Phần Chín: “Trùng Trùng Xa Cách” (3)
Bây giờ thì cuộc sống của chúng tôi được “cải thiện” thấy rõ. Trại cũng có vẻ yên trí thấy chúng tôi luôn “chấp hành nghiêm chỉnh” quy định của trại. Các buổi văn nghệ bỏ túi cũng không hề bị cấm đoán.
Chúng tôi cứ kéo lê kiếp sống không có ngày mai như vậy, không hề biết cuộc xoay vần của tạo hóa. Bây giờ thì lúa đã đến lúc chín. Chúng tôi được phát “càn xế”, bao tải, để chuẩn bị đi gặt lúa. Cánh đồng lúa chín thơm ngát. Chúng tôi không ngờ trồng lúa đồi dễ như vậy. Nhà nông chúng ta ở dưới đồng bằng làm ra được hạt lúa thì qua bao nhiêu giai đoạn nhọc nhằn. Chúng tôi làm cỏ cho đồng lúa lần cuối cùng.
Đang trên đường về thì bất ngờ chúng tôi gặp một đoàn người Thượng đi ngược chiều. Họ có thể nói bập bẹ tiếng người Kinh. Họ cho biết là họ ở bên kia đồi. Họ nói mùi lúa chín thơm quá. Họ đến coi mới biết là đồi lúa nọ nối đồi lúa kia. Họ có vẻ như muốn trao đổi lúa với những món mà họ có trong “sóc” của họ. Chúng tôi bằng lòng ngay vì mình không dám ăn cắp thì để người khác ăn cắp hộ, bù lại, mình sẽ được cái gì đó. Tôi chỉ một bụi tre rậm còn sót lại ven ruộng lúa nói:
– Khi nào chúng tôi gặt xong, sẽ bỏ thóc vào mấy bao cát trong bụi tre này. Ban đêm các anh cứ ra lấy, muốn đổi cái gì cho chúng tôi thì đổi.
Trước khi về, họ cho chúng tôi một nải chuối và hứa sẽ làm theo đề nghị của chúng tôi. Đặc biệt một điều là những người Thượng trên rẫy này chỉ đi hàng một, người này sau người kia. Thường thì đàn bà đi trước.
Đến mùa gặt, chúng tôi cũng dựng thành những tấm cót. Người nào cắt lúa thì chỉ lo cắt. Anh nào lo đập lúa thì cứ đập. Người nào lo gánh về thì cứ gánh về. Cuối ngày, chúng tôi không quên dấu một vài bao thóc vào bụi tre như đã hứa. Sáng hôm sau, chui vào bụi tre thì quả thực, mấy bao thóc đã được lấy đi. Họ cũng giữ lời hứa, để lại một bao cát, trong đó có một con gà mái đã bị bẻ cổ, khỏi gây tiếng động.
Chỉ tiêu của trại là mỗi một mẫu ruộng phải gặt được một tấn thóc. Chúng tôi vừa làm vừa ăn cắp, vừa phá, mà vẫn “vượt chỉ tiêu”. Lúc đầu, các ông cán bộ còn bắt chúng tôi móc bao thóc vào cân, ghi ghi, chép chép, nhưng rồi cũng lười, biết thế nào cũng vượt chỉ tiêu nên không thèm cân – đo – đong – đếm – gì nữa. Chúng tôi gánh thóc về, cứ việc đổ vào lẫm cho các ngài. Cái lẫm lúa này cũng là công sức của chúng tôi. Nó là một cái nhà sàn, cao khoảng 20 phân trên mặt đất, có cái sàn bằng phẳng và thật kín để thóc không lọt xuống dưới sàn.
Cuộc đổi chác thóc với người Thượng vẫn êm xuôi. Có hôm thì chúng tôi được gà, có hôm thì được miếng thịt lợn, khi khác lại có một bao gạo nếp do họ trồng bên kia đồi. Không ai trong chúng tôi phàn nàn gì về công tác đi gặt lúa này cả!
Thật ra thì chúng tôi cũng có ăn cắp thóc mang về, lấy nón sắt ra giã, sàng được bao nhiêu gạo thì lấy, không thì để dành cho gà ăn. Cũng một điều lạ là mấy con gà có vẻ thích ăn thóc hơn là ăn gạo. Cái vỏ trấu có gai và cứng, sắc như thế mà gà lại thích ăn thì cũng lạ. Chúng tôi cũng có của ăn, của để nên cuộc sống cũng trở thành dễ chịu hơn. Buổi tối, thỉnh thoảng chúng tôi cũng tụ họp nhau lại, đem “tài hèn sức mọn” ra cống hiến anh em bên ly trà hay ly cà phê.
Tôi thuộc lòng một bài thơ của tác giả nào tôi không biết, chỉ biết là bài thơ đó từ miền Bắc. Trong những lúc cao hứng, được anh em yêu cầu, tôi lấy giọng ngâm bài thơ này, có khi được phụ họa bằng tiếng tiêu hoặc tiếng đàn ghi-ta, khiến không khí như trầm, buồn và có chút lãng mạn.
