trăng rằm mới tỏ
.
Người vọng gì còn tần ngần trước ngõ
Hãy bước ra ngọc đá cũng một đời
Sống hết mình và yêu đến tàn hơi
Để nghe tiếng Chúa cười vang mặt đất.
(Bài: Người vọng gì, đoạn 6,7 tr. 23)
Bài Người vọng gì, là những hình ảnh về một thành phần con người có mặt ở mọi nơi mọi lúc, mọi thời đại. Họ là số đông. Chúa Giêsu, có lúc đã phải nói rằng: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18, 8) Chúng ta có thất vọng không? Tất nhiên là không. Nhưng, ở một số trường hợp, lời của Chúa Giêsu làm chúng ta buồn, và tự vấn lương tâm. Chẳng hạn, khi về Nadaret, Chúa Giêsu đã thất vọng về quê hương mình và Ngài không làm một phép lạ nào tại đây, vì người ta không có lòng tin nơi Ngài (Mc, 6, 5-6). Còn theo Thánh sử Luca, Chúa Giêsu đến Nadaret, là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường giảng dậy. Chúa nói với họ về trường hợp bà góa thành Xa-rep-ta miền Xi-đôn, khi đói kém, được ông Ê-li-a đến giúp. Những người trong hội đường nghĩ rằng Chúa ám chỉ đến họ, nên “Họđầy phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành –thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Ngưởi xuống vực. Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi”. (Lc, 4, 28-30). Buồn lắm chứ. Có vài trường hợp, lời Chúa Giêsu biểu lộ một nỗi cay đắng và giận dữ. Và làm sao người Công giáo hôm nay không buồn, khi Chúa vào đền thờ thấy người ta bán chiên, bò, bồ câu, đổi tiền… Chúa bất mãn và buồn quá đỗi và quá thất vọng về con người, nên Chúa dùng lời rất mạnh: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán” (Gn 2, 14-16). Ngày hôm nay, chúng ta có thế này không? Có đấy: những chia rẽ, nói hành nói tỏi nhau, chê bai, ganh ghét, bè phái lan tràn trong các đoàn thể. Cha chính, cha phó hai con người là hai bộ mặt, hai thái độ sống. Lời giảng dậy giáo hữu và cách sống hàng ngày của các vị đều ngược chiều nhau!
Nhà thơ Mạc Tường trong hai bài thơ Vọng và Người vọng gì, mặc dù tác giả đã nói đến những trạng thái bất tín của con người, ơ thờ, dửng dung, vô cảm (rất thực), nhưng ông vẫn còn một niềm tin vào Thập giá:
Em cứ vọng trong niềm tin Thập Giá
Vọng đến khi người có quả tim người
Trên đất này sữa mật chảy tràn khơi
Và tất cả gối quỳ, Đêm Rất Thánh.
(Bài Vọng, đoạn cuối, tr. 21)
Bài Người vọng gì, tác giả lại đặt niềm hy vọng ở con người, miễn là con người phải mở cánh cửa nhà mình, vì trước hiên có người nằm co ro, phải đứng dậy, phải làm muối ướp cho đời, làm ngọn đèn dầu thắp tối ba mươi, và sống hết mình và yêu đến tàn hơi. Như thế khác nào phải dứt khoát cách triệt để từ bỏ cái tôi ích kỷ của mình.
Và những hình ảnh khác nữa dưới đây:
Khi Chúa gọi, “ông vội vàng tụt xuống”
Bởi biết rằng mình đang ở trên cao
Trên những cành cây danh lợi ngọt ngào
Xa cách quá những phận người lá cỏ
.
Ông tụt xuống để biết mình bé nhỏ
Rất tầm thường và nhem nhuốc bùn nhơ
Được gặp Người mà cứ nghĩ trong mơ
Tên thu thuế bỗng thành danh thành thánh
.
Bạn và tôi biết bao lần lẩn tránh
Ánh mắt Người nhìn tha thiết bao dung
Ánh mắt yêu thương thăm thẳm vô cùng
Người vẫn đợi chờ từng giây từng phút
Tụt xuống thôi khỏi vàng hương tù ngục
Nép thật gần vào Đấng rất xót thương
Tay phải cho đi, tay trái bồi thường
Và hoan hỷ đón mừng ơn cứu độ
(Bài: Gia kêu, bạn và tôi, tr. 57)
Chúa gọi Gia kêu chỉ một lần mà ông đã “thành danh thành thánh”, còn chúng ta, những Kitô hữu? Nhà thơ Mạc Tường đã nói lên điều này, mặc dù với ngôn từ giản dị, nhưng cũng rất “đậm”, rất “thấm”:
Con chẳng có gì dâng Chúa đâu
Yêu thương leo lét ngọn đèn dầu
Bóng ngả lòng còn vương tục lụy
Nhẹ tiếng chuông chiều, nặng bể dâu
.
Con chẳng có gì cho Chúa vui
Trông lên cây vả luống ngậm ngùi
Xanh quá lá đời, quên kết trái
Theo gió rì rào, mai lá rơi
.
