Nguyễn Kỳ Dzương: NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (2)

(Tiếp theo Kỳ 1)

Phần Hai: “Trăng ơi, nói hộ lòng tôi”

Thời gian cứ thế mà trôi qua. Chúng tôi ở trại Trảng Lớn này, thoáng một cái mà đã hơn một tháng. Mấy hôm trước, bất ngờ, đêm đã khuya, chúng tôi nghe vọng trong gió tiếng di chuyển của một đoàn “công voa”, cách trại chúng tôi khoảng nửa cây số, đến và đi trong vòng mấy tiếng đồng hồ. Chúng tôi đều hoang mang không biết đây là dấu hiệu gì. Vài hôm sau, khi đi ngang các trại khác, dừng lại hỏi vội nhau mấy câu thì các bạn ấy nói hình như họ chuyển một trại giam nữ quân nhân đi nơi khác. Hình như trại này không nhiều nữ tù cho nên xe đến và đi chỉ trong vòng mấy tiếng đồng hồ. Lúc đó, chúng tôi mới biết là ở trong khu vực này, không chỉ có trại giam nam tù nhân chúng tôi, mà cũng đã từng giam giữ nữ quân nhân của VNCH. Bây giờ không biết họ đã đưa những người này đi đâu. Lúc đó, chúng tôi chưa hề biết là trong chính sách giam giữ tù cải tạo, thỉnh thoảng họ lại phân chia tù ra thành những nhóm khác nhau, mang đi chỗ khác. Không biết là đi tốt hay “được” ở lại thì tốt hơn?

Chúng tôi vẫn phải tiếp tục cuộc sống lay lắt như thế này. Vẫn đi lao động để đạt được chỉ tiêu của “trên” đưa ra. Vẫn tu sửa chỗ ăn, chỗ ở, nhưng vẫn thầm hiểu là sẽ có ngày bị chuyển đi nơi khác. Định mệnh sẽ đưa đẩy mỗi người chúng tôi đến đâu đây?

Chuyện gì đến đã phải đến. Đêm hôm đo, lúc anh em chúng tôi đang ngủ vùi, mệt mỏi vì đã phải cuốc đất, đánh luống trồng bắp suốt ngày. Khoảng hai giờ sáng, họ đánh kẻng ầm ỹ, kêu tất cả chúng tôi thức dậy. Đã có một số đông vệ binh, gườm súng AK 47 đứng gác quanh trại. Một vài ông cán bộ vào trại, bắc loa cầm tay, ra lệnh tất cả chúng tôi phải thức dậy, nhanh chóng thu dọn sắp xếp đồ đạc cá nhân gọn gàng để chuẩn bị được đưa đến một nơi khác, có điều kiện thuận lợi hơn để “học tập”. (Sic.) Ông cho biết phải mang tất cả đồ đạc cá nhân, không để lại bất cứ thứ gì. Tất cả những con dao dùng hàng ngày phải đem nộp cho trại. Ai vi phạm sẽ bị trừng phạt nặng.

Một số những con dao chúng tôi tự chế trong những ngày qua được xếp thành một đống nhỏ trước mặt cán bộ.

Sau khi chúng tôi quơ vội tất cả những thứ vặt vãnh của riêng mình, chúng tôi lại được lệnh phải phụ nhau khiêng bếp, chảo cùng các dụng cụ khác như búa, cuốc xẻng…

Lúc đó chúng tôi mới để ý là cũng đã có một đoàn xe Molotova đợi lặng lẽ từ hồi nào, ở ngoài cổng trại. Những người bạn thân nhau thì cố dắt díu nhau để có thể cùng lên một xe, may ra thì cùng đến chỗ mới với nhau.

Chuyện đã không xảy ra như ý chúng tôi muốn. Họ cầm theo cả hai danh sách dài. Họ chia sân tập trung thành hai bên. Họ đọc từng danh sách. Ông cán bộ nói:

– Các anh có tên trong danh sách thứ nhất thì xắp hàng bên này. Các anh được đọc tên trong danh sách thứ hai thì đứng bên này.

Chúng tôi đau khổ nhìn nhau, cầu mong mình có tên trong cùng một danh sách!

Sau khi nhóm chúng tôi (vẫn 4 thằng, Linh, Công, Hải và tôi) được gọi tên và được đứng cùng một bên thì mới thở phào. Chúng tôi não nề leo lên xe. Công và tôi thì thầm dặn nhau như lần trước. Nhìn xuống thì thấy những người đứng bên kia được phép tan hàng, dọn vào nhà. Có lẽ mọi người chúng tôi đều tự hỏi, không biết đi tốt hơn – hay được ở lại tốt hơn? Xe bắt đầu chuyển bánh. Chúng tôi, kẻ ở, người đi, ngẹn ngào vẫy tay chào nhau và thầm chúc nhau may mắn.

Linh và Hải mò tìm tay tôi trong bóng tối như muốn an ủi nhau. Công ngồi bên kia xe, chỉ biết gật đầu nhẹ, ra cái điều thông cảm.

Cũng như cuộc hành trình trước, cách nay hơn một tháng, giã từ Sài Gòn về Trảng Lớn, thỉnh thoảng chúng tôi lại lén vạch tấm bạt phủ sau xe để được hít thở một chút không khí trong lành và cũng để định hướng xem họ chở mình đi đâu. Cứ thế mà truyền tai nhau tên của những địa danh vừa đi qua. Dần dần thì chúng tôi biết họ chở chúng tôi về hướng Long Khánh. Các anh ngày xưa đã từng phục vụ những đơn vị đóng quân ở gần đây đều tỏ ra am tường địa hình, địa vật. Không biết rồi để làm gì? Nhưng chắc chắn một điều là các anh tiên đoán giờ đến nơi gần đúng. Chúng tôi xuất phát từ Trảng Lớn lúc 3 giờ sáng. Các anh bạn này nói:

– Nếu đúng là họ chở mình đi Long Khánh, thì với khoảng cách hơn 150 cây số, mình sẽ đến đó lúc 8 giờ sáng.

Quả thực, chúng tôi đến “trại” mới ở Long Khánh vào lúc gần 9 giờ sáng.      