Tôi mào đầu trước với “thính giả” của tôi:
– Các bạn phải tưởng tượng ra trên một mảnh đất nhỏ vừa đủ để cất hai căn nhà tranh, cách nhau một dàn đậu ván, một cái giếng và một vài cây ổi, cây chanh, cây bưởi. Nhà bên này có một anh con trai. Nhà bên kia có một cô con gái. Hai người đã có đầy ắp tình cảm với nhau nhưng chưa một lần ngỏ ý. Thế rồi, vì phải phục vụ cho nhu cầu chiến tranh “chống Mỹ cứu nước” với Miền Nam. Họ phải nhận hai công tác khác nhau, hiếm khi được về nhà cùng thời gian. Bài thơ tôi sắp ngâm cho các bạn nghe là tiếng khóc nấc nghẹn của đôi trai gái…
(Hồi trong trại, tôi chỉ biết tựa đề của bài thơ là “Hai đầu công tác”. Sau này, tôi mới biết được tác giả bài thơ này là Tế Hanh, viết năm 1957)
Vườn Xưa – Tế Hanh
Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh,
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc.
Hai ta ở hai đầu công tác,
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?
Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa,
Như mặt trăng mặt trời cách trở,
Như sao hôm sao mai không cùng ở,
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?
Hai ta như sen mùa hạ, cúc mùa thu,
Như tháng mười hồng, tháng năm nhãn;
Em theo chim em đi về tháng tám,
Anh theo chim cùng với tháng ba qua.
Một ngày xuân em trở lại nhà,
Nghe mẹ nói anh có về, anh hái ổi.
Em nhìn lên vòm cây gió thổi,
Lá như môi thầm thĩ gọi anh về.
Lần sau anh trở lại một ngày hè,
Nghe mẹ nói em có về, bên giếng giặt.
Anh nhìn giếng, giếng sâu trong vắt,
Nước như gương soi lẻ bóng hình anh…
Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh,
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc.
Hai ta ở hai đầu công tác,
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa…
Các bạn say sưa nghe giọng ngâm của tôi. Bất ngờ, từ trong bóng tối, ông thủ trưởng xuất hiện cùng các anh vệ binh. Các bạn tôi thổi tắt ngọn đèn, chạy bỏ cả dép. Tôi là tên đầu têu ra việc này nhiều lần, biết là không thể chạy trốn được, cứ ngồi chết trân. Một cái hất hàm của ông thủ trưởng, anh vệ binh trói hai tay tôi ra sau lưng. Các bạn tôi ngồi trong mùng ngó ra không dám có thái độ gì. Tôi bị dẫn lên trại cán bộ. Hình như họ chỉ đợi dịp này. Vừa đến sân trại của họ, họ xông vào đánh cho thằng tù phản động này một trận cho nó chừa. Họ có tất cả năm người. Người nhẹ tay lắm thì lấy chiếc đũa cả dùng để xới cơm đánh vào đầu tôi. Người thì đấm, người thì đạp. Ông thủ trưởng có lẽ muốn tự tay ông tát tôi vài cái cho hả giận. Như tôi đã có nói ở mấy chương trước, hồi còn trẻ cũng như hồi phục vụ trong quân đội, tôi có học một vài ngón nghề để tự vệ khi cần. Lúc này tuy tay tôi bị trói ra phía sau, không đỡ gạt được nhưng vẫn biết cách tránh né để không bị thương nặng. Cũng may là họ không lấy báng súng mà đánh tôi như lần trước ông thủ trưởng đã làm. Đánh tôi một lúc, thấy máu mũi, miệng tôi chảy ra, mặt và miệng tôi sưng húp, và tôi (làm bộ) có vẻ muốn xỉu thì họ cũng ngưng tay vì đánh một cái bị thịt bất động này thì không có hứng thú. Có thể họ cũng đang nghĩ là tự dưng mà đánh một người không có phương cách tự vệ, chống đỡ gì như thế này thì cũng bất nhẫn quá. Có thể họ cũng không hiểu tại sao chúng nó vẫn tụ tập, hát hỏng nhiều lần không sao – mà sao lần này ông thủ trưởng lại ra tay nặng với thằng tù này như vậy? Họ từ từ bớt nóng giận và để mặc tôi nằm còng queo dưới đất như vậy, hai tay vẫn bị trói. Tôi cũng không nhớ mình nằm như vậy bao lâu, đến gần sáng thì họ xỏ một cái đòn vông vào khuỷu tay tôi bị trói đằng sau. Hai người vệ binh nắm hai đầu tầm vông dẫn tôi về trại. Tôi cũng không nhớ nổi đây là lần thứ mấy tôi bị cán bộ quản giáo và vệ binh trại đánh. Cái định mệnh oái oăm này cứ bám lấy thân thể còm cõi của tôi đến bao giờ nữa? Càng bị đánh, tôi càng trở thành “lỳ đòn”. Hai anh vệ binh nắm hai đầu cây tầm vông dắt tôi về trại, tôi mặt mũi đầy máu và sưng húp nhưng tôi vẫn đi được và nhìn thấy bạn, tôi vẫn tươi cười. Các bạn tôi không ai cười lại với tôi. Có thể cái cười của tôi lúc đó trông méo mó như thể tôi đang khóc vậy? Không biết cái cảm giác của hai anh vệ binh này ra sao trong tình huống này. Hôm qua, họ có tham gia vào việc đấm, đạp tôi. Tôi nghĩ rằng có lẽ ông thủ trưởng có tâm sự ấm ức gì với bài thơ này nên ông mới giận giữ và muốn hành hạ tôi đến như vậy.
Những vết thương trên mặt tôi rồi cũng lành. Chúng tôi lại vác cuốc, vác dao đi làm rẫy. Sau vài lần trao đổi “quà cáp” với mấy người Thượng, chúng tôi đã quen họ nhiều hơn. Những người này rất chất phác và luôn giữ chữ tín. Tôi ngỏ ý muốn đến sóc Thượng của họ chơi. Họ rất vui, nói tôi có thể ra chơi với họ bất cứ lúc nào. Họ chỉ đường cho tôi đi, chỉ cách cánh đồng lúa của chúng tôi hai con đồi.
Tôi quyết định ra làm quen với những người miền thượng du chất phác này. Khi đi, tôi mang theo một lọ thuốc đỏ, một tuýp pô-mát Peniciline, một ít thuốc trị những bệnh thông thường. Ra tới sóc của họ, hầu như tất cả mọi người đều hoan hỉ đón tôi vào nhà của họ. Những người Thượng này cũng sống trên những căn nhà sàn. Hai ba thế hệ đều ăn ngủ và sinh sống trên cái sàn đó. Ở dưới căn nhà sàn, họ quây lại để nuôi gia súc. Khi thấy các cháu nhỏ bị đau mắt, tôi lấy thuốc đau mắt nhỏ cho chúng. Có ai bị cảm cúm hay bị thương, tôi đều giúp họ. Tôi ra vào sóc Thượng ấy nhiều lần và họ luôn kêu tôi là “bác sĩ”. Dần dần, tôi được giới thiệu với ông tù trưởng. Ông rất vui và muốn tôi uống với ông vài “sừng” rượu cần.
Thiết tưởng tôi phải giải thích tại sao tôi lại gọi đó là ‘sừng” rượu cần: Trước khi chúng tôi “nhập tiệc”, ông tù trưởng nói cô con gái của ông, (cô gái này chừng 16 tuổi) lấy hai cái sừng trâu, rỗng ruột, ở dưới đã đục một cái lỗ. Vò rượu của ông đầy tới miệng. Ông muốn tôi khoèo tay với ông, lấy một ngón tay bịt cái lỗ ở dưới. Cô con gái lấy nước suối đổ đầy vào hai cái sừng trên tay chúng tôi. Ông hô một, hai, ba, là chúng tôi phải hút rượu (qua cái ống sậy nhỏ) ở trong vò, trong khi thả ngón tay ra để nước trong sừng chảy xuống vò rượu, không được để rượu tràn ra ngoài! Trò chơi này cũng khá hào hứng. Ông thủ trưởng cười tít mắt, hở cả lợi khi thấy tửu lượng của tôi cũng không tệ. Cô con gái, ngực vẫn để trần như vậy, cũng che miệng cười. Những người Thượng này coi vậy mà họ yếu đuối hơn người kinh nhiều lắm. (Có thể vì không có mồi gì để nhắm chăng?) Mới uống vài sừng thì ông thủ trưởng đã ngã lăn quay, ngủ như chết. Tôi nhẹ nhàng cáo từ ra về.
Cũng phải nói thêm về phong tục để ngực trần của các cô gái người miền thượng du: Khi chưa lấy chồng, nhất là khi chưa có con thì theo phong tục của họ, họ cứ để bộ ngực trần như vậy. Sau khi lập gia đình (đi bắt cái chồng) thì họ mới mặc áo. Một bên cho chồng, một bên cho con. Hầu hết họ vẫn áp dụng chế độ mẫu hệ nên khi đến tuổi cập kê, các nàng cũng ngấp nghé, để ý anh trai làng và hai bên chịu nhau lắm thì nàng tuyên bố “bắt cái chồng”. Anh chàng kia cũng phải chịu tục thách cưới, có khi cũng nặng lắm. Lý thú vậy đó.
Càng ngày, tôi càng thân với dân sóc thượng này. Họ vẫn nhờ tôi chữa trị những vết thương hay những bệnh thông thường. Họ vẫn gọi tôi là “bác sĩ”. Sau này, ông tù trưởng còn hay mời thêm những người bạn của ông đến “nhậu” với tôi. Phải thực tình mà nói, rượu cần của họ lạt nhách, chua lè, không có vị gì ngon cả. Tôi chỉ muốn làm thân với họ nên lúc ra chơi, cũng uống tận tình. Họ đều giống nhau ở chỗ là hay “xỉn” trước, và cứ tự nhiên lăn ra ngủ. Tôi lại âm thầm rút lui!
Như tôi đã có đề cập ở phần trước, ở trong tù, chúng tôi không còn ý niệm thời gian. Thời tiết đã bắt đầu se lạnh. Vụ lúa đã xong. Thóc đã được đổ đầy vào kho lúa. Chúng tôi chưa bao giờ nghe thấy trại tỏ ý muốn cho chúng tôi được hưởng một chút công sức của mình. Thỉnh thoảng chúng tôi có thấy một chiếc xe quân đội đến, đậu ở trên đường. Chúng tôi lại bị hò hét “khẩn trương” gánh thóc ra đổ đầy chiếc xe đó và nó lại biến mất.
Cũng may, trại cho biết là chúng tôi lại được phép viết thư về nhà “động viên” đợt thăm nuôi trước Tết. Lúc đó chúng tôi mới biết là lại sắp hết một năm nữa. Lần này, tôi có dặn vợ tôi mang cho tôi một đôi giày bốt-đờ-sô và một đôi găng tay da. Tôi cảm thấy mình bị tai nạn nhiều lần, mất nhiều máu quá nên cũng không muốn nghĩ đến số tiền mà gia đình phải tiêu để đáp ứng nhu cầu của tôi. Từ đó, trông tôi lại càng ngứa mắt hơn. Quần áo thì vẫn là quần áo nhà binh thời xưa, bây giờ lại “chơi” thêm đôi bốt nữa, trông giống y hệt một anh lính VNCH. Chỉ có khác một chút là không mang lon lá và phù hiệu. Quần áo cũng tả tơi chứ không lành lặn và ủi hồ như ngày xưa. Đặc biệt là hai vai áo được độn thêm mấy lớp để khi gánh cái gì, khỏi đau vai (cũng vẫn còn kiểu sống của tiểu tư sản!).
Sau đợt thăm nuôi đó, hầu như chúng tôi có đủ phương tiện vật chất để tiếp tục sống tiếp những “phần đời của định mệnh”. Bây giờ tôi phải tiết lộ một sự thật não nề: Buổi tối, tôi cho nhóm bạn mượn cái găng tay dầy của tôi, bò vào kho thóc, dĩ nhiên trời đang tối như mực. Một người ngồi ở dưới gốc cột nhà, mang găng tay đợi sẵn. Một bạn khác bật cái bật lửa. Giống chuột theo khuynh hướng tự nhiên, hoảng hốt bám vào cột, chạy lên trên. Người bạn có găng tay, chỉ cần nhắm mắt, chộp bằng cả hai tay, thế nào cũng tóm được hai chú. Đợi một lúc, chuột đã quên cái tai nạn lúc trước, cả trăm con lại bò ra đầy kín mặt kho thóc. Đây là chuột đồng một trăm phần trăm! Chúng tôi làm chừng hai, ba bận như vậy là có thịt ăn. Về đến nơi, có bạn đợi sẵn để mổ bụng, lột da. Sáng hôm sau là có một mẻ chuột chiên dòn, hay xào lăn, hay ít lắm cũng có món thịt chuột kho mặn.(Chúng tôi áp dụng dây chuyền Taylor của bọn đế quốc Mỹ bóc lột). Cũng gọi là có thêm protein để “bồi dưỡng”.
Cũng phải nói thêm là từ khi chúng tôi về đây, trồng các loại hoa màu, thì các con vật cũng về đây kiếm ăn. Buổi tối hay nghe tiếng chim bìm bịp kêu não nề trong không khí rừng âm u. Ban ngày thì cũng có nhiều tiếng chim hót. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng bắt được thêm một con ếch, một chú nhím, thỏ, v…v…Có một hôm người bạn của tôi bắt được một con rắn hổ hành dài khoảng gần hai thước, to hơn cổ tay. Thịt của nó rất thơm, làm thịt nó mấy ngày rồi mà tay vẫn còn thơm mùi hành. Hôm đó chúng tôi được một bữa cháo ngon tuyệt vời.
Hồi này trại không còn gạo để phát cho chúng tôi (kho lúa lớn như thế mà họ nói không còn gạo!). Thay vào đó, họ phát một loại hạt gọi là hạt “bo bo”. Hạt bo bo này nấu khó chín. Cơm bo bo này ăn rất cứng vì hạt của nó còn vỏ nguyên. Anh nào cũng ngao ngán, ăn không được. Dần dần, chúng tôi chỉ còn cách nấu kỹ hơn, đổ nước nhiều hơn so với gạo thường. Lại một lần nữa, cái nhà xí công cộng lại đầy máu tươi. Thôi thì cũng đành mặc cho định mệnh. Hồi xưa, lúc nấu cơm bằng gạo trắng, tổ nào nấu bếp hôm đó thì được no vì còn có cháy mà cạo trước khi rửa chảo. Bây giờ nấu cơm bo bo, cũng có cháy sót lại khi phát cơm xong nhưng cháy bo bo thì xin chịu. Ăn cháy bo bo chỉ có nước rớt bộ răng ra ngoài.
Những cậy khoai mì chúng tôi trồng đồi bên kia cũng đã có thể “thu hoạch” được. Nhân khi không có gạo cho chúng tôi ăn, trại phải phát bo bo cho chúng tôi ăn. Có lẽ cũng được anh em nào đó “phản ảnh”, trại cho chúng tôi phát động đợt thu hoạch khoai mì. Chỉ tiêu mỗi người 100 ký mỗi ngày. Mới nghe thì hết hồn, thân xác tàn tạ này mà phải đi đào rồi gánh về mỗi ngày 100 ký thì còn gì là đời trai? Như tôi cũng có đề cập trước đây, đất đỏ trên Phước Long tốt vô cùng. Coi cây mì như vậy mà khi cần phải nhổ thân mì lên để lấy củ thì vô cùng khó khăn. Phần củ nằm dưới đất quá to, có củ to bằng bắp đùi của một người. Ở thành phố, chúng tôi chưa bao giờ thấy những củ khoai mì to như vậy. Chúng tôi phải bắt cặp với nhau, hai người lay một gốc mì. Vừa lay, vừa đào, một lúc thì nhổ được cây mì lên, chừng bốn cây mì đã đủ cho chúng tôi cả trăm ký mì củ. Hai người chúng tôi chỉ cần bỏ ra độ hai tiếng đồng hồ là đã có đủ 200 ký mì về nạp cho trại. Lợi dụng lúc rảnh, chúng tôi không gánh mì về vội. Chúng tôi thả bộ ra quán Ba Cô đi mua sắm lung tung. Chỉ có một điều là muốn tránh vỏ dưa thì lại gặp vỏ dừa. Trại bớt phần bo bo của chúng tôi và thay vào đó, phát cho chúng tôi mỗi ngày một ký mì tươi. Chúng tôi chỉ còn có một cách là gọt vỏ xong, cắt lát ra phơi rồi trộn vào bo bo để nấu “cơm”. Những con người vô thần, vô tâm này tìm cách bắt chẹt chúng tôi đủ điều. (Bây giờ thì không cần phải đào trộm công sức của chính mình nữa).
Khi kể chuyện này đến đây, tôi vẫn không thể nhớ nổi bây giờ là tháng mấy, của năm nào. Chỉ cảm nhận bằng cái không khí, hoặc nóng, hoặc lạnh. Một hôm, trời nắng trong xanh. Chúng tôi được lệnh tập trung lên hội trường. Đây là lần đầu tiên tất cả chúng tôi được tập họp nhau trong cái hội trường này. Chúng tôi chờ đợi một buổi học tập, noi gương “bác” để trở thành con người tốt của XHCN, nhưng không phải. Có một phái đoàn gồm năm ông cán bộ. Trông cốt cách của họ có vẻ lịch sự, ra dáng có học. Họ đợi không khí lắng dịu xong thì cho biết là họ là một số y sĩ, muốn về tuyển một nhóm chúng tôi đi theo họ, xây một cái bệnh xá. Không ai trong chúng tôi giơ tay. Mọi người đều ngán ngẩm phải dời đi nơi khác, làm quen với không khí mới. Đợi một lúc, không thấy ai tình nguyện, các ông y sĩ cho biết là bệnh xá cũng ở gần đây thôi, các anh vẫn có thể trở về trại thăm anh em.
Tôi tự nhiên muốn thay đổi không khí sống. Tôi giơ tay tình nguyện. Mấy ông y sĩ vui ra mặt, hẹn sau khi họp xong gặp tôi nói chuyện thêm. Trong lúc này, ông y sĩ nói rõ hơn về dự án xây dựng bệnh xá. Chúng tôi mới biết là nơi làm việc mới cũng chỉ cách đây độ hai cây số, bên cạnh sông Bé. Khi nghỉ giải lao, tôi chiêu mộ thêm một số anh em. Nhiều người cũng muốn thay đổi không khí, cũng muốn mạo hiểm, đồng ý theo tôi. Mấy ông y sĩ nói chúng tôi về chuẩn bị đồ đạc cá nhân, sáng mai các ông ấy sẽ đến đón chúng tôi.
Trong số những người bạn thân còn lại ở trại này, tôi chỉ còn anh Tuyến. Tôi gửi một ít đồ cá nhân cho anh giữ hộ. Anh Tuyến bảo tôi:
– Cậu cũng lỳ thật, đang ở đây yên lành, lại dám mạo hiểm đi nơi khác làm việc!
Sáng hôm sau, ông y sĩ và một vài anh vệ binh đến trại đón chúng tôi đi. Chúng tôi cứ ngỡ như ngày xưa, nghe nói “đón đi” thì cứ tưởng là sẽ có xe đến chở mình đi. Không phải như vậy. Chúng tôi vác đồ đạc cá nhân đi bộ trong rừng theo họ về chỗ làm việc mới. Nhiều anh đã lộ vẻ bất bình. Chúng tôi cứ phải khuyến khích nhau.
Đến chỗ mới thì chúng tôi vui hẳn lên vì ông y sĩ hôm qua nói đúng: Chỗ sẽ xây dựng bệnh xá nằm bên cạnh sông Bé thật. Nước chảy lững lờ. Bên bờ cũng đã có sẵn một cái bè nổi, rộng chừng 4 thước vuông. Các ông y sĩ đưa chúng tôi về đến đây thì cũng về chỗ ở của họ. Chúng tôi nhảy xuống sông, vẫy vùng một lúc rồi leo lên bờ, bàn thảo xây dựng chỗ ở cho mình trước. Tôi lại được làm tổ trưởng. Chúng tôi có tất cả mười lăm anh em. Chúng tôi chia nhau ra đi chặt cây, chặt lồ ô, lấy tranh về dựng cái lán cho chúng tôi.
Mấy ngày đầu, vì chưa có chỗ ở, chúng tôi căng võng nằm. Một đêm, chúng tôi bị đánh thức dậy. Một ông y sĩ nói với chúng tôi:
– Chúng tôi đi săn, bắn được một con heo rừng, muốn nhờ các anh đi gánh nó về, chúng tôi sẽ đền bù.
Chúng tôi mang theo dây thừng, đòn vông đi theo ông y sĩ. Chỉ đi chừng nửa cây số đường rừng thì đã đến nơi, con heo rừng bị bắn vẫn nằm đó. Chúng tôi buộc bốn chân nó vào, xỏ đòn vông gánh về. Chúng tôi cũng đâu có chỗ để con heo, đành phải để nó nằm tơ hơ trong sân vậy.
Sáng sớm, mấy anh vệ binh ra mượn đòn vông của chúng tôi, gánh con heo về chỗ ở của họ. Họ làm thịt con heo xong, bưng ra cho chúng tôi cái đầu heo và một chai rượu. Họ nói chúng tôi cứ “liên hoan”. Chúng tôi phải mượn họ cái nồi lớn, luộc cái đầu heo xong thì chia nhau ra thưởng thức món thịt heo rừng. Chai rượu họ cho cũng là chai rượu đế thật. Ăn xong, hầu như mọi người đều say! Bụng đang rỗng, lại uống rượu mạnh, say là phải.
Ở chỗ làm mới, được cái là mấy ông y sĩ không bao giờ ra lệnh cho chúng tôi. Họ cứ để chúng tôi tự lo công việc. Nhờ vậy mà chúng tôi lợi dụng thời giờ rộng rãi, chia nhau đi khám phá khu vực chung quanh. Nếu bỏ thì giờ ra đi ngược về thượng nguồn sông Bé thì sẽ đến quán Ba Cô. Nếu đi xuôi theo dòng chảy của con sông thì một lúc sẽ đến một cái làng nhỏ. Khu dân cư ở này có tên là xã Đức Hạnh. Họ là những người Quảng Nam được tổng thống Diệm cho về lập ấp trong vùng này đã lâu. Họ sống có tổ chức, cũng buôn bán những vật dụng và thức ăn cần thiết mỗi ngày. Chúng tôi biết là từ giờ chúng tôi sẽ không thiếu thốn nhiều nữa. Hai món đặc sản từ Quảng Nam đưa về đây là: Món khoai lang luộc xong phơi khô, ăn vừa dai, vừa ngon, ngọt. Món thứ hai là món bánh tổ, bình thường thì một phong bánh như vậy rất cứng. Khi cắt lát ra, chiên hoặc nướng trên lửa thì tuyệt vời. Bánh tổ không bao giờ bị mốc. Ăn bao nhiêu thì cắt vừa đủ bấy nhiêu. Phần còn lại cứ gói trong một miếng vải, để bao lâu cũng được.
Thỉnh thoảng, tôi có mua một vài món quà lặt vặt về trại cũ cho anh Mai Quang Tuyến và một vài bạn khác. Tôi kể về cuộc sống ở chỗ làm mới. Anh nào cũng thèm và mừng cho tôi đã mạo hiểm và có quyết định đúng. Cuộc sống ở trại cũ vẫn như vậy. Chân trời của anh em ở đó vẫn bị khép kín. Mỗi ngày các cán bộ trại vẫn nghĩ được những chỉ tiêu để những người tù phải thực hiện. Nhưng cuộc đời cũng không luôn êm ả như vậy.
Lần sau tôi và hai bạn nữa trở về thăm trại cũ, được nghe kể là các bạn ở trại cũ đã chứng kiến một tai nạn thảm khốc, tang thương. Số là những con rựa chúng tôi vẫn vác theo trên vai mỗi ngày đều được mài vô cùng sắc bén. Có như vậy thì công việc đi chặt cây, chém tre, mới nhẹ bớt đi. Chỉ cần một nhát chặt là có thể hạ được một cây lồ ô. Một trò chơi lấy cảm giác mạnh mà chúng tôi vẫn thích là lựa một cây lồ ô đang bị uốn cong bởi phần ngọn đã bị đan vào nhau. Lựa thế và lấy sức, chém một nhát vào chỗ bị uốn cong. Cây lồ ô sẽ bị bật lên và vì sức nặng, nó sẽ cắm phập xuống đất. Anh bạn bị tai nạn mà các bạn chúng tôi kể đã không để ý trước cái thế uốn cong của cây lồ ô, chém một nhát, cây lồ ô đứt thật nhưng vì cái thế uốn cong của nó, nó bật lên cao, phóng trở lại xuống đúng chỗ anh bạn đó. Mũi nhọn của cây lồ ô xuyên qua bụng anh này và anh ấy chết tại chỗ. Đời là vô thường.
Một hôm, trên đường về trại thăm bạn, qua một khúc rừng, chúng tôi nhìn thấy một cái hộp đựng đạn đại bác có vẻ còn mới, nước sơn hãy còn tốt. Chúng tôi nhìn quanh quẩn thì thấy thêm một vài thùng đạn đại liên rải rác trong khu vực. Chúng tôi đào xới thêm khu đất chung quanh thì khám phá được một ít lương khô của “Ration C” được phát cho lính Mỹ ngày xưa. Những đồ ăn này không còn ăn được nữa. Bây giờ thì chắc chắn rằng trước đây, đã từng có những người lính của quân đội Mỹ đóng quân ở đây. Chúng tôi chạy về trại, rủ anh em mang thêm đồ nghề ra đào bới tiếp. Chúng tôi khám phá được một kho bao cát, loại bằng sợi nylon dẻo, rất dai và bền. Chúng tôi gánh tất cả về, chia nhau may quần áo bằng loại bao cát này. Tự nhiên có một đội binh trang bị quần áo bằng bao cát của Mỹ!
Các hộp đạn đại bác cũng có một công dụng rất hữu ích. Chúng tôi xúc sạch xong dùng để đựng nước. Chắc dung tích của những hộp đạn đại bác này cũng phải chừng 15 lít. Chúng tiện lợi một điều là chúng hãy còn nguyên cả nắp đậy. Chúng tôi vác xuống suối, lấy đầy nước xong, đậy nắp lại, vác trên vai đi lên trại. Không phải gánh như hồi còn phải dùng thùng tôn.
Ở bệnh xá, chúng tôi vẫn không có chỉ tiêu. Muốn làm bao nhiêu rồi nghỉ cũng được. Tuy vậy, chúng tôi cũng còn đầu óc tự ý thức. Công việc xây bệnh xá vẫn tiến đều. Ông y sĩ trưởng muốn xây bốn dãy nhà, mỗi nhà có thể đặt 15 cái giường. Chúng tôi không hiểu tại sao chiến tranh đã kết thúc từ lâu mà trong khu rừng âm u hiểm trở này lại cần phải xây một cái bệnh xá? Nghĩ như vậy nhưng chúng tôi cũng không tiện hỏi. Từ từ rồi cũng có một vài anh thương binh ở đâu về dưỡng thương.
Thỉnh thoảng, lúc rảnh, chúng tôi vẫn chia nhau đi ra xã Đức Hạnh để mua sắm linh tinh. Một hôm, tôi ra xã Đức Hạnh mua một ít gạo nếp và một ít đậu phọng tươi về định nấu xôi đậu phọng. Lâu lắm không được ăn xôi này. Lúc về gần đến bệnh xá thì một anh bạn đợi sẵn, chạy đến nói với tôi:
– Tôi chờ anh nãy giờ. Hôm nay, anh nên lánh mặt đi vì có một ông đại úy thương binh, chống ba toong đến tìm anh, có ý tìm anh để trả thù. Ngày xưa ông ấy đã từng bị giam ở trại giam Phú Quốc. Ông ấy hận quân cảnh các anh.
Hôm đó tôi về trại cũ ở với anh Tuyến. Ngày hôm sau, tôi trở lại bệnh xá. Tôi tìm ông y sĩ trưởng. Ông ôn tồn hỏi tôi:
– Hôm nay có gì mà anh tìm tôi đây?
Tôi nói là:
– Có một anh thương binh bắt tôi trình diện anh ấy. Hình như anh ấy là đại úy Hưng. Tôi nghĩ ở đây chỉ có anh là người chỉ huy cao cấp nhất. Nếu anh gọi tôi trình diện thì tôi sẽ có mặt ngay. Tôi không muốn trình diện anh Hưng này.
Ông y sĩ trưởng đập bàn nói:
– À, cái thằng Hưng “cà khịa” này đó hả. Nó ỷ nó đại úy nên ở bệnh xá này, ai nó cũng cà khịa hết. Ở đây, tôi là người điều hành mọi việc. Anh không phải trình diện ai cả. Để tôi xem cái thằng Hưng này nó muốn cái gì.
Tôi biết là kế khích bác của tôi đã thành công. Tôi vẫn tìm cách lánh mặt cho chắc ăn. Mấy hôm sau, anh em cho biết không còn thấy cái ông đại úy Hưng “ba toong” này đâu nữa.
Có những buổi chiều ngồi trên cái bè nổi, vừa thả mồi câu cá, vừa ngắm nhìn dòng nước (sông Bé) lững lờ trôi. Tôi có ý nghĩ một ngày nào đó, kết một cái bè chuối hoặc bè lồ ô, thả xuôi theo dòng sông này, chắc thế nào cũng về được đến một thành phố nào đó ở dưới hạ nguồn. Từ đó, ý tưởng trốn trại cứ lớn dần lên. Tôi đã ở tù hơn bốn năm rồi còn gì. Trông thấy mấy em nhỏ chơi đùa ngoài xã Đức Hạnh, tôi nhớ hai con tôi quá.
Buổi tối, ngồi uống trà, ngắm sao với mấy người bạn, tôi lại mơ tưởng đến một ngày, tôi cũng sẽ ngắm sao đêm như thế này ở một khung trời tự do nào đó. Ý tưởng trốn trại càng thôi thúc tôi hơn. Bây giờ tôi đã tương đối biết địa hình, địa vật của vùng này. Sự thật thì làm gì có các trại bộ đội ở rải rác trong rừng như họ vẫn đem ra “dọa” chúng tôi.
Công việc xây dựng bệnh xá cuối cùng cũng xong. Ông y sĩ trưởng ân cần tiễn tôi về trại cũ, không quên dặn là nếu có chuyện gì cần ông giúp, cứ chạy ra đây. Thực ra, trong suốt thời gian chúng tôi xây dựng cái bệnh xá này, chúng tôi chưa hề xin thuốc hay nhờ vả gì các ông y sĩ ở đây cả. Có thể họ cũng cảm nhận được lòng tự trọng của chúng tôi nên họ cũng cứ để thả lỏng cho chúng tôi làm việc.
Chúng tôi lại lôi thôi lếch thếch trở về trại cũ. Lại trở về nơi bị “kìm kẹp” bằng những cái chỉ tiêu quá sức người mỗi ngày. Ngao ngán quá.
Anh Mai Quang Tuyến lại hoan hỷ đón chúng tôi trở về bằng một bữa cơm canh mướp ăn với cà muối sổi. Tôi kể về cái xã Đức Hạnh, anh nào cũng muốn tôi dẫn đường đi một lần cho biết.
Hồi này, trại vẫn cho thăm nuôi. Từ khi đi công tác xây bệnh xá, tôi được ăn uống tương đối đầy đủ và cũng không có địa chỉ thực sự nên không nghĩ đến việc thăm nuôi. Giờ thì lại muốn gặp gia đình quá.
Qua các bà vợ của bạn lên thăm chồng, tôi nhắn tin đi, nhắn tin lại, cuối cùng tôi cũng được thăm nuôi. Lần này tôi nói vợ tôi chuẩn bị cho một bộ giấy tờ giả, mang thêm cho tôi một bộ quần áo “civil” và một ít tiền. Tôi nói cho vợ tôi nghe ý định trốn trại của tôi mà vợ tôi lạnh toát người, run rẩy nói tôi đừng mạo hiểm như vậy. Tôi an ủi bà xã là “nói như vậy thôi chứ đâu đã có kế hoạch rõ rệt”.
Tối hôm đó, chúng tôi vẫn có một buổi sinh hoạt văn nghệ bỏ túi. Các bạn tôi quý mến tôi nên khi nghe nói có bà xã tôi lên thăm là anh em háo hức. Người thì chuẩn bị chè, cháo. Người thì chuẩn bị cà phê, nước trà ngon, v…v… Hậu và Tiến thì cũng có mặt với cái đàn ghi-ta. Hai anh em hát cho tới nửa đêm. Chúng tôi cảm thấy được an ủi vô cùng.
Cuộc sống trong cái trại đầy ải con người này vẫn cứ thế mà trôi qua. Càng ngày vị trí trồng cấy của trại càng mở rộng. Chúng tôi đã vượt chỉ tiêu gặt hái lúa. Những đồi khoai mì chắc cũng đem lại lợi nhuận cho nhà nước hàng tỷ đồng. Các ông cán bộ cũng được hưởng thêm khoai, sắn, đậu, do công sức của chúng tôi. Chắc ông thủ trưởng của trại chúng tôi phải được “trên” ưu ái lắm vì những thành quả lao động tốt của cải tạo viên.
Chỉ tiếc một điều là trên rừng này, không có chỗ cho tôi “thi thố” tài viết chữ đẹp của tôi thành ra tôi không có gì để mặc cả với các ông. Tôi không có những giây phút nằm vắt chân chữ ngủ nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng, hưởng những giây phút thư thái như ở Long Khánh.
Chúng tôi vẫn tiếp tục công việc khẩn đất khai hoang. Người Thượng có lẽ cũng oán hận bộ đội cách mạng lắm vì cuộc sống của họ bị xáo trộn. Họ dần dần bị đẩy lui vào rừng rậm. Họ lại cũng phải bắt đầu khai hoang, lập trại để có chỗ ở mới. Chúng tôi thấy họ cũng đốt rẫy thường xuyên. Khói bụi bay về phía trại chúng tôi mù mịt.
Một hôm, tôi cùng các bạn đi phạt cây, đốn tre để mở rộng rẫy của trại. Chúng tôi sắp hàng ngang, cứ thế mà chém ngã bất cứ cái cây nào trước mặt, lớn nhỏ đều đốn xuống hết. Cũng vui ra phết. Bất ngờ, một đàn ong bay túa ra, chúng đánh bất cứ ai đứng gần tổ của chúng nhất. Tôi không biết tại sao bao giờ tôi cũng chịu nhiều hình phạt hơn các bạn khác. Tôi cứ thế mà ôm đầu, chạy ra khỏi đám rừng rậm đó. Đàn ong, có lẽ phải đến cả ngàn con, cứ thấy có người chạy là chúng đuổi theo. Tôi vừa chạy vừa cố tránh các gốc tre vừa bị chặt. Những gốc tre này còn rất nhọn. Vô phúc mà đạp trên những gốc tre đó hoặc tệ hơn là té vào đó thì coi như lên bàn thờ sớm. Chạy được một lúc thì những con ong đã rơi rụng dần. Đặc điểm của loài ong là chúng rất trung thành, bảo vệ tổ ong và ong chúa của chúng đến chết thì thôi. Mỗi lần chúng nhào từ trên cao xuống như phi cơ Kamikaze của Nhật Bản ngày xưa, đáp xuống thân hình của người dám phá tổ của chúng, dùng ngòi chích một cái thì cái ngòi ở lại trong người nạn nhân, kéo ruột của con ong ra theo, và chúng sẽ chết. Tôi nhìn thấy một bụi tre rậm còn sót lại, nhào vào trong đó. Ong không thể “oanh kích” từ trên cao xuống nữa, chúng lảng vảng một lúc rồi bay mất. Các bạn tôi đốt cỏ để khói đuổi đám ong này đi. Các bạn dìu tôi về trại. Khi tôi chạy, đã rơi mất cái nón nên đầu tôi trở thành bãi đáp oanh kích tự do cho bầy ong. Trên đầu và trên vai áo của tôi đầy những đốm màu trắng của ruột con ong. Các bạn tôi rút từng cái nọc ra và khẩy những cái kim của ong còn trong đó. Ngày hôm sau, đầu, mặt và vai tôi sưng tấy lên, không thể nằm ngửa mà ngủ được. Tôi bị lên cơn sốt mất mấy hôm.
Công việc phá rừng làm rẫy vẫn phải tiếp tục. Lần bị ong rượt đuổi và bị cả ngàn con ong chích chưa phải là một lần duy nhất. Có nghĩa là tôi bị ong tấn công lần thứ hai, y như lần trước (sau này, khi sang định cư ở Mỹ, tôi không bao giờ bị dị ứng với bất cứ cái gì, không biết đây có phải là lợi ích của hai lần bị ong chích hay không? Có vị bác sĩ nào trả lời dùm!).
Người dân sóc Thượng oán thán các ông “cách mạng” này lắm nhưng cảm tình của họ đối với tôi không vì thế mà thay đổi. Mỗi lần tôi ra chơi với họ, họ vẫn gọi tôi là “bác sĩ” và vẫn tiếp đón tôi nồng nhiệt.
(Còn Tiếp)