Con biết lấy gì dâng Chúa đây
Muối men nhạt thếch, bóng trăng gầy
Dày quá cỏ lùng, chen lẫn lúa
Hương cốm mùa này lọt kẽ tay
.
Nhiều lắm tội tình xin Chúa thương
Thân con hèn mọn rất tầm thường
Nghe thoáng tiếng gà đêm xưa ấy
Vọng ánh mắt nhìn, vạc kêu sương
(Bài: Xanh quá lá đời, tr. 60)
Bài thơ này có những hình ảnh rất gần gũi với chúng ta nên qua ngôn ngữ thi ca, lại là thi ca Công giáo, nó trở nên một phần của con người khi con người tự đồng hóa với nó trong tình trạng đối diện với Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên con người và muôn vật trong vũ trụ.
Tôi đã đọc nhiều lần bài thơ này và luôn dừng lại một chút ở những hình ảnh và yêu mến nó.
Ngay cái nhan đề của bài thơ, tác giả dùng từ “xanh quá lá đời”, không phải để tả thực một cành lá bất cứ cây cỏ nào, mà tác giả dùng hình ảnh “lá xanh” để nói về con người của mình, cuộc đời của mình, một Kitô hữu rồi tác giả nghĩ, một ngày nào đó, Chúa sẽ đến thăm ông như Chúa đã đến với cây vả để tìm trái mà không thấy (Lc 13, 6-7)
Trông lên cây vả luống ngậm ngùi
Xanh quá lá đời, quên kết trái
(đoạn 2 trong bài, câu 2-3)
Nghĩ đến bản thân, tác giả coi mình đã “ngả bóng” mà còn vương “tục lụy; “nhẹ” khi nghe tiêng chuông chiều nhưng lại “nặng” chuyện đời.
Trong bài Cáo mình dưới đây, tác giả đi xa hơn, suy niệm về phúc-họa, giữa môi trường thiên nhiên. Rồi ông nhận ra “chẳng có gì là không thể”.
Tôi niệm gẫm dưới tàng cây phúc-họa
Trái ngọt địa đàng in dấu phiêu linh
Giữa trắng-đen ai thấu được chính mình
Lời cám dỗ đâu chỉ từ rắn độc
.
Tôi thiền định giữa thâm sơn cùng cốc
Nếm mật ong rừng hoang mạc thuở xưa
Dạ ngổn ngang, chay tịnh mấy cho vừa
Áo đã xé, lòng dửng dưng bước vội
.
Tôi sấp ngửa nơi gầm cầu tăm tối
Hang Bê-lem còn ấm chút hơi lừa
Chúa vẫn ra đời như chuyện ngày xưa
Ai chiêm bái giữa phố phường xáo động?
.
Tôi ra biển, thuyền chòng chành gió lộng
Lòng tin hèn không tránh khỏi chênh chao
Hạt cải Cha trao, đánh mất phương nào
Giờ tìm lại, hụt hơi đầu ngọn sóng
.
Tôi trăn trở giữa mùa vàng trải rộng
Thợ gặt ơi! Lúa ngã rạp trên đồng
Có hạt cơm nào là của cho không
Nước mắt, mồ hôi, mưa dầm nắng dãi
.
Tôi đấm ngực, hạt giống nằm trơ dại
Đất cỗi cằn, bầy chim lạ vây quanh
Thân xác mỏng giòn, danh lợi mong manh
Cơn gió thoảng, cát bụi về cát bụi
.
Tôi cúi đầu dưới chân Người thống hối
Lệ tràn mi, hạt tấm mọn lọt sàng
Người thương dùng trong yến tiệc cao sang
Và tôi hiểu, chẳng có gì không thể!
(Bài: Cáo mình, tr.64)
Nhà thơ Mạc Tường trầm tư về lịch sử Cứu Chuộc
Bài “Giọt máu sáng thiên thu” dưới đây, tác giả đi từ Cựu ước, rồi 40 năm trong sa mạc, dòng sông Giođan, ở tiệc cưới Cana, đến đường thương khó, ngôi mộ trống. Cuối, tác giả chọn cho mình con đường theo Chúa đến cùng.
Em cùng tôi ngang qua thời Cựu ước
Tháp Babel! Tan giấc mộng trời gần
Câu kinh thánh vọng vang nghìn năm trước
Dũng sĩ tóc dài lụy trước giai nhân
.
Em cùng tôi vượt qua miền sa mạc
Ăn manna nhung nhớ góc địa đàng
Bốn mươi năm đêm nằm ru câu hát
Giấc mơ dài ngày chạm đất Canaan
.
Em cùng tôi ngóng chờ Giao Ước Mới
Có “tiếng kêu trong hoang địa” gọi mời
Sông Giođan, ngươi không còn biên giới
Khi Chúa Trời ngự xuống giữa lòng ngươi
.
Em cùng tôi giắt tay vào tiệc cưới
Xứ Cana, Mẹ tha thiết chuyển cầu
Chén rượu mới khởi đầu mùa gặt mới
Dưới nắng vàng bông lúa lẫn cỏ lau
.
Em cùng tôi men theo đường thương khó
Nghe đâu đây tiếng vó ngựa mịt mù
Tiếng ai khóc, ai cười trên núi Sọ
Ngọn giáo nào, giọt máu sáng thiên thu
.
Em cùng tôi vào trong ngôi mộ trống
Tìm dấu đinh, bàn tay thọc cạnh sườn
Bao khắc khoải, đường Emmau gió lộng
Bước theo Ngài nghe cỏ lá ngát hương
.
Em cùng tôi qua đời thường phố chợ
Học yêu thương, học quên những hận thù
Em cùng tôi bao giờ còn hơi thở
Nguyện yêu đời, yêu cả lá mùa thu
(Bài: Giọt máu sáng thiên thu, tr.84)
Tác giả đưa ra những câu hỏi đối với những hiện tượng trong vũ trụ, như giọt sương, mưa chiều, và đại dương, Có thể nói rằng, nhà thơ Mạc Tường cũng hỏi chính con người, hỏi chúng ta về những hiện tượng này?
Xin hỏi giọt sương nằm trên lá
Có nhớ cầu vồng tuổi đôi mươi
Cái tuổi sắc màu ngây thơ quá
Một chút nắng thôi cũng vỡ cười
.
Xin hỏi mưa chiều qua phố nhỏ
Có nhớ mây hồng thuở viễn du
Cái thuở phiêu bồng theo cơn gió
Trời sập mấy tầng vẫn vô tư
Xin hỏi đại dương cuồn cuộn sóng
Có nhớ ra mình độ suối khe
Cái độ trong lành hoa nghiêng bóng
Đọng tiếng chim quyên giữa nắng hè
.
Xin hỏi nghìn năm cơn dâu bể
Có nhớ địa đàng ngày chia xa
Cái ngày thấm đẫm mùi nhân thế
Cười khóc từ đây ta đã là…
(Bài: Nguồn cội, tr.58)
Mùa chay, tưởng như đã rất quen thuộc đối với người Kitô hữu, cách riêng với những nhà thơ Công giáo. Hầu như những người này đều có những cảm hứng khi Mùa chay về, mỗi người diễn tả một cách. Chúng ta sẽ dành những trang sách này cho nhà thơ Mạc Tường. Ông đã sống với mùa chay, nói về mùa chay, trầm tư về mùa chay và ông có những ý tưởng sống triệt để bởi ông yêu mùa chay, đúng hơn, ông yêu Giêsu, một Đấng thánh, nhưng lại bị nhân loại chối từ, thù nghịch. Bởi nhân loãi rất ray rứt, bị lương tâmtra vấn vì Giêsu là tiếng gọi khẩn thiết,mãnh liệt: Hãy trở về với nguồn Cứu rỗi, từ bỏ những hành vi bất chính, xóa bỏ hận thù và yêu thương nhau vô điều kiện. Nhân loại không làm được những điều này, nhưng tâm hồn họ thường trực bất an, dằn vặt họ. Nên họ muốn tiêu diệt Giêsu, không muốn thấy một biểu tượng nào về Giêsu.
Những nhà thơ yêu mùa chay, yêu Giêsu và muốn sống hết mình, một phần là để đền bù vì mình và vì những hành vi bất chính của những đại biểu của sự dữ.
Cơn gió nồm báo mùa chay lại đến
Lại tím không gian, áo lễ, bàn thờ
Con ước gì được tím thật hồn thơ
Dâng lên Chúa như cõi lòng trẻ nhỏ
Con cứ sợ mùa chay bay theo gió
Thứ Tư Tro, thân phận xức trên đầu
Thứ Năm về, lại ngập ngụa chìm sâu
Lại che mắt, lại ngựa quen lối cũ
…
Mùa chay về, con gần nhà xa ngõ
Cứ loanh quanh như nước đọng ao tù
Biết bao giờ nghe được tiếng biển ru
Xin tay Chúa khơi thành dòng thành nhánh
.
Mùa chay về, Chúa ơi con nguội lạnh
Xin cháy lên như lửa thử vàng mười
Ngọn lửa ra đi…ngọn lửa tình người
Ngọn lửa tím mùa chay trong ơn Chúa
(Bài: Mùa chay lại về, đoạn 1,2, 5, 6, tr. 30, 31)
Lời thơ nhẹ nhàng, giản dị mà ẩn dấu một tâm hồn thanh thoát như muốn bay lên, bay tới cõi xa nghìn trùng, đến tận ngai Thiên Chúa, xin Ngài khơi biển thành dòng thành nhánh tình người. Tuy nhiên, nhà thơ Mạc Tường vẫn cứ nhận ra cái giới hạn của phận người: Lòng tôi ơi, sao cứ mãi ngập ngừng, như câu cuối trong đoạn trích dưới đây.
Tôi về ngồi giữa màu tím mùa chay
Xức tro lên đầu xác phàm bụi đất
Nghe trong lòng tiếng thì thầm rất thật
Chưa thành tro, củi phải cháy hết mình
Những bộn bề đeo bám kiếp phù sinh
Muốn buông bỏ để kết thành trái ngọt
Muốn nhổ sạch cỏ lùng cho lúa tốt
Lòng tôi ơi, sao cứ mãi ngập ngừng
(Bài: Chưa thành tro phải cháy hết mình, đoạn 1,2/5 đoạn, tr.28)
Nói đến mùa chay cũng không thể nào không có hình ảnh Đấng chịu đóng đinh và Mẹ của Người. Nhà thơ Mạc Tường đã ghi dấu:
Thập giá nặng vai lưng nào chịu thấu
Gai nhọn xuyên đâm máu chảy dầm dề
Ôi! Vầng trán Con Chúa Trời yêu dấu
Trần gian này sao vẫn cứ u mê
…
Mẹ gặp con đã vàng phai ngọc nát
Nhìn thân con nghe muối xát trong lòng
Bê bết máu vế đòn roi ngang dọc
Tội đời ơi! Máu Thánh chảy ròng ròng
…
Khuôn mặt ấy hai nghìn năm vẫn thế
Vẫn đau thương nhẫn nhục đến vô cùng
Những khuôn mặt hàng ngày qua trên phố
Em có nhìn ra trong mắt thật buồn
.
Người lại chúi đầu nằm dài trên đất
Vụt roi da, bầy dã thú nhảy mừng
Tôi lặng lẽ ngồi cộng trừ được mất
Người cứ nằm và tôi cứ dửng dưng
…
Tàn hơi sức, Người sóng soài ngã xuống
Lần thứ ba hay lần cuối phận người
Đường lên núi sao dài như bất tận
Nắng bụi mịt mù, máu đổ lệ rơi
.
Từng manh áo chúng lột ra chia hết
Tấm thân trần trời nắng đổ chang chang
Lằn dọc lằn ngang hằn sâu vết tích
Đấng từ trời không một mảnh che thân
.
Người nằm ngửa trên thập hình nhơ nhuốc
Một mớ gai khô làm gối tựa đầu
Tiếng đinh đóng, tiếng nhạo cười quen thuộc
Mới hôm qua, lá còn mướt xanh màu!
.
Treo lên cao như rắn đồng sa mạc
Ngọn giáo thâu qua, giọt máu cuối cùng
Gục đầu xuống nhấc loài người khỏi đất
Dang tay ôm tròn sông suối bao dung.
(Bài: Những chặng đường tình yêu, đoan 2, 4, 6, 7, 9, 10, 11, 12)
Bài Những chặng đường tình yêu, là một mô tả chân thật, sống động về cuộc tử nạn của Chúa Giêsu. Đây là một sáng tác không đơn thuần là một bản văn dựa vào Kinh thánh. Nhưng trước hết Đấng thọ hình được yêu và được diễn tả lại bởi một thi sĩ, vốn dĩ vẫn trăn trở về một tình yêu triệt để, yêu đến tàn hơi, yêu đến khi nào người có quả tim người.
Những trầm tư về phận con người
Các triết gia Đông-Tây, từ thượng cổ tới ngày nay, đã khắc khoải, đã trăn trở, đêm ngày trầm tư về con người, có vị còn đốt đuốc giữa ban ngày đi trong thành phố để tìm con người. Sổ sách không nói tới việc ông có tìm ra “con người” hay không. Chắc là không. Bởi vì những triết gia sau ông, họ vẫn tìm, tìm xem con người là gì. Mỗi vị đều tìm ra một tính chất của con người. Người cho là một “động vật”, người nói là “linh ư vạn vật”, người khác nữa bảo “kẻ xa lạ”, người nữa bảo là “hỏa ngục của tôi” hay “kẻ thù của tôi”. Chỉ có Karl Jaspers hiểu con người cách khác.
Ông viết: “Những khoa học về loài người đã đưa đến tất cả những loại kiến thức, nhưng không tìm ra kiến thức nào về con người trong toàn diện của nó.” (Xem: Triết học nhập môn, bản dịch của Tế Xuyên, Nhà sách Khai Trí, Sài Gón, 1967 trang 57)
Có lẽ triết gia này cũng đã đi tìm con người qua những kiến thức của khoa học về tất cả sự vật nhưng ông không thấy khoa học bàn về con người một cách toàn diện và sâu sắc, nghĩa là ông không hài lòng. Thế nên, ông đi tìm con người theo cách riêng của mình. Trước hết, Karl Jaspers nhận ra cái tự-do-tính nơi con người:
Ông viết: “Đã biết được những giới hạn của kiến thức, chúng ta sẽ hoàn toàn sáng suốt mà tin vào cái gì hướng dẫn tự-do-tính của ta, khi tự-do-tính ấy tương-quan với Thượng Đế.” (Sđd, trang 60). Tuy nhiên, triết gia này cũng nghĩ rằng: “Với tự-do-tính, con người sử dụng đời mình như một vật liệu, Con người có một lịch sử riêng, nghĩa là mình sống không phải tùy theo cái gia tài sinh lý của mình nhưng còn tùy theo truyền thống nữa. Đời người diễn biến như một quá trình tự nhiên; tự-do-tính của con người cần được hướng dẫn.” (Sđd, trang 60). Và, “con người càng sáng suốt trong lòng tin bao nhiêu, thì siêu-việt-tính lại càng trong sáng bấy nhiêu đối với y.” (Sđd, trang 61)
Càng đi xa và sâu hơn trong ý niệm về siêu-việt-tính, Karl Jaspers càng bước sang niềm tin về Siêu-Việt-Thể trong triết học của ông. Xin học với ông khi ông nhận xét về Kierkegaard trong tương quan giữa triết gia này với Thiên Chúa:
“Kierkegaard mỗi ngày suy nghiệm về mình, phó thác mình cho sự dìu dắt của Thiên Chúa: ông tự biết mình luôn luôn ở trong tay Chúa. Ông nghe tiếng của Chúa xuyên qua việc ông làm và việc xảy đến cho ông; tuy vậy ông nhận thấy rằng điều ông nghe được có nhiều ý nghĩa, và vẫn còn mờ ảo. Thiên Chúa hướng dẫn ông, nhưng ông không thể thấy được và cũng không do những mạng lịnh độc nghĩa mà do tự-do-tính của con người; chính tự-do-tính đã thi hành những quyết định vì nó liên hệ đến căn bản siêu việt.” (Sđd, trang 61)
Cuối cùng, chúng ta cũng được biết ý kiến của Karl Jaspers về Thượng Đế. Ông viết:
“Siêu-việt-thể dìu dắt chúng ta một cách khác hơn tất cả thực tại trên đời. Thượng Đế chỉ có một cách hướng dẫn con người là xuyên qua tư-do-tính. Lời của Thượng Đế có thể nghe được do mạc khải của con người khi đã vững chắc lòng tin và mở rộng nội tâm đón tiếp tất cả những gì từ truyền thống, từ hoàn cảnh đến với mình. (Sđd, trang 61).
Karl Jaspers kết thúc chương bàn về Con Người với hai tình trạng nơi con người. Ông viết:
“Kẻ nào bám víu vào các định luật, các mạng lịnh của một uy quyền gì, sẽ lâm vào sự hoang mang hỗn loạn. Trái lại, kẻ nào cố gắng nghe thấu siêu-việt-thể trong thực tại triệt để sẽ cảm thấy nghị lực phát triển cùng với trách nhiệm mình.
Muốn biết được trình độ của một cá nhân, phải xem cá nhân ấy đã được dìu dắt và đã nghe thấu được siêu-việt-thể từ mức sâu thẳm nào.” (Sđd, trang 67)
Chúng tôi đã đi xa về con người trong thơ Mạc Tường một chút. Đành xin lỗi quý vị. Bởi vì, nhà thơ Mạc Tường đã nói nhiều, dằn vặt nhiều về con người trong hầu hết tập thơ Cầu nguyện Mùa đơm hoa. Ông cũng yêu thương con người thật nhiều, vì ông yêu Chúa!
Ở trên kia, quý vị đã thấy tác giả nêu ra những câu hỏi về những hiện tượng trong thiên nhiên, bây giờ, tác giả nói đến con người, nói với chúng ta, về những gì ông “đã thấy”. Những gì ông đã thấy ấy, chính là Người, là Giêsu Nadaret chịu đóng đinh vì yêu con người, nhưng con người đã dửng dưng, tác giả nói là “đứng bên ngoài thập giá”.
Tôi đã từng thấy Người sau cơn lũ
Mắt đỏ hoe nhìn nước trắng ngập đồng
Dẫu cành mềm, cò lặn lội bờ sông
Cái tép, con tôm đỡ lòng khi đói
.
Tôi đã từng thấy Người khô như ngói
Vò nước đức tin giữ lấy riêng mình
Hàng ghế đầu, cười ngạo mạn rẻ khinh
Phường thu thuế cuối nhà thờ, đáng tội!
Tôi đã từng thấy Người đêm chấp chới
Thị Kính nỗi niềm ai thấu ngày sau?
Vợ chàng Trương, đành trách ngọn đèn dầu
Đêm cứ tối dù rằm hay mồng một
.
Tôi đã từng thấy Người đành bỏ học
Búp măng non gồng gánh bụi tre già
Tật bệnh, khó nghèo như một bóng ma
Cứ đeo đuổi đến cùng đường cuối nẻo
.
Tôi son phấn, miệng rao truyền leo lẻo
Đứng bên ngoài Thập Giá nói chuyện yêu
Một nén đời này sinh lợi bao nhiêu?
Ôi! Phận cỏ lùng trong ngày sau hết
.
(Bài: Đứng bên ngoài thập giá, tr. 48)
Với những phận người đắng cay:
Tôi có khi nào chạnh lòng thương
Tuổi thơ bãi rác mộng sân trường
Tóc hoe cháy nắng đêm nguyệt thực
Có giọt rất nghèo lặng lẽ tuôn
.
Tôi có khi nào chạnh lòng thương
Người em gái khóc ngã ba đường
Một giờ trót dại, tình đã lỡ
Ngơ ngác em tìm nơi náu nương
.
Tôi có khi nào chạnh lòng thương
Tiếng rao len lỏi khắp phố phường
Xem ra mơ ước còn xa lắm
Chân bước theo con…cổng giảng đường
.
Tôi có khi nào chạnh lòng thương
Neo đơn tuổi xế lệ giăng buồn
Xa xăm con cháu phương trời lạ
Quạnh quẽ chợ chiều, tay đã buông
.
Tôi có khi nào chạnh lòng thương
Trước bao cảnh khổ luống đoạn trường
Làm ngơ mắt nhắm vờ không biết
Chúa vẫn lang thang khăp nẻo đường
.
(Bài: Chúa vẫn lang thang, tr. 50)
Đức Mẹ Maria, thánh Giuse trong thơ Mạc Tường
Nhân loại này, cách nay hơn hai ngàn năm, kể từ ngày một thiên thần đến làng Nadaret (Nazareth), thuộc miền Galilea, Israel, thiên thần vào nhà một trinh nữ và chào “Ave Maria”. Từ ngày đó đến nay, nhân loại đã vang lên lời chào tuyệt diệu này. Những người yêu âm nhạc, không thể không có lần buông bỏ mọi sự để chìm vào dòng nhạc Mozart, Beethoven, Franz Schubert qua bài Ave Maria. Việt Nam chúng ta có một Hàn Mạc Tử, một Hải Linh với Trường ca Ave Maria làm rung dộng con tim người nghe, làm nước mắt của nhiều người rơi tràn mi. Và có lẽ không một nhà thơ Công giáo nào không có vài bài thơ về Mẹ Maria. Mẹ thì quá tuyệt vời và diễm phúc. Cửa hỏa ngục rung lên trong tình trạng khiếp sợ mỗi khi lời chào Ave Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội được cất lên bởi những tâm hồn trong sạch, thánh thiện.
Còn nhà thơ Mạc Tường, ông viết gì về Mẹ Maria?
Mẹ trăng rằm rạng rỡ
Con leo lét ngọn đèn
Bốn mùa chong trăn trở
Giữa đôi bờ trắng-đen
.
Mẹ là tàng cổ thụ
Con ngọn cỏ vô thường
Lao xao màu nắng cũ
Xin một lần yêu thương
.
Mẹ ngọc ngà châu báu
Con là đồng xu rơi
Dưới chân Người nương náu
Hồn say tiếng ru hời
.
Mẹ đền đài tráng lệ
Con gạch vỡ bên đường
Nằm nghe lời dâu bể
Mơ ngày về cố hương
.
Con xin dâng lên Mẹ
Buồn vui thân phận người
Đường đời bao lối rẽ
Mẹ đi cùng con thôi
.
(Bài: Xin Mẹ đi cùng con, tr.96)
Ngôn từ trong bài có tính chất ước lệ, giữa Mẹ Maria “trăng rằm rạng rỡ” với “cái tôi”, một “ngọn đèn leo lét”, nơi một con người trần thế, hoặc “Mẹ ngọc ngà châu báu”, còn tôi, một “đồng xu rơi”. Đấy là một tâm hồn học theo Mẹ khi Mẹ “Xin vâng”, không phải chỉ ở bài thơ này, mà hầu hết trong tập “Cầu nguyện Mùa đơm hoa” của tác giả. Có thể nói, thi phẩm này là tinh hoa của một linh hồn khao khát nên thánh, bằng con đường yêu thương đến tàn đời, yêu cho tới khi nào người có quả tim người.
Tháng Mười về, quỳ gối đốt trầm hương
Xông từng hạt kinh dâng lên Đức Mẹ
Trước đền vàng, con mong manh nhỏ bé
Như sợi tơ run rẩy giữa ba thù
.
Hạt kinh nào rơi trên đỉnh trầm tư
Trăn trở phận người buồn-vui, được-mất
Dấu chân này ngang qua đời rất thật
Ai nhớ? Một mai nước ngược về nguồn
.
Hạt kinh nào gồng gánh nỗi cô đơn
Xuống biển lên non chắt chiu lòng đạo
Giữa đời thường những bộn bề cơm áo
Tránh làm sao mưa bất chợt trưa hè
.
Hạt kinh nào tàng cổ thụ chở che
Thấm mệt con về ngả lưng ca hát
Dưới chân Người, vòm trời xanh xanh ngát
Hương cỏ thơm và sữa mật chan hòa
.
Hạt kinh nào lặng lẽ phút chia xa
Thấm thía cõi người mong manh sương khói
Cơn gió đi qua hình như rất vội
Bỏ lại sau lưng ngàn vạn sắc màu
.
