Nguyễn Quynh: CHIÊM NGHIỆM THẮNG THUA ĐƯỢC MẤT

Nỗi Đau Myanmar

Trong hồi ức ngược về quá khứ, những bức tượng không biết khóc. Chỉ có người và lòng người là vẫn thổn thức mỗi lần bước qua đống tro tàn chiến tranh. Nơi mà lẽ ra nên có hoa, ở đó vẫn mọc lên lưỡi dao, mọc lên những dòng status lầm lì như nấm độc sau mưa. Miến Điện, Ta, Campuchia, Rwanda mỗi quốc gia từng bước ra khỏi chiến tranh bằng hai chân đẫm máu, có quốc gia nào thật sự được chữa lành?

Ta hỏi thẳng: bên thắng cuộc còn lý do gì để căm hờn?

Miến Điện, đất nước với dòng máu thiền tịnh, cuối cùng cũng ngã quỵ bởi chính sự vô minh. Họ đã từng có Aung San, từng có ký ức một Yangon rực rỡ như Paris phương Đông, từng có một thế hệ trẻ đạp xe đi học mà không sợ tiếng đạn. Nhưng rồi, đất nước ấy bị xé nát bởi nội chiến sắc tộc, bởi quân đội nhúng tay vào chính trị như một gã cờ bạc nhúng máu vào ván bài tổ quốc. Cái ác không đến từ bên thua, nó đến từ bên có quyền không biết buông tay.

La Mã xưa, khi đế quốc hùng cường hủy diệt Carthage, họ không chỉ giết hết đàn ông, bắt phụ nữ trẻ con về làm nô lệ. Họ còn rắc muối lên mảnh đất ấy cho không còn hột giống nào mọc lại. Đó là kết thúc của một quốc gia không chỉ bằng kiếm mà bằng lăng mạ kéo dài đến tận đất đai và ký ức.

Cái chết của một quốc gia không bắt đầu bằng đại bác, mà bắt đầu từ tiếng vỗ tay cho một nỗi căm thù.”

Có những quốc gia bước ra từ chiến tranh với đôi chân đẫm máu nhưng không chịu rửa chân. Họ để cho máu khô lại, đóng thành lớp da mới, rồi gọi đó là vinh quang. Có những bên thắng cuộc nhưng không chịu buông roi. Họ quất cái roi đã đánh bên thù năm xưa, vào chính con dân hôm nay. Không phải để răn dạy, mà để nhắc nhở: “ta là kẻ chiến thắng”.

Miến Điện là một bản nhạc dang dở giữa địa lý châu Á. Một quốc gia từng có Aung San biểu tượng của tự do, rồi bị chính quân đội của mình đưa vào nhà tù. Một đất nước được trao giải Nobel Hòa Bình rồi bị quốc tế chỉ trích vì diệt chủng. Nội chiến triền miên như một vết chàm, lan từ ngực ra má, từ má lên trán, không tẩy nổi. Nhưng Miến Điện không cô độc: lịch sử từng ghi nhận những quốc gia thắng nhưng thua chính mình.

Chiến tranh kết thúc bằng tiếng kèn chiến thắng, nhưng không kết thúc trong lòng người. Không có lễ hội nào đủ lớn để khỏa lấp tiếng khóc của người mẹ mất con phía bên kia chiến tuyến. Không có diễn văn nào đủ hùng hồn để thuyết phục rằng bên thua là phi nghĩa toàn phần.

Nhưng thay vì hòa giải, chúng ta chọn khai thác sự tổn thương như một tài nguyên. Chúng ta không chữa lành ký ức, chúng ta khai thác ký ức. Để dựng nên một nền văn hóa “thắng làm vua”, đẩy những ai thất trận vào cõi im lặng và sỉ nhục.

Và thế là, một cuộc nội chiến âm ỉ bắt đầu trong thời bình.

