Nguyễn Kỳ Dzương: NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (12)

Những Phần Đời Của Định Mệnh: “Con giun xéo lắm cũng oằn”

Cán bộ trại thẩy vào phòng biệt giam cho tôi một cái chậu bằng plastic cỡ trung bình, như những cái chậu được bán ở ngoài chợ. Chỉ có điều là cái chậu này sứt mẻ, trầy trụa, có lẽ đã bị phế thải từ lâu. Miệng chậu rách một hai đường, họ đã phải lấy dây thép buộc chúng lại với nhau, trông méo mó, thảm hại. Khi vứt cái chậu này vào cho tôi, họ cũng không nói để làm gì. Tôi phải tự sử dụng trí óc “sáng tạo” của mình: Biến cái chậu này thành cái cầu tiêu di động! (Các đỉnh cao trí tuệ cũng chỉ có thể sáng tạo tài tình đến thế này mà thôi!)

Mấy hôm sau, nó trở thành “ép-phê” ngược: nó bốc mùi khắp cả phòng! Tôi phải chõ mũi ra ngoài thở và lớn tiếng kêu trại cho tôi ra tắm rửa. Một vệ binh đi ngang, mở cửa, chưa kịp hỏi là tôi cần gì – thì dội ngược trở ra, mở toang cánh cửa cho tôi ra ngoài, chỉ hướng cái giếng mà tôi có thể ra đó mà tắm giặt.

Một tuần sau, trại thả cho tôi từ trại tù nhỏ, trở về trại tù lớn. Trong suốt thời gian tôi bị biệt giam như vậy, tôi chưa hề bị gọi lên hỏi cung hay điều tra thêm gì về cái vụ trốn trại của anh bạn Quang. Không hiểu sao họ lại bắt tôi đem vào phòng biệt giam như vậy? Chịu!

Về bên trại, tôi hỏi thăm về bạn Quang. Các bạn tôi kể cho nghe rằng chỉ khoảng nửa tiếng sau, khi mọi người đang nối đuôi nhau trên đường đi làm thì một người đi xe Honda chạy ngược chiều, chỉ một thoáng, anh ấy vòng xe lại và Quang đã nhẩy lên sau xe và họ biến mất trên con đường đất đỏ mịt mù.

Bác Răng có vẻ hậm hực với chuyện này lắm vì có lẽ bác cũng ghen với anh bạn Quang này, sao nó có người lên tận rừng Phước Long này đón nó về? Trong khi bác chưa được một lần có người lên thăm. Thỉnh thoảng, lúc rảnh rỗi, bác lại đem tên Quang ra mà lèm bèm, lẩm bẩm những gì chúng tôi nghe không rõ.

Có lần, tôi giả vờ hỏi bác Răng: “Bác có lên trại báo cáo là tôi đổi việc làm hôm đó để cho Quang vượt ngục không”? Bác trợn mắt, thề sống thề chết là “tao không làm việc đó”. Tôi thản nhiên nói với bác: “Nếu sau này, tôi phát giác ra một manh mối nào là bác đã lên báo cáo tôi, khiến tôi bị biệt giam và bị hành hạ một tuần như vậy, tôi sẽ không để bác yên”.

Mùa Thu trong rừng đã bắt đầu. Cái se se lạnh vào lúc sương sớm còn lãng đãng trên các ngọn cây. Chúng tôi thức dậy, sửa soạn vào rừng đi làm. Anh bạn Tiến “thi sĩ” ngâm nga vài câu. Có nhiều người hỏi: “Giờ này mà còn lãng mạn như vậy”? Anh bạn Tiến nói: “thì cũng phải thi vị hóa cuộc sống này để còn có ý chí mà sống chứ”? Có lẽ như vậy thật các bạn ạ. Cứ yêu đời đi.

Nhắc lại cái chuyện cứ yêu đời đi… tôi nhớ lại trước đây mấy tháng, trước khi có đợt thả hơn một trăm tù từ trại của chúng tôi về, có một anh bạn (đã được thả trong đợt đó) có tên là Danh. Anh này trước đây là một dược sĩ quân y. Anh chàng này cũng được thăm nuôi, tiếp tế đầy đủ nhưng mặt mũi lúc nào cũng thiểu não, sưng xỉa. Anh thấy tôi hay cười nói “linh tinh” với anh em, bạn bè. Tôi hay “đàn đúm” với Tiến “thi sĩ”, với Hậu “đàn thùng” và chính tôi cũng phụ trách đánh “đại hồ cầm” cho các buổi họp mặt, văn nghệ bỏ túi. Tôi cũng hay được mời chè, cháo, cà phê – hay ít lắm, cũng có chầu uống trà với anh em. Anh ấy có vẻ ghen tức với tính “quảng giao” của tôi và dĩ nhiên, không thích thái độ của tôi. Mỗi lần gặp nhau, anh ấy hay nói: “chúc anh vẫn luôn có được cái vui vẻ, vô tư như vậy”! (Hay là anh này mỉa mai tôi về cái việc hay bị bắt lên trại, có khi bị biệt giam, có khi còn bị đánh bầm dập.) Tôi cũng không muốn bào chữa cho thái độ bất cần đời của tôi như vậy. Không biết anh bạn này được thả về với gia đình rồi, có vui hơn tý nào không, hay là lại băn khoăn, đau khổ vì cuộc sống trong chế độ cộng sản không được như ý muốn? Trong trại, tôi chưa bao giờ thấy anh bạn này cười!

Như đã nói thoáng qua trong phần trên, mùa Thu trong rừng đang trở lại với chúng tôi. Chúng tôi lại phải tìm cách đối phó với đàn muỗi rừng vào buổi sáng sớm như thế này. Nhiều anh có sẵn mầm mống bệnh sốt rét trong người thì lại đang lo. Chúng tôi được trại cho lệnh phải chuẩn bị cho việc “niên hoan” mừng ngày Hai tháng Chín.

Trại cho lệnh thiết lập một cái bàn thờ (người cộng sản vô thần mà cũng muốn lập cái bàn thờ) giữa sân trại. Các cán bộ cho biết là buổi chiều hôm trước, trại sẽ đưa bức ảnh của “Bác” sang để giữa bàn thờ. Chúng tôi nghe xong thì cũng “vô tư”, không để ý đến nữa. Chỉ hy vọng là trại sẽ lại cho mỗi người tù một miếng thịt heo to bằng hai ngón tay như những năm trước.

Chiều hôm đó, hai anh vệ binh trịnh trọng khiêng một tấm ảnh khổ lớn, có đóng sẵn khung, bọc trong một tấm vải đỏ. Kêu chúng tôi phụ trang trí lên bàn thờ. Tấm ảnh này được người nào đó “thổi” cho nét mặt hồng hào, béo tốt, râu ria oai vệ, khác hẳn 100% với những gì mà chúng tôi biết trước đây. Ăn gì mà béo tốt hồng hào thế? Hay là được bác Mao tặng cho mấy con chuột “hà nàm” nuôi bằng củ sâm Cao Ly? Trước khi về, các anh vệ binh còn dặn chúng tôi là phải “bảo quản” tốt bức ảnh, cùng bàn thờ của bác. Chúng tôi không thể hiểu nổi anh này dặn điều gì. Phải “ướp” bằng “formol” cho cái hình này tươi tốt hay sao?

Thời gian rồi cũng từ từ trôi. Ngắm bức ảnh vô duyên đó mà bàn luận mãi cũng chán. Chúng tôi tắt đèn đi ngủ.

Sáng sớm hôm mùng Hai tháng Chín, chúng tôi nghe anh em gọi nhau hớt hải: “Có thằng nào phá bàn thờ”!

Chúng tôi chạy túa ra xem. Má ơi, thằng nào mà ăn gan trời thế này? Nó lấy một bịch nylon đựng đầy chất thải của con người vào buổi sáng, đập vào tấm ảnh “bác” trên bàn thờ. Chất vàng chảy nhầy nhụa trên khuôn mặt oai vệ hôm qua, khiến cho bức ảnh này trở thành chân dung của “bá tước Dracula”, chỉ thiếu hai cái răng nanh nữa thôi. Chúng tôi chờ trời sập mà thôi.

Một thoáng sau, một số vệ binh xách AK-47 chạy sang. Các anh cán bộ cũng được báo cáo, lấp sấp theo sau. Họ nhìn thấy tấm ảnh của “bác” yêu quý của họ trong ấn tượng khủng khiếp, không thể tin được là việc này xảy ra trong ngày trọng đại thế này. Mặt họ tái đi vì giận dữ. Chúng tôi cũng lẳng lặng bỏ về, nhưng dĩ nhiên là họ không để cho việc này qua đi êm thắm như vậy. Các anh vệ binh lên đạn, chĩa súng về phía chúng tôi hét:

– Các anh đứng đó. Việc làm ngay bây giờ của các anh là đem tấm ảnh “bác” xuống, rửa sạch sẽ, lau khô xong đem sang trại trả chúng tôi. Hôm nay, không có liên hoan gì hết. Tất cả nghỉ lao động, vào họp tổ “khẩn trương” tìm cho ra thủ phạm việc này.

Chúng tôi tản mát. Tổ trực lo việc gỡ tấm ảnh xuống, đem ra giếng rửa và lau khô. Tổ nọ đổ tổ kia xem ai có trách nhiệm đem bức ảnh sang trả. Không tổ nào muốn làm việc này. “Thằng” nào có “tài” “ném c…dấu tay” hay vậy không biết!

Chúng tôi được nghỉ lao động đã bốn ngày. Ngày nào cũng phải “làm bộ” họp tổ và “tìm cho ra thủ phạm”. Các anh nuôi vẫn phải lo củi lửa để nấu cơm, nấu nước cho anh em.

Cán bộ trại bắt đầu sốt ruột và họ khủng bố chúng tôi thêm bằng cách, bất thần, xuất hiện giữa đêm khuya, hò hét, bắt chúng tôi thức dậy, ra ngoài sân, sắp hàng ngay ngắn xong, ngồi tại chỗ cho đến sáng. Đây hẳn nhiên là cuộc đấu trí giữa hai bên. Một bên thì tức lồng lộn, một bên thì nhởn nhơ (ra cái điều ân hận)!

Đúng như chúng tôi nghĩ, thế nào họ cũng bày mưu ly gián, làm bộ hỏi cung người này thì bên kia bức phên tre, người khác cũng nghe. Họ cho biết là họ đã có kết luận, đã tìm ra thủ phạm. Những người bị gọi lên vẫn nghĩ là người kia đã khai thay cho mình. Bác Răng cũng không tránh khỏi bị cán bộ trại gọi lên. Bác run rẩy, phân bua với anh em:

– Tao có làm gì đâu mà họ nghi tao, gọi tao lên làm gì?

Chúng tôi “dọa” cho bác sợ hơn một chút:

– Biết đâu? Những lúc bác lên nói chuyện với các bộ quản giáo, bác nói hớ cái gì đó khiến họ nghi bác thì sao?

Bác Răng nhăn nhó bước đi. Mặt bác Răng này lúc nào cũng sần sùi ửng đỏ nhưng hôm nay, trình diện trại trở về, mặt bác tái xanh, có lẽ không phải vì sợ, mà vì tức tối. Bác đã tốn bao nhiêu công sức báo cáo những chuyện xảy ra bên trại tù cho các ông cán bộ, thế mà hôm nay bác cũng bị dọa nạt như ai!

Cả tuần sau, không thấy biến chuyển gì mới. Chúng tôi vẫn muốn ra rừng làm việc cho bớt cuồng chân cuồng cẳng nhưng chưa được lệnh đi. Buổi sáng hôm đó, một anh vệ binh chạy sang trại, thổi còi tập họp và ra lệnh cho chúng tôi lên hội trường “học tập”.

Hội trường đã có kê sẵn một cái bàn dài dành cho cán bộ quản giáo hoặc các ông “chính trị viên”. Chúng tôi ngồi đợi trong yên lặng.

Một lúc sau, một phái đoàn cũng gồm năm người vào hội trường. Một cán bộ ra lệnh cho chúng tôi đứng dậy. Ông đứng giữa, biểu diễn một vài động tác “thao diễn cơ bản” của cái quân đội “nhà quê” của ông. Trông vụng về, ngố nghế và buồn cười. Ông trình ông cán bộ chủ tọa xong, cho chúng tôi ngồi xuống và ông cũng ngồi lên bàn với mấy ông kia. (Ngày xưa chúng tôi tập bắn bia bằng những hình vẽ vc với bộ răng “cải mả” làm sao thì bây giờ mấy ông này giống y như vậy! Ngoài Bắc ăn ngô nhiều quá chăng?)

Ông chủ tọa hắng giọng xong, đỏ mặt nói:

– Tôi được các cán bộ quản giáo báo cáo về sự “cố” xảy ra trong trại các anh ngày 2 Tháng 9 vừa qua. Tôi không ngờ là Đảng và Nhà Nước cố gắng giáo huấn, cải tạo các anh, mong có ngày các anh trở thành người công dân tốt của “xã hội tiên tiến” này, mở đường cho các anh có ngày trở về đoàn tụ với gia đình – thế mà, khi nghe báo cáo, chúng tôi hoàn toàn thất vọng. Đến bây giờ thì chúng tôi không nghi ngờ gì nữa. Chúng tôi không bao giờ có thể cải tạo được các anh. Tư duy của bọn đế quốc, của cái bọn tay sai, bán dân, hại nước, đã ngấm vào dòng máu, vào não trạng của các anh. Điều này tôi sẽ phải báo cáo lên “trên” nữa và tôi chắc chắn rằng sẽ có “phương án” đối xử thích đáng với các anh. Các anh sống dưới sự quản giáo của quân đội chúng tôi cũng là cái điều may mắn cho các anh. Mai đây, chúng tôi giao các anh cho đơn vị công an thì cuộc sống các anh sẽ khác lắm, các anh cứ chuẩn bị tinh thần đi.

Mấy tuần rồi, tự nhiên chúng tôi nghe nguồn tin là chúng tôi sẽ bị chuyển trại về vùng Hàm Tân, dưới sự quản trị của công an. Nghe nói ở đó sống trong vòng rào kẽm gai, họ có nhiều cách đày đọa mình hơn. Hôm nay, ông cán bộ này vô tình hé ra quyết định của “trên” của ông.

Chúng tôi buồn bã trở về trại. Tâm trạng vốn đã não nề, bây giờ lại càng não nề, căng thẳng hơn. Chúng tôi nhủ lòng, bây giờ cuộc sống đã mất niềm vui, không cần phải cố gắng “đạt” chỉ tiêu nữa, chỉ làm cầm chừng đợi bị đưa về Hàm Tân.

Vết thương nằm ngang trên ngực của tôi vẫn là một vết bỏng, luôn đau rát. Cái thẹo đó dài khoảng 5 phân, đỏ ửng như muốn rỉ máu. Tôi cứ lấy cớ bị thương, hay lên trại xin khám bệnh. Tôi khai là đã bị vệ binh Dũng đánh. Chính vết thương này làm cho tim tôi đập bất thường. Tôi đã bị té xỉu hai lần bên trại (vết thương ở ngực thì làm sao ảnh hưởng đến tim được!). Ông y sĩ Bắc Việt cũng không biết nên làm thế nào. Rõ ràng ông ấy biết vết thẹo ấy đau lắm nhưng thuốc Xuyên Tâm Liên – Ka Pê Xiline của ông không chữa được bệnh này. Ông phê chuẩn cho tôi được làm việc nhẹ.

Anh em bên trại cũng thương thân phận méo mó của tôi nên để tự tôi tìm việc gì làm được thì làm. Tôi vẫn được anh em cho giữ chức tổ trưởng. Thường thì tôi đảm trách việc chẻ tre làm lạt hoặc đan lát nhẹ nhẹ. Có khi thèm đi ra ngoài quá, cũng nói với anh em là tôi đi kiếm củi cho bếp.

Không biết làm sao các bạn tôi có được lời của bài hát “Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt” do Nam Lộc sáng tác ngay từ khi còn đang ngồi trên chuyến máy bay rời Việt Nam ngày 27 Tháng Tư, 1975. Bài hát từ bên trại tỵ nạn dội về Việt Nam. Chúng tôi chuyền tay nhau chép bài hát này. Hay hơn nữa là các bạn có khả năng đàn hát cũng đã hát được bản nhạc này. Hóa ra tâm hồn cũng có một điểm chung, hễ yêu văn nghệ, và có cùng tâm sự, là dễ tìm đến nhau. Lời của bản nhạc này đánh động đến tâm can của chúng tôi và vì thế chúng tôi đều thuộc lòng.

Tôi được phân công làm việc nhẹ và các bạn của tôi cũng thương tôi nên tôi có nhiều thì giờ để “lén” ra sóc Thượng. Mục đích của tôi là ra đấy mua thêm thức ăn về “tẩm bổ” cho thân thể khỏe mạnh hơn, nhỡ có quyết định trốn trại thì còn có sức mà đối phó với nghịch cảnh. Tôi càng thân với họ hơn. Ông tù trưởng vẫn thích “nhậu” với tôi. Đôi khi, sau khi nhậu với ông vài “sừng”, tôi vẫn còn đủ thì giờ “phóng” ra xã Đức Hạnh, cũng để mua thêm những thứ lặt vặt. Anh em biết tôi hay phóng ra đó và họ cũng hay gửi tôi mua dùm thức ăn, vật dụng linh tinh. Thỉnh thoảng, tôi cũng mua vài món ăn mang về cho bác Răng. Bác ấy vui lắm, không để ý đến thời khóa biểu đi lại trong trại của tôi nữa.