Hạt kinh nào xin nương náu thật lâu
Dưới bóng Tháng Mười đong đầy ơn phước
Trước đền vàng, con như người say khướt
Chén rượu Cana ngọt tiếng Mẹ cười…
.
(Bài: Những hạt kinh dâng Mẹ, tr.98)
Chúng ta cũng nên biết nhà thơ Mạc Tường đã viết gì về thánh Giuse, dưỡng phụ của Ngôi Lời nhập thể và là bạn trinh khiết của Đức Maria, Mẹ Ngôi Hai Thiên Chúa. Qua những kinh nguyện trong giáo hội về thánh Giuse, chúng ta hiểu được thánh nhân là một mẫu mực chonhững bậc làm cha trong gia đình, gương mẫu cho những ai sống đời lao động và cho tất cả người Kitô hữu, vâng phục và tín thác vào Chúa. Bài thơ dưới đây, tác giả mô tả thánh Giuse hiện thân của một con người chân thật trong phận người. Tác giả đề cập đến việc thánh nhân “Thanh thản xin vâng, tay bế tay bồng” – “Bỏ lại sau lưng gỗ ván thơm nồng” – “Thân đất khách hồn mơ về cố quận” … Rồi “Chuyện áo cơm lao nhọc chốn quê người” – “Thiếu trước hụt sau, nước sông gạo chợ”…là những hình ảnh tạo nhiều cảm xúc và yêu mến cho những ai sống đời lao động như thánh nhân.
Người đón nhận như chưa hề nghi ngại
Thanh thản xin vâng tay bế tay bồng
Bỏ lại sau lưng gỗ ván thơm nồng
Thân đất khách hồn mơ về cố quận
.
Đêm Ai Cập, bão mịt mùng mê trận
Mắt nhân sư, ai biết, khóc hay cười?
Chuyện áo cơm lao nhọc chốn quê người
Thiếu trước hụt sau, nước sông, gạo chợ
Trời lặng gió, xe ngựa thồ nỗi nhớ
Lục lạc reo, chầm chậm bước qua thềm
Mái nhà xưa, hoa cỏ dại tơ mềm
Nghe quen quá, men rượu nồng muối đất
.
Nazaret rộn tiếng cười thánh thất
Người rất người nuôi dưỡng Đấng Thiên Sai
Người rất người làm bạn Mẹ Ngôi Hai
Ôi kỳ diệu! Nhánh huệ lừng hương thánh.
.
(Bài: Nhánh huệ lừng hương thánh, tr.89)
Mấy bài thơ khác
Tuần thương khó nối dài
Đêm nghẹt thở, mồ hôi đầm đìa máu
Vua đất trời chợt xao xuyến tâm can
Cuộc khổ nạn hãi hùng in năm dấu
Chén tình yêu ôi! Cay đắng đầy tràn
.
Đêm quỉ lộng, Chiên Lành mang Thánh Tích
Những đòn roi, phỉ báng đến tột cùng
Gà gáy lạnh, thoáng nhìn như hờn trách
Nguyện theo Thầy. Ai bội tín bất trung
.
Ngày đại ác, núi cùng đồi nghiêng ngả
Con Chúa Trời chịu giầy đạp, kéo lôi
Đinh sắt, mão gai, lưỡi đòng, thập giá
Nắng pháp trường, cơn khát cháy bờ môi
.
Hai ngàn năm nối dài tuần thương khó
Người u mê ơn cứu độ vô tình
Kẻ cuồng ngạo cậy bạo quyền thách đố
Vốn điên rồ thập giá trọn hi sinh
(Trang 39)
Mẹ La Vang
Hơn hai trăm năm thăng trầm lịch sử
Mẹ La Vang nguồn trông cậy ủi an
Đạn nổ, bom rơi, máu lệ hòa chan
Mùa ly tán, nhà tan đàn xẻ nghé
.
Nón lá tả tơi, chân trần nứt nẻ
Tiếng đàn bầu nghèn nghẹn, buốt tâm can
Cơn bão đi qua, đắng ngắt mùa màng
Bông lúa lép, chắt chiu từng hạt gạo
.
Mẹ vẫn đứng giữa đàn con lương-giáo
Mặc đền đài, thành quách có tan hoang
Dẫu cây đa ngày ấy đã không còn
Nguồn nước mát vẫn tuôn tràn giếng ngọc
.
Chúng con về, nài xin ơn mưa móc
Tưới ruộng vườn, bờ bãi đẫm ơn thiêng
Cúi xin Bà len lén chút tình riêng
Khi trái gió, trở trời, con nương náu
.
Chúng con về, quỳnh hương trăng mười sáu
Quỳ dâng Bà, đây những muối cùng men
Xin dâng riêng, con lem luốc, mọn hèn
Đêm linh địa, câu kinh trào nước mắt
.
Những chuyến xe, người vào nam ra bắc
Mới gặp nhau như quen tự thuở nào
Cả rừng người chung một mẹ trên cao
Lời hò hẹn, mùa sim sau, trái chin
.
Người bước đi còn quay đầu bịn rịn
Trời La Vang, chòm mây úa, nao lòng
Mai mốt về, đừng buồn nữa dòng song
Cây có cội, nước có nguồn, có mạch
.
Hơn hai trăm năm phượng thờ, kinh sách
Từng cành cây, cọng cỏ cũng linh thiêng
Mẹ La Vang rợp bóng khắp mọi miền
Xin khấu tạ! Nữ Vương trời đất Việt
(trang 92)
Linh mục
Linh mục
Là giọt máu từ cạnh sườn vua cả
Mãi rỉ ra mở khóa cửa thiên đường
Là vàng mười, là mộc dược, nhũ hương
Là hy lễ nối dài trên núi sọ
.
Linh mục
Người chọn đi trên con đường thương khó
Đem tin mừng gieo cùng cõi thế gian
Cho người người hưởng nhận Đấng Bình An
Để tha thứ bình minh đêm thù hận
.
Linh mục
Người cho đi hết những gì đã nhận
Để cuộc đời màu mỡ đất yêu thương
Người thối đi cho xanh tốt ruộng vườn
Người bé lại để nước trời lớn rộng
Linh mục
Cũng biết yêu, cũng một trời mơ mộng
Cũng là người nào đâu phải thánh nhân
Cũng trăm năm cười khóc chốn gian trần
Cũng run rẩy đứng trước tòa phán xét
.
Linh mục
Ngọn Lửa Thiêng truyền hồng ân Bí Tích
Giữa bão dông mờ tỏ suốt đêm dài
Đã là người, ai chẳng một lần sai
Bình minh đến anh vẫn là Linh Mục
(Trang 62)
.
Nguyện cầu mùa đơm hoa
.
Nhặt từng hạt yêu thương
Giữa làn tên mũi đạn
Gieo vào lòng nắng hạn
Nguyện cầu mùa đơm hoa
.
Hứng từng giọt sương sa
Rưới vào lòng sa mạc
Nghe nỗi niềm phận cát
Khô khát đến tận cùng
.
Nhổ từng ngọn cỏ lùng
Giữa sân si ngút ngát
Cho lúa vàng trĩu hạt
Thơm tóc em trên đồng
.
Tìm từng chữ thật lòng
Để thơ thôi dối trá
Vẽ giữa đời nghiệt ngã
Một trái tim thơm nồng
(trang 78)
Mấy nhận xét
Nhà thơ Mạc Tường với Cầu nguyện Mùa đơm hoa, đã như dành trọn tâm can cho thi phẩm thứ hai này, sau Lạy trời mưa xuống. Ngoài những vấn đề chúng tôi đã trình bầy trong bài, tập thơ đã có một phẩm chất rất quý. Đó là sự mềm mại và giản dị trong ngôn từ, dù trong khi tác giả diễn tả về cuộc thương khó của Chúa Giêsu với những thứ nghe đến đã rung mình, như ngọn giáo, đinh sắt, mão gai, lưỡi đòng, thập giá. Đấy có phải là phản ảnh bản chất của ông? Điểm thứ hai, trong một số bài, tác giả sử dụng một số từ ngữ trong dân gian, như sáng nắng chiều mưa, tay bế tay bồng, thiếu trước hụt sau, nước sông gạo chợ, tan đàn xẻ nghé, đắng ngắt, chắt chiu, khi trái gió-trở trời, cây có cội, nước có nguồn rất gần gũi, thân thiết, đậm tinh thần văn hóa Việt. Điểm cuối cùng là Kinh thánh, một phạm trù, một mẫu mực để tác giả suy nghĩ, sáng tác thi phẩm Cầu nguyện Mùa đơm hoa này. Những hình ảnh, những ý tưởng và một số nhân vật trong Kinh Thánh đi song hành, hòa quyện với những hình ảnh, và ý tưởng của cuộc sống trong đời thường, đã tạo nên một sắc thái rất mới trong thơ Mạc Tường. Xem bài Linh Mục và Nhánh huệ thánh Giuse ta sẽ thấy điều này. Đọc xong bài Linh mục, tôi muốn vào DCV để học làm linh mục. Nhà thơ Mạc Tường viết xong thi phẩm Câu nguyện Mùa đơm hoa, có lẽ ông đã đắn đo, chọn lựa từng câu từng chữ, mà cũng có bài, có câu ông viết trong trạng thái tinh thần thanh thoát, mềm mại như dòng suối chảy êm ả, ý tình đậm đà, ấn tượng. Tuy nhiên, cũng có bài tác giả viết ra cả những ray rứt, trăn trở, buồn phiền vì những lỗi lầm, những thái độ và những hành vi mà tác giả bảo nó là “xấu xí” trong giáo hội của mình, trong cuộc đời của mình, như bài Bóng đêm, Muối nhạt, Cầu nguyện, Ngọn nến muộn màng, Xin Mẹ đi cùng con, Tuần thương khó nối dài, Đêm nay Chúa ngồi góc phố, Chưa thành tro phải cháy hết mình v.v…