Thắng một cuộc chiến không khó. Khó là thắng mà không trở thành kẻ thù của chính lương tâm mình. Chế độ nào cũng có lý tưởng, nhưng không phải lý tưởng nào cũng mang lại hạnh phúc, sự thống nhất tâm hồn dân tộc thì bị trì hoãn. Một nửa đất nước bước vào sử sách, nửa còn lại bị xóa khỏi bảng tên. Những người từng làm việc trong chính quyền cũ dù chỉ là thầy giáo, nhân viên bưu điện, y tá … cũng bị đưa đi cải tạo. Những người lính ngã xuống cho lý tưởng của quê hương mình không được tưởng niệm. Những đứa trẻ sinh ra sau chiến tranh bị dạy rằng cha ông chúng là “ngụy”.

Miến Điện hôm nay cũng vậy. Các dân tộc thiểu số – người Karen, Kachin, Rohingya – bị trấn áp, bị trục xuất, bị đốt làng. Quân đội Miến Điện không chỉ thắng bằng súng đạn, họ thắng bằng cách xóa tên đối thủ khỏi ký ức quốc gia. Cũng giống như ta từng gọi bên thua trận là “tàn dư”, là “phản động”, là “chế độ cũ”.

Ngày xưa, những kẻ chém giết nhau ít ra còn nhìn thấy mắt nhau. Ngày nay, chúng ta gi.ết nhau bằng câu chữ, bằng bàn phím, từ những đứa trẻ chưa từng sống một ngày trong khói đạn. Mỗi mùa lễ, mạng xã hội lại bốc mùi xỉa xói: “Ngụy nè”, “Mỹ nè”, “Bán nước nè”. Những đứa trẻ sinh sau năm 1990 chưa từng đói, chưa từng chạy bom, chưa từng thấy x.ác người trôi sông lại gõ bàn phím như tướng lệnh.

Nhưng chúng không tự nhiên mà như vậy. Chúng được dạy. Chúng được lập trình. Chúng là sản phẩm của một nền giáo dục một chiều, nơi lòng khoan dung không có đất sống, nơi mà lịch sử được rao giảng như kinh thánh, chỉ có một phe đúng và một phe sai.

Khi người ta cấm khóc cho một người cha ngã xuống bên kia, người ta đã giết chết văn hóa tưởng niệm. Khi người ta cấm tưởng niệm một chính thể đã sụp đổ, người ta đang giết chết đối thoại lịch sử. Và khi người ta để mặc đám trẻ lấy chiến thắng làm lý do để sỉ nhục, thì văn hóa đã bị cưỡng hiếp bởi chính kẻ thắng cuộc.

Thù hằn là tài sản chính trị. Ký ức là hàng hóa. Và kẻ thắng nếu không đủ lớn sẽ buôn bán những vết thương như thể đó là tem phiếu thời bao cấp. Người Miến Điện hôm nay sống trong lò áp suất thù địch, bởi quân đội không chỉ cai trị bằng súng, mà bằng nỗi sợ: “nếu không có chúng ta, dân tộc sẽ bị xé nát”.

Người mình từng sống với thông điệp y hệt: “nếu không có chúng ta, giặc Mỹ sẽ quay lại”. Và thế là, để bảo vệ một chiến thắng, họ bảo vệ luôn cả sự độc quyền ký ức, độc quyền đạo đức, độc quyền sự thật.

Một dân tộc trưởng thành không cần đánh bóng chiến thắng, mà cần đối diện nỗi đau. Nếu Đức sau Thế chiến II không thừa nhận Holocaust, họ đã không thể trở thành cường quốc. Nếu Nam Phi không có ủy ban Sự thật và Hòa giải, Mandela đã không là Mandela.

Nhưng ta thì khác. Miến Điện thì khác. Chúng ta không cần sự thật chúng ta chỉ cần phục tùng. Và từ đó, chúng ta trả giá bằng một thế hệ bị lặng thinh tiếng lịch sử.

Kẻ thắng không phải là người được quyền khạc nhổ vào mặt kẻ thua. Kẻ thắng là người được trao trách nhiệm chữa lành. Kẻ thắng không phải là người giơ cờ trên nỗi đau của đối phương, mà là người gập lại lá cờ và giơ tay ra hòa giải, không làm điều đó, bi kịch bắt đầu...