Trời đã sáng bạch nhưng chưa thấy nóng. Đây có lẽ là khu gia binh của một đơn vị Thiết Giáp cũ. Ban quản giáo đã đến đây từ trước. Họ đã cho dựng lên một cổng vào khu trại và có một trạm gác. Ngay bên hông cổng trại là một dãy nhà dành cho cán bộ và vệ binh. Có lẽ họ đã về đây đóng quân lừ lâu. Chúng tôi đã thấy một số chuồng gà và mấy con gà đang bươi tìm thức ăn. Mấy con gà này có vẻ vô tư và đang hưởng sự tự do của chúng. Chúng tôi thấy họ đã phơi quần áo trước cửa nhà. Lòng chúng tôi đau quặn khi thấy một vài cái quần lót, quần đùi của chúng may bằng vải “cờ vàng, ba sọc đỏ”.

Chúng đưa chúng tôi vào sâu bên trong trại. Các căn nhà cho gia đình binh sĩ lúc này gần như tan nát do ảnh hưởng của các trận giao chiến trong vùng vào thời điểm cuối tháng tư. Các mái tôn thì như tổ ong, tường thì lỗ chỗ vết đạn. Cũng may là các bức tường vẫn còn đứng được. Không biết trước chúng tôi, có người ở trong cư xá này không mà đi lượm lặt, nhặt nhãnh mãi vẫn không tìm được cái nồi niêu xoong chảo hay bát đĩa, dụng cụ nào bỏ lại hết. Chúng tôi vào những căn nhà đó và cứ 12 người thì được chiếm một căn nhà. Cán bộ cho chúng tôi hai ngày để “ổn định” chỗ ăn ở. Chúng tôi vừa quét dọn, vừa tiếp tục dáo dác nhìn xem có cái gì có thể còn dùng được thì lượm làm của riêng. Một thanh sắt sau lưng “ba lô” thì trở thành vô cùng quý giá vì sẽ được rèn lại thành con dao nhỏ. Chúng tôi nhặt nhạnh gỗ vụn và ván vụn để ghép lại thành giường ngủ. Khi cán bộ trở lại, họ không cho chúng tôi ngủ riêng trên các cái giường tự đóng mà phải đóng chung nhau thành một tấm phản lớn, trên đó 12 mạng ngủ với nhau. Kết quả là tấm phản được đóng dọc theo chiều dài của căn nhà, chúng tôi chia nhau diện tích chỗ ngủ. Mỗi người chỉ còn được khoảng nửa thước. Những đêm đầu, vừa khó ngủ, vừa thở nặng nhọc sau một ngày đi vơ vét gỗ tạp lỉnh kỉnh, một anh quay lưng sang phải – là mấy anh bên cạnh cũng phải trở mình qua bên phải theo vì không muốn hít hơi thở của nhau!

Trên các cột nhà của chúng tôi (và cả trong “hội trường”) trại có cho gắn một cái loa nhỏ để thông báo kịp thời những chỉ thị mới của trại. Một hôm, chúng tôi nghe thấy tiếng gõ “cộc cộc” trên loa, ra lệnh cho một cải tạo viên có tên Nguyễn Văn Nghỉ mang đồ đạc lên trình diện trại để được về đoàn tụ! Không ai trong chúng tôi dám tin đây là sự thật. Anh em trong tổ muốn an ủi anh này, “chắc không có gì quan trọng đâu”, nhưng Nghỉ này có vẻ rất bình tĩnh. Anh lặng lẽ cuốn gói đồ đạc. Những thứ cảm thấy không cần mang về “làm kỷ niệm”, anh chia lại cho những người ở lại. Anh chào từ biệt chúng tôi và lên trình diện trại. Từ hôm đó, chúng tôi không thấy anh nữa. Nếu thật sự anh Nghỉ đã được thả cho về, thì anh này là người được thả ra sớm nhất. Từ ngày vào trình diện đến nay chỉ mới có hơn ba tháng! Về sau, hình như anh Nghỉ có viết thư vào trại cho người bạn, cho biết là anh có người cha tập kết từ năm 54, nay đã là một sĩ quan cao cấp, bảo lãnh cho anh về sớm.

Mấy hôm sau, tình cờ một cải tạo viên trong chúng tôi, trước đây phục vụ trong ngành truyền tin, được trại cho loa gọi lên để chạy giây lại cho một số phòng trên khu doanh trại của cán bộ. Khi trở về, anh hết hồn kể lại cho chúng tôi là những cái loa này chạy hai chiều, có nghĩa là cái loa này dùng để phát thanh nhưng cũng có thể thâu thanh. Chúng tôi ai cũng toát mồ hôi vì có những lúc vô tình, đứng gần, chửi xấu chế độ, có khi ở trên đó, họ đã nghe được cả? Từ đó trở đi, thỉnh thoảng chúng tôi cố tình đứng gần loa, làm bộ khen đường lối của “cách mạng” và khuyến khích nhau yên tâm học tập. Có một vài anh, bệnh phù thũng vẫn chưa khỏi, trở thành lở loét, đứng cạnh loa, vừa gãi, vừa hát: “Vùng lên, nhân dân Việt Nam oai hùng, vùng lên…”

Trại bắt đầu phát cho chúng tôi mỗi người một bộ quần áo tù, loại mỏng như quần áo ngủ ở nhà, có sọc màu xanh và trắng. Tôi chưa bao giờ khoác bộ quần áo này lên người!

Chúng tôi cũng tự tổ chức thành tổ, đội, và … “bếp”! Những cái chảo to mà trại Trảng Lớn cho vác theo, bây giờ lại được trưng dụng để nấu ăn, uống. Trại cũng cho gọi chúng tôi lên gánh gạo, muối (lại muối hột!), bí rợ hay bí đỏ và cá khô về làm thức ăn. Phần trước, tôi có nói về cái loại muối hột đầy đất cát rồi, phải hòa trong nước, đợi cặn lóng xuống, lấy nước trong ở phần trên, nấu lại mới có muối ăn được. Bây giờ phải nói về cái-gọi-là “cá khô”: Những con cá khô này, hồi trước, có lẽ cũng không “nỡ” cho chó ăn! Gọi là “khô” nhưng tất cả đều ẩm ướt, mục rữa và rất nhiều dòi! Những con dòi này có lẽ cũng quen bị quăng, quật nên chúng vẫn thản nhiên bám lấy miếng mồi và chăm chỉ gặm! Chỉ có những trái bí rợ là cứng như đá, không bị bể, không hề hấn gì với thời gian. Chủ vựa bí nào trúng mánh, bán được cho bộ đội mẻ bí này còn sót lại từ năm ngoái, hẳn họ phải ăn mừng. Những trái bí này cứng đến nỗi chúng tôi phải liều lấy búa tạ đập và sau đó, nghiến răng nghiến lợi gọt vỏ. Khi nấu “canh” phải cho bí vào hầm trước. Của đáng tội, nói vậy chứ trong hoàn cảnh này, canh bí cũng ngon thật! Ở Trảng Lớn, ăn canh bắp cải với mì khô mãi cũng chán ngấy rồi!

Chúng tôi cũng được dắt ra ngoài khu gia binh để canh tác. Chỗ thì trồng rau lang, chỗ thì gieo đậu phọng, chỗ khác thì trồng bắp, v…v…Tổ nào không bị dắt ra ngoài canh tác thì lo nhặt những mảnh xi măng lót cho đường đi hoặc sàn nhà, sàn hội trường.

Một ngày khoảng giữa tháng Chín (1975) khi chúng tôi ở trong tù đã được 4 tháng. Không biết các bạn tù của chúng tôi đã nhặt được tin đồn ở đâu là nhà nước sắp đổi tiền! Trại cho tập trung giải thích là chuyện này hoàn toàn không có (!). Chúng tôi cũng không mang tiền theo nhiều cho nên cũng không quan tâm. Chuyện này đi vào quên lãng.

Một buổi sáng sớm, loa lại phát thanh, ra lệnh cho chúng tôi tập trung ngoài sân trước cửa mỗi gian nhà chúng tôi ở. Chúng tôi lục tục kéo nhau ra, đang dò hỏi nhau xem có chuyện gì. Không ai biết.

Một lát sau, một số cán bộ vác bao vải đến, chia nhau ra thành từng toán. Họ ra lệnh chúng tôi vào nhà, mang hết tiền, vàng, đồng hồ ra sân. Chúng tôi trở vào làm theo lệnh. Các cán bộ ngồi xuống, lấy giấy ghi biên nhận, đã nhận của cải tạo viên tên gì, những món đồ gì, nói rằng: “Chúng tôi chỉ tạm giữ cho các anh, khi nào được về đoàn tụ với gia đình thì chúng tôi sẽ trả lại!”. Riêng về tiền mặt thì “Các anh được đổi tối đa 100 ngàn tiền cũ lấy 200 đồng tiền Cách Mạng”. Thế là những cải chính trấn an chúng tôi mấy hôm trước, bây giờ thành sự thực! Chúng tôi đi cải tạo, đâu có mang nhiều tiền theo nên chỉ bị lột hết dây chuyền, đồng hồ, nhẫn và cuối cùng, với số tiền ít ỏi mang theo, chúng tôi được cầm mấy đồng tiền mới của “Cách Mạng”. Những đồng tiền mới này có in những cá hình mà chúng tôi chỉ muốn “tiêu” đi cho khuất mắt!

Về đây, trại chỉ cho chúng tôi 50 gram gạo mỗi ngày, mỗi đầu người, thay vì 70 gram theo tiêu chuẩn. Các cán bộ cho biết là “về đây, các anh không phải đi “nao” động xa nên “trên” đã quyết định giảm tiêu chuẩn ăn hàng ngày”. (Sic.) (Các ông không nói, cứ ăn bớt của chúng tôi, chúng tôi cũng chẳng biết đấy vào đâu!)

Theo tiêu chuẩn ăn mới, chúng tôi không có đủ gạo nấu cơm nên buổi sáng, chúng tôi được mấy muỗng cháo cầm hơi, đi làm. Buổi chiều về, chưa ăn cơm thì thấy buồn, ăn cơm rồi thấy buồn hơn… vì chưa ăn đã hết!

Những ngày đầu phải làm quen với tiêu chuẩn ăn tiết kiệm này, nhiều người khỏe mạnh trong chúng tôi đang làm thì ngã vật – vì chỉ ăn cháo, vừa đói, vừa phải đi đái nhiều quá, mất nước trong người!

Được cái là hồi này, họ không còn gạo hẩm để phát cho chúng tôi ăn nữa. Gạo mới, ăn vẫn ngọt hơn. Chúng tôi đều cùng áp dụng trường phái Oshawa, nhai cơm thật chậm, thật kỹ, và “uống” cơm chứ không phải ăn cơm! Có như thế thì ăn xong mới không “buồn” những nỗi buồn không tên!

Thỉnh thoảng, vài cán bộ “khung” cũng xuống thăm anh em chúng tôi. Các ông này rất lấy làm lý thú, kể cho chúng tôi thành tích “đánh bại Đế Quốc Mỹ” cho chúng tôi nghe. Ông say sưa kể về “chiến sĩ lái” – anh hùng không gian Phạm Tuân – lúc đó, ông lái chiếc Mig của Liên Xô, bay lên trời, tìm một đám mây đen lớn, chui vào đó, tắt máy, ẩn nấp, đợi máy bay B-52 của Mỹ bay ngang qua, lúc đó ông mới mở máy, bay vọt ra. B-52 Mỹ trở tay không kịp, trúng một hỏa tiễn của ông, rớt xuống hồ Trúc Bạch ở Hà Nội! (Tôi không biết máy bay Mig của bác Phạm Tuân này có thể lên được bao nhiêu “feet” (bộ Anh) chứ máy bay B-52 của Mỹ thường bay ở cao độ 30 ngàn feet, Mig của ông làm sao leo lên tới độ cao đó được?!)

Chúng tôi chỉ biết làm bộ tròn xoe mắt, khen: “tài”… thật!

Như đã nói ở trên, đây có lẽ là khu gia binh cũ nên thực ra cũng gần với dân chúng sống ở bên ngoài. Từ từ rồi dân cũng nhận ra đây là một trại tù. Họ kháo với nhau và tin tức từ đó lan về tới Sài Gòn. Thỉnh thoảng, chúng tôi ngó ra ngoài cổng, thấy mấy bà – có lẽ là mẹ hoặc vợ sĩ quan đi trình diện học tập đã mấy tháng mà chưa có tin tức gì – tụ tập ở ngoài, năn nỉ, ăn vạ, trước cổng trại, đòi thăm chồng con. Mấy tên vệ binh lúng túng, không biết trả lời thế nào. – Các bà biết tụi mày còn non cơ lắm! Cho bà thăm chồng bà đi!

Dĩ nhiên chúng nhất quyết chối, nói: “Đây là doanh trại Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, không có tù nào hết”! Tối rồi, các bà cũng phải bỏ cuộc, ra về.

Ở trong chúng tôi, không biết mấy anh có thấp thoáng nhìn thấy vợ con không mà ôm mặt khóc tức tưởi.

Độc giả không thể nào tin nổi là chúng tôi tự nhiên biến thành những võ sĩ Nhật Bản, đi guốc hết cả đám! Giày dép mà chúng tôi mang đi mấy tháng trước bây giờ rách bươm hết rồi. Chúng tôi kiếm gỗ, đẽo thành guốc, lấy lốp cao su nhặt được, chia nhau ra làm quai. Đi bền ra phết.

Trong số các anh em của tổ 1 ở gian bên cạnh tổ 2 của tôi, có anh bạn tên là TTT, trước đây làm việc trong Nha Báo Chí, Phủ Tổng Thống. Một hôm anh được loa phóng thanh gọi lên gặp cán bộ. Khi lên đến nơi, cán bộ đưa một lá thư ra và hỏi anh:

– Đây có phải thư của vợ anh không? Anh T nhận là đúng. Vợ anh là nghệ sĩ KC ở Sài Gòn, viết trong thư là “Anh cứ yên trí học tập, em đã nói với chú Trần Văn Trà và chú Thanh Nghị, các chú ấy sẽ bảo lãnh cho anh được về sớm.”

Cán bộ hỏi thêm:

– Vợ anh là ai mà quen biết với hai người này? Có thật bà ấy nhờ hai người này bảo lãnh anh không?

Anh T trả lời:

– Đây đúng là vợ tôi, nhưng tôi không biết có thật bà ấy quen họ không?

Cán bộ cho anh cầm thư về, không nói gì thêm. (Chỉ có tụi này mới làm cái trò kiểm duyệt thư đến và thư về nhà như thế này, thật trơ trẽn, không biết ngượng! Theo tôi nhớ, lúc ấy Trần Văn Trà là chủ tịch Ủy Ban Quân Quản thành phố Sài Gòn, còn Thanh Nghị là bộ trưởng Bộ Ngoại Giao).

Về trại, anh T cũng thành thật kể lại câu chuyện. Từ đó, thỉnh thoảng chúng tôi lại hỏi anh:

– Có thật là nghệ sĩ KC quen hai ông này và gửi gấm anh không? Có bao giờ bà ấy rủ anh vào “bưng” tiếp xúc với họ không?

Anh T trả lời là thực lòng, anh ấy không biết vợ anh là cán bộ vc nằm vùng. Anh cũng khẳng định là chưa bao giờ anh ấy cùng vào “bưng” với vợ.

Ba tuần sau, TTT được gọi lên, cho về!

Chúng tôi được lệnh phá các bức tường của mấy căn nhà liền nhau, chỉ giữ mái và cột, kèo, biến đó thành một cái “hội trường” để chuẩn bị “đi vào học tập”. Chúng tôi cũng khấp khởi mừng thầm: Hay là họ đã thay đổi chính sách, cho chúng tôi học một số lý thuyết cho có lệ, rồi cho về?

Hội trường dĩ nhiên không có bàn ghế. Chúng tôi lại phải đi “săn” gỗ để tự đóng cho mình cái ghế thấp thấp, như ghế của các bà bán cá trong các chợ. Được lệnh tập trung lên hội trường là chúng tôi xỏ đôi guốc vào, xách theo cái ghế, tự động xếp hàng ngay ngắn, ngồi cạnh nhau, người cao, người thấp.

Một hôm, có ba cán bộ, có lẽ ở nơi khác đến, cùng với ông thủ trưởng của trại chúng tôi, kéo nhau vào hội trường. Ông thủ trưởng cầm một mảnh giấy, hỏi:

– Anh Nguyễn Văn Hảo đâu? Hảo đứng dậy trả lời:

– Thưa cán bộ, tôi là Nguyễn Văn Hảo. Ông thủ trưởng ôn tồn:

– Tôi đã gọi anh lên, nói riêng với anh nhiều lần là không được nói xấu cách mạng. Sao anh không nghe lời, hãy còn ngoan cố? Trong thư viết về cho gia đình, đáng lẽ anh chỉ được động viên gia đình sống cho tốt. Ở đây, anh cũng phải học tập tốt để mau chóng trở về. Trong thư, anh nói về những con đười ươi, những con khỉ đột của thời đại mới. Tôi biết anh đang nói về chúng tôi: “Qua quá trình lao động, khỉ biến thành con người”.

Hảo tái mặt vì đúng như vậy, ông thủ trưởng có nói riêng với anh là những chữ anh dùng trong thư không thích hợp nhưng chưa phạt. Hôm nay có cán bộ ở trên xuống, ông không làm ngơ cho anh được. (Ông thủ trưởng này thực ra, cũng là người tốt. Ông có gọi Nguyễn Văn Hảo lên giải thích đường lối của “cách mạng. Nội dung các thư của Hảo không phù hợp, cần phải sửa đổi. Nhưng Hảo vẫn giữ cách viết cũ. Dĩ nhiên, những thư này chưa bao giờ được chuyển đi).

Ông thủ trưởng hỏi:

– Anh Hảo có muốn nói gì không? Hảo giữ im lặng vì biết nói gì bây giờ cũng sẽ bị trừng phạt, không tránh nổi! Trước khi kết thúc, ông thủ trưởng hỏi:

– Trong các anh, có ai muốn phát biểu gì không?

Phía gần cuối hội trường, một người tên là Huyến, giáo chức biệt phái, giơ tay, đứng lên nói:

– Xin tòa án nhân dân trừng phạt tội anh này thích đáng. Tôi đề xuất án tử hình.

Chúng tôi choáng váng. Ông thủ trưởng có lẽ cũng giật mình. Ông không có ý định trừng phạt anh Hảo này đến như vậy! Ông ra lệnh giải tán, không nói thêm tiếng nào, chỉ hất hàm ra lệnh cho hai anh vệ binh.

Hai vệ binh kè hai bên Hảo, đưa lên khu trại cán bộ, nhốt anh vào cái “connex” bằng tôn. Mỗi bữa, chúng tôi thay phiên nhau, đưa cơm vào cho Hảo qua kẽ hở duy nhất, chỉ vừa một bàn tay chui qua. Thỉnh thoảng, chúng tôi có lén nhét một viên thuốc vào dưới cơm để ở trong đó, anh tự chữa bệnh. Đêm thì lạnh, ngày thì nóng, Nguyễn Văn Hảo rên, la, hét trong đó nhưng không ai dám đến giúp anh.

Anh chàng tên Huyến này dáng người to, khỏe. Không biết anh này nhặt được ở đâu mà suốt năm, suốt tháng, anh luôn luôn đội trên đầu cái nón nhựa, loại nón lót bên trong nón sắt của lính khi ra trận.

Một lần đi ra ngoài doanh trại để làm rẫy, anh chàng Bích “Kiến Càng” gọi Huyến lại gần và nói:

– Hôm nay, tao sẽ đánh cho mày một trận để cho mày chừa cái tội bán đứng anh em. Vừa nói, Bích vừa đập trên đầu Huyến một thanh củi. (Bích thừa biết rằng Huyến đã đội nón nhựa, có lãnh một thanh củi cũng không sao). Một vài anh em khác cũng mang mối hận này sẵn, hùa nhau vào đánh “hôi”, Huyến nhờ cái nón nhựa trên đầu, không đến nỗi bị thương nhưng cũng mềm đòn! Bích nói:

– Nếu mày có gan lên báo cáo trại, lần sau, tao sẽ đánh mày chết luôn rồi tới đâu thì tới.

Quả nhiên, đợi mãi mà không thấy thủ trưởng ra lệnh tập họp để chửi rủa gì hết. Anh chàng Bích được chúng tôi tặng cái tên “Bích kiến càng” vì hồi trước, anh đã từng dự thi các cuộc thi lực sĩ đẹp. Sau bao nhiêu năm tháng ăn uống kham khổ mà các bắp thịt của anh vẫn cuồn cuộn, tay chân khuỳnh khoàng, oai vệ.

Chừng hai tuần sau, ông thủ trưởng cho gọi hai người chúng tôi lên dìu Hảo về trại. Ở trong tối quá lâu, ăn uống không đủ, lại không vận động gì, hai chân của anh này không đứng được nữa. Chúng tôi phải dìu anh về. Mấy ngày sau, Hảo tương đối khỏe lại, kể chúng tôi về những đòn thù mà anh phải chịu. Những lần anh rên la từ phía đó, không phải vì trong connex quá lạnh, mà vì bị lôi ra đánh! Lúc này Hảo cũng cho chúng tôi biết là tên Huyến này vốn ở cùng xóm với Hảo, ở trại (Công Giáo) An Lạc, Ngã Ba Ông Tạ và đã từng không ưa nhau!

Từ đó, chúng tôi gọi đùa anh chàng này là “tiến sĩ” Nguyễn Văn Hảo. Hảo nhỏ con, rất hiền lành và vui vẻ. Cũng từ đó, thư anh viết về nhà, không còn nói về những con đười ươi nữa! (Không biết thư có được chuyển đi hay không?)

Mùa Giáng Sinh năm đó là mùa Giáng Sinh đầu tiên chúng tôi xa nhà. Chúng tôi lên xin trại cho phép chúng tôi được hát một bài hát của “Liên Xô”. Trại đồng ý. Một anh lấy vài củ khoai gọt thành hình tượng Thánh Gia, có Đức Mẹ, Thánh Giuse, và Chúa Hài Đồng. Đêm đó, chúng tôi cùng hát bài Đêm Thánh Vô Cùng trong nước mắt.

Mùa đó, không hiểu tại sao Long Khánh trở lạnh dữ vậy? Các anh bạn từng đóng quân ở vùng này cũng đồng ý như vậy. May quá, đúng vào mùa lạnh đó, trại kiếm được ở đâu ra những chiếc võng bằng vải dầy, màu xanh, loại may quần “Jean” và phát cho chúng tôi. Nhờ vậy mà chúng tôi có vải lót nằm để ngăn luồng gió lạnh lùa dưới lưng. Sau khi nhận lãnh miếng vải võng để lót nằm cho đỡ lạnh, chúng tôi lại cám ơn thời tiết lạnh này vì nhờ đó mà cái mùi xú uế từ phía nhà xí công cộng bớt nồng nặc đi!

Cho đến bây giờ, chúng tôi đã bị bắt đi xa gia đình được nửa năm. Chúng tôi chưa thấy nói về vấn đề thăm nuôi. Ai cũng bồn chồn, mong ngóng. Thư cũng chỉ mới được viết có vài cái. Nội dung thư đọc chán chết, vì theo lệnh của trại, mọi người đều có bổn phận “động viên” lẫn nhau. Ít ra thì đây cũng là niềm an ủi vì gia đình biết chúng tôi còn sống.

Cứ sống vô vị như thế mà cuối cùng, đúng một năm, họ cho thăm nuôi. Hầu hết, khi viết thư về, anh nào cũng chỉ nhắn gia đình mang cho những thứ lặt vặt, không đáng tiền như bột gạo lức (để chữa bệnh phù thũng), mắm ruốc, tôm khô, muối mè, mắm khô quẹt (vừa rẻ tiền, vừa dễ ăn cơm), một vài loại thuốc tây thông thường và giấy, bút, phong bì. Có người xin thêm quần áo lạnh, v…v…

Lần đầu tiên được gặp nhau, hầu như không ai nói được gì nhiều, chỉ hỏi thăm con cái và các người khác trong gia đình. Không ai cầm được nước mắt. Có một ông cán bộ ngồi giữa (“làm chứng” cho những câu trao đổi, động viên nhau) thì ai nói được gì bây giờ hả trời? Lại còn mấy anh vệ binh cầm súng AK 47 đi dạo ngoài sân nữa chứ!

Thế rồi cũng đến lượt tôi được thăm nuôi. Vừa nhìn thấy tôi là vợ tôi đã khóc. Tôi cũng rưng rưng lệ, chưa nói được gì. Vợ tôi đóng đúng vở kịch của con người “Xã Hội Chủ Nghĩa”, ăn mặc nghèo nàn, chân tay đen xạm với đôi guốc sứt mẻ lung tung! Vợ tôi lặng lẽ lôi trong bị cói ra những món “quà” lỉnh kỉnh, nghèo nàn, đúng theo “yêu cầu” của nhà nước. Lần đó, vì là lần đầu tiên được đi thăm chồng, vợ tôi chưa cho hai con đi theo. Mặc dù không nói được nhiều với nhau nhưng chỉ nhìn nhau qua màn lệ mỏng, tình yêu của vợ chồng trẻ lẫn nỗi uất hận dâng lên đầy ắp trong tâm tư chúng tôi. Chưa gì đã hết 30 phút thăm nuôi! Cán bộ đuổi vợ tôi về. Thấy chúng tôi cầm tay nhau bịn rịn, ông với tay giựt lấy cái giỏ trong tay vợ tôi nói nhỏ: “Đúng là tụi tiểu tư sản” và liếc tôi một cái.

Định mệnh ơi, sao khiến cho tôi ngày xưa cố nhồi nhét bao nhiêu chữ nghĩa để bây giờ thua những thằng dốt. Ngày xưa bỏ ra bao nhiêu thì giờ và công sức luyện võ, bây giờ đành phải chịu thua thằng có súng! Những thằng oắt con này, bảy thằng bám cành đu đủ không gãy, cứ thả ra, cho đấu tự do, tôi cũng chấp cả bảy đứa!

Ngày hôm sau, ông vào trại, gặp tôi giữa đám tù, ông mắng nhiếc tôi thậm tệ:

– Anh có ý nói xấu chúng tôi với vợ anh đấy hẳn? Tôi còn chưa kịp hiểu thì ông lại tiếp:

– Lúc ra thăm, anh không cắt tóc, cạo râu. Anh muốn nói với vợ anh là chúng tôi bắt anh “nàm” “nao” động quá sức, không còn thì giờ để cạo râu nữa hả?

Tôi minh oan thế nào ông cũng không chịu nghe. Ông bỏ ra về nhưng còn có vẻ hậm hực lắm. Lần đó, tôi chưa bị đánh!

Một chuyện nữa mà tôi phải nói trước khi quên: Đối với các anh bộ đội, có một loại thuốc có thể chữa được tất cả mọi bệnh. Khi chúng tôi đau ốm, nhờ anh tổ trực lên khai bệnh, ông “y sĩ” với tay lấy một lọ thuốc trong tủ, đổ ra cho chúng tôi mấy viên và bảo:

– Đây, thuốc này của ông Trung Quốc, rất tốt, cứ cầm về mà uống. Chúng tôi tìm hiểu thì được biết tên của loại thuốc này là “Xuyên Tâm Liên”. Không biết nguyên thủy, chúng dùng để chữa bệnh gì nhưng đối với chúng tôi, đây là loại thuốc duy nhất họ cho mỗi khi có ai khai bệnh, bất cứ bệnh gì. Có báo cáo rằng người bệnh vẫn chưa khỏi. Các ông y sĩ Bắc Việt bảo rằng: “Thôi thì chịu khó khắc phục vậy!” Về sau, chúng tôi đặt tên cho loại thuốc này là “KaPê Xiline” Khắc Phục ấy mà!

Một vài ông y tá của chế độ cũ viết trong tờ tự kiểm là đã hành nghề được cả chục năm, bị quản giáo chửi là đồ láo khoét, “nàm” y tá lâu như vậy rồi thì phải thành bác sĩ rồi chứ! Hóa ra, mấy ông “y sĩ” của trại là những người đã làm y tá khá lâu, nay được nhà nước cho trở thành y sĩ!

Dần dần, chúng tôi phải cố thích nghi với cuộc sống đày đọa này, đúng là “sống không bằng chết”. Người nào cũng thất thểu vì buồn, chán, vì đói, và dĩ nhiên vì Tự Do và những quyền căn bản để sống đã bị tước đoạt. Không ai có thể tưởng tượng được tương lai sẽ như thế nào.

Trong nhiều buổi trưa, lúc được nghỉ lao động để ăn cơm, nằm giữa ruộng, ngửa mặt lên trời ngắm nhìn những đám mây trắng bay lững lờ trên bầu trời xanh lơ, trong vắt, tôi thầm so sánh thân phận mình với những người bạn cùng lứa tuổi, giờ này có lẽ mấy đứa nó đang hưởng tràn đầy hạnh phúc, an bình,và nhất là được Tự Do – ở một xứ sở tân tiến, giàu có nào đó. Tại sao cũng những đám mây trắng lững lờ này, cũng cùng bầu trời trong vắt này mà số phận chúng tôi lại trái ngược nhau? Đời có công bằng không?

Một buổi trưa của một ngày tháng Sáu năm 1976, chúng tôi bất thần nghe những tiếng nổ kinh hồn. Không biết từ đâu nhưng có lẽ cũng gần. Chắc chắn đây phải là một kho đạn vì đủ loại tiếng nổ, lớn nhỏ đều có. Chúng tôi cuống cuồng chạy tìm chỗ ẩn nấp. Thực ra, trong một cái trại nhỏ xíu thế này, người chung sống với nhau lúc nhúc, chả có chỗ nào mà trốn! Người thì chui dưới gầm giường, người thì liều mạng nhảy xuống giếng. Nhiều anh sợ quá, như Đức “già”, giáo sư biệt phái về dạy học ở trường Quốc Gia Nghĩa Tử, vốn đã nhút nhát, đơ cả người, chả biết làm gì nữa. Ai kéo đi đâu thì chạy theo đó. Tiếng nổ cứ lớn dần lên, tiếng đạn nhỏ bay vút vút trong không khí. Những quả đạn pháo binh quật vụt vụt trên bầu trời, bất ngờ rớt ịch ngay cạnh chúng tôi, không nổ.

Tôi không thể nhớ nổi là sự việc này xảy ra trong bao lâu nhưng trong khi co rút người lại tránh đạn, tôi thầm cầu mong đây là quân của tướng Kỳ, trở lại quật ngược thế cờ, lấy lại Miền Nam cho chúng tôi.

Ngày hôm sau, khi hoàn hồn, chúng tôi được miễn lao động nhưng lại bị tập trung lên hội trường. Một cán bộ mỉa mai nói với chúng tôi:

– Chúng tôi biết các anh vui lắm vì trong “sự cố”hôm qua, không ai trong các anh bị thương nhưng một người của chúng tôi bị thiệt mạng.

Thực sự, chúng tôi đâu có biết chuyện này. Về sau mới được nghe là có một anh vệ binh chuẩn bị đi phép, về Bắc, vừa ló mình ra ngoài cửa xem việc gì đang xảy ra thì một viên đạn pháo bay đến, đập trúng vào ngực anh, chết tại chỗ!   

Chỉ một vài ngày sau vụ nổ, không khí thê lương, rờn rợn vẫn còn đâu đây, vào lúc sáng sớm, chúng tôi chưa hoàn toàn tỉnh giấc thì loa lại phát thanh ầm ầm gọi chúng tôi dậy để điểm danh. Có chuyện gì nữa đây?

Chúng tôi tập họp trước sân, sắp hàng ngay ngắn đợi cán bộ xuống. Cán bộ và vệ binh chạy rập rập vào, vừa chạy vừa hét. “Có người trốn trại!”

Chúng tôi điếng hồn. Riêng tôi thì đã biết trước việc này sẽ xảy ra vì người bạn chủ trương trốn trại này nhiều lần bàn với tôi và còn muốn rủ tôi đi trốn cùng.

Trại điểm danh xong thì nêu tên ba người trốn trại: Người thứ nhất là Thái, bạn thân của tôi. Thái cùng sống với tôi trong một gian nhà. Thái nằm sát cạnh tôi bên trái, Linh nằm bên phải và chúng tôi hay rủ nhau đi hái rau lang, luộc rồi ăn cơm cùng nhau. Người thứ hai là Lộc, nằm cùng phản với tôi và Thái, ở cuối dãy.  Người thứ ba là Bé. Lộc và Bé đều là phi công lái phản lực A-37 thời VNCH.

Khoảng một tuần sau, trại cho biết là Lộc và Bé đã bị bắn chết. Thái thì chạy thoát nhưng theo ông cán bộ, trước sau gì cũng sẽ bị bắt và phải “đền tội”!!!

Con mắt tôi căm tức nhìn các cán bộ và các anh vệ binh dương dương tự đắc vì thành quả của “cách mạng”. Chắc chúng nó đang nghĩ: “Chúng mày có chạy đàng trời với chúng ông”!

Tối hôm sau, tổ trực chúng tôi bị gọi đi lấy xác của Lộc và Bé. Họ chở chúng tôi trên xe vận tải lớn. Đến bìa rừng thì dân đã khiêng xác hai người ra để sẵn ở đó. Vì trời tối, chúng tôi nhảy xuống xe, vội vã gói xác đầy máu của hai người bạn vào hai chiếc chiếu, khiêng lên xe chạy về trại. Về sân trại, họ không cho chúng tôi khiêng hai cái xác xuống. Họ bắt chúng tôi phải “vứt” xuống sân. Hai cái xác không hồn rớt bịch xuống sân. Cũng may là sân là sân đất nện, tiếng hai cái xác rớt xuống đất không gây nên tiếng động ghê hồn như chúng tôi nghĩ (tiếng của cái sọ đập xuống đất cứng). Nhiều anh em trong chúng tôi phải cố nuốt lệ vào, không dám tỏ ra thương xót bạn mình quá mức!

Trừ tổ trực của tôi được loanh quanh xác của hai đứa bạn, tất cả những tổ khác đều phải ở yên trong nhà, không được đến gần chúng tôi. Các anh bạn này chỉ dám lấp ló ở cửa nhà, phóng mắt ra cố quan sát sự việc qua bóng tối. Trong gian nhà gần nhất, chúng tôi nghe thấy tiếng đọc kinh rì rào của đám Uyển, Linh, Hải, Huy, anh Mai Quang Tuyến, và anh Ninh Thế Đồng. Các bạn này đều là người theo Thiên Chúa Giáo. Giờ này, chắc họ cũng “phó mặc”, bất chấp lệnh của trại, túm tụm nhau đọc một chuỗi kinh cho Lộc và Bé.

Anh Đồng cũng làm gan, chạy nhanh ra đưa cho chúng tôi một lon “gô” nước ấm và một gói mì khô. Chúng tôi bẻ ra, chia nhau mì khô, nhai sống như vậy và uống nước vào cầm hơi. (Bây giờ mới thấy cái hữu ích vô song của lon sữa bột hiệu “Guigoz”. Ở trong trại, nó được chúng tôi sử dụng vào rất nhiều việc, trong này, chúng tôi gọi tắt là lon “gô”)

Chúng tôi được lệnh để nguyên hai cái xác đó, đợi đến sáng, cán bộ xuống sẽ cho lệnh mới. Trong đêm, chúng tôi chia nhau ra canh cho xác hai người bạn đừng bị thú vật quấy phá. Chúng tôi ngấm ngầm đọc kinh theo từng tôn giáo của mỗi người để cầu nguyện cho Lộc và Bé được cứu rỗi và sớm được siêu thoát.

Sáng hôm sau, khi làm nghi thức tẩm liệm cuối cùng cho hai người bạn, chúng tôi giật bắn người vì bây giờ có ánh sáng mới nhìn rõ: mặt của Lộc bị sưng vù, hai bên má bạnh ra, hàm răng nghiến chặt, mắt trợn trừng, biểu lộ sự uất ức tột cùng. Mặt của Bé thì chỉ như đang ngủ yên. Có lẽ nó bị trúng đạn, không kịp biết mình chết? Lúc còn sống, ở cùng gian nhà với chúng tôi, Lộc luôn lạc quan, vui vẻ. Hàm răng của hắn to, khỏe và trắng muốt. Chúng tôi cứ chọc ghẹo hắn là: “mai mốt được tha cho về, mày quảng cáo cho hãng kem đánh răng Hynos là đủ sống!” Ngày xưa, ông Từ Hải của cụ Nguyễn Du cao to cỡ nào chúng tôi không tưởng tượng nổi, nhưng vai của Lộc nở nang, thân hình cao lớn, vạm vỡ. Chúng tôi không dám mở chiếc chiếu ra để xem hai đứa nó lãnh bao nhiêu phát đạn và bị trúng những chỗ nào!

Có lẽ Lộc bị bắn nhưng chưa chết ngay và trong cái cảm tưởng mình bị bắn và sắp chết, cái lạnh của sự chết từ từ chuyển từ dưới chân, lên đùi, lên bụng, ngực, và trong nỗi đau tột cùng ấy, có lẽ Lộc đã nghiến răng nguyền rủa thằng cầm súng bắn vào hắn? Chúng tôi lúc này không còn sợ bị liên lụy nữa, cứ mặc cho nước mắt tuôn trào. Kỳ diệu thay, khi tôi vừa lâm râm khấn vái với Lộc:

– Lộc ơi, tao không nhớ mày theo tôn giáo nào, nhưng tao chỉ biết cầu xin mày được ra đi thanh thản, sớm được về nơi chốn bình yên vĩnh cửu, và nhớ đến tụi tao với. Khi tôi lấy nước nóng lau mặt cho nó, các bắp thịt trên mặt nó từ từ mềm ra, chúng tôi vuốt mắt và nắn lại gương mặt của nó trở lại bình thường. Lộc ơi, giờ này mày không còn những nỗi bực dọc, phiền não, không còn phải uất ức, phẫn nộ vì những bất công mày đã phải chịu đựng. Thôi, yên nghỉ nhá, tụi tao sẽ cầu nguyện cho mày.

Vừa lúc đó thì cán bộ trại đến nơi, thấy chúng tôi đã bó hai cái xác gọn ghẽ, cho lệnh khiêng hai cái thi thể ra ngoài bờ rào kẽm gai, đào một cái hố chôn chung hai đứa. Chúng tôi có làm một cột mốc ghi dấu, biết đâu mai kia thân nhân của Lộc và Bé, gặp duyên lành, tìm lại được nắm xương tàn của hai đứa nó?*

Những ngày hôm sau thì trời đất cũng như đồng cảm với tâm trạng não nề của chúng tôi. Ban ngày, trời u ám, không một ngọn gió. Ánh trăng ban đêm mang màu xanh rờn rợn. Tôi càng thấy xót thương cho hai người bạn vừa mất. Thấy thương cảm cho Thái, thằng bạn trốn trại mà mãi cho tới nay chưa thấy tin tức gì. Tôi bắc cái ghế đẩu ngồi lặng lẽ trong bóng tối, trước sân nhà. Giờ này, hơn 9 giờ đêm, ban quản giáo đã cúp điện phần trại của chúng tôi – mà có điện đi nữa, cũng chỉ có một ngọn đèn yếu ớt treo trên trần. Nhìn lên ánh trăng, tôi chợt cố hình dung lại những khuôn mặt thân thương, từ bố, mẹ, đến các em, rồi vợ con, v…v…    Thương cảm cho chính mình và những người bạn đang trong hoàn cảnh tù đày với mình. Lúc đó, mọi tin tức về cuộc sống ở bên ngoài vẫn hoàn toàn kín bưng. Chúng tôi chưa biết rằng đã bao nhiêu thân xác bị đày đọa, mang ra tận ngoài Bắc, giam trong các trại nổi tiếng tàn nhẫn, ác độc, vào đó rồi không hy vọng còn nguyên vẹn trở về – trong chốn rừng thiêng nước độc.

Ngước lên trời, tôi thì thầm: Trăng ơi, nói hộ lòng tôi.

(Còn tiếp)

*Chú thích thêm của tác giả: Tôi viết tập hồi ký này năm 2024. Không biết tôi dùng chữ “định mệnh” nhiều lần trong tập này có đúng là nó đã “vận” vào “mệnh” của tôi hay không?

Một ngày cuối tháng tám, tôi tham dự một sinh hoạt cộng đồng, gặp lại bác Giao Chỉ – Vũ Văn Lộc ở San Jose, Bắc Cali. Bác VV Lộc là một trong những người “bạn” (vong niên) của tôi cư ngụ ở vùng Thung Lũng Hoa Vàng này. Bác Lộc lôi tôi vào Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân/Việt Nam Cộng Hòa của bác. Bác chỉ những hàng kệ sách cùng những chồng phiên bản Video đang có ở thư viện, bác nói:

– Tôi biếu ông đấy, ông muốn lấy cái gì thì lấy, muốn lấy bao nhiêu cũng được.

Tôi xin một cuốn sách mang tên Giao Chỉ Văn Tuyển, cuốn số một của bác. Đem về nhà đọc thì tình cờ, cuốn sách này viết lại câu chuyện người hoa khôi trường Nguyễn Bá Tòng năm nào, tên là Nguyễn Thị Ngọc Di, cùng con gái đi về VN nhiều chuyến với mục đích đi tìm xác chồng/cha, nghe nói ngày xưa trốn tù và đã bị bắn chết, Người tù trong chuyện của bà Ngọc Di chính là phi công Nguyễn Văn Lộc, người mà tôi đã sụt sùi kể lại trong tập hồi ký này của tôi. Bà Ngọc Di và cô con gái, bác sĩ Nguyễn Lộc Đan Vi đã tìm được nắm xương tàn của chồng và đã đưa về Mỹ năm 2008.

Chỉ có một chi tiết trong câu chuyện của bà Ngọc Di kể cho bác Lộc nghe và bác ghi lại trong cuốn Giao Chỉ Văn Tuyển của bác – mà tôi muốn mạn phép đính chính dùm. Khi đó, chúng tôi: tác giả NK Dzương, cùng Nguyễn Thái, Nguyễn Văn Lộc, và Lê Văn Bé đang ở trại Long Khánh và ba đứa nó đã trốn từ trại này, không phải từ trại Long Giao như trong chuyện kể.

Kỳ 1

Bài Mới Nhất
Search