Khải Triều: PHAN LẠC GIANG ĐÔNG

Thơ- Những Dòng Sông Đều Chảy

Sinh năm 1940 tại Sơn Tây. Ông là Út nam của sử gia Dương Tuyền Dã Phu Phan Lạc Vọng Húc. Sinh viên Ban Sử, Văn Khoa Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn. Dạy Văn Sử Địa tại các Tư thục: Cứu Thế, Hiếu Nghĩa Tân Văn Tân Việt, Thượng Hiền, Tinh Thần…

-Có chân trong Ban Biên tập các báo: Diễn Đàn Chính Đảng, Quần Chúng….

-Đã từng cộng tác với các tạp chí: Văn Mới, Hiện Tượng, Văn Nghệ Ngày Nay…

-Biên tập viên đầu tiên Bán Nguyệt san Lý Tưởng, Chính Huấn của Quân Chủng Không Quân/QLVNCH

Tác phẩm đã in trước 1975

-Trở mình, thơ. Lý Tưởng xuất bản 1966

-Đắc Khanh và màu sắc quê hương, thơ, BHK xb 1967

-Thông điệp, thơ, Đại Nam Văn Hiến in 1969

-Mười lăm năm Thi ca Quân đội, biên khảo, 1970

Di cảo:

-Thông điệp gửi Tổ Quốc, thơ

-Nhớ lại và suy nghĩ, Hồi ký

-Những ngày, những tháng, những năm

Ký, những khuôn mặt báo chí, văn nghệ

-Lực lượng dân tộc Việt Nam, tâm tình lịch sử

(Trích Hồi ký Phổ Đức & Niên giám Văn nghệ sĩ Việt Nam Hài ngoại.)

Phan Lạc Giang Đông mất ngày 09-11-2001 tại Hoa Kỳ.

(tài liệu này in trong tập:

Phan Lạc Giang Đông-THƠ- Những Dòng Sông Đều Chảy- Việt Nam Tân Tỵ 2001)

Cố thi sĩ Phan Lạc Giang Đông là một nhà thơ nổi tiếng trước năm 1975, với các thi tập đã xuất bản gồm: Đắc Khanh và màu sắc quê hương, Trở mình, Thông điệp, Tiếng hát trên đồi cao. Ông sang Mỹ qua diện H.O từ năm 1994, và đã viết cho nhiều tờ báo tại Hoa Kỳ.
Đặc biệt một số bài thơ của Phan Lạc Giang Đông đã chuyển sang Anh Ngữ và được đăng trong các tuyển tập thi ca Hoa Kỳ, như: Thi tuyển ‘A blossom of Dreams’, Reaching Other Worlds. Riêng bài ‘Holly Park and the colors of my homeland’ của ông đã là bài thơ được đặt lên hàng đầu của thi tuyển quan trọng ‘A Celebration of poets’. Trước khi qua đời vào cuối năm 2001, thi sĩ họ Phan đã trở thành Hội Viên Ưu Tú của Hiệp Hội Thi Ca “International Society of Poets”.(Nguồn: Sài Môn Thi Đàn)

Tập thơ Những Dòng Sông Đều Chảy, dầy 250 trang, khổ 14 x 20cm, là tên một bài thơ của Phan Lạc Giang Đông sáng tác khi ông ở Hoa Kỳ. Ông gửi bài thơ này cho Tổng thống Bill Clinton, qua bản dịch sang tiếng Anh của Lưu Bá Bắc và được Tổng thống Hoa Kỳ chính thức gởi văn thư ngày 14 tháng 3 năm 2000 ca ngợi ông dùng thi ca đóng góp vào nền văn hóa đa dạng của đất nước Hoa Kỳ, thì tạp chí văn học VERSES SỐ 2 Vol.12 Mùa Hè nằm 2000 đã liệt kê nhà thơ Phan Lạc Giang Đông vào hàng thứ 13 trong danh sách 56 thi sĩ tại Mỹ được tuyển chọn là “Những Tác Giả Quốc Gia”. (Theo Việt Nam Times)

Trong dịp kỷ niệm 49 ngày mất của Thi sĩ Phan Lạc Giang Đông, người bạn thân của ông là nhà thơ Phổ Đức đã thực hiện một tuyển tập thơ của Phan Lạc Giang Đông, có hơn 30 bài. Kế đến là thơ của thân hữu của Đông, tất cả đều hướng về Phan Lạc Giang Đông sau khi ông mất. Chúng tôi thấy có Phổ Đức, Hoàng Vũ Đông Sơn, Hà Vũ Giang Châu, Ngọc Tự, Ánh Nguyệt, Nghiêm Phái-Thư Linh, Nguyễn Thị Vinh, Thanh Chương, Sông Thao (Tô Mặc Thao), Phạm Trần Anh, Nghi Yên, Giang Hải, Cấn Hùng, Cấn Đằng Phi, Sơn Hồng Hoa, Trần Văn Khang, Huy Bằng, Khải Thanh, Hà Yên Vu, Nguyễn Thanh Nhã, Vương Đàm, Hoàng Vân. Thế Phong, Khải Triều, Phương Nga…  

Phan Lạc Giang Đông Với Khải Triều

NHỚ PHAN LẠC GIANG ĐÔNG

Trước ngày Phan Lạc Giang Đông đi Hoa Kỳ, theo diện H.O năm 1994, anh đưa cho tôi một tập giấy trắng, nhờ tôi viết những cảm nghĩ của tôi về anh từ trước cho đến nay, dù thế nào, anh cũng rất trân trọng nó. Tôi có một chút ngần ngại, song tôi cũng nhận lời anh. Cũng thời gian này, nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu thực hiện cho Giang Đông một cuốn phim về những quan hệ trong thân hữu

Những gì tôi đã viết cho Phan Lạc Giang Đông ngày đó, đến khi anh mất tại xứ người được 49 ngày ( 9.11.2001 – 27.12.2001), nhà thơ Phổ Đức, đã thực hiện một Tuyển tập Thơ Văn của Phan Lạc Giang Đông và Thơ Văn của bằng hữu viết về những quan hệ của họ với Giang Đông, có trên 30 người được ghi trong mục lục tuyển tập này, dày 246 trang, không kể mục lục. Tuyển tập mang tên một bài thơ nổi tiếng cùa Phan Lạc Giang Đông sau ngày anh sang Hoa Kỳ. Đó là bài : “Những Dòng Sông Đều Chảy”, Lưu Bá Bắc chuyển sang Anh ngữ là: “All Rivers Have Been Flowing”. Anh còn một bài nữa, là : “Nỗi Khổ Tâm Của Wall Whitman” Sau khi hai bài này được phổ biến, anh nhận được thư mời của Hiệp Hội các Tác Giả và Nghệ Sĩ Quốc Tế mời anh trở thành hội viên chính thức của tổ chức này. Ban Giám Khảo Giải Thi Ca Quốc Tế đã tuyển chọn hai bài thơ của anh vào dự tranh chung kết.

Bài tôi viết cho Giang Đông đặt ở vị trí “Thay Lời Tựa”, trang 1. Tôi xin lỗi anh linh anh Giang Đông, được bỏ bớt mấy đoạn tôi tỏ bày với anh về tôi, vì những dòng tâm sự ấy tôi chỉ dành riêng cho anh. Nay đưa vào đây là chốn công khai rồi, không nên.

                                                                                                               Tháng 12/2001

                                                                          Anh Giang Đông thân mến,

1.- Buổi sáng hôm nay đi làm về, khi qua cầu Chà Và, tôi bỗng nhớ đến một nhân vật của Hồ Hữu Tường trong lúc đang nghĩ về anh. Rồi tôi bồn chồn, xao xuyến…

Chiếc cầu này tôi đã đi qua hàng ngày từ hơn 10 năm nay. Nhưng, ngày hôm nay, tôi có một cảm giác hơi lạ lùng. Nó như thôi thúc tôi phải cố gắng để “qua cầu”, mặc dù tuổi tôi đang về chiều, những buổi chiều có nắng quái gay gắt, có ma cô lờn vờn trong hoàng hôn tím…

2.- Anh Đông !

Tháng 2-1967, tôi nhập đơn vị anh sau một kỳ thi tuyển, tôi là một trong số 5 người đã “qua cầu”. Anh đến chào và mừng tôi vì trước đó đã gặp nhau tại nhà một người trong làng văn. Cử chỉ của anh làm cho tôi cảm thấy bớt cô đơn trong giai đoạn đầu của đời lính.

Tôi đã nhập tâm một lời nói của anh với một vị giáo sư già nua sau này : “Tôi chưa nhập cuộc, nên không có mặc cảm…” Nghe nói, vị giáo sư này là một trong số những người cầm bút ở Hà Nội đã kịch liệt lên án nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm.

Đã từ rất lâu, khi chúng mình còn hàng ngày gặp nhau, chia sẻ với nhau ly cà phê sáng, buổi chiều, có khi cả buổi tối, lại đậm đà hơn nữa là bên ly rượu với rựa mận, bún măng, giồi chó…, tôi đã nhận ra chân tính của anh. Cái này nó làm cho những kẻ tài hèn còn đố kỵ không ưa. Vì họ chỉ nhìn thấy được  ở anh những bề nổi của thời trai trẻ, mà không thấy được phần tâm tư, mặc dù phần này anh đã để lộ ra ngoài, đôi khi quyết liệt, gay gắt và cũng rất thiết tha bằng ngôn ngữ thi ca.

Có mấy nhà văn nhà thơ nào được dư luận đánh giá đúng mức khi họ còn sống đâu, và cũng chẳng có bao nhiêu tác giả bằng lòng với những gì họ đã công bố. Họ chỉ dừng viết sau lúc hai tay hai chân của họ đã buông xuôi và con tim ngừng lại ! Người đời, ngay cả hàng ngũ trí thức khoa bảng, thường lệch và có định kiến với người khác. Nhất là khi thời đại mới, ở Đông cũng như ở Tây, cắt đứt với truyền thống, với Đạo học, với Tiên tri hoặc Ngôn sứ. Thành ra, vấn đề con người trở nên phức tạp. Giá trị con người không còn được nhìn ở phương diện “tâm” mà chỉ còn ở bề nổi.

Chủ nghĩa danh và lợi được tôn vinh, bất cần kiêm ái và cứu chuộc.

Trí thức như thế, cũng chính là tác nhân làm sa đọa con người, xoay chiều tiến hóa của lịch sử con người, thay vì đi về hướng tâm linh, thì lại đẩy con người ngả theo chiều âm phủ, nên đã gây ra bao nhiêu tội ác.

Là thi sĩ, hãy khóc đi anh Giang Đông. Hãy gào thét và phẫn nộ.

Đến hôm nay, 1994, cái chân tính của anh càng rõ sau những tháng năm dài trong gian khổ, trong thử thách, trong xót xa và tủi nhục…Cho hay, thiên mệnh đã đến ngụ cư ở cung lòng ai, thì đã chiếm trọn tâm tư họ, trí não họ, để, dù có thăng trầm, có phiêu bạt nay Bắc mai Nam, người ấy  cũng “hội”, cũng “ngộ” được với những bậc danh sĩ, hiền nhân, cũng như tham thông, cảm ngộ được với những bậc quốc lão trên quốc lộ cằn cỗi, nắng quái hay trên con tàu xuyên Việt mà anh đã đem hình hài thương đau ấy vào thơ. Đó là nỗi bi thảm của chúng ta hôm nay. Chúng ta đã bất lực trong chiến tranh và nay còn bất lực trước hàng trăm nghìn cảnh ngộ như thế. Chúng ta còn bất lực đứng nhìn những người mẹ già, những người cha đau mà khóc, tủi cực, xót xa.

Là thi sĩ, hãy khóc đi anh Giang Đông. Hãy gào thét. Hãy phẫn nộ và hãy sám hối.

Anh Đông thân,

Anh là người chịu đọc sách, cách riêng là Sử. Anh còn là người quảng giao, nhưng anh cũng ít có tri kỷ, ngoại trừ Phổ Đức. Thời gian ở trại tù, anh thân với anh Long và tôi thấy anh Long cũng rất mến mộ anh. Thế cũng đủ. Sau này anh muốn nhập cuộc, song đó chỉ là nỗi uất nghẹn riêng tư của anh. Bạn hữu thấu hiểu nỗi đau của anh, họ thương anh nhưng lại thêm một lần nữa nỗi bất lực khiến nó tràn vào thi ca. Anh mang nó đi theo.

Anh Giang Đông !

Tôi muốn nói với anh về những sơ khuyết của con người. Hễ là người thì không ai không có. Ở anh. Ở tôi. Ở bạn hữu của chúng ta. Tôi có cái khuyết điểm nặng nhất là nói “lỡ”. Cái này là khuyết điểm của mọi khuyết điểm, gây ngộ nhận, nên tôi biết không ai khuyết điểm hơn tôi. Vì vậy, chỉ với anh tôi mới thường ngồi lâu với ly cà phê. Tôi không ngại nói lỡ lời với anh, vì anh không quan tâm. Còn thì…, người đời là thế. Người ta đổ đầy vào lòng vào trí những cái khuôn đố kỵ, thị phi lắp sẵn để “nhốt” anh em bạn hữu vào đó. Một khi những con mồi đã bị hốt vào đó thì khó mà thoát ra. Nhưng chính họ cũng bị “đóng đinh” một trật cùng với nạn nhân. Có điều họ không thấy được thôi. Nói như thần học gia Đông Phương Kitô giáo là Anthony de Mello (người Ấn Độ) dòng Tên: họ chưa thức tỉnh.

Là con người, làm sao không có sơ khuyết nhỉ, anh Đông ! Cái khó là nhận ra, ngoài những biểu hiện làm người đố kỵ không chịu được, người thị phi lại càng không nữa, còn có cái gì cao hơn, đáng yêu hơn và cần phải trân trọng, cần phải nâng cao điều ấy lên khỏi cái tầm đố kỵ, thị phi. Đó là chỗ “sống chết có nhau” của những đôi tri kỷ, chỗ khác nhau của những tay tâm tư.

Trong lịch sử loài người, những vĩ nhân, những bậc anh hùng, những tay kiệt xuất, những thi bá, thi hào…, hỏi ai là người không có khuyết điểm, anh Đông nhỉ ? Có khi những vị này còn nhiều hơn thế nhân thường tình! Vậy sao chúng ta lại bị chính anh em mình “nhốt” vào những định kiến của họ, để đố kỵ, để loại trừ !?

Viết xong lời trên đây, bỗng dưng tôi như bị một ánh sáng lạ chiếu vào toàn thân, làm tôi dừng bút, đọc lại những chữ nghĩa vừa qua. Như một biểu hiện thường lệ của người có đạo Chúa Kitô khi bắt đầu thánh lễ, là đấm ngực 3 lần : “Lỗi tại tôi ! Lỗi tại tôi ! Lỗi tại tôi mọi đàng.” Tôi chợt nhận ra rằng, chính tôi cũng “đóng đinh” bạn hữu, đồng thời cũng “đóng đinh” chính tôi vào định kiến khi bảo người khác là đố kỵ và thị phi. Điều này có thật hay chỉ là xét đoán. Nếu là xét đoán thì tôi đã phạm vào Tin mừng của Chúa Giêsu : “ Đừng xét đoán…” (Mt 7, 1-5).

Một vài anh như Thanh Chương, Phổ Đức và anh Long, đã nói về những đức tính đáng trân trọng của anh. Hình tướng anh đó, lúc nào cũng như nhìn thấy kẻ thù ở phía trước, chứng tỏ đó là những dấu chỉ của một tâm hồn muốn thoát ra ngoài những tù túng, những bất công, những hạn cục của bản thân, của xã hội. Ngoài ra, còn phải nhập vào tâm tư anh để đồng cảm với anh qua ngôn ngữ thi ca của anh. Nó mạnh mẽ, sáng suốt và khẩn thiết cho một cuộc cách mạng nhân văn. Như thế mới không bị vướng ở bình diện giác quan, rất dễ sai lạc.

Anh Giang Đông thân,

Tôi nói ra những điều này vì chúng mình sắp chia tay. Anh đến xứ người ta, xa lạ với mình. Nơi ấy có thể là môi trường làm anh lớn dậy, mà nó cũng có thể làm anh chán chường, đắng cay. Nhưng tôi vẫn tin ở anh, tin ở phần chân tính của anh. Trên đất mới, anh có nhiều cơ hội để phát huy.

Dù thế nào đi nữa, anh hãy nhớ đến quê hương, đến tổ quốc, nơi còn chúng tôi đang khắc khoải như con cuốc kêu mùa hè…

3.-Anh Đông thân mến,

Chắc anh còn nhớ đến một nhân vật của Hồ Hữu Tường chứ ? Nhân vật ấy tiêu biểu cho tinh thần Việt Nam (?) Hay cho chính tác giả của nó (?). Hồ Hữu Tường để cho nhân vật của mình sang Hoa Kỳ, sang Tàu và Mạc Tư Khoa. Ở đâu người ta cũng kinh ngạc và nhân vật ấy được coi như một tân Trạng Nguyên của Việt Nam. Tôi nhớ đến nhân vật ấy mỗi lần đi du thuyết thiên hạ, làm cho Việt Nam rạng danh trên trường quốc tế. Qua đó, Hồ Hữu Tường cũng nặng lòng với Tổ Quốc lắm.

Cho nên, sau khi được anh trao tận tay tập này, tôi đã nhớ ngay đến nhân vật ấy : Phi Lạc. Thú thật với anh, tôi cũng không biết tại sao lại nhớ đến nhân vật Phi Lạc của Hồ Hữu Tường trong lúc đi đường. Tôi không có ý đem anh so sánh với Phi Lạc, vì nhân vật này không có thật, nó chỉ xuất hiện trong trí tưởng tượng của Hồ Hữu Tường. Vì thế, nếu như anh không thích thì tôi lấy làm phiền muộn lắm : tôi lại lỡ lời với anh !

4.- Anh Đông,

Gần 30 năm là bạn thân tình của nhau, trong đó cùng khoác một màu áo lính và cùng một đơn vị chiếm 1/3, tôi không quên ngày anh vào Võ Bị Thủ Đức, anh đã viết thư mời tôi xuống chơi vào buổi trưa bất cứ ngày nào trong tuần. Tôi phải xếp dịp này vào số những kỷ niệm tha thiết nhất trong đời tôi. Nên tôi đã xuống liền. Cũng như anh, Cao Thế Dung, gặp lúc phải vào trại Quang Trung về vấn đề quân dịch đối với trí thức Sài-Gòn, khoảng đầu thập niên 70, đúng 24 năm trước, viết thư gọi tôi vào chơi, tôi cũng đã vào thăm anh ấy ngay, mặc dù hôm đó là ngày Chúa nhật, tôi có buổi thi tốt nghiệp cuối cùng của một khóa học về Thần học sau mấy năm theo đuổi. Đến với anh buổi trưa hôm đó, anh em mình đi trong sân trường Võ Bị đầy nắng, lặng lẽ lắm, vì đang là giờ nghỉ, tôi biết anh nhớ bạn hữu ở bên ngoài, thèm gặp để tâm sự cho vơi sự trống trải bên trong. Còn Cao Thế Dung, khi tôi vào phòng nghỉ của anh ấy, tôi thấy phòng đầy người, toàn là trí thức Sài-Gòn thôi, được mời vào đây nghỉ vài tuần lễ rồi lại về nhà, chứ có phải nhập quân ngũ như anh em mình đâu. Tôi rất vô tình, chẳng mang theo một đồng quà bánh nào cho anh cũng như cho Cao Thế Dung. Nhưng tôi biết hai anh đã vui khi gặp tôi. Cả anh và Cao Thế Dung có lẽ cảm thấy mình không cô đơn. Chỉ đơn giản thế thôi. Riêng tôi, khi nhớ đến hai dịp này, tôi thấy ấm lòng vì biết mình không vô dụng đối với bạn hữu, dù chỉ với anh và Cao Thế Dung.

Còn 19 năm trở lại đây, anh đã bôn ba rày đây mai đó, nhọc nhằn vất vả, buồn phiền ray rứt trăm bề, tôi tưởng như anh không trụ được. Nhưng anh vẫn tỉnh táo, vẫn làm chủ được bản thân, vẫn nặng lòng với anh em gặp cảnh khó khăn…Cho tới lúc anh trao tận tay tôi tập giấy này, tôi biết anh đã “qua cầu”…

Thời gian còn lại trước mặt, anh có tự thắng được mình nữa không ở nơi đất khách quê người, xem ra cũng còn có nhiều điều phải lo toan. Anh đã sẵn sàng chưa?

5.- Anh Đông thân mến,

Anh có phải là người đúng như anh em tôi nói đến anh trong tập kỷ niệm này không ? Hay anh sẽ là một người khác, muốn vươn cao hơn ý nghĩ thường tình của chúng tôi. Nếu đúng như thế cũng là điều đáng mừng. Cần phải tự vượt hơn tầm nghĩ của đám đông, như ngôn ngữ thi ca của anh. Sắp sửa rồi đây, những ý tưởng và những dự định của anh sẽ gặp được hoàn cảnh và môi trường…

Tôi chúc anh mọi điều tốt lành trong những tháng ngày ở miền xa.

                                                                                                                      Khải Triều

                                                      (Ngày 8-4-1994. Tháng 11-2016 cập nhật)

Sau khi anh Phan Lạc Giang Đông được mời làm hội viên Hiệp Hội Các Tác Giả và Nghệ Sĩ Quốc Tế (International Society of Authors & Artists), Đài phát thanh Á Châu Tự Do (RFA) phỏng vấn anh vào ngày 5-7-1998. Sau đó, nhà thơ Phan Lạc Giang Đông đã gửi nguyên văn bài phỏng vấn này về cho chúng tôi qua bản in trên tờ VietNam Times. Toàn văn bài phỏng vấn này cũng đã được nhà thơ Phổ Đức cho in vào cuốn Những Dòng Sông Đều Chảy, trang 89, nhân dịp kỷ niệm 49 ngày mất của Phan Lạc Giang Đông.

R.F.A: Xin anh cho thính giả biết  về tiểu sử của anh

PLGĐ: Thưa anh, tôi sinh năm 1940 tại Hải Dương là quê ngoại, quê nội tôi ở Sơn Tây, cả hai đều ở miền Bắc của Việt Nam. Cụ thân sinh tôi là nhà văn kiêm sử gia Phan Vọng Húc, cụ thường viết trên bán nguyệt san Bách Khoa và Tân Phong ở miền Nam Việt Nam trước 1975 với bút hiệu Dương Tuyền Dã Phu. Cụ cũng là cố vấn cho Hội Nghiên cứu Dịch thuật ở Sài Gòn. Tôi cũng có người anh ruột là Tiến sĩ Sử học Phan Lạc Tuyên, cũng là một thi sĩ và đã theo chế độ Cộng sản sau khi cuộc binh biến 11.11.60 không thành.

Thưa anh, tôi rất hãnh diện về truyền thống nội ngoại tôi. Tôi chịu ảnh hưởng của bên nội, nên thích văn chương và mê thi ca, trong lúc bên ngoại tôi lại chuộng võ nghiệp. Ông ngoại tôi là cụ Đào Xuân  Trụ, là là danh tướng của Tân Vương Quân Vụ Nguyễn Thiện Thuật thời kháng chiến chống thực dân Pháp.

Tôi tốt nghiệp Sử Địa tại Đại học Văn khoa Sài Gòn và sau, 1985 tôi học thêm về Ngữ Văn và Hán Nôm tại ại học Tổng hợp của chế độ Cộng sản.

Trước 30-04-1975, tôi là sĩ quan Không Quân QLVNCH. Ngoài ra, tôi đi dạy Sử Địa tại các trường Trung học Tư thục Cứu Thế, Hiếu Nghĩa, Thượng Hiền, Trí Tri…

Tôi bị chế độ Cộng sản bắt đi cải tạo sau khi miền Nam Việt Nam mất. Hiện nay tôi cư ngụ ở Seattle, Tiểu Bang Washington từ 1994.Tôi là biên tập viên văn học cho tuần báo Việt Nam Times (Việt Nam Thời Báo) của nhà báo Lê Công Đa

Về tác phẩm trước năm 1975, tôi có mấy tác phẩm:

-Đắc Khanh và màu sắc quê hương, in năm 1967

-Thi tập Thông Điệp, in năm 1969

-Tập biên khảo Mười Lăm Năm Thi ca Quân đội, in năm 1972

R.F.A : Được biết anh có hai bài thơ xuất sắc là Những Dòng Sông Đều Chảy và Walt Whitman’s Lament đã được Ban Giám Khảo Giải Thi Ca Quốc Tế tuyển chọn vào chung kết. Xin anh cho biết:

-Hoàn cảnh nào mà anh sáng tác hai bài thơ này ?

-Theo anh, những yếu tố nào đã giúp anh đạt được thành công trong hai bài thơ đó ?

PLGĐ : Thưa anh, hai bài thơ này tôi sáng tác trong bối cảnh xã hội nơi tôi đang sống, suy nghĩ và những hiện thực của cuộc sống đã cho tôi thể hiện qua thi ca. Theo tôi, sức mạnh của hai bài thơ này là cả hai đều phản ảnh trung thực hiện thực xã hội, đồng thời cũng do ngôn ngữ giản dị của nó. Vâng, thưa anh, tôi xin nhấn mạnh, đó là sự trung thực của thi ca và sự giản dị của ngôn ngữ thi ca.

R.F.A: Nói chung, thơ của anh có chịu ảnh hưởng của khuynh hướng thi ca hay của những thi hào nào hay không?

PLGĐ: Tôi không chịu ảnh hưởng của khuynh hướng thi ca nào cả. Tôi luôn nghĩ, trái tim nồng nàn và khối óc tuyệt vời, bén nhạy của thi nhân luôn luôn nhận mệnh lệnh của hiện thực xã hội đang sống, đang thở để sáng tác. Tôi cũng không chịu ảnh hưởng của nhà thơ nào cả, kể cả của Việt Nam và quốc tế. Tôi chỉ thích vài thi hào như Đỗ Phủ của Trung Hoa, Wall Whitman của Mỹ, Pushkin của Nga, và dĩ nhiên Cao Bá Quát và Nguyễn Du của Việt Nam.

R.F.A: Ngoài phương tiện Việt ngữ, có lẽ anh cũng sẽ tiếp tục nhờ tới Anh ngữ để giới thiệu các tác phẩm của anh?

PLGĐ: Vâng, theo tôi nghĩ thì bất cứ người nghệ sĩ nào cũng muốn những suy nghĩ và sang tác của mình được bay cao và bay xa, càng cao và càng xa càng tốt. Anh ngữ là ngôn ngữ quốc tế. Chính vì thế, nhất là người cầm bút rất cần đến Anh ngữ để đưa những tác phẩm của mình  thoát khỏi những ranh giới của thôn xóm, phường xã, thoát khỏi những bảo thủ, địa phương và ngay cả biên cương nhỏ hẹp quốc gia, để hội nhập vào giòng văn học nghệ thuật thế giới, của nhân loại. Tôi đang nỗ lực để thực hiện bằng được công việc này.

R.F.A:  Kế hoạch sắp tới của anh để đóng góp cho văn học nghệ thuật Việt Nam như thế nào?

PLGĐ: Để góp phần nhỏ vào sinh hoạt nghệ thuật Việt Nam, tôi đang cố gắng sang tác vài tác phẩm, về thi ca và về văn,, về biên khảo. Những tác phẩm này mong sao thể hiện được tính cách trung thực, phản ảnh trung thực những bi kịch của con người Việt Nam, của mỗi gia đình và của dân tộc Việt Nam trong suốt một thế kỷ hai mươi đau thương và đầy nghịch lý, nghịch cảnh.

Thưa anh, khát vọng và kế hoạch của tôi là như thế.

R.F.A: Cám ơn anh Phan Lạc Giang Đông.

Ghi chú của Khải Triều:

Nhân vật Phi Lạc tôi viết cho Phan Lạc Giang Đông trước khi anh sang Hoa Kỳ diện H.O năm 1994, xuất hiện trong trí tưởng tượng của Hồ Hữu Tường. Còn Phan Lạc Giang Đông, nhà thơ Việt Nam có thực bằng thân xác và qua thi ca, anh đã trở thành “Người của thi ca quốc tế” trên đất Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, cuối thế kỷ XX.

(Nhân kỷ niệm 15 năm ngày Phan Lạc Giang Đông mất : 9.11.2001 – 9.11.2016) KT

THƠ PHAN LẠC GIANG ĐÔNG

Dòng thi ca của nhà thơ Phan Lạc Giang Đông có thể chia thành hai nhánh, nhưng cũng vẫn là một dòng, nếu chỉ xét ở khía cạnh “vận động”. Vận động cái gì? Có vài bài ông làm trước năm 1975 và sau này, khi ông sang Hoa Kỳ theo diện H.O: tác giả này kêu gọi các nhà thơ hay người cầm bút nhập cuộc. Những nhà thơ thuộc dòng lương tâm, sự thật, lương thiện, nhân ái, vị tha…, nghĩa là họ thuộc hàng ngũ Chân, Thiện, Mỹ. Họ sống vì Chân, Thiện, Mỹ và tranh đấu cho Chân, Thiện, Mỹ…

Trong bài Người Cầm Bút Hôm Qua – Hôm Nay, chúng ta vẫn đi giữa rừng súng máy, nhà thơ Phan Lạc Giang Đông viết:

Bút chúng ta bất khuất

Nỗi đói-no vẫn tin ở nơi mình

Và bút thiêng vẫn sáng lửa quang vinh

Báo của ta-báo của chúng mình

Báo của nhân quần xã hội

Văn của ngày mai đi tới

Thơ của tình thương rực rỡ lòng son

Nhạc họa luôn luôn-và ý thế trận vẫn còn

Phải chiến đấu từng giây từng phút

Cuộc đấu tranh cả ngàn năm chưa dứt

Giữa cái đúng-cái sai

Cái đen trắng lập lờ

Cái giả dạng ngu ngơ thủ lợi

Cái ngụy quân tử

Luôn chơi trò múa rối…

(Trích từ cuốn: Những dòng sông đều chảy, do Phổ Đức thực hiện, Nghi Yên: Vi tính -Việt Nam Tân Tỵ 20001, trang 46)

Trước Năm 1975

Trước năm 1975, nhà thơ Phan Lạc Giang Đông đã có mấy thi phẩm và ông đã nhờ tôi viết bài giới thiệu để in vào một tập nào đó, nay tôi không còn một tập nào, nên không biết bài ấy in ở tập thơ nào. Cũng do điều này, nên tôi không có tài liệu để giới thiệu với độc giả về thơ của Phan Lạc Giang Đông viết trước năm 1975. Nhưng, may là trong cuốn sách “Văn Học Hiện Đại –Thi  Ca Và Thi Nhân – của tác giả Cao Thế Dung, Quần Chúng xuất bản, Sài Gòn 1969, ông đã nhận định về thơ Giang Đông như sau. Tôi trích một đoạn để bù vào chỗ thiếu sót của mình:

“Thơ Phan Lạc Giang Đông mới xuất hiện gần đây. Thơ ông tiêu biểu cho một phẫn nộ của tuổi trẻ đô thị Miền Nam, đang là nhân chứng bất đắc dĩ của một thời nội chiến thê thảm nhất trong lịch sử dân tộc Việt. Thi ca trong giai đoạn này đã chuyển biến bất ngờ và lớn lao, với những hình tượng độc đáo, xuất phát từ cảnh ngộ đen tối của vận mệnh dân tộc giữa cơn nồi da xáo thịt và vong nô từ hai chiều hướng Nam, Bắc.

Năm 1967 cuộc chiến đang bước qua một giai đoạn thảm khốc. Miền Bắc bị phi cơ Mỹ oanh tạc ngày đêm. Miền Nam vẫn thê thảm trong bom đạn, máu lửa, tương tranh, phân hóa và sa đọa, tham nhũng…Trò bá đạo vẫn được công khai diễn ra từng ngày từng giờ từ bên này hay phía bên kia. Tuổi trẻ thì bơ vơ trước một thực tại bỉ ổi trong một xã hội đã bang rã tận cùng. Phan Lạc Giang Đông, một trong những người trẻ tuổi làm thơ-đã một lần dùng thi ca như một giải tỏa cơn dồn nén đau thương nhất của tuổi trẻ và thơ, qua thi tập Đắc Khanh và Mầu Sắc Quê Hương (1967) – đã trở thành thái độ biểu quyết dứt khoát thế đứng của tuổi trẻ, dù thế đứng ấy chơi vơi giữa khoảng lưng chừng, không bám víu vào đâu, dù là một hy vọng mong manh từ thực tại của nó… Thơ Phan Lạc Giang Đông trước hết thiên về khuynh hướng đấu tranh. Mà nói đến đấu tranh tất có bạn – có thù… Thơ tranh đấu xuất phát từ đó, và ở Phan Lạc Giang Đông đã thể hiện rõ đường hướng này qua bài Chúng Ta Đứng Lên Mặt Trời Đỏ Lửa:

Chúng ta ngồi đây, đêm tối bao vây

Chung quanh ta nhiều điều làm sao nói hết

Chung quanh ta nhiều khuôn mặt

Từng tháng ngày tiếp nối thiếu trăng sao

Chúng ta ngồi đây, cuộc chiến đấu này và hòa bình nhảy múa

Trên từng ô vườn thửa ruộng.

Chúng ta nhìn hòa bình

Ôi hòa bình vô cùng vĩ đại.

Chúng ta ngóng tương lai suốt đêm dài

Và tình thương nghiêng đổ trên vai

Lệ có khô trên mắt già, mắt trẻ

Tóc có xanh mùa lúa mới quê hương?

Chúng ta đợi chờ vào đêm thứ mấy?

Để nhìn, để nghĩ, để căm hờn

Lời đấu tranh bỗng sáng ngời bút thép

Lời thơ vang tiếng cồng

Chúng ta đã đứng lên

Mặt trời bỗng nhiên đỏ lửa

Ngàn triệu cánh tay tạo thành trì vững mạnh

Trùng trùng điệp điệp thi ca

Khi chúng ta đứng lên

Ngôn ngữ của chúng ta

Phải là của chúng ta.

(Sđd, tr.300)

Sau Ngày 30-04-1975

Sau ngày 30-04-1975, nhà thơ Phan Lạc Giang Đông chìm sâu vào một nỗi buồn, một nỗi đắng cay khôn nguôi và ông đã để lộ ra với người bạn tri kỷ của ông, là nhà thơ Phổ Đức trong hai bài thơ mà tôi in ở đầu mục dưới đây, nhất là bài in ở phần cuối bài này. Tôi cũng giới thiệu với độc giả một vài bài thơ mà Phan Lạc Giang Đông viết ở bên Hoa Kỳ, như một dấu ấn của quê mới. Nơi đây ông đã vươn mình lên, đã được ghi tên, đứng thứ 13 trong bảng danh sách các nhà thơ quốc gia của Hiệp Hội Thi Ca “International Society of Poets”, qua hai bài: Những Dòng Sông Đều Chảy và Nỗi Khổ Tâm Của Walt Whitman.

Đêm Bên Phổ Đức

Khuya nghiêng đèn phố ngủ vùi

Bâng khuâng chùng đến muôn lời với nhau

Ly buồn nói được mấy câu

Đức ơi! Phù thế – biển dâu – thăng trầm

Tuổi đời thì có bao năm

Cho ta cạn cả lời thăm ân tình

Quán khuya uống rượu phù sinh

Hai ta chắc cạn cả bình thơ ca

Cái còn – cái mất – cái ta

Cái mênh mông hẳn vẫn là có nhau.

(Công Trường Dân Chủ. 12 giờ khuya Ngây 06-04-Giáp Tuất (16-6-1994. Trích từ Thơ-Những Dòng Sông Đều Chảy, trang 99, Phổ Đức thực hiện dịp kỷ niệm 49 ngày nhà thơ Phan Lạc Giang Đông mất tại Seattle, Hoa Kỳ)


Đêm Mưa Tuyết Trên Quê Mới

Mưa tuyết đầu trên quê tự do
mình ta và đêm lạnh hư vô
quanh quanh trắng cả trời bông tuyết
trắng cả tâm hồn dĩ vãng xưa.
*
đâu những lời trăng đâu tiếng em
đâu rồi lời nhạc gọi bao đêm
đêm nay cùng với trời mưa tuyết
tuyết phủ thêm dần nỗi nhớ thêm.
*
có nẻo quê nào nắng nhớ không ?
quê xưa ngọn lửa ấm tơ trùng
khát khao lời nói như bình dị
mà mắt sông hồ mong nhớ mong.
*
mưa tuyết mịt mờ dăng lối đi
khuya đêm qụanh vắng dáng em về
bao năm tóc đã vùi sương gió
quê mẹ bây giờ vẫn cách chia
*
trên nẻo đường về nghe tuyết rơi
bờ xa còn lạnh những đầy vơi
ở đây khát mãi lời xa gọi
nhưng vẫn chỉ là xa vắng thôi .
*
trắng tay đi giữa trời mưa tuyết
quê cũ xa rồi quê mới đây
ngở tưởng quê xa ngàn dặm thẳm
và rồi mất một thoáng thơ ngây .
*
đi giữa đêm mưa nghe tuyết đổ
xe lăn trầm lắng dẫn tôi về
có nghe bốn hướng trời thinh lặng
xe vẫn đi trong những não nề.
*
đêm nay tuyết đổ trên quê mới
tuyết trắng như lòng trắng đớn đau
khép áo thầm thương tôi nói nhỏ :
” Em và đất nước vẫn như nhau !”
.
Từ Thế Kỷ Đớn Đau Tôi Lớn Lên
Cùng Đất Nước Hoa Soan

Thế kỷ hai mươi
những đớn đau cho tôi khôn lớn
hiểu thế nào là đất nước của tôi
hiểu thế nào là những cuộc chơi
những ngôn ngữ tinh ma
những trò bịp bợm
những diễn viên
trên sân khấu đời ghê tởm
*
Tôi sinh ra – buổi bình minh nở s71m
núi và đồi trùng điệp bủa vây quanh
những dòng sông mãi mãi tươi xanh
đất thơm nức lòng tổ tiên mở rộng
lời ca hát nổ ròn trên mặt trống
những đoàn quân dân tộc vội lên đường
những nàng thơ trao vồn vã tình thương
những cánh áo bay – gió về đằm thắm
nét môi ấm nồng tình im lặng
ngực no đầy dòng sữa ái ân
ánh mắt đi về ấm lại những bàn chân
tiếng gươm súng sắc cờ chủ nghiã
tôi lớn lên bạn thù từ ngàn phía
lẽ phải rồi phải đứng hẳn về ai
đất nước và tôi – và bước đi dài
trái cay đắng vẫn ngọt từ tim mẹ
mặt trời sáng trí tu5ê cha đã hé
và chân trời Tổ Quốc đứng lên
*
Những bạn tôi cùng đất nước thiêng liêng
thế hệ ôm tròn mùa hoa mới
kẻ giả hiệu lũ con buôn sám hối
bọn hoạt đầu bày ma qủy tàn theo
cả cộng đồng cùng đất nước đang reo
ngàn triệu nỗi vui trên vai đời chiến đấu
những áng văn chương – nhữngtâm hồn yêu dấu
nàng thơ vẫn đẹp thủy chung
tôi trở về uống cạn nỗi hưng vong
làm lịch sử như cha ông dũng cảm
và đi suốt thu muôn ngàn ánh sáng
bừng nụ cười lúa gạo để nuôi quân
đẹp hoa đời thơm triệu mùa xuân
những thi sĩ văn nhân và danh tướng
những em bé trước ánh đèn vui sướng
học thêm giờ cho kịp chín tương lai
khắp non sông trên vạn ngả đi dài
thơ bằng hữu là Nguyễn Du thời đại
tôi về ngủ bên người tình thân ái
trước thềm nhà nắng nhẹ thoáng hoa soan .
Từ Khổ Đau Thơ Tôi Lên Tiếng

[Phổ nhạc bơở Nguyễn Văn Thành – trong Dân Chủ Ca]
Khi tiếng ru bị cắt ngang âm điệu
khi tiếng võng đưa bị ngưng lại bỗng dưng
khi tiếng kêu than khốn khó trùng trùng
khi khói lửa ngút ngàn
khi bạo tàn ngự trị
.
khi trọc phú tỏ bản năng ích kỷ
khi lũ thấp hèn cơ hội giàu nhanh
khi trưởng gỉa – học làm sang
thở nọc độc gian manh
khi cái bụng to hơn óc não
khi khoa bảng ưa ngồi nói láo
khi chính tri sa lông yêu nước đầu môi
khi diễn văn đọc mãi không thôi
nói điều gỉa – che manh tâm lừa đảo
khi trắng – đen mập mờ trâng tráo
thời suy vong ngôn ngữ văn chương
khi những tên nhảy múa trên đau thương
suốt thế kỷ Tổ Quốc đau từng chặng
suốt thế kỷ phủ đầy huyền hoặc
Người – dối – người
ma qủy tự tim đen
khi vòng vây là những bóng đêm
khi mọi việc khởi đi từ bao điều tính toán
khi đạo lý thở dài ngao ngán
khi chữ yêu thương thành sáo ngữ vô tình
khi sự thực sợ ánh sáng bình minh
khi im lặng trở thành cần thiết
.
là khi đó Thi Ca Hiểu Biết
phải rất cần lên tiếng báo nguy
.
ở xa xăm vời vợi nghĩ suy
Em hỏi tôi khi nào hạnh phúc
tôi biết trả lời sao
khi chung quanh ô nhục
tôi biết nói sao
khi những gì chân thực
đều nín thinh như tĩnh vật ngoan hiền
những tấm họa nào mầu sắc đảo điên
những đọan nhạc âm thanh nhạt thếch
Người lương thiện trở nên ngờ nghệch
đứng bâng khuâng giữa cõi oán hờn
.
Người Cầm Bút Không Cần Biết Thiệt Hơn
Vũ Khí Chính Là Thơ Lên Tiếng
là báo động
là việc làm biểu hiện
của vô vàn sắc mực đấu tranh.
.
Em có thể yêu tôi
bởi vần điệu trong lành
bởi bề ngoài đỏm dáng
bởi kịch diễn
bởi những điều thế nhân nhàm chán
bởi ngôn từ ngọt lịm đường hương
Nhưng em ơi – điều duy nhất phải hiểu nhau hơn
Là Bản Chất
Là Tận Cùng Dưới Đáy Tim Dũng Cảm
Người Văn Nghệ Đứng giữa vùng ánh sáng
viết nên hoa – nắng – trăng – sao
viết nên đời mới
gửi trao
cho Dân Tộc – Con Người – Nhân Lọai
ngọn Bút Thiêng
Vượt Qua Trở Ngại
Đồng hành cùng Lịch Sử Yêu Thương
.
Em yêu dấu ơi
Từ khổ đau
Thơ Tôi Lên Tiếng

Tôi Mơ Ước Nghe Đất Nước Hai Quê Ca Hát

Tôi mơ ước thấy quê hai miền ca hát
sức sống trào lên từ nguồn nhịp thơ ca
nụ ân tình khởi từ những xót xa
mái tóc lúa đồng
bước chân đời vững chắc
*
nắng chảy đẹp trên cánh rừng xa tắp
hò reo sóng vỗ triền sông
thế kỷ hoàn toàn của bao nỗi chờ mong
phía Đông vỗ
trời Phương Tây chào đón
*
cô gái đẹp Việt Nam một sớm
trao vội chàng tuổi trẻ Viễn Tây
những nụ hôn pha men rượu ngát say
những nụ hôn nồng nàn đời mới
lòng bất khuất – vầng dương ló dạng
cánh hải hồ đại điểu tung bay
đón chào thế giới đổi thay
điệp khúc rộn ràng – nhớ nhung trao gởi
*
những lồng ngực trẻ thơ thắm vội
tóc bồng bềnh như gió ra khơi
những mái trường quê cũ của tôi
mãi mãi thơm
từng trang quê đời mới
những thôn xóm nghèo xưa
chuyển mình đi tới
những đàn trâu đứng ngắm cánh đồng xanh
những máy cày nổ ròn rã âm thanh
những xa lộ nối nhịp tim đất nước
*
những mồ hôi ngỏ lời chào Tổ Quốc
ngực căng đầy nghị lực để nuôi dân
những mùa Thơ nở theo những bàn chân
những vần điệu ca dao ủ lại đời Dân Chủ
*
xin đa tạ hai quê
Whitman ơi – đã đủ
xin cám ơn Hồng Lĩnh -Nguyễn Du
nàng Kiều về tô lại nét xuân xưa
chàng Kim Trọng biết ơn từng nhịp thở
*
thế kỷ mới của tôi
hoa ngày mai sẽ nở
những công viên thắm sắc đẹp tình thương
nắng Seattle
hay nắng ngàn phương
nắng Quảng Trị
Thừa Thiên
Phan Rang
Phan Thiết
nắng vẫn ngọt trên đồi thông xanh biếc
quê mới hôm nay thắm lại sắc cờ tươi
Nước Mỹ bao la – độc lập tuyệt vời
nước của Luther King
bài học nhiều nhân ái
ôi hai quê – thời đại vui trở lại
những trung tâm – đại học mở chân trời
đẹp rộn ràng trí tuệ đã ra khơi
*
tuổi trẻ Việt Nam ơi
công Cha và nghĩa Mẹ
dòng máu lưu dân vẫn nối tiếp đi- về
rực rỡ vô cùng
tình lớn hai quê


Nỗi Khổ Tâm Của Walt Whitman

Một tối trước Safeway

Dưới ánh đèn đường khuya

Hai mẹ con ôm ngủ

Bên tấm bảng xin đời

.

Khuya rồi-đâu còn người

Chỉ toàn màu của đêm

Chỉ còn gió rít lên

Từ Rainier sừng sững

.

Mẹ có mái tóc đẹp

Mẹ có đôi mắt hiền

Con có đôi má nghiêng

Thiếu thơ đời nho nhỏ

Whitman xưa muốn ngỏ

Triệu tình thương – nụ cười

Nay – vần điệu vắng rồi

Bởi người không có mặt!

.

Hai mẹ con ôm chặt

Đành nhịn đến ngày mai

Ở đâu – tiếng thở dài

dòng xe đường giá lạnh

Tối nay tôi sẽ về căn phòng nhỏ bé, rất nhỏ bé, rất đơn sơ và phải đọc lại bài Quy Khứ của Đào Tiềm

Tôi nhớ tới nhà nho Đào Mộng Nam, nhớ tới Phạm Quốc Bảo ở xa. Hạnh phúc cũng vẫn là một nỗi nhớ nhung đẹp đẽ mà đơn giản, không hậu ý. Có phải không những người bạn hiền?

Thôi, tôi trở về với chính tôi, cái nhỏ bé và bình thường để được nhìn hàng phong vàng, với ly cà phê đạm bạc và với cái xuề xòa của ông bạn P.K với những trái táo và ít muối trong bao giấy

Suy nghĩ về nhà Thánh Francis mãi tôi bèn có bài thơ rằng:

Nhà Thánh Francis

Có biết bao nhiêu người đứng đợi

đủ sắc màu, đủ chủng tộc anh  em

có biết bao nhiêu người đã tới

bao năm rồi nay nhớ nhận thân quen

Mẹ Ấn kiều – già nua đứng đợi

bạn của tôi mỗi tối giữa mùa sương

em Tiệp Khắc – chị Ba Lan – anh Đức

cả Liên Xô, đều gặp những thân thương

.

ta đứng mãi giữa sáng trời lạnh giá

nghĩ về đâu sao trống vắng vô cùng

bao chữ nghĩa đã trở thành vô nghĩa

Chính nơi này mới có trái tim chungb

.

bao rỗng tuếch của từng trang lý luận

bao nhân danh và ngôn ngữ xa vời

bao son phấn, danh từ và kiều diễm

bỗng tàn phai và những trận mưa đời

.

Chính nơi đây

Nhà Thánh Francis

giữa Seattle – thành phố Hoa Kỳ

căn nhà nhỏ – không còn băng giá

lúc tới buồn nhưng hạnh phúc khi đi.

PLGĐ


Những Dòng Sông Đều Chảy

(Bài thơ này Phan Lạc Giang Đông đã gửi đương kim Tổng Thống Mỹ Bill Clinton – Và đã nhận được lời ngợi khen ngợi của vị Tổng Thống này)

Chiều mùa xuân
seattle – hôm nay nắng dậy
tôi đứng chờ bus về phía ấy
phía của những tình thương
phía của những giọng hát đầy ắp yêu đương
.
nắng chảy dài trên khắp nẻo đường
những mái tóc đen mun óng ả
Cô gái ý thắm chiều sâ biển cả
và sắc miền xa Địa Trung Hải rạt rào
Cô nói cười – những tiếng gửi trao
bà trung Hoa vội vàng – vất vả
vẫn niềm cần cù – và mọi thứ là tất cả
vòng hoa châu á đẹp tương lai
người Ethiopie vẫn ngôn ngữ và nắng không phai
trên nụ cười sắc quê hương xa tắp
những em bé Nhật – nắng nô đùa trên cặp
những công nhân Hung – Pháp – Đại Hàn
những cụ già Ấn Độ – Pakistan
lên xe xuôi về south – ngược North
tôi vẫn đứng đây
trước Post office
chờ xe – tìm ý thơ – từng ngôn ngữ một
chữ nào cho tôi
chữ nào cho bằng hữu
chữ nào cho nhân loại hôm nay
.
Muôn cái đảo điên – triệu nghịch lý
chua cay
những bóng ma vẫn rẫy đầy mọi chốn
nhân loại đau
tôi đau
đồng bào khốn đốn
hàng ngũ tôi ư- giả thực khó lừơng
tôi đứng chờ xe
nghe nhạc xa quê hương
từ thanh niên Da Đen – anh đang hát bài no tròn âm điệu
nỗi vần vũ của Phi- Châu
nỗi nhọc nhằn túng thiếu
nỗi nào trang trải năm châu

người cựu chiến binh
trên xe lăn
anh cắm lá cờ
kỷ niệm chiến trường Việt Nam lửa đạn thẳm sâu
anh nhìn tôi – với ‘mắt xanh trời biển sáng
hai nỗi lòng cùng nhịp trái tim
qua rồi những đêm đen – và nay tỏ rạng
chúng ta cùng nhìn về phía trước
tôi tặng anh điếu thuốc
anh trao tôi nụ cười
” happy – nice day “
lửa thơ nhạc reo vui
.
tôi vẫn đứng đây
hàng giò – yên lặng
xe số 7 số 3
xe số 6 số 13 , số tăng dần đường nắng
số của những lưu dân
thầm lặng
cần cù
chuyển lịch sử đi lên
bức hoạ hiện thực nào mà tôi chẳng nhớ tên
nhưng chắc chắn không là hư ảo
những building – những hình ốc đảo
giữa sa mạc mùa Xuân
một tiệm nào lưu được bước chân
cô gái tây Ban Nha mua đoá hồng thắm nhất
cô sẽ tặng cuộc nội chiến năm nào
nơi xứ cô – mái xương chất ngất
.
có phải chăng sự thật
người sinh viên Đài loan vẫn sát cạnh tôi
theo bên anh là thíu nữ sinh tươi
của bắc kinh hay Thiên tân gì đó
họ yêu nhau – giữa đại lộ hoa Kỳ bỏ ngỏ
xoá tan ranh giới Đỏ -Xanh
cả hai trao nhau những nụ hôn nhanh
rồi lên xe số 2 về Queen Anne thơ mộng
tôi vẫn đứng
hơn một giờ im lặng
đại lộ số 3
xuôi ngược gió Xuân về
bên kia đường
một chàng họa sĩ đam mê
chàng vẽ tấm tranh nhân lọai
không trường phái
không những gì phiền toái
tấm tranh nước mỹ tương lai
tấm tranh tất cả lưu dân
là những nhánh sông dài
rộng bát ngát xuôi về đại dương
đầy ắp tình thương
đầy ắp lời thơ – lời văn
đầy ắp tương lai hòa hợp
những dòng sông
muôn lớp
ca hát chảy ngày mai
.
tất cả chúng ta
không than ngắn thở dài
bóng đêm phải qua
bóng ma tàn lụi
người cầm bút khắp năm châu
trên toàn thế giới
đang viết từng dòng …cho nhân loại mùa vui .

BÀ MẸ VIỆT NAM TRÊN CHUYẾN TÀU THỐNG NHẤT



Trên những chặng đường xuôi Nam
ngược Bắc
những ga buồn của câm nín
thời gian
những điêu tàn
một thuở lầm than
những khác biệt
ngôn từ
ranh giới
những nghịch lý
trên quê hương
diêu vợi
những giả nhân
giả nghĩa
thiệt hơn
tôi đã đi suốt những chặng
căm hờn
của chuyên tàu Thống Nhất
*
Những điều trái
trở thành sự thực
những dối gian
thành lẽ sống con người
những diễn viên
diễn xuất không thôi
từ cha con
anh em
bè bạn
*
Ga Hàng Cỏ
vẫn tanh mùi hoang lọan
không phải bởi chiến tranh
mà bởi từ nụ cười
những nụ cười đau khổ
khôn nguôi
những u uất bao năm dài
câm nín
những xảo ngôn trở nên quyến luyến
những đắn đo
tính toán
tinh ma
khi tình người đã vĩnh viễn chia xa
khi dối trá trở thành nghệ thuật
*
những chặng dài xuôi Nam
chất ngất những vô Nam
như đến thiên đường
những ga
tàu qua
tạm biệt đau thương
tôi đã qua những chặng buồn khổ lụy
Nam Định là đây
Thanh Hoá là đây
Vinh trơ gầy trần trụi
men say
nỗi mê đắm trò chơi chiến thắng
Ga Đồng Hới
mắt ai còn cay đắng
ai nuốt sâu nỗi nghèo đói
nhục nhằn
*

Ở góc tàu
theo những tháng năm
một bà mẹ còng lưng đi xin ăn Nam Bắc
nước mắt mẹ nóng hờn tủi cực
chống gậy theo tàu
qua những bến bờ xa
mẹ xuôi Nam
nắng ấm nở hoa
lòng mẹ no
từng đồng tiền
gói bánh
– mẹ chán nản huy chương
thần thánh
bốn đứa con đã ngã xuống chiến trường
cũng chỉ vì Xã Hội
Quê Hương
những danh xưng
quyết tâm độc lập
những mỹ từ
đã phơi bày sự thực
tấm giấy ban khen
không đổi được một đồng
lũ cháu thơ vẫn đợi
vẫn trông
từng manh áo
bát cơm
ước mơ no
đủ
danh liệt sĩ như nỗi buồn
ủ rũ
trên đất mẹ xa xăm
theo ngày tháng heo mòn
*
Mẹ cô đơn
không còn một đứa con
không mộ ngày mai hy vọng
mẹ xuôi Mam
mẹ đi tìm sự sống
mẹ đi xin
từng tình cảm con người
mẹ xin những nụ cười
mẹ xin lòng chân thật
*
Đã mấy chục năm
mẹ thèm sự thật
đã mấy chục năm
đè nặng khổ đau
những ngôn từ
lừa bịp
theo nhau
phủ xuống
cuộc đời bị trị
nước mắt mẹ khô
suốt gần thế kỷ
mẹ chỉ còn một khát vọng
thương yêu
mẹ chỉ còn
no đủ
bữa cơm chiều
và giấc ngủ ở xó toa
trên chuyến tàu
mang tên THỐNG NHẤT !
*
Ơi mẹ
hơn bảy mươi- như bước đi
lật bật
túi xin ăn- theo mẹ
suốt chặng dài
từ Bắc vào Nam
mẹ có gặp một ai
đã biết mẹ là gia đình Cách Mạng
đã biết mẹ là tấm gương ngời sáng
của bà mẹ có bốn con đi diệt Mỹ
cứu quê hương
– ơi- mẹ Việt Nam- bao nỗi chán chường
tiếng quê hương đã trở nên sầu đắng
và đời mẹ đã hoàn toàn vắng lặng
nay chỉ còn no ấm
qua ngày
*
Mẹ già ơi
trong mắt mẹ nồng cay
trong tim mẹ héo hon
trong suốt đời bị trị
những bánh vẽ của phường ích kỷ
những tham lam
cuồng vọng thấp hèn
đã cướp của mẹ đi
những tình cảm thương yêu
đã đẩy mẹ
xuống vực sâu tăm tối
những con mẹ
chết vì lừa dối
….
*
Mẹ vẫn đi qua những buôn
ga
tàu Thống Nhất
chở nỗi buồn
Cô quạnh

PHAN LẠC GIANG ĐÔNG
* Ga Đồng Hới 1984- ghi vội trên tàu lửa Thống Nhất.

Mấy lời cuối:


Thật tình, tôi chưa muốn dừng bút viết về Phan Lạc Giang Đông tại đây. Lý do đơn giản là tôi chưa nói được bao nhiêu về nhà thơ này. Anh còn nhiêu lắm, trước năm 1975 còn nguyên đấy. Ngoài mấy tập thơ đã in, có tập anh còn nhờ tôi viết bài giới thiệu, còn những bài thơ đăng trên tờ Bán Nguyệt San Quần Chúng, trên Tuần báo Diễn Đàn Chính Đảng mà tôi biết rõ vì chính tôi chọn. Sau ngày anh sang Mỹ, tiếp tục hoạt động văn nghệ, làm được bài nào, đăng báo rồi lại gửi những bài ấy về cho chúng tôi hoặc gửi về cho chị Phương Nga, người vợ sau này của anh. Có lẽ anh Đông gửi về cho chị Phương Nga nhiều hơn cả chúng tôi, đặc biệt là những tin tức về việc anh trở thành Hội viên chính thức Hiệp Hội Các Tác Giả và Nghệ Sĩ Quốc Tế. Sau này, chị Phương Nga lại chuyển cho tôi những tài liệu này. Nói như thế là để xin lỗi anh Đông về việc tôi không thực hiện được bao nhiêu những gì anh đã làm, đã viết sau bao nhiêu thương đau, như anh đã viết cho tôi trong thư đề ngày 05/10/2000, Seattle:

… “Anh ạ, đời Đông quá nhiều gian khổ, nhiều ngộ nhận và nghịch cảnh, bởi thế, chính những nỗi đau tự tâm can như vậy, đã cho Đông bền chí và nhẫn nhục. Phải, Nhẫn và Nhục, để tồn tại và đi tới Chân, Thiện, Mỹ…”


Cuối thư, anh nhắn nhủ với tôi vài lời về “cháu nhỏ”, tức con gái của anh với chị Phương Nga. “Cháu là NGUỒN AN ỦI CỦA ĐỜI ĐÔNG”. Tên cháu là Phan Lạc Hoàng Anh. Nay đã khôn lớn có tài văn chương như bố Đông.

Lời cuối thứ hai này, theo chúng tôi có lẽ không có lời nào của Thi sĩ Phan Lạc Giang Đông, buồn và ấn tượng bằng bài thơ ngắn của Thi sĩ họ Phan này. Nỗi buồn của ông được bộc lộ với người bạn tri kỷ trong một đêm cuối năm! Bài thơ còn cho thấy, dẫu trong tận cùng cay đắng, phiền muộn, thì trái tim của Thi sĩ vẫn còn hình ảnh của Tổ quốc, của dân tộc.

Ly Rượu Cuối Năm

Uống đi – ly rượu cuối năm

Vào câu chuyện cũ vẫn ngần ấy thôi

Sân nhà ôm trọn tình tôi

Mà anh Đức ạ – bao lời cho say?

Trường ơi bao nỗi đổi thay

Cuộn bay khói thuốc như mây giữa trời

Trái tim anh – Trái tim người

Trái tim Tổ quốc mềm môi sông hồ

Xin chào dân tộc trong thơ

Cái Liêm sỷ để tôn thờ mai sau

Nâng ly – tình nghĩa cùng nhau Uống đi cho trọn nhiệm màu anh em.

Bài Mới Nhất
Search