Nguyễn Kỳ Dzương: NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (4)

Phần Bốn “Khúc quanh bất ngờ”

Cuộc sống “an phận” của chúng tôi trong trại Long Khánh càng ngày càng có vẻ được dễ chịu hơn.

Họ đã bắt đầu cho chúng tôi được tự đi ra trồng rau ngoài hàng rào kẽm gai. Quanh đi quẩn lại thì cũng chỉ vài luống rau thơm, rau lang, và rau rền. Mỗi tổ chiếm một khoảnh đất. Đi ra, đi vào đều được tương đối dễ dàng. Các vệ binh gác cổng không còn hạch sách, khám xét chúng tôi như trước. Các anh này thấy chúng tôi quá hiền lành, có quá nhiều tài, thỉnh thoảng các anh này cũng cần phải nhờ vả chút xíu.

Nhiều anh em trong chúng tôi khéo tay, nhặt được những miếng nhôm mỏng, đem về cưa, dũa thành những cái vòng đeo tay, cái gương, cái lược, v…v…hy vọng mai này đem về làm quà cho vợ! Nếu cần đánh cho bóng, các anh ấy lấy chuỗi hạt đeo cổ – ngày xưa chúng tôi dùng để đeo hai tấm thẻ bài – chà một lúc thì những đồ nhôm này sáng bóng như bằng bạc thật. Tôi lại có chút tài mọn là khắc chữ và trạm trổ trên những cái gương, lược này nên đôi khi cũng nhờ thế mà thỉnh thoảng, bạn bè phải “gánh” cho những chỉ tiêu lao động vài ba ngày, ở nhà “trang điểm” những món này dùm cho các bạn.

Ở trên “khung” mới tậu được một con bò. Chúng tôi được giao cho trách nhiệm chăn con bò này. Tội nghiệp, con bò cũng còm cõi không kém gì chúng tôi. Tổ nào đến phiên, được cắt đặt đi chăn con bò này thì quả là được một diễm phúc lớn. Chúng tôi không cần lấy dây thừng xỏ mũi con bò để dắt nó đi. Nó cũng mang đầy vẻ tư lự, muốn hưởng tự do. Nó cứ đủng đỉnh đi trước, người chăn nó theo sau. Cái quan trọng là anh nào được đi chăn con bò ngày hôm đó là phải nhớ mang theo một cái bịch nylon, hốt cái phần nó thải ra, đem về pha loãng với nước và tưới cho những luống rau của tổ. Vừa nhàn hạ, vừa được hưởng ké cái tự do của con bò. Người ưu tiên được đi chăn bò khi đến phiên trực của tổ tôi là bác Toàn. Bác Toàn trước đây là một sĩ quan an ninh quân đội, năm nay đã 60 tuổi, trong khi đó, anh em chúng tôi chỉ từ 25 đến 30 tuổi. Lâu lâu cho bác được hưởng cái nhàn hạ chốc lát cũng là việc tốt, nên làm.

Tội nghiệp con bò, gần Tết âm lịch, trại cho chỉ thị thịt nó để “niên hoan” mừng Tết. Chúng tôi buồn vì mất đi những giờ phút tự do khi đi chăn bò, và cũng mất đi nguồn lợi cho luống rau – nhưng ngược lại thì khấp khởi mừng thầm vì biết đâu, sẽ được trên chia cho một ít thịt, ăn cho có tý “protein”?

Sau khi ngả thịt con bò xong, trại ra giá và chúng tôi phải gom tiền mua lại phần thịt, lẫn xương con bò để ăn Tết! Dĩ nhiên, phần chia cho tù cải tạo như chúng tôi là xương và da của phần “thịt” còm cõi nhất. Những phần thật sự có thịt và tý mỡ thì của “trên”. Nhưng đó cũng là lần thứ nhì trong năm chúng tôi được ăn thịt. Lần trước là hôm 2 Tháng Chín.