Làm sao một dân tộc trưởng thành được khi ngay cả cha mình cũng không được phép thương tiếc? Làm sao một quốc gia có thể tiến bước, nếu mỗi lần quay đầu lại, người ta chỉ thấy roi thay vì bàn tay nắm lấy?

Trong sử Trung Hoa, có chuyện Tống Cao Tông cấm khóc Nhạc Phi. Dù biết Nhạc Phi trung thần bị hại, vua vẫn im lặng. Vì sự thật ấy động đến ngai vàng. Và thế là, mồ Nhạc Phi có thơ: “Hoàn ngã giang sơn, hà thời phục hỹ?” (Trả lại giang sơn cho ta, khi nào mới có?) – không phải kêu gọi trả đất, mà là đòi lại công lý cho một danh dự bị bóp méo.

Miến Điện hôm nay cũng vậy. Những người Karen, Shan, Kachin… không được tưởng niệm người thân bị quân đội sát hại. Những ngôi làng bị đốt, những xác người chôn tập thể – không có bia, không có nước mắt. Vì chính quyền không cho phép sự thật được lên tiếng. Họ chỉ cho phép sự thật được biên tập.

Không có gì nguy hiểm bằng một quốc gia dạy con cháu mình rằng chúng ta chưa bao giờ sai.

Còn ở ta thì sao? 30/4 được gọi là “ngày giải phóng”, nhưng không ai dạy học sinh rằng: có hàng triệu người không cảm thấy được giải phóng. Không ai đặt câu hỏi: Tại sao hàng trăm ngàn người liều mình vượt biển? Tại sao có cả thế hệ bỏ quê hương ra đi, gọi đó là “nạn nhân của hòa bình”?

Miến Điện cũng vậy. Chính quyền quân sự không dạy học sinh về vụ đàn áp tại Depayin, không nhắc đến người Rohingya. Họ xóa tên, xóa sự kiện, xóa cả tiếng khóc. Và thế là ký ức trở thành trò chơi của kẻ có quyền. Lịch sử trở thành một bộ phim bị biên tập.

Thế hệ sinh sau 1990 ở ta, hay thế hệ sau đảo chính 2021 tại Myanmar, đều là những đứa trẻ lớn lên trong một chương trình giáo dục vô cảm. Chúng không biết chiến tranh là gì, nhưng chúng biết “phe ta thắng”. Chúng không biết bên kia đã chết bao nhiêu người, nhưng chúng được dạy “bên đó sai hết”.

Chúng được lập trình để yêu mà không cần hiểu. Ghét mà không cần lý do. Chúng không học lịch sử, chúng học thuộc thái độ chính trị của người viết sử.

Chúng không được dạy cách khóc đúng, chúng chỉ học cách vỗ tay đúng nhịp. Và cứ vậy, mỗi mùa lễ, lại thấy đám đông chửi bới, vu khống cả cộng đồng hải ngoại là “bán nước”. Dù chính những người ấy – có cha, có mẹ – đã bỏ mình nơi biển cả để đi tìm tự do. Không ai hỏi tự do gì. Không ai hỏi vì sao bỏ chạy. Họ chỉ hỏi:

“Mày có yêu tổ quốc không?”

Và nếu không trả lời như trong sách giáo khoa – thì bị gọi là “phản động”.

Sự thật đau nhất không phải là người ngu chửi – mà là người khôn im lặng.

Những người biết lịch sử, biết sự phiến diện, biết sự thật có nhiều mặt, lại chọn cách né câu hỏi khó. Họ lặng thinh trước việc học sinh bị nhồi sọ. Họ tránh né những lễ tưởng niệm mang tính nhân bản. Họ nói: “Đừng nhắc nữa, nhạy cảm lắm.”

Và chính sự im lặng đó là một hình thức đồng lõa.

Có người bảo: “Im để giữ ổn định.” Nhưng không ai nói rằng: ổn định bằng cách giấu xương người trong lòng đất là một sự ổn định ghê rợn. Ổn định không phải là trật tự, ổn định là khả năng sống chung với sự khác biệt mà không cần đánh nhau. Nhưng người ta không muốn điều đó. Họ muốn ổn định bằng cách chỉ cho phép một tiếng nói, một ký ức, một cờ, một chủ nghĩa.

“Quyền lực nếu không được kiểm soát, sẽ tự phong thánh cho chính nó.”

— Triết ngôn Nam quốc

Ở ta sau chiến tranh, những kẻ từng là người cầm súng được tôn vinh tuyệt đối. Nhưng trong vinh quang ấy không có chỗ cho câu hỏi:

“Anh đã làm gì sau khi thắng?”

Và “anh có dùng chiến thắng để xây lại hay đập nát thêm?”

Không ai dám chất vấn chuyện tù cải tạo kéo dài hàng chục năm. Không ai được phép hỏi vì sao đất đai bị tịch thu mà không qua xét xử. Và càng không ai được quyền truy cứu cái chết của những người vượt biên, bởi họ bị dán nhãn “phản quốc”.

Khi bên thắng đặc quyền miễn truy cứu, thì mọi tội ác đều được tắm rửa bằng hai chữ “giải phóng”.

Miến Điện cũng vậy. Quân đội từng là lực lượng bảo vệ tổ quốc giờ trở thành tổ quốc thu nhỏ. Ai chống quân đội là chống quốc gia. Ai lên tiếng là phản động. Và thế là, súng không cần lý do. Nhà tù không cần tòa án. Bạo lực không cần giải thích.

Cái roi bây giờ không cần vung, nó được phát sóng trên TV quốc gia.

Một cụ già người Khmer Krom khi được hỏi:

– “Sao bác không kể lại chuyện xưa cho con cháu?”

Cụ đáp:

– “Tao sợ tụi nó tin, rồi tụi nó chết vì lời tao nói.”

Câu trả lời ấy là bản án cho cả một thời đại: thời đại mà sự thật trở thành thuốc độc, còn dối trá trở thành cơm hàng ngày.

Ở Miến Điện, nhiều người giàu lên từ chiến tranh rồi viết sách ca ngợi thời kỳ nội chiến như thời “trỗi dậy vinh quang”. Còn những người dân chết vì pháo kích, vì lính hãm hiếp, vì đói và chạy loạn thì bị gọi là “thiểu số phản loạn”.

Ở ta, có hẳn những lớp học “kể chuyện cách mạng” nhưng không bao giờ kể chuyện cải cách ruộng đất. Không kể chuyện mất đất vì biên giới phía Bắc. Bởi vì người kể không được phép bị nhớ sai định hướng.

Một người mẹ có con ngã xuống trong hàng ngũ chế độ cũ không được phép thắp nhang công khai. Một người cha treo lại tấm hình con mặc quân phục bị tổ dân phố nhắc nhở “đừng gây phản cảm”.

Và tôi tự hỏi: Từ khi nào nước mắt của cha mẹ cũng cần được kiểm duyệt?

Miến Điện có những người cha chôn con trong im lặng. Bởi nếu thắp một cây nhang, treo một bức ảnh, viết một cái tên sai “định hướng” – thì lính sẽ gõ cửa. Họ không cần giết anh – họ chỉ cần dọa vợ anh mất việc, con anh bị đuổi học, hàng xóm bị gọi lên phường.

Chính trị hóa nỗi đau cá nhân là một hình thức tra tấn lâu dài. Bởi nó khiến nỗi đau ấy không bao giờ được kết thúc, chỉ được lặp lại trong âm thầm.

Hòa bình không phải là cờ. Không phải là ngày lễ. Không phải là những bài hát được bật lên vào mỗi dịp kỷ niệm. Hòa bình là khi một người thua có quyền được khóc, và người thắng biết cúi đầu trước vết thương không phải của mình.

Hòa bình là khi lịch sử được viết bởi những người sống sót, chứ không phải được chỉnh sửa bởi người thắng.

Miến Điện đã mất cơ hội hòa bình vì họ chọn đánh thay vì đối thoại. Còn ta đang đánh nhau trên mạng bằng ngôn từ hằn học, để chứng minh rằng “phe tao chưa từng sai”.

Có một câu thần chú mà mọi bên nắm quyