Nguyễn Kỳ Dzương: NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (6)

Phần Sáu: “Cái Tội Đa Sầu, Đa Cảm”

Từ hôm một số lớn anh em chúng tôi bị chuyển đi trại khác, cuộc sống ở trại cũ của chúng tôi trở nên buồn tẻ hơn trước nhiều. Phần thì không còn được tham dự những buổi “chiếu phim” kiếm hiệp của Kim Dung từ anh bạn Dương Hùng Cường. Phần thì trại bây giờ trống vắng quá. Nếp sinh hoạt không còn vui tươi, đầm ấm, hồn nhiên như trước. Bao nhiêu mạng con người đã chung sống với nhau gần hai năm trong khu trại nhỏ xíu thế này rồi còn gì?

Ngoài thì giờ học những kỹ năng sinh sống để đối phó với những hoàn cảnh khác nhau – lỡ khi cần phải tự mưu sinh. Tôi cũng bắt đầu học đàn ghi-ta classic cho qua thì giờ. Uyển, Vang, và anh Đồng muốn tôi học về kinh thánh Công Giáo. Trước khi trốn trại, lúc Thái còn ở với tôi, thỉnh thoảng bạn này cũng dạy tôi một vài bài kinh bằng tiếng Latin. Thời giờ dư quá thành ra tôi cũng muốn học thêm nhiều thứ, chả đi đâu mà thiệt!

Hình như thành phần cán bộ quản giáo của trại cũng có thay đổi, Chúng tôi thấy một vài khuôn mặt mới. Họ cũng không quen với chúng tôi nên họ vẫn giữ khoảng cách an toàn.

Một buổi sáng sắp hàng điểm danh đi lao động, khi còn đông anh em, đội chúng tôi thường sắp hàng năm (hàng ngang). Hôm nay vắng anh em, chúng tôi sắp hàng bốn. Anh vệ binh mới quát chúng tôi:

– Các anh đứng thế này làm sao “người ta” đếm được? Chúng tôi nhìn nhau, tự hỏi: “Sao lại không đếm được nhỉ”? Chúng tôi đứng lại cho ngay ngắn, thẳng hàng, thẳng lối nhưng anh vệ binh vẫn không chịu.

Thấy chúng tôi chưa hiểu, anh vệ binh nói:

– Các anh sắp hàng như cũ, tôi chỉ việc đếm: 5 – 10 – 15 – 20 là xong. Hôm nay các anh đứng kiểu này, tôi không đếm được. À, hóa ra thằng em này chắc chưa được học cửu chương cho nên không biết nhân! 4 nhân với mấy, thành mấy, thì khó thật, không đếm được là phải!

Quả nhiên, khi chúng tôi đổi đội hình thành hàng 5 thì ông ấy lấy lại tinh thần: 5 – 10 – 15 anh này đi theo đồng chí Khánh bên kia, đi trồng ngô. Còn 5 – 10 – 15 anh này, theo tôi ra rẫy, đốt cỏ. Số còn lại, đi kiếm củi về cho trại. (Là kiếm củi về cho trại của cán bộ đấy!) Lại một thí dụ nữa về kiến thức Toán của Đỉnh cao trí tuệ!

Tất cả những người chúng tôi còn lại đều buồn chán, mất tinh thần vì biết rằng trước sau gì thì cũng sẽ có những đợt “biên chế” khác. Chúng tôi đã cố gắng “lao động tốt” để chứng tỏ “học tập tốt” nhưng đây thực ra không nằm trong “quan tâm” của “Đảng và Nhà Nước”. Họ chỉ cốt giam tù chúng tôi càng lâu càng tốt, có khi nhờ “Mẹ thiên nhiên” giết chúng tôi qua những đày đọa thân xác, khủng bố tinh thần, thiếu thốn mọi thứ về vật chất. Những thằng tù sẽ phải chết dần chết mòn trong các trại cải tạo, thế thôi! (Cái này thì nhà nước ta bắt chước Ông Trung Quốc y hệt, có những người bị giam từ thời Mao Trạch Đông (1949) cho tới nay (1977) vẫn chưa được thả!!!)

Chúng tôi kể ra cũng vẫn là con người, vẫn còn tinh thần “tham sinh, úy tử”. Dù phải ở trong hoàn cảnh bị đày đọa đến đâu, cũng vẫn tranh đấu dành mạng sống, bám vào định mệnh mà vượt qua.

Chúng tôi đã sống, được giáo dục bởi nền văn minh nhân bản tại Miền Nam VN vỏn vẹn hai mươi năm mà chúng tôi đã chứng kiến Miền Nam phát triển ngang hàng với những đất nước văn minh tân tiến khác.

Bây giờ, chỉ trải qua hai năm trong cái xã hội lạc hậu này mà cả nước như bị kéo lùi về 50 năm trước. Chúng tôi đều cảm thấy tiếc là ngày xưa, chính quyền của nền Cộng Hòa Miền Nam không chủ trương dạy chúng tôi hận thù cộng sản Miền Bắc. Chúng tôi chỉ nghe theo tiếng gọi của chính nghĩa, cố theo đuổi cuộc chiến tự vệ, bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ (của Miền Nam VN) và nền hòa bình của toàn vùng Đông Nam Á. Nghĩa cử cao đẹp, quân tử như vậy mà cứ bị chà đạp, nói xấu, bóp méo, theo luận điệu tuyên truyền ra rả hàng ngày ở ngoài Bắc. Họ chỉ đổ tội cho rằng chính quyền Miền Nam VN là “chính phủ bù nhìn”, làm “tay sai cho đế quốc”, người Miền Nam có tội với nhân dân, với tổ quốc, v…v…

Người cộng sản tự bào chữa cho mình bằng một phương châm ngụy biện “cứu cánh biện minh cho phương tiện”. Có cần phải thực hiện biện pháp đê tiện nào nhằm đưa đến kết quả sau cùng cho họ – thì họ không ngần ngại.

Số anh em nửa trại còn lại của chúng tôi càng sống gần gũi nhau hơn. Có gì cũng chia sẻ với nhau. Đó cũng là một cách an ủi lẫn nhau.

Trại có vẻ cũng cảm nhận được điều này. Họ biết rằng họ không thể “nuôi” nổi chúng tôi. Muốn giam giữ chúng tôi thì cũng phải cho chúng tôi ăn uống chứ? Để người ta đói quá thì – hoặc người ta không nghe lệnh nữa, hoặc có khi tệ hại hơn – những người tù này sẽ làm loạn. Vì thế, có lẽ để cứu vãn tình hình, họ đã xin “trên” để chúng tôi lại được thăm nuôi.

Đợt thăm nuôi này, họ cho chúng tôi thời gian ngồi với thân nhân nhiều hơn. Cán bộ cũng không ngồi giữa người tù và thân nhân của chúng tôi như trước. Những câu chuyện trao đổi trong các buổi thăm nuôi đều chất chứa những than thở, nuối tiếc về cuộc sống cũ.

Các bà kể về những nỗi nhọc nhằn lay lắt kiếm sống để nuôi con cái. Lẽ sống hàng ngày chỉ đặt trên căn bản của tờ “hộ khẩu”. Hộ khẩu có bao nhiêu người thì được hưởng tiêu chuẩn gạo, vải vóc, đường, sữa, mỡ, v…v…theo con số đó. Người nào không có tên trong hộ khẩu thì dĩ nhiên không có một chút quyền lợi nào. Các con tôi phải thức dậy từ sáng sớm, đứng xếp hàng thay cho mẹ cho đến lúc tổ phát bánh mì, hoặc đường, sữa, gạo, v…v… Các em tôi không được lên đại học vì hồ sơ lý lịch, có bố là Ngụy quân (đã giải ngũ cũng vẫn tính), anh cũng là Ngụy quân, lại còn đang đi cải tạo!

Phụ nữ sống tại các phường cũng phải tham gia các buổi hội thảo buổi tối để “quán triệt” đường lối của nhà nước!

Nghe các chuyện kể từ gia đình, vợ con, tai chúng tôi đều lùng bùng, không thể tin nổi là vẫn cái Sài Gòn chúng tôi quen sống – không những đã bị đổi tên, bây giờ lại xấu xa, đê tiện, hèn mọn như vậy.

Rất nhiều gia đình trước đây đi xe hơi, bây giờ phải tuột xuống, làm bộ đi xe lam, xe đò, xe đạp. Trước đây “ăn trắng mặc trơn” bây giờ phải giở đủ các mánh qua mặt công an, xắn quần xắn áo, đi buôn lậu từ thịt heo, đến gạo, đến thuốc tây, v…v… Căn nhà riêng, người ta đã phải đổ bao nhiêu mồ hôi nước mắt ra xây dựng, bây giờ trở thành của công, phải cho các anh “bộ đội của nhân dân” đến ở chung. Các anh chàng này giở đủ mánh mung hèn mọn, lợi dụng hoặc ăn hiếp chủ nhà.

Nghe các câu chuyện kể mà tôi nhớ lại bộ phim Doctor Zhivago, một phim dựng lại theo cuốn tiểu thuyết vĩ đại của văn hào Boris Pasternak viết tại Nga và được xuất bản tại Ý năm 1957 (đã từng bị chính quyền Xô Viết cấm lưu hành cả chục năm), dựng thành phim năm 1965. Một người thuộc giới quý tộc, giàu có, thành công như ông bác sĩ Zhivago (trong phim) đã từng phải đi ăn cắp gỗ hàng rào của hàng xóm đem về đốt lò sưởi. Tôi đã xem bộ phim nhiều lần, lần nào cũng xót thương cho mối tình của Yuri Andreyevich Zhivago và nàng “Lara” Antipova. Nhạc phim cũng phải nói là quá hay, thêm nỗi sầu thảm cho câu chuyện. Dĩ nhiên xem lần nào tôi cũng vẫn sụt sùi nước mắt (cái tội đa sầu, đa cảm!). Căn nhà của Zhivago cũng đã bị chia thành nhiều “hộ” cho người khác đến cùng ở!

Nhắc đến cái tội đa sầu, đa cảm của tôi, mới nhớ lại, cũng chính nhờ cái “tội” này mà tôi và “người yêu bé bỏng” của tôi mới “mê” nhau tận tình! Cũng chỉ mới tập tễnh đánh được vài hợp âm chính của tông Đô, tôi đến nhà cô nàng, cứ với tay mượn cây đàn của người anh trong nhà, vừa đàn, vừa hát những bài hát (dễ dễ) của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, hoặc là bài Một Mùa Đông, lời 2 của ông Lưu Trọng Lư. Thế mà “ông tơ bà nguyệt” cũng ghé mắt xuống chúng tôi. Xin trích ra đây bài thơ Một Mùa Đông, lời 2, của thi sĩ Lưu Trọng Lư:

Tặng D.C.

Em là gái trong khung cửa,
Anh là mây bốn phương trời;
Anh theo cánh gió chơi vơi,
Em vẫn nằm trong nhung lụa.

Em chỉ là người em gái thôi,
Người em sầu mộng của muôn đời,
Tình em như tuyết giăng đầu núi,
Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời.

Ai bảo em là giai nhân
Cho đời anh đau khổ?
Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
Cho vướng víu nợ thi nhân?

Ai bảo em là giai nhân
Cho lệ tràn đêm xuân?
Cho tình tràn trước ngõ?
Cho mộng tràn gối chăn?

Trong bài thơ cùng tựa đề của thi sĩ Lưu Trọng Lư, lời 1, có hai câu:

Nhìn nhau mà lệ ứa,

Mỗi ngày một cách xa…

Không biết có phải vì cái tội đa sầu, đa cảm của tôi mà bài thơ này đã bám vào “mệnh” của tôi. Tôi đã từng trải qua giây phút chia tay với vợ tôi, “nhìn nhau mà lệ ứa”. Bây giờ đã quá xa, hai năm trôi qua, không biết có ngày về hay không?

Phải trở lại thực tế: Tôi thú nhận là có những từ ngữ mới mà “bên thắng cuộc” cố tình sử dụng như một hình thức giới thiệu văn minh/văn hóa mới của Xã Hội Chủ Nghĩa – mà cho đến bây giờ, tôi vẫn chưa thể quen được. Thí dụ nhá: Quán triệt – Hộ khẩu – Căn hộ – Biên chế – Giao lưu – Sự Cố – v…v… Khi nghe các bà kể lể tâm tình, chúng tôi cũng thông cảm là các bà, các chị, không thể quen với chữ “Nắm” mà các cán bộ hay dùng mỗi khi xuống họp tổ: Tôi đưa một số mục đích, yêu cầu cho các chị “nắm”… Các bà đỏ mặt!

Năm nay, hình như cả nước đều hiếm gạo. Các con tôi phải sắp hàng từ sáng sớm để được nhận lãnh bánh mì cho gia đình. Cũng trong đợt này, trại kêu anh em chúng tôi lên đong bột mì, thay vì lãnh gạo như trước. Trại đã hết gạo và mới nhận được bột mì từ Liên Xô.

Bột mì mới về, chưa ai nghĩ được cách biến chế thế nào để nuốt cho trôi. Các “anh nuôi” ở trong bếp chỉ có thể nhồi bột, cán mỏng, lấy cái lon sữa bò cắt thành những cái bánh tròn, rồi thả vào chảo luộc! (Tiêu chuẩn chung: Mỗi em hai cái bánh luộc cho buổi trưa và ba cái bánh luộc vào buổi chiều!)

Bánh mì luộc ăn với rau lang luộc thì nuốt được thế nào hả trời? Không những như vậy mà (việc này xin lỗi độc giả) “nhà xí công cộng” đầy máu tươi vì nhiều anh em bị đau bao tử, hoặc bị bệnh trĩ. Bánh bột mì luộc trở thành quá nóng, ruột gan không tiêu thụ nổi, nạo đầy máu trong ruột và tống ra ngoài.

Vài ngày sau, một người có sáng kiến lấy đất sét, đắp thành lò nướng bánh mì. Từ đó trở đi, chúng tôi đã có bánh mì mới ra lò, nóng hổi, thơm, ngon, dù ăn bánh mì chấm với muối mè!

Cuộc sống thân mật đầm ấm với nhau của chúng tôi trong trại cứ thế mà kéo dài. Cho tới nay, đã hơn hai năm. Cũng nhờ được thăm nuôi, tiếp tế mà anh em tươi tỉnh, tươm tất hơn. Vẫn biết rằng, khi đưa quà cáp lên trại cho chồng con thì thực ra, ở nhà, gia đình của người tù đã phải “bóp mồm, bóp miệng” nhín bớt mà đưa lên nuôi nấng nhau.

Tôi vẫn tiếp tục học thêm những kiến thức lỉnh kỉnh, những kỹ thuật mưu sinh thoát hiểm, cộng thêm học đàn, học nhạc.

Một buổi tối cảm thấy nhớ nhà quá đỗi. Tôi hồi tưởng lại những kỷ niệm khi đưa cô bạn gái – bây giờ là vợ tôi – đi lễ Nhà Thờ Đức Bà Sài Gòn. Khi đó tôi chưa hiểu nhiều về Thiên Chúa Giáo, nhưng để chiều người đẹp, cũng chịu khó vào nhà thờ quỳ với nàng.

Tôi ngồi ngay dậy, loay hoay soạn nhạc và lời cho bài hát tôi đang nhen nhúm trong lòng. Bài này sẽ nhắc nhớ lại các kỷ niệm của đêm Noel năm đó, lúc tình chưa đến hồi kết cuộc (tức là kết hôn đấy!). Trong lúc hồn phơi phới dạt dào ý tưởng, chỉ trong 20 phút, tôi đã làm xong bài hát này.

Sau đây là lời của bài hát “Đêm Lạnh Cô Đơn”

Đêm nay, sương rơi nghe lạnh quá,

Chân em cô đơn trên đường xa,

Đi lễ Noel, ôi đêm Thần Thánh.

Người ta tưng bừng, riêng em xót xa.

Em nhớ mùa Noel năm nào,

Quỳ bên hang đá, đêm nhiệm màu.

Cùng nhau, ta sẽ luôn nguyện ước:

Muôn đời, muôn kiếp, mình yêu nhau.

Đêm nay, cô đơn, em quỳ bên giáo đường,

Em thầm khấn nguyện Chúa tình thương

Ban nhiều ơn phước, an bình Chúa,

Chúc lành cho người em mến thương.

Làm xong bài hát, lệ tôi cứ thế mà tuôn rơi. Anh em nằm gần bên cũng phải mủi lòng nhưng không biết nên nói gì vào lúc này. Tâm trạng ai cũng bi đát như nhau!

Ông Trời ơi, anh em chúng tôi có làm gì nên tội mà giờ này tình nghĩa vợ chồng, gia đình chúng tôi bị chia cách. Tự nhiên chúng tôi bị rớt xuống cái vực thẳm không đáy. Bọn người vô học, vô nhân đứng trên miệng vực thẳm đó, cười hô hố, đắc thắng.

Đúng ra, ở các quốc gia văn minh, nhân bản, một công dân vẫn được coi là vô tội, cho đến khi bị đưa ra tòa, bị luận tội, bị tuyên án – thì mới bị coi là thành phần tội phạm. Ở đây, chúng tôi chưa hề bao giờ bị đưa ra tòa, chưa bao giờ bị luận tôi, mà đã bị tù, đã bị coi là các tội phạm, có tội với nhân dân!

Nói vậy chứ giá có bị đưa ra tòa ở cái xứ (XHCN) Xếp Hàng Cả Ngày này, có bị đưa ra xét xử, bị luận tội bởi các ông các bà cán bộ cộng sản rặt, bản án đã được ấn định sẵn, ông quan tòa chỉ đóng vai bù nhìn, thi hành, tuyên bố lệnh phạt tù – thì chúng tôi cũng vẫn bị đi tù thôi! Nghĩ đến thân phận của riêng tôi, tôi cảm thấy uất ức quá, tủi thân quá. Chúng nó chọn cái quyền đánh người mà không sợ bị coi là vi phạm nhân quyền! Nghĩ đế đây, âu cũng là Cái Tội Đa Sầu Đa Cảm!

(Còn tiếp)

Kỳ 1 Kỳ 2 Kỳ 3 Kỳ 4 Kỳ 5

Bài Mới Nhất
Search