Như đã nói ở trên, trại bây giờ tỏ ra dễ dãi hơn với chúng tôi rất nhiều vì có lẽ, dần dần, họ cảm nghiệm được là chúng tôi thực sự không phải là những tên có tội ác với nhân dân, lừa bịp, hà hiếp, cưỡng bức dân lành như chúng đã từng bị nhồi sọ. Họ đã nhận ra rằng chúng tôi có tư cách, rất lịch sự, nhã nhặn và đều có học. Từ từ, họ bỏ cái thói hay “nổ” trước mặt chúng tôi. Những cái họ nói trước đây, khi mới vào Miền Nam, như là “frigidaire”, Ti Vi chạy đầy đường, họ biết mình đã bị “hố”. Những cái ấu trĩ như là đồng hồ “không người lái”, 12 đèn, hai cửa sổ, v…v… đều dần dần bị đào thải. (Không biết những người csVN sau này có cảm thấy một chút ngượng ngùng nào khi nhớ đến cái “huyền thoại” bác Phạm Tuân lái chiếc Mig chui vào trong mây, tắt máy, phục kích, khi máy bay B52 của giặc Mỹ bay ngang, nhảy xổ ra bắn rơi xuống hồ Trúc Bạch Hà Nội? Thêm vào đó, tôi chắc câu hỏi chung của rất nhiều người trong chúng tôi là không biết người csVN có còn lương tri, liêm sỉ và cảm thấy hổ thẹn khi nhớ lại cái thông cáo “trình diện học tập” mà “Nhà Nước” cố tình lừa dối người dân trong nước – lẫn dư luận thế giới – khi họ tung một cú lừa hốt gần như 100% quân, cán, chính Miền Nam Việt Nam vào tù?)

Bỗng một hôm, tự nhiên vào sáng sớm, “bếp” chúng tôi được lệnh chuẩn bị cơm trưa, ra lao động ngoài đồn điền cao su Long Khánh. Đây là một tin vui bất ngờ vì biết mình sẽ được ra phố, nhìn thấy – và may ra – có thể được tiếp xúc với dân? Một hai ngày đầu, các vệ binh còn ở canh chừng chúng tôi trong rừng cao su đó. Nhưng sau vài ngày, các anh này cũng có hứng thú ra phố, đi chơi và mua xắm chút đỉnh. Dần dà, chúng tôi cũng quen với công việc. Thực chất thì chúng tôi chỉ dọn cỏ trên các con đường thẳng tắp trong rừng. Chúng tôi không phải là dân cạo mủ chuyên môn nên họ không dám giao cho việc này. Đồn điền cao su này được người Pháp bắt đầu khai thác cả trăm năm trước nhưng bây giờ vẫn là nguồn lợi vô biên của nhà nước, qua bàn tay của phu cạo mủ. (Thời nào thì phu cạo mủ cao su cũng bị lợi dụng, bắt nạt như nhau!)

Vào buổi sáng, khi mới được chở ra đến nơi, sương hãy còn mờ mờ, lãng đãng trên các tàng cây. Ánh nắng mặt trời bắt đầu le lói, chiếu thành những vệt sáng dài thẳng tắp, xuyên qua sương sớm và những vòm lá, tạo nên một khung cảnh thật nên thơ, lãng mạn. Anh bạn tên là Tiến “thi sĩ” lớn giọng ngâm nga những bài thơ cũ có, mà do anh mới sáng tác cũng có. Chúng tôi say sưa thưởng thức cái hạnh phúc hiếm hoi đó. Kể ra, đời cũng còn có những lúc đẹp! Thời khóa biểu và chỉ tiêu làm việc cũng được nới lỏng đôi chút. Mọi việc sắp xếp làm việc chỗ nào, rãy cỏ cho bao nhiêu hàng cao su, v…v… đều do chúng tôi tự đảm nhiệm.

Ngay cả, bây giờ, trong chuyến đi công tác rẫy cỏ cho đồn điền cao su, chúng tôi đã có cơ hội chia nhau chạy ra khu chợ gần đó, trao đổi, mua bán vài món cần thiết rồi chạy ngay về nơi công tác. Có lẽ, các vệ binh cũng biết nhưng việc này có vẻ vô hại, họ cứ lờ cho chúng tôi được thoải mái hơn. Dần dần, chúng tôi lại kiêm thêm công việc mua hàng dùm cho anh em trong trại. Hầu như ngày nào cũng cầm theo một cái “sớ” dài, ghi những thứ nhờ mua hôm nay. Thường thì cũng chỉ vài thẻ đường, thuốc lào, thuốc rê, giấy cuốn, diêm quẹt, hoặc có khi là môt cái nồi bằng gang, cỡ nhỏ. Khi chúng tôi cần chút xăng bật lửa, cho anh em, thì lại mon men đến anh bộ đội lái xe đưa chúng tôi đi làm, xin xỏ, các anh ấy cũng không hẹp bụng.

Tôi vẫn thích ăn xôi từ lúc còn nhỏ nên hay lén chạy ra chợ tìm mua một nắm xôi. Các chị, các bà bán xôi đều biết chúng tôi trước đây là những sĩ quan, bây giờ, sa cơ thất thế, phải đi tù cải tạo, tỏ ra thương cảm vô vàn. Thường thì họ vừa bán, vừa cho. Chúng tôi cũng ngậm ngùi không kém. Nhìn nhau mà ngấn lệ.

Có một anh không phải trong tổ tôi, nghe nói đời sống ngoài đó quá vui, rất muốn được đi theo chơi. Anh bạn này tên là Tây, tên của anh là Tây chứ không phải có tên tiếng Pháp. Tây trước đây là một sĩ quan thuộc Lực Lượng Đặc Biệt. Anh có dáng người nhỏ bé, khuôn mặt khắc khổ, hay đăm chiêu, rất ít nói và không có bạn. Khi rảnh, chúng tôi chỉ thấy anh đi đi, lại lại, mắt dõi ra hàng rào kẽm gai như mong ngóng điều gì. Tây ngỏ ý rất muốn được theo chúng tôi ra đồn điền cao su, hưởng ké chút không khí tự do.

Tôi là tổ trưởng cho nên phải lên gặp thủ trưởng xin hộ anh. Ông thủ trưởng vốn là người dễ tính, ngay cái việc “tiến sĩ” Nguyễn Văn Hảo ngày trước, ông cũng không có ý muốn phạt nặng. Ông thấy không trở ngại nhưng bắt tôi phải chịu trách nhiệm. Tôi nghe thấy vậy cũng nhột quá, tôi về nói lại với anh. Anh Tây cười giã lả:

– Tôi có thể làm gì hại anh chứ? Bạn bè với nhau, anh cứ tin tôi đi.

Sau mấy ngày suy nghĩ và bàn bạc với anh em trong tổ, tôi đành phải chiều anh Tây, cho anh ấy đi theo ra ngoài Long Khánh. Anh tỏ ra rất hứng khởi, cám ơn tôi rối rít.

Những ngày đi làm với nhau qua đi một cách bình thường. Anh Tây rất chịu khó. Khi anh thấy tôi lẻn ra chợ, anh cũng chạy theo, cũng mua vài món đồ cần thiết.

Một ngày. Một ngày oan nghiệt cho tôi: Đến chiều, lúc hết giờ làm, lục tục kéo nhau về, đợi mãi không thấy Tây đâu. Đồn điền cao su có những con đường và những hàng cây nhìn ngang, nhìn dọc, nhìn xéo góc đều thẳng tắp và giống hệt nhau. Chúng tôi nghĩ rằng Tây đã bị lạc nên nấn ná đợi anh ấy thêm một lúc. Vẫn không thấy bóng dáng anh chàng này đâu. Tôi là người chịu trách nhiệm nên lo sợ nhất. Cuối cùng, đành phải dắt díu nhau, nhắm mắt đưa chân (trường hợp này thì quả đúng là “nhắm mắt đưa chân”) trở về trại.

Khi về đến tổ, tôi là người phải mang cái chuyện này lên trình cho trại. Không muốn bước nhưng vẫn phải lê chân đi về phía khu trại của cán bộ. Tôi mong được gặp ông thủ trưởng nhưng lại gặp một ông cán bộ khác. Tôi báo cáo là hôm nay có một người đã bị “lạc” mất!

Bạn đọc cũng có thể hình dung được ánh mắt giận dữ, đầy lửa của ông cán bộ này lúc đó. Tôi đứng đó mà chân chỉ muốn khuỵu xuống. Thương bạn, thương mình. Lại một người tù trốn trại nữa. Thân phận bạn mình sẽ ra sao? Thân phận mình sẽ ra sao?

Ông cán bộ cố lấy bình tĩnh hỏi đầu đuôi sự việc. Ông nghe tôi trình bày nhưng hình như ông không nghe thấy gì. Lửa giận trong lòng của ông có lẽ đã làm mờ giác quan của ông ấy. Tôi phải giữ khoảng cách và ngấm ngầm thủ thế! Ông nghe tôi nói xong thì cố làm ra vẻ bình tĩnh, (chắc lúc này ông bình tĩnh lại thật rồi (?) bởi vì ông cũng sẽ phải trình báo lại cấp trên của ông) nói ngắn gọn với tôi:

– Ngày mai tổ của anh không ra làm ngoài đó nữa. Tôi sẽ đổi tổ khác. Anh về đi.

Các bạn của tôi ở trong trại cũng lóng ngóng đợi tin tức (và hình dáng thất thểu) của tôi. Họ không muốn phải lên trại trên khiêng tôi về. Mọi người đổ ùa ra vui mừng vây quanh tôi khi họ thấy tôi vẫn còn tự đi về được. Hầu hết những câu hỏi thốt ra từ những cái miệng nhanh nhẩu là:

– Thế tụi nó không đánh mày à? Tụi tao ở đây chuẩn bị mang võng lên khiêng mày về!

Thật sự tôi cũng không vui nổi với những quan tâm hồn nhiên của đám bạn vì biết chắc chắn rằng mai kia tôi sẽ phải chịu những hình phạt không lường được vì cái tội “bao che, tiếp tay cho người khác trốn tù”.

Trong suốt cả tuần, đời vẫn trôi qua trong yên lặng đáng sợ – ít ra, đối với cá nhân tôi. Anh em vẫn hàng ngày vác cuốc ra ngoài hàng rào kẽm gai trồng tỉa. Buổi tối vẫn về kể cho nhau nghe những chuyện vụn vặt xảy ra trong ngày để qua thì giờ.

Một buổi sáng sớm, tiếng loa gõ lộc cộc, gọi tôi lên trình diện trại, mang theo giấy bút. Không ai đoán được là trại muốn gì. Tôi nuốt vội nắm cơm nguội do anh Ninh Thế Đồng đưa cho. Tôi lặng lẽ lục trong túi xách, lấy ra cuốn vở và cái bút bi. Bạn cùng tổ nhìn tôi ái ngại. Từ gian phòng tôi ở lên đến trại quản giáo chỉ cách nhau độ vài trăm thước nhưng hôm đó, nó dài lê thê, đi mãi chưa lên đến nơi. Con đường tự nó xa hay là tôi đang cầu để đi mãi không tới, không biết.

Việc gì đến cũng phải đến. Một anh vệ binh dẫn tôi vào một gian phòng trống, đã kê sẵn một cái bàn và hai cái ghế. Anh bảo tôi ngồi xuống đó, viết tờ báo cáo, kể rành rẽ hết sự việc xảy ra hôm người tù trốn trại. Anh nói xong, bỏ đi. Gọi là phòng nhưng thật ra, nó là một khoảng không gian nhỏ, che không gian đối diện phía bên kia bằng một lớp phên mỏng đan bằng tre. Trong này nói gì thì ở ngoài cũng nghe hết.

Tôi ngồi suy nghĩ nên viết thế nào để có thể chạy bớt tội của mình. Đối với họ, dù sao đây cũng là một cái tội. Chữ của họ dùng là “tội bao che và tiếp tay cho người khác trốn tù”.

Bình thường thì tôi có tiếng là viết chữ đẹp nhưng hôm đó, tôi cố tình viết chữ nguệch ngoạc, khó đọc. Có lẽ lúc đó tôi nghĩ được cách này để câu giờ? Chừng hơn một tiếng đồng hồ sau, một anh cán bộ khác vào phòng. Anh muốn biết tôi đã viết xong chưa, có mô tả hết sự việc ngày hôm đó không. Tôi đưa anh tờ giấy và nói:

– Thưa cán bộ, tôi đã viết hết trong này rồi. Anh ta cầm tờ giấy và chăm chú đọc. Chỉ một chút xíu sau, anh ấy nói:

– Tôi không có giờ đọc hết tờ khai này của anh. Anh hãy nói tôi nghe nhanh hơn. (Chàng này thuộc loại i-tờ-rít hay sao mà không biết đọc, còn giả bộ). Tôi cũng đành phải kể hết cho anh nghe những gì tôi viết trong giấy. Anh chàng cũng vẫn còn thái độ hờ hững. Anh nói:

– Thôi, nếu anh đã thành khẩn khai báo hết rồi thì anh cứ về. Chúng tôi sẽ điều tra thêm và làm việc với anh sau.

Tôi cũng làm bộ bình tĩnh ra về nhưng kỳ thực, tim tôi muốn nhảy ra ngoài vì tôi hiểu đây là đòn cân não. Trước sau gì tôi cũng sẽ nhận lãnh đòn thù của họ.

Một vài hôm sau, thấy tình hình có vẻ yên tĩnh, một người trong tổ của tôi nói nhỏ với tôi:

– Hôm Tây nó trốn, tao có nhìn thấy nó leo lên ghế sau xe gắn máy của một người đàn ông từ bên kia đường vòng sang đón nó rồi hai người biến mất vào chợ. Tôi nghe xong mà uất ức quá mức, chỉ muốn đấm vào mặt thằng bạn này. Hôm đó, mày thấy mà không tìm cách ngăn nó lại, cũng không báo cho tao biết. Bây giờ để một mình tao gánh chịu. Tuy vậy mà tôi không đấm vào mặt thằng bạn. Tôi chỉ nói với nó là:

– Việc này, mày phải nhớ, sống để bụng, chết mang theo. Tuyệt đối không được nói thêm việc này với bất cứ ai. Cho dù sau này, trại cho điều tra thêm, mày hoàn toàn không biết, không thấy, hiểu chưa? Nếu việc này lộ ra, mày sẽ bị phạt nặng hơn tao. Bây giờ, tao lỡ gánh tội rồi, để tao chịu một mình.

Chuyện này đã xảy ra cách đây đã 48 năm, trong trại học tập cải tạo vùng Long Khánh! Theo ngài Minh Tuệ thì đáng lẽ tôi phải buông bỏ nhưng có lẽ chính vì không thể buông bỏ và nhất định phải kể ra. Tôi chưa thành chánh quả.

Một tuần trôi qua, tình hình có vẽ yên ổn. Ông cán bộ hôm trước xuống tận tổ tìm tôi. Lúc đó là buổi chiều, tôi vừa làm xong chỉ tiêu của mình, đang xách cái gầu, chuẩn bị ra giếng tắm.

Ông cán bộ nói tôi theo ông lên trại. Tôi vớ vội cái quần dài và theo ông.

Lên tới trại, chúng tôi vào cái phòng hôm trước. Ông lôi tờ giấy tự khai của tôi ra. Ông nhìn vào mặt tôi và bất ngờ hỏi có vẻ rất hằn học:

– Anh có ý gì mà anh thêm chữ này vào tên của anh. Ông không biết đọc chữ “Z” nên ông dí ngón tay vào chữ đó ở tên tôi trong tờ kiểm điểm, tự khai của tôi.

– Anh hãy còn cái tư tưởng “ôm chân đế quốc”.

Tôi không hiểu tại sao ông ấy lại “đổ” cho tôi cái tội ôm chân đế quốc. Tôi nói là tôi không hiểu, xin cán bộ giải thích thêm. Ông cán bộ quản giáo đập bàn phẫn nộ hỏi là:

– Anh có ý gì mà thêm chữ này vào trong tên của anh (lại chữ này). Trong tiếng Việt đâu có chữ này. Anh có ý chống đối nhà nước hả? Thôi to chuyện rồi, toát mồ hôi! Chỉ vì mình có tên hơi khác lạ so với cái tên “Dương” bình thường mà bị cán bộ gán ghép cho hai cái tội: Ôm chân đế quốc, và chống đối nhà nước. Đúng là “miệng nhà quan có gang có thép”! Tôi ôn tồn giải thích là hồi tôi sinh ra, ở Hà Nội có phong trào thêm chữ Z này vào sau chữ D nếu cha mẹ đặt tên con bắt đầu bằng chữ D. Cán bộ đập bàn quát:

– Tôi không cần biết tên ai thế nào nhưng hôm nay, tôi quyết định anh phải bỏ chữ đó ra khỏi tên của anh. Tôi vẫn cố giải thích:

– Thưa cán bộ, tôi thiết tưởng việc tôi có tên lạ như vậy đâu có liên quan gì tới việc tôi đang cố học tập tốt? Cán bộ lại càng tức tối:

– Anh còn ngoan cố nữa hả? Một lần nữa, tôi hỏi anh, hôm nay anh có chịu đổi cái tên đó không? Tôi lại phải vớt vát:

– Thưa cán bộ, tôi sợ rằng nếu hôm nay tôi sửa cái tên của tôi, nhỡ mai kia có cán bộ khác hỏi tôi tại sao lời khai của tôi trước sau không như một – lúc mới vào trại thì khai tên khác, bây giờ lại khai tên khác? Thì tôi cũng khó trả lời. Ông cán bộ có vẻ suy nghĩ nhưng vì đã lỡ ra oai nên vẫn đưa tôi tờ giấy bảo tôi viết xuống lời cam kết là kể từ hôm nay, tên của tôi sẽ không có chữ “Z”. Ông đứng dậy bỏ đi và hẹn nửa tiếng sau sẽ trở lại. (Có mỗi mấy chữ cam kết mà ông cho tôi tới nửa tiếng thì kể ra ông cũng rộng lượng!)

Từ khi sinh ra, và dĩ nhiên, trong giấy khai sinh, tên tôi đã có chữ “Z” sau chữ “D”. Sống gần 30 năm ở cả Hà Nội và Sài Gòn, vẫn không gặp rắc rối gì với cái tên “kỳ quặc” này. Cho đến hôm nay, thì tôi mới bắt đầu trải qua những kinh nghiệm không có cách giải quyết.

Tôi cũng ngạc nhiên là tại sao hôm nay ông cán bộ này không thèm đếm xỉa gì đến cái “đề tài” đang bỏ dở tức là cái việc điều tra vụ trốn tù của anh Tây.

Tôi ngồi ngậm bút suy nghĩ cách trốn cái việc làm trái khuấy này. Chừng nửa tiếng sau ông trở lại thật. Thấy tôi vẫn chưa viết được chữ nào, ông nổi giận đùng đùng, tát vào mặt tôi một cái. Không chuẩn bị trước cho nên tôi lãnh đủ cú đánh hậm hực đó. Ông hỏi tôi:

– Sao, bây giờ anh có chịu viết tờ cam kết không? Lúc này tôi vẫn lắc đầu, biết là không sao giải thích hoặc tránh né gì được. Đành phải chờ đợi hậu quả vậy.

Quả thực, ông sai mấy người vệ binh lôi tôi ra khỏi phòng, trói tôi vào cái cột và đấm liên tục vào ngực, vào bụng, vào mặt tôi. Hồi còn trẻ, tôi có học võ vẽ vài ngón của hai môn võ Judo và Taekwondo nhưng hình như lúc này những kỹ thuật tôi học được cũng không giúp ích gì cho tôi lắm, chỉ còn cách gồng mình, chịu đựng. Ngày xưa, ở trong các quân trường, sinh viên sĩ quan đều nhìn thấy khẩu hiệu “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu” Hôm nay tôi vừa mất mồ hôi, lại vừa tốn máu!

Đánh đấm một hồi, tôi rũ người ra nên các anh vệ binh hình như không còn hứng thú nữa. Họ lôi tôi xuống “chuồng cọp” trong khu trại của họ và thẩy tôi xuống đó.

Chuồng cọp là một cái hố đào bằng tay, chung quanh có kẽm gai, trên có một miếng tôn làm mái. Chiều dài không đủ cho tôi nằm, chiếu cao không đủ cho tôi đứng. Cứ phải lom khom như vậy. Một chút xíu sau, mệt quá, tôi đành phải ngồi bệt xuống. Khổ nỗi là dưới đáy chuồng cọp lại còn một ít nước mưa đọng lại! Bất cần, đau và mệt quá, tôi cứ ngồi trong tư thế nửa người khô, và nửa người ướt như vậy và thiếp đi.

Sáng sớm, họ đưa cho tôi một nắm cơm gói trong lá chuối xong xốc tôi lên mặt đất, dẫn tôi ra một đống củi của ai đó đang chẻ và bỏ dở. Một ông cán bộ bảo tôi “chẻ nốt đống củi này xong, cho anh về trại”. Nhìn quanh, chỉ thấy một lưỡi búa rìu, đã rỉ sét, rất cùn mà lại không có cán nữa! Đống củi còn lại đó chỉ còn những khúc cong queo, đầy mắt, có con rựa bén cũng khó mà chẻ, huống chi đang trong tình thế tay không! Tôi lại phải ngồi đợi cơn giận kế tiếp của những người quản giáo.

Một lúc sau, có một anh vệ binh đến, hất hàm hỏi tôi:

– Anh chẻ đến đâu rồi? Tôi phân trần:

– Tôi không có con rựa để chẻ, các anh chỉ cho tôi lưỡi búa này mà lại không có cán. Tôi không làm gì được. Tôi rất tiếc.

Anh vệ binh ngồi xuống bên tôi hỏi:

– Anh có biết bài hát Những Đồi Hoa Sim không? Tôi sợ đây là cái bẫy của họ cho nên giả vờ không biết. Anh vệ binh có vẻ thân mật nói:

– Anh không phải dấu tôi. Tôi biết là trong Nam, các anh ai cũng biết bài hát này mà. Tôi thấy thái độ của anh chàng này có vẻ vô hại nên tôi hỏi lại:

– Vậy anh muốn biết bài hát này làm gì? Anh chàng có vẻ tươi hơn một chút. Anh nói:

Thực ra một tuần nữa, tôi được đi về phép, tôi muốn chép bài hát này về tặng vợ tôi. Ở ngoài đó ai cũng thích bài hát này nhưng không ai biết trọn lời của nó. Anh giúp tôi được không?

Cơ hội ngàn vàng đến rồi đây! Tôi nói nhỏ với anh, nếu anh cho tôi về trại với anh em, tôi sẽ tìm người bạn nào thuộc bài hát này, tôi sẽ viết lại cho anh.

Anh vệ binh đứng dậy, dẫn đường, đưa tôi trở về trại. Các bạn tôi ra dìu tôi vào nhà, giúp tôi lau máu và bôi dầu lên các vết bầm tím của tôi.

Tối hôm sau, anh vệ binh trở lại, tìm tôi và đưa cho tôi cuốn vở học trò còn mới tinh. Anh nói anh chép lời bài hát vào đây cho “em”. Cố viết cho đẹp để em mang về tặng cô vợ mới cưới. Trời đất ơi, hôm nay anh chàng vệ binh này xưng “em” với tôi. Có thật không đây? Dĩ nhiên là bài Những Đồi Hoa Sim tôi thuộc lòng. (Lúc đó chỉ có bài hát nguyên thủy của Dzũng Chinh phỏng theo lời của bài thơ Màu Tím Hoa Sim của nhà thơ Hữu Loan.)

Hai ngày sau đó, tôi “vắt chân chữ ngũ”, nằm khểnh, nghỉ ngơi để “dưỡng thương”. (Cái tên của ông Dzũng Chinh này cũng có chữ Z đấy, các ông cán bộ có dám thắc mắc gì không?)

Hai hôm sau, anh vệ binh trở lại tìm tôi, anh ấy mang theo một bịch nylon đựng một ít ruốc (thịt chà bông) và một bịch nhỏ khác, đựng một ít “mì chính”, một thứ phụ gia (bột ngọt) đáng quý của người miền Bắc. Tôi trao lại cuốn vở cho anh. Anh liếc nhìn thấy tôi trình bày rất đẹp, bài hát được viết nắn nót. Anh hài lòng lắm và cầm về.

Đấy âu cũng là câu chuyện rắc rối trong đời tôi nhưng nó cũng có cái kết đẹp vì sau trận đòn bắt tôi phải bỏ chữ Z ra khỏi cái tên của tôi, tên tôi được lan truyền trong giới quản giáo của trại. Khi cần đến việc làm tỷ mỉ, khéo tay là họ lại nhờ vệ binh chạy xuống trại tìm tôi và nhờ tôi giúp. Tôi luôn lợi dụng việc này, phải có qua có lại chứ! Tôi không bao giờ quên “mặc cả” đòi vài ngày nghỉ khỏi đi lao động! Tôi cũng yên trí hơn, không sợ bị đánh nữa vì hầu hết các cán bộ và vệ binh trong trại, ít nhiều, cũng đã nhờ tôi việc này, việc nọ!

Cũng vì vậy mà câu chuyện anh Tây trốn trại không bao giờ được nhắc lại nữa. Thật là một khúc quanh bất ngờ.

(Còn tiếp)

Kỳ 1 Kỳ 2 Kỳ 3

Bài Mới Nhất
Search