Như đã nói ở phần trên, càng ngày, ý định trốn khỏi nơi đày đọa này càng mãnh liệt hơn, vì thế mà tôi hay lợi dụng thời khóa biểu rộng rãi, chạy ra xã Đức Hạnh và sóc Thượng cho quen đường đi và cũng để ước lượng thời gian từ điểm nọ sang điểm kia mất trung bình bao lâu. Cứ học thêm được cái nào hay cái nấy!

Cán bộ trại hay có thói quen bất ngờ cho điểm danh vào lúc 7 giờ tối. Mùa khô thì hãy còn sớm, ngày còn dài, nhưng vào mùa mưa thì trời sập tối sớm. Trong rừng, trời nhá nhem tối đã không nhìn rõ mặt nhau. Khi các ông này điểm danh, đọc đến tên ai thì người đó chỉ việc trả lời “có” là đủ. Tôi hay la cà ngoài xã Đức Hạnh, có khi về trễ, hôm ấy lại có điểm danh thì các bạn tôi cứ việc hô to “có” thì mấy ông cán bộ cũng chẳng hay biết gì. Có lẽ các ông này cũng chơi cái trò khủng bố, dọa nạt cho “phải phép” nên thực ra cũng không chú ý lắm.

Có hôm trời đã tối, với tâm hồn “nghệ sĩ” và bất cần đời sẵn có, tôi miên man ngắm nhìn con suối ở gần sóc Thượng, chợt nhớ đến hai câu thơ:

Hỡi cô tát nước bên đàng,
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?*

* Ở trên là hai câu thơ cuối trong bài Tiếng hát trong trăng, trích trong tập Tiếng thông reo của thi sĩ Bàng Bá Lân in năm 1934. Sau đó nhiều người đã thuộc và truyền miệng rộng rãi nên được nhầm tưởng là ca dao.

Mặc dù ở đây không có cô thôn nữ nào đang tát nước nhưng mà con tằm đến thác hãy còn vương tơ (!), tức cảnh sinh tình, mơ màng nghĩ: nhỡ bây giờ có cô con gái (để bộ ngực trần) của ông tù trưởng ra suối này tắm thì làm sao đây hở trời? Cô này có lẽ cũng có để ý đến tôi – dù sao cũng là “bác sĩ” cơ mà? Đang say sưa tưởng tượng thì chợt nhớ ra là bây giờ chắc cũng quá 7 giờ tối rồi, phải “trốn” giấc mộng, ba chân bốn cẳng chạy về trại. May quá, hôm ấy mấy ông cán bộ lại không điểm danh. Mấy thằng bạn tôi cảnh cáo, bắt tôi phải hứa, dù thế nào cũng ráng về trại sớm. Tôi kể lại cho các bạn ấy giấc mơ dưới ánh trăng vàng của tôi ở ngoài suối. Mấy đứa nó không thèm nghe mà còn nói:

– Mày không phải là con tằm đến thác hãy còn vương tơ đâu, mà là con giun, xéo lắm cũng oằn đấy. Cán bộ trại mà nó “xéo” cho mày vài trận nữa thì chỉ có mà “lết” chứ không còn chân mà rong chơi nữa đâu.

Của đáng tội, không phải tôi mê rong chơi trong khi các bạn tôi vẫn bị bó chân bó cẳng trong trại tù. Một phần các bạn ấy không có điều kiện rộng rãi thì giờ như tôi, cũng có thể các bạn ấy không có nhu cầu đi ra ngoài mua bán linh tinh như tôi, v…v… Vấn đề thực ra là một hình thức trả thù tiêu cực của tôi. Ông đây cứ trốn tụi bay, cứ qua mặt được tụi mày lúc nào hay lúc ấy. Ít ra thì tao cũng có được những giây phút gọi là “Tự Do” với trời trăng, mây nước. Đơn giản là vậy.

(Còn Tiếp)

Kỳ 1 Kỳ 2 Kỳ 3 Kỳ 4 Kỳ 5 Kỳ 6 Kỳ 7 Kỳ 8 Kỳ 9 Kỳ 10 Kỳ 11

Bài Mới Nhất
Search