Nguyễn Kỳ Dzương: NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (7)

Phần Bảy: “Trùng Trùng Xa Cách” (1)

Việc gì đến thì vẫn phải đến. Nó cũng là một phần của định mệnh mà! Cũng khoảng hai giờ sáng, những thân thể mỏi mệt, rã rời đang say thiếp trong giấc ngủ nặng nhọc – thì cũng những tiếng lộc cộc vang lên trong loa”. “Tất cả thức dậy, chuẩn bị cơm nắm, thu dọn tất cả đồ đạc riêng tư để chuẩn bị chuyển trại”.

Chúng tôi bàng hoàng, mặc dù biết chuyện này trước sau gì cũng sẽ xảy ra. Mọi người nói với nhau trong sự vội vã: “Nếu được đọc tên cùng một danh sách thì phải tìm cách đứng gần nhau, cố leo lên cùng một xe để đến chỗ mới còn có nhau”.

Cũng như lần trước, bị đánh thức dậy lúc hai giờ sáng, khi vơ vét những đồ đạc lỉnh kỉnh, mặc dù không có một chút giá trị gì ngoài đời, vẫn bị giằng co: Vứt lại hay mang theo đây? Hôm nay cũng vậy, mang theo thì nhiều quá, nặng quá, mà bỏ lại thì sợ rằng đến chỗ mới không có cái mà dùng.

Có cái mơ tưởng là biết đâu, lần này được thả về – cũng là một nỗi hoang mang!

Ở trong này chúng tôi mất hết ý niệm về thời gian – trời vẫn sáng rồi vẫn tối. Ngoại trừ ngày Chúa Nhật, chỉ phải làm nửa chỉ tiêu, thì còn biết là bước sang tuần mới. Lần trước, các anh em bị chuyển trại, không nhớ bao lâu rồi nhưng lần này thì khác:

Cán bộ đọc tên đến đâu thì người đó được ra lệnh là kéo lôi thôi lốc thốc những đồ vật cá nhân, đi bộ ra phía cổng trại, không được nhìn lại. Ra khỏi cổng trại, chúng tôi bị lùa lên xe. Lần này không biết ai đi, ai ở lại trại. Lần chuyển trại này, tôi không còn có Thái để nhỏ to bàn với nhau phải ngồi đâu trên xe. Các xe bộ đội chở chúng tôi đi lần này là những xe “đề-ca-pô-táp”, không có bạt mui, không có bạt sau xe, không bít bùng. Xe trống tuênh toang, chỉ còn mấy cái cọng sắt gắn sẵn trên xe. Ba mươi lăm người chúng tôi cũng ngồi trên sàn xe. Tôi ngồi trên cùng, dựa lưng vào thành xe để may ra thì nhắm mắt được vài phút trên đường đi. Lần này, chúng tôi không còn phải định hướng xem họ chở mình đi đâu. Một phần thì chả cần biết là mình sẽ bị chở đi đâu, đâu cũng chỉ là đi tù, một phần thì xe trống tuếch, nhìn sơ ra ngoài là biết mình đang đi đâu. Hôm đó, chúng tôi bị đưa từ Long Khánh đi Phước Long. Trời tối quá và cũng mệt mỏi chán chường quá, không còn tâm trí nào mà xem trên xe mình có những đứa bạn nào.

Xe khởi hành lúc 5 giờ sáng ở Long Khánh. Trên đường vào Phước Long, bụi cuốn vào xe mù mịt. Chuyện không đơn giản như vậy. Càng vào sâu khu vực sẽ giam chúng tôi thì xe vất vả, quanh co theo con đường mòn, chỉ vừa cho xe vận tải đi lọt. Chúng tôi phải phụ giúp đẩy những chùm “lồ ô” đan vào nhau phía trên mui xe thì xe mới có thể nhích lên trước được một chút. Chưa gì mà đã bị hành hạ thế này rồi, không biết vào đến nơi còn đón nhận những hình phạt nào khác nữa. Các cành tre lồ ô đâu có nhẹ. Chúng dài hàng chục thước, to và nặng. Theo ngày tháng, qua hàng triệu cơn gió, chúng lớn lên và đan vào nhau. Trời chưa sáng hẳn nên chúng tôi chưa thấy quang cảnh mà chúng tôi đi qua, chỉ biết có mỗi một điều là khu rừng lồ ô này hình như chưa được khai phá, có vẻ còn đang trong tình trạng hoang sơ, thậm chí còn có vẻ chưa có bước chân người đi vào. Phước Long, Bà Rá vẫn là nơi bị coi là “rừng thiêng nước độc”, ngày xưa bị Pháp dùng làm nơi giam giữ người Việt. Bây giờ thì nhà nước ta cũng dùng để giam người Việt!

(Đoạn văn này được đặt tên là “Trùng Trùng Xa Cách”, không phải lỗi typo đâu, không được đặt là “Nghìn Trùng Xa Cách” theo một bài hát trữ tình của ông Phạm Duy – viết năm 1968 khi người yêu Alice của ông lên xe bông đi lấy chồng – mà chữ “trùng trùng” ở đây ám chỉ núi Bà Rá cùng những cánh rừng bạt ngàn đã chia cách chúng tôi với cuộc đời bên ngoài!)

Cuối cùng, nhờ chúng tôi vật lộn với những cành lồ ô lúc còn trên xe, xe đã đến được địa điểm. Chúng tôi không dám tin vào mắt mình. Chẳng lẽ đây là nơi chúng tôi sẽ “học tập”? Khu rừng hoàn toàn hoang sơ, cây cối và lồ ô sống chen chúc với nhau. Nhìn quanh, chúng tôi không thấy một khoảng đất trống nào. Chỗ nào cũng là cây, là rừng, là lồ ô! Người cán bộ vẫn còn sức để hò hét chúng tôi:

– Các anh mau chóng ổn định, sáng mai chúng ta sẽ vào làm công tác phát rừng, dựng trại!

Danh cho những quý độc giả chưa hình dung ra được nãy giờ tôi nói về cây “lồ ô”: Đây là một loại tre, thân mộc, trong bụng rỗng, có nhiều mắt hay còn gọi là “đốt tre”. Rừng Việt Nam chúng ta có nhiều loại tre (đường kính) to nhỏ khác nhau và được đặt tên khác nhau. Cây thì gọi là tre, cây thì lại gọi là trúc, giang, nứa. Ở rừng này thì nó được gọi là Lồ Ô. Trong khoa học, các loại thuộc họ tre này được mang cái tên chung là Bambuseae.

Lồ ô có lóng dài hơn tre, cùi dầy, đường kính nhỏ hơn tre, cũng sống thành quần thể nhưng không có gai. Sau này, cây lồ ô giúp chúng tôi rất nhiều việc.

Cũng nhờ trại Long Khánh đã phát cho chúng tôi miếng vải võng mùa đông vừa rồi, chúng tôi tìm hai cây gần nhau, móc dây võng vào đấy, dành chỗ ngủ cho mình đêm nay.

Việc thứ nhì là mọi người chia nhau ra đi quanh “chỗ ở” xem có cái suối, cái hồ nào để đi lấy nước về sống tạm qua đêm. Tôi tìm thấy một vũng nước, không xa chỗ tôi mắc võng lắm. Chỉ một điều là vũng nước này đầy những con nòng nọc. Nước thì có màu xanh lờ lờ. Tôi lấy cái ca tôn khoắng mấy cái, nòng nọc lặn xuống hết, lấy phần nước bên trên, đem về nhóm củi nấu. Khi nước đang sủi bọt tăm thì cũng là lúc những màng nâu nâu kết tủa, nổi lềnh bềnh trên mặt. Lại một phen vớt, gạn, lọc. Cuối cùng thì nước cũng sôi, màu nước vẫn lờ lờ đục nhưng ít ra tôi biết rằng nước đã được sát trùng! Đấy là ngày đầu tiên được “học tập” trong cái môi trường thiên nhiên thứ thiệt!

Lúc này, mặt trời đã lên cao, chúng tôi lấy lại tinh thần, ngao ngán nhìn quanh. Nơi chúng tôi sẽ được lệnh “lập trại” nằm lưng chừng một quả đồi, không cao lắm. Không có một khoảng đất trống nào đủ lớn để dựng một cái nhà. Toàn là cây cối mọc hoang, chen lẫn với hàng triệu cây lồ ô. Bất ngờ, có một anh bạn cho biết là đi xuống chân đồi, độ chừng 300 thước thì sẽ gặp một con suối nhỏ. Như vậy cũng tạm yên trí.

Chúng tôi vừa gặm nhấm nắm cơm mang đi từ Long Khánh, vừa đi rảo quanh xem những ai quen. Bây giờ trời đã sáng rõ, mới biết là rất nhiều bạn từ những trại cải tạo khác cũng được chở đến đây, pha trộn với chúng tôi. Tuyệt nhiên không gặp một anh giáo chức biệt phái ở gian nhà bên cạnh chúng tôi ở Long Khánh đến đây. Có lẽ họ vẫn được ở lại trại cũ.

Cuối cùng, tôi tìm được anh Mai Quang Tuyến và Nguyễn Văn Uyển. Chúng tôi lếch thếch dọn đồ đạc đến gần nhau, căng võng nằm chờ tối. Tuy gặp bạn cũ, ai cũng mừng thầm nhưng không ai muốn nói gì vào lúc này.

Trời trong rừng già này sập tối nhanh chóng. Bây giờ tôi mới để ý là suốt cả ngày hôm nay, chúng tôi chưa nghe thấy tiếng “chim kêu, vượn hú” như trong các chuyện đường rừng đã đọc qua. Rừng này hình như không có cây ăn trái nên không có con gì về đây kiếm ăn.

Nằm trên võng, lơ mơ một lúc thì tôi cũng thiếp đi. Hình như con muỗi cũng không có? Cả đêm không thấy ai phải đập muỗi cả!

Sáng sớm thì mọi người đều lục tục kéo nhau dậy. Nhiều anh chịu khó theo nhau xuống suối ở dưới chân đồi để làm vệ sinh. Ba anh em chúng tôi, anh Tuyến, Uyển và tôi lui cui đánh lửa, nhóm bếp để nấu nước uống.

Lúc trở về, các bạn cho biết là con suối ở dưới rất nhỏ và rất ít nước, có lẽ bị thân cây mục, lá rừng, cùng các loại rác rến khác ở trên thượng nguồn đã ngăn nước xuống dưới này. Tin không được “hồ hởi” cho lắm.

Một điều nữa tôi phải nói ngay ở đây là lúc này trời vừa rạng sáng, trong rừng như thế này mà cũng không hề có tiếng kêu của loài vật gì. Không chim, không vượn, dĩ nhiên không có tiếng gà gáy.

Không biết đêm qua, các vệ binh và cán bộ ở đâu mà sáng nay họ cũng đã xuất hiện. Họ kêu một số anh em chúng tôi đi theo họ để lãnh gạo, muối, cá khô cùng rất nhiều cuốc, xẻng, dao rựa. Họ bảo chúng tôi “khẩn trương” phạt bằng khu đất, chặt cây rừng và lồ ô về dựng “lán” để ở.

Việc đầu tiên chúng tôi cũng phải làm là lo cho cái bao tử trước. Một số anh em phụ nhau đắp đất làm thành bếp. Chúng tôi chia nhau đi tìm củi về để các anh nấu bữa cơm đầu tiên ở trại mới. Cũng nhờ thời gian ở Long Khánh, chúng tôi được gia đình tiếp tế nên cũng có chút thức ăn dùng với bữa cơm đạm bạc đầu tiên với nhau.

Lúc này, ba anh em chúng tôi mới hoàn hồn vì biết rằng ít ra mình cũng còn có nhau. Nhìn xung quanh, chỉ thấy toàn những khuôn mặt mới lạ. Hình như nhà nước cố tình pha trộn các xe với nhau trong khi di chuyển, người của trại này pha với người của trại khác? Cả trăm người bạn đã từng sống với nhau hơn 2 năm ở Long Khánh, bây giờ không thấy ai. Bác sĩ Thùy, Bích “kiến càng”, Hải (tóc quăn), Hải (nhạc sĩ), anh Ninh Thế Đồng, và nhiều bạn khác không thấy đâu.

Đến giờ lãnh cơm, chúng tôi chào hỏi và làm quen nhau. Cùng cảnh ngộ cho nên cũng dễ thông cảm. Có anh ở Long Giao đến, có anh từ Trảng Bom về, có nhiều anh từ trại Suối Máu, v…v…

Cơm xong, tôi rủ anh Tuyến đi ra chỗ vũng nước tôi đi múc sáng sớm hôm qua đem về nấu xong đánh răng. Quái lạ, sáng nay, hoàn toàn không có con nòng nọc nào. Nhìn quanh cũng không có dấu vết của con ếch hay con cóc nào. Anh Tuyến bảo tôi “hay là cậu nằm mơ”? Thật tình mà, rõ ràng hôm qua, nước đục lờ lờ, đầy nòng nọc bơi lội trong đó. Hay đó là ảo tưởng của tôi thật? Những màng nước sóng sánh gây nên cái ảo giác là vô số nòng nọc bơi trong đó? Nhưng cũng nhờ công khám phá của tôi, sau này, anh em đào sâu thêm và rộng ra, nó trở thành một cái giếng nước trong. Thực ra thì nửa hồ, nửa giếng. Nó không sâu để được gọi là giếng. Nó cũng hơi rộng, trông như cái hồ nước nhỏ. Múc nước đến đâu, nó ra đến đó, đầy lên như cũ. Không thể ngờ được vì không ai tin trên sườn đồi cao như thế này mà lại có mạch nước ngầm. Âu cũng là trời sanh, trời dưỡng!

Một số cán bộ lại hiện ra giữa chúng tôi. Họ cũng ra lệnh cho chúng tôi lập thành đội, thành tổ và dĩ nhiên thành những đơn vị “bếp” khác nhau. Họ kéo mỗi đơn vị đi một chỗ khác, xa nhau một chút để thành lập những trại riêng. Chúng tôi mới làm quen nhau xong thì lại phải chia tay. Gọi là đi chỗ khác, nhưng thật ra cũng không xa nhau lắm. Cánh rừng này quá lớn, quá rậm rạp, khiến chúng tôi có cảm tưởng là đã “nghìn trùng xa cách”!

Đội của chúng tôi bắt đầu ngay vào công việc dựng trại. Một số anh em đi xuống phía suối, tìm mấy phiến đá để mài dao cho sắc để chuẩn bị đi chặt cây về làm nhà.

Chúng tôi có ba anh em, bảo nhau làm việc nên các anh bạn mới, tưởng tôi là tổ trưởng, đến hỏi tôi muốn họ làm gì. Tôi cũng nhận bừa chức vụ, bảo họ phát quang khu vực để lấy chỗ chuẩn bị dựng “lán”. Từ nhỏ đến lớn, tôi chưa bao giờ nghe thấy chữ “lán” nhưng khi nghe các cán bộ nói, tôi cũng hình dung được đó là cái gì.

Chỉ trong một ngày, chúng tôi đã phát quang được một khoảng trống đủ để dựng một cái lán cho hai mươi người ở. Ngày hôm sau, chúng tôi bắt đầu chặt lồ ô xuống xếp thành một đống, chặt những cây mộc tương đối thẳng để chuẩn bị dựng cột nhà.

Tôi phác họa căn nhà, bắt đầu lấy dây rừng căng làm chuẩn cho nền nhà. Một số anh em khỏe được phân công tác ban nền nhà cho tương đối bằng phẳng. Cứ vài người cuốc đất thì vài người khác kéo đất xuống phía dưới, be lại thành bờ cho nền nhà tương lai.

Tôi phác họa vị trí và kích thước cho căn nhà. Tôi dự trù căn nhà sẽ rộng khoảng 5 thước, dài khoảng 20 thước. Sẽ có hai phản ngủ theo chiều dài của căn nhà, mỗi phản rộng 2 mét để vừa đủ đầu, đuôi lẫn túi đồ đạc riêng tư. Ở giữa sẽ chừa một lối đi rộng một thước. Cái mái nhà là việc làm khó nhất. Tôi áp dụng định lý “pythagore”: “Bình phương cạnh huyền bằng tổng số bình phương hai cạnh góc vuông”. Cạnh huyền tôi muốn nói ở đây là chiều dốc một bên của mái nhà. Từ đỉnh mái nhà xuống đến xà ngang, từ đó kéo ra sườn nhà là hai cạnh góc vuông. Tôi cho khoan lỗ vào những cây lồ ô được chọn để làm sườn mái, ráp vào cột nhà, sẽ thành mái nhà. Trật lất! Máy tính thì không có, từ số bình phương, chia ra để lấy “căn” bằng tay không chính xác. Lỗ khoan đầu tiên không đúng vào lỗ khoan trên cột nhà! Quê quá chừng!

Từ đó trở đi, chúng tôi dựng cột nhà xong, leo lên mái, từ đỉnh, thả cây lồ ô xuống, đến đâu mới khoan đến đó. Rồi cũng xong. Chúng tôi đã dựng được cái “lán” đầu tiên. Một số anh em được phân công tiếp tục đi chặt cây, chặt lồ ô về để sẵn. Một số bắt tay vào đan lát làm thành những tấm phên che chung quanh nhà. Một số khác cũng dùng cây và lồ ô để làm phản ngủ.

Mô tả công việc đã xong thì nghe cũng dễ và cũng nhanh chóng nhưng thật ra, công việc mất nhiều công sức và thì giờ lắm. Tốn rất nhiều mồ hôi và máu của những tai nạn trong rừng.

Khi khung cảnh trở nên quang đãng thì chúng tôi mới có thể phóng tầm mắt nhìn ra xa, qua các ngọn đồi chung quanh, mới thấy rằng khu rừng hãy còn bạt ngàn. Không biết với sức lực và dụng cụ thô sơ, hạn hẹp như hiện tại thì chúng tôi có thể khai quang đến đâu.

Một ông cán bộ đến thanh tra trại. Ông tỏ ra rất hài lòng vì “tiến độ” của công việc. Ông lập lại lời của “bác” cho chúng tôi nghe: “Có sức người, sỏi đá cũng thành cơm (sic)” Ông nói chúng tôi cứ tiếp tục công việc tạo dựng chỗ ăn, chỗ ở rồi “Trên” sẽ có tưởng thưởng!

Thức ăn thăm nuôi cũng vơi dần. Trong rừng này chúng tôi vẫn chưa thấy có con gì “nhúc nhích” để có thể săn bắt chúng làm thịt ăn để “cải thiện” được. Chỉ có con vắt ở dưới chân đồi, nơi lá mục ẩm ướt quanh năm, gần suối, là nhiều nhất. Chúng ngửi thấy hơi người, ngóc đầu lên le ngoe xong là chúng “búng” thật nhanh đến phía chúng tôi. Anh nào không đề phòng, hoặc sợ quá, không biết làm gì thì thế nào cũng bị chúng bám vào người, hút no nê máu, từ lúc nhỏ như cọng tăm, đến lúc rớt ra khỏi người nạn nhân thì đã to bằng cọng đũa!

Chúng tôi bắt đầu lục tục dọn vào “nhà” mới. Dự trù lúc đầu của tôi thế mà rất chính xác. Chiều ngang của cái phản đủ rộng để một người năm thoải mái, trên đầu còn đủ chỗ để cái bao tải đựng đồ đạc riêng tư. Hai mươi anh em chúng tôi giờ đã biết tên nhau, sinh hoạt vui vẻ. Cuộc sống như thế rồi cũng quen. Có giếng nước gần chỗ ở, có con suối ở dưới chân đồi để tắm giặt. Nhìn qua những gian gần chúng tôi, họ cũng gần xong, cũng chuẩn bị dọn vào. Con đường đi xuống suối giờ này đã thành con đường mòn. Chúng tôi phải hô hào nhau cuốc thành bực thang, gánh nước về không sợ trơn trượt.

Càng ngày chúng tôi càng phải đi xa trại để kiếm cây, chặt lồ ô và tìm cỏ tranh về xây dựng lán tiếp. Cán bộ thấy chúng tôi thích nghi với cuộc sống nhanh chóng cũng có vẻ hài lòng. Tuy vậy, cũng vì thấy chúng tôi có nhiều khả năng, họ bóc lột công sức của chúng tôi thêm bằng cách bắt chúng tôi thay phiên nhau lên xây lán cho họ ở. Họ đã có làm được một hai cái lán nhưng có vẻ chưa hoàn tất. Tất cả những cái lán chúng tôi làm bên trại của chúng tôi đều được lợp bằng cỏ tranh nhưng hãy còn lưa thưa và có vẻ rất tạm bợ. Mái của những cái lán của cán bộ được lợp bằng một loại lá rất lạ, phẳng lỳ, trông đẹp mắt. Thấy chúng tôi trầm trồ khen nên một anh vệ binh hứa ngày mai sẽ đưa chúng tôi đến khu rừng có loại lá này, hái đem về lợp. Lá đó có cái tên rất hay: Lá Trung Quân. Họ chỉ chúng tôi hái. Đem về phơi khô xong gấp làm hai, dùng một thanh tre làm hom, xỏ qua và lấy một que tăm cài lá lại.

Thế là chúng tôi phát động một đợt chẻ tre làm tăm cho đội. Anh nào “chân yếu tay mềm” thì được ở nhà lo công việc cưa lồ ô thành những khúc ngắn và chẻ thành tăm. Chúng tôi vẫn tiếp tục đi xa khám phá thêm khu vực xung quanh. Sau cùng, chúng tôi cũng phụ nhau lợp mái cho những lán mới bằng là Trung Quân này, trông đẹp mắt hơn nhiều.

Một hôm, nhóm chúng tôi đi ngang qua một vũng nước lớn, trông có vẻ như một hố bom. Đường kính của hố bom này rộng khoảng hơn chục thước, sâu khoảng 3 thước. Chúng tôi thấy có cái gì đụng đậy dưới đó. Hai anh chạy về nhà lấy hai cái gầu nước để lát nữa thay phiên nhau tát nước. Chúng tôi thay phiên nhau, múc nước ở dưới hố, chạy theo triền dốc của cái hố, lên trên bờ, đổ nước ra ngoài. Chạy được một lúc như vậy rồi anh nào cũng mệt bở hơi tai, tuy vậy không ai muốn đầu hàng! Chừng hai tiếng sau, chúng tôi bắt được một con cá trê nhỏ bằng nửa bàn tay, một con rắn nước, và một con ếch. Không ai có thể giải thích được là làm thế nào mà ba con vật này hiện hữu ở đây, sống với nhau và chúng đã sống như thế này bao lâu rồi?

Dù sao, hôm ấy chúng tôi cũng có một bữa cơm “thịnh soạn”. Ngoài những con vắt hung dữ, đây là những con vật “có thịt” đầu tiên chúng tôi bắt gặp trong khu rừng này.

Đêm hôm đó, tôi có một giấc ngủ yên bình và một giấc mơ đẹp! Tôi mơ thấy những ngày sau đó, tôi đều bắt được những con vật có thể ăn thịt được. (Xin lỗi Thầy Minh Tuệ)*

Lại phải tỉnh giấc để trở về với thực tại. Càng ngày, chúng tôi càng phải đi xa hơn. Phần thì những thân cây mộc gần chỗ ở thì chỉ còn những thân cong queo, chỉ có thể dùng làm củi. Phần thì phải đi đến các trảng tranh, vốn là những cánh rừng khô, chết, bây giờ cỏ tranh mọc tràn lan. Nhu cầu xây dựng lán nhiều hơn thì nhu cầu đi lấy cỏ tranh cũng nhiều hơn. Cái hay của việc đi lấy cỏ tranh là sau khi cắt và sắp xếp thành bó, chúng tôi lại lấy chính những cọng tranh bện lại làm dây, tóm chúng lại thành bó, xỏ đòn vông vào mà gánh về. Công việc tương đối nhẹ nhưng phải cái là cỏ tranh rất rặm, rất ngứa. Chỉ tiêu của trại cho những anh em đi cắt tranh là mỗi người hai bó, chu vi mỗi bó là 5 gang tay.

Tôi vừa lười, vừa không muốn “chấp hành” đúng lệnh của trại nên chỉ cắt một bó nhỏ, sỏ đòn vông gánh về. Một hôm, “trời bất dung gian”, trên đường về, ông thủ trưởng tình cờ đi ngược chiều chúng tôi. Ông trông thấy tôi gánh một bó tranh quá nhỏ, ngứa mắt, ông vẫy tôi lại gần quát:

– Anh Dzương, anh gánh hai bó tranh như hai bó hành vậy? Tôi thản nhiên:

– Ấy, anh đừng có nói vậy. Tôi đã xong chỉ tiêu của tôi. Gánh này là tôi làm thêm cho một anh bạn hôm nay không khỏe nên đã đưa một gánh nhỏ về nạp trước rồi.

Ông thủ trưởng hầm hầm, không nói thêm gì. Sở dĩ ông thủ trưởng thuộc tên tôi là vì tôi được anh em gán cho cái chức “tổ trưởng” và hay phải sang trại của các ông nhận công tác cho ngày hôm đó. Có lẽ cũng là vì trông cái “tướng” của tôi đáng ghét? Cao lớn hơn người thường, không mặc quần áo tù như một số đông anh em. Vẫn mặc những bộ quần áo lính ngày xưa do vợ mang lên từ khi còn ở Long Khánh.

Nhắc lại Long Khánh, tôi nhớ những kỷ niệm ấy quá sức. Đau khổ, tức tưởi cũng có nhưng trong những lúc ấy cũng có nhiều niềm vui. Phần thì thỉnh thoảng được thăm nuôi, được gia đình tiếp tế, nhờ thế mà trông tươm tất hơn, “phỉnh phao” hơn. Một phần nữa là nhờ có anh thủ trưởng tương đối tốt. Ở nơi đồng bằng, gần thành phố, nơi cuộc sống tương đối dễ chịu hơn, mọi người có vẻ không hà khắc với nhau lắm?

Ở trên vùng rừng núi này, cuộc sống thảm hại hơn nhiều, có khi các cán bộ, vệ binh, và nhất là ông thủ trưởng, đều ngấm ngầm bất mãn với số phận, có khi họ cũng phải “thắt lưng buộc bụng” mới có cái mà ăn. Họ cũng chưa tiếp xúc với chúng tôi nhiều. Trong con mắt của họ, có lẽ chúng tôi vẫn là những kẻ cựu thù. Bây giờ nằm trong “rọ” của họ thì họ cho mình có cái quyền ngược đãi chúng tôi.

Gạo đã bị ăn bớt, cắt xén nhiều nên phát không đủ tiêu chuẩn. Thực phẩm phát cho chúng tôi thì vẫn là muối hột, cá “khô”, mì gói, có khi thêm được một ít khoai sắn (để trừ vào số lượng gạo đáng lẽ được lãnh).

Khi đọc những đoản văn này, bạn đọc chưa thể hình dung thân thể tiều tụy, lam lũ, rách rưới của chúng tôi. Các cái nơi gọi là “trại cải tạo” này thì thực chất, đều là các trại khổ sai, lò hành hạ con người. Bây giờ là cuối thế kỷ hai mươi, có thể các trại khổ sai giam giữ chúng tôi không dã man bằng các trại giam người Do Thái thời Đức Quốc Xã, nhưng cái đau khổ nào trên thân xác và tinh thần của con người ta cũng giống nhau mà thôi.

Bạn đọc cứ tưởng tượng ra thân hình của những người đàn ông, quần áo không lành lặn, mang đủ mọi loại “giày dép” tự chế, nhặt nhạnh được ở đâu đó, mặt mũi méo mó, thảm hại, như không còn sinh khí. Vai luôn dính liền với cái cuốc, hoặc con dao “rựa” của người miền Nam. Vừa đi vừa cúi gầm mặt xuống – không phải là ngượng ngập gì với ai đâu – mà phải lo tìm kiếm xem có cái nấm “ma” nào, hay quả mướp rừng nào thì chộp ngay lấy, bỏ vào cái túi vải đem theo người để cuối ngày, về có thêm cái gì để chế biến thành thức ăn. Nấm “ma” mà tôi nói ở đây có cái tên đặc biệt này là vì chúng thoáng mọc, thoáng mất, ai có duyên “lành” thì nhìn thấy nó và hái đem về. Những bạn đi trước không hề nhìn thấy nó, những anh bạn đi sau cũng không hề biết là những cái nấm này đã mọc bên cạnh đường đi! Có hôm, ba anh em chúng tôi không được may mắn lắm, chộp được quả mướp rừng, đem về hý hửng nấu với cá khô (đã làm sạch), hy vọng chia nhau một bát canh ngon. Hỡi ôi, đó là một bài học chừa cho đến chết vì quả mướp đó đã bị một loại dây rừng nào đó quyện lấy và truyền chất đắng cho dây mướp. Từ đó trở đi, mỗi khi gặp mướp rừng, phải cắn thử một miếng, nếu thấy ngọt thì đem về, còn thấy đắng ngắt, thì vứt bỏ ngay tại chỗ. Nồi canh hôm trước cố gắng lắm cũng không thể nuốt nổi, đổ đi mà lòng tiếc hùi hụi!

Một ngày bình thường thì bắt đầu bằng một ngụm nước muối, ngậm một lúc rồi xúc miệng. Cái gọi là kem đánh răng (và như hai chữ Tự Do), thì đã trở thành xa xỉ phẩm từ lâu. Phần vệ sinh cá nhân thì dù trong tù cũng vẫn phải diễn ra. Sau đó, sắp hàng (nhớ xếp hàng 5 cho dễ đếm) chờ lệnh công tác. Lúc thì đi cắt tranh, lúc thì đi “chặt tre, đẵn gỗ” trên ngàn. Bây giờ đã có nhiều khoảng đất trống, chúng tôi được phát những khúc mì giống để trồng thành vườn cây mì. Trại cũng muốn xây dựng một cái hội trường để “học tập”. Chúng tôi lại có vô số những công tác mới. Cũng may là mùa này rừng Phước Long chưa mưa và chưa lạnh. Các công tác vẫn được tiến triển tốt. Giờ này thì tất cả chúng tôi đã quá quen với việc dựng nhà cửa bằng gỗ và tre. Cái khó lần này trong việc xây dựng một cái hội trường là phải đủ cao, rộng cho một sinh hoạt đông người. Một anh trước đây là sĩ quan công binh, phác họa sơ đồ của một hội trường có mái cao vút như mái nhà thờ, theo những bức tranh vẽ nhà của người cao nguyên. Anh lý luận là làm như vậy cho hợp với quang cảnh xung quanh của trùng trùng điệp điệp núi rừng. Bản vẽ được đưa lên cho trại để phê duyệt. Chắc các anh ở “trên” cũng thuộc loại i-tờ-rít cho nên các anh ấy chấp thuận dự án liền. Nhìn cái bản vẽ có cái mái cao vút như vậy, chúng tôi đều ngao ngán vì biết trước là việc lợp mái cho hội trường này sẽ “căng” lắm đây.

Công việc vẫn phải tiến triển. Cột kèo đã buộc xong, chỉ chờ đi cắt cỏ tranh về, đan lại và leo lên lợp. Đến lúc này thì các cán bộ quản giáo mới phát giác ra là mái của hội tường này trông giống mái của một nhà thờ. Các anh tập trung chúng tôi lại, sỉ vả cho một trận, đổ lỗi chúng tôi là cố tình làm cái nhà thờ này để nhớ lại ngày xưa còn sống ở thành phố (!) Các anh ấy bắt rỡ ngay cái mái. Chúng tôi ấm ức lắm nhưng cũng thở phào vì leo lên lợp cho cái mái dốc như thế thì thế nào cũng có anh té lộn cổ xuống mà chết.

Theo năm tháng, hội trường cũng được hoàn thành. Mái xuôi vừa phải, chỉ đủ để nước mưa đừng đọng lại, trở thành dột thôi. Các anh cán bộ cũng tỏ ra hài lòng. (Hy vọng giờ này các anh đã nghiệm ra là chúng tôi là một tập thể đa tài, đa năng).

Sau một ngày làm việc trong rừng, cơ thể ngứa ngáy, khó chịu. Về đến trại là chúng tôi cất cuốc xẻng, chạy ùa xuống suối tắm giặt, rửa ráy. Dĩ nhiên là trong hoàn cảnh này, đâu có ai phải “màu mè” với nhau. Chúng tôi đều đóng vai ông A Dong mà chả ai thèm quan tâm đến ai. Xui cho hôm đó, một cán bộ cũng đi xuống suối, nhìn thấy quang cảnh như vậy, anh ấy bỏ lên trước. Ngày hôm sau, anh ấy tập trung chúng tôi lại và sỉ vả là chúng tôi không có văn hóa. Chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau. Tại sao anh này nói mình không có văn hóa? Anh ấy nói rằng khi tắm, ít ra các anh cũng phải kín đáo, đâu có ai cứ để “tồng ngồng” như vậy trước mặt nhau! (Ông ơi, ngày xưa chúng tôi đều có nhà tắm riêng, có khi có cả vòi hoa sen, nước nóng nước lạnh nữa đấy ông ạ!)

Cái việc mà ông cán bộ mắng nhiếc chúng tôi – là không có văn hóa – vì tội cùng nhau tắm dưới suối trong hình hài của ông A Dong sau này đã trở thành một đề tài chúng tôi dùng để chọc ghẹo nhau như những chuyện vui trong cái khổ để vơi đi những nhọc nhằn ở chốn trần ai này.

Bây giờ “trại” của chúng tôi đã dần dần thành hình. Các anh em đều đã có “chuồng” để mà về sau một ngày lặn lội trong rừng. Trên dưới hai mươi người chia nhau chỗ ngủ và cùng sống trong một lán. Trại cũng đã có một “hội trường” tuy chưa được khánh thành vì chưa thấy đoàn cán bộ nào xuống dạy chúng tôi làm người!

Công tác thì một ngày một dồn dập vì thời tiết có vẻ sắp chuyển thành mùa mưa. Cán bộ trại đốc thúc chúng tôi phá rừng để lấy đất trồng trọt sau này khi mùa mưa đến. Tất cả những cây mộc cũng như lồ ô đều được lệnh chặt xuống hết, xếp thành từng đống, loại nào xếp cùng loại ấy.

Thời tiết thay đổi thì cảnh vật cũng thay đổi. Lá rừng rụng nhiều. Những “cây ngay” vẫn bị “chết đứng” như thường vì chúng tôi phải phá rừng một cách “khẩn trương”. Mưa đã lất phất. Măng non của lồ ô và tre đã bắt đầu nhú lên. Đến lúc này thì con vật độc ác sau con vắt là những con muỗi. Chúng có vẻ rất đói. Thân chúng cứng hơn những con muỗi ở thành phố rất nhiều. Khi nó nhào vô được thân thể chúng tôi là chúng chổng thân lên, cắm cái vòi của chúng và bắt đầu hút máu liền. Chỉ mới chốc lát mà bàn tay đập muỗi đã đầy máu. Không biết có phải người thành phố đồn nhau là ăn măng độc, có thể bị sốt rét là do từ nguyên nhân chính những người đi hái măng bị sốt rét trước hay không?

Trời cũng đã hơi se se lạnh. Chúng tôi đi làm rừng cũng phải thủ thêm một manh áo nữa. Cũng nhờ cái không khí se se lạnh này mà công việc có vẻ đỡ mệt nhọc hơn, ít tốn mồ hôi hơn. Nhưng lại phải nghĩ ra cách để chống lại hàng triệu con muỗi đói lúc sáng sớm. Chúng tôi phải nới cái vành nón cho rộng ra, choàng vào đó một cái lưới làm bằng vải mùng rồi thắt chặt xuống cổ áo. Áo thì phải có tay dài và phải mặc quần dài. Nhưng trời có sinh, có dưỡng. Lúc mặt trời đã ló rạng sáng và có tý gió thì đàn muỗi cũng tản mát dần và biến mất.

Trong những ngày đi làm rẫy, thỉnh thoảng, chúng tôi thấy có một anh vệ binh, lúc nào cũng đeo khẩu AK-47. Điểm đặc biệt của anh chàng này là cái báng súng của anh được sơn màu đỏ, trên đó có khắc một vài cái gạch. Anh khoe với chúng tôi là đó là những con số ghi nhớ mỗi lần anh bắn hạ được một “quân thù”!!! Cái khẩu AK của anh luôn được đeo trên vai, nòng súng hướng lên trên và có nạp đạn sẵn. Một hôm, không biết sự “cố” đã xảy ra thế nào mà súng của anh tự nhiên phát nổ một tràng “ra-phan” chừng độ mười mấy viên đạn. Cái nòng súng sát cạnh cái tai phải của chàng cho nên chắc là bị bể cái màng nhĩ, máu trong tai chảy ra và từ đó, anh chàng này bị điếc hẳn một bên tai, không còn thái độ hống hách với cái thành tích bắn hạ được vài quân thù! Từ đó, dáng đi của anh ta nghiêng sang một bên, không biết đây có phải là hậu quả của việc rách màng nhĩ bên tai phải hay không? Cũng may là lúc đó nòng súng hướng lên trời chứ nếu không thì…

Không biết đây có phải là có vay có trả không nhưng chúng tôi thì hể hả và có thêm đề tài để biến nó thành trò đùa.

Trại cũng nghĩ đủ mọi phương cách để hành hạ và bóc lột sức lao động của chúng tôi: Phía dưới hạ nguồn con suối có một chỗ mở rộng ra thành một cái đầm nước. Đầm nước này đã chứa đựng nước tù qua nhiều năm, nước mang màu đen thẫm, có mùi cây, cỏ, lá mục. Họ bắt chúng tôi đắp thành bờ, khơi cho nước suối chảy vào. Khi nước đã tương đối đầy, họ bắt chúng tôi lội xuống đó, vớt hết bùn rác lên làm cho nước trong sạch lại. Trại nói là họ sẽ mua cá giống về, thả xuống, sau này thỉnh thoảng vớt cá lên đem đi bán. Họ không hề nói là tiền lời bán cá có được chia cho chúng tôi chút nào không!

Chúng tôi lại có dịp “làm quen” với một sinh vật mới: Con đỉa! Khi chúng tôi khoắng chân xuống nước là hàng trăm con đỉa bơi đến. Chúng lập tức bám vào da chúng tôi và bắt đầu hút máu. Nhiều anh sợ quá, chỉ biết hét thật lớn và chạy lên bờ. Từ hôm đó, những ai được phân công đi vớt hồ thì phải đeo theo một cái lọ nhỏ, thường là lọ đựng chao trước đây, bỏ một ít tro bếp vào. Khi thấy đỉa bơi đến là tóm ngay lấy chúng, bỏ vào lọ chao. Những con đỉa quằn quại trong tro bếp. Không biết chúng còn sống không nhưng khi về đến nhà, chúng tôi thẳng tay vứt chúng vào lò! Ngày qua ngày, công sức của chúng tôi cũng được đền bù. Lúc đi làm rừng về, phóng xuống hồ, tha hồ vẫy vùng.

Nhưng, chữ nhưng quái ác. Trại còn muốn bóc lột thêm sức lực của chúng tôi: Họ bắt chúng tôi phác họa một cây cầu kiêm một cái đập nước ngang con suối, phía dưới đầm nước vì họ biết rằng khi mùa mưa đến, nước sẽ chảy siết và sẽ cuốn hết cá trong hồ đi mất. Thế là một công trình vĩ đại nữa được chuẩn bị. Các anh sĩ quan công binh trước đây lại có việc làm. Chúng tôi lại nai lưng ra đi kiếm gỗ về xây dựng đập. Không biết ngày xưa người Ai Cập xây kim tự tháp như thế nào mà bây giờ, cũng chỉ với những dụng cụ thật thô sơ, chúng tôi đã hoàn tất cây cầu, cũng là cái đập ngăn nước trông rất kiên cố. Trại chưa yên tâm vì không chắc đã hết đỉa chưa nên họ cho chúng tôi thỏa sức nhảy xuống tắm hồ, nếu còn đỉa thì chúng tôi sẽ bắt giúp họ.

Ngày trọng đại đã đến: Trại đã mua được mấy can cá giống, gọi chúng tôi đến quan sát. Chúng tôi phải đóng đúng vai trò của khán giả: phải vỗ tay, hò hét ủng hộ việc làm của trại khi họ đổ cá giống xuống hồ. Các cán bộ có vẻ hài lòng ra mặt. Nhưng, lại chữ nhưng quái ác: Họ không cho phép chúng tôi xuống hồ tắm nữa vì như vậy sẽ làm cá sợ, chúng nó không ăn và sẽ không lớn được. Mất dzui!

Chúng tôi không nhớ nổi là chúng tôi đã ở trại này bao lâu rồi. Mùa mưa đã bắt đầu với những trận mưa nhẹ nhẹ.

Họ đã chuẩn bị sẵn thóc giống. Họ chỉ chúng tôi cách trồng lúa đồi. Kỹ thuật rất đơn giản: Hai người một cặp. Người đi trước sẽ cầm cái gậy, chọc một lỗ xuống đất. Người đi sau đeo cái bị thóc giống, thảy xuống lỗ vài hạt thóc rồi lấy chân đá một cái, lấp đầy cái lỗ lại. Cứ xếp hàng ngang mà đi như vậy, mỗi ngày cả cây số. Hết đồi nọ qua đồi kia. Những lúc được nghỉ giải lao, chúng tôi nhìn lại thành quả của mình. Từ đồi nọ qua đồi kia, không có chỗ nào mà chưa từng thấm mồ hôi, máu, và nước mắt của chúng tôi. Đồi nào cũng đã được trồng hoặc lúa, hoặc khoai mì, hoặc mía, hoặc đậu phọng, v…v…Cứ phóng hết tầm mắt cũng không qua khỏi những đồi núi trồng những hoa màu, công sức của chúng tôi. Đúng là trùng trùng xa cách.

Nguyễn Kỳ Dzương

__________________________

* Hành giả Minh Tuệ tu theo hạnh đầu đà. Đầu-đà 頭陀 (tiếng Phạn Dhuta) hay hạnh đầu đà 頭陀行 là thực hành tu khổ hạnh để dứt bỏ các tham dục, phá ngã chấp, thực chứng khổ chỉ là vọng tưởng của tâm chứ không phải có thật. Có 12 (có nơi ghi 13) hạnh đầu-đà:

  1. Y phục làm bằng những mảnh vải rách.
  2. Chỉ dùng ba y.
  3. Khất thực mà ăn.
  4. Chỉ ăn một bữa vào giờ trưa.
  5. Không ăn quá no.
  6. Không giữ tiền bạc.
  7. Sống độc cư.
  8. Sống trong nghĩa địa.
  9. Sống dưới gốc cây.
  10. Sống ngoài trời.
  11. Không ở cố định, thường du hành.
  12. Ngồi ngủ, không nằm ngủ.

Đối với Minh Tuệ thì khổ hạnh chỉ là hình thức bên ngoài, khổ chỉ là vọng tưởng của tâm thôi chứ không phải tuyệt đối có thực. Nên phép tu khổ hạnh của ông là phá bỏ vọng tưởng đó, thực chứng tánh không của vạn pháp. Ông chứng tỏ cho mọi người thấy rằng để đầu trần phơi nắng, đi chân đất, dầm mưa dãi nắng, ăn tối thiểu mỗi ngày một bữa để sống chứ không cầu no, không cầu ngon, ngủ ngồi dưới gốc cây hay dưới gầm cầu, và không có gì là khổ sở cả. Ông vẫn vui vẻ khỏe mạnh, coi việc đi bộ từ nam ra bắc và ngược lại chỉ giống như đi hành cước dạo chơi thôi, không có gì là khổ, ông vẫn hạnh phúc.

Vậy điều chủ yếu là ông thực hành tánh không mà Phật giáo đã hướng dẫn. PG nói ngũ uẩn giai không và ông thực hành lời dạy đó. Ông buông bỏ tất cả bởi vì thế gian chỉ là ảo mộng, không có cái gì tuyệt đối chân thật, tất cả là do tâm tạo (nhất thiết duy tâm tạo). Ngay cả thân mạng ông cũng không coi là quá quan trọng. (Trích bài của Thư Viện Hoa Sen)

(Tôi viết tập hồi ký này tháng Chín năm 2024. Thầy Minh Tuệ đã có được hơn một tháng “tiếng tăm nổi như cồn” nhờ các “Youber” và các “tiktoker” cho lên mạng hàng giờ theo những bước chân của ngài. Giờ này thì thầy Minh Tuệ hoàn toàn biến mất, không biết lực lượng công an của csVN đã đưa ngài đi biệt giam ở đâu hay có khi chúng đã thủ tiêu ngài rồi cũng nên!)

Kỳ 1 Kỳ 2 Kỳ 3 Kỳ 4 Kỳ 5 Kỳ 6

Bài Mới Nhất
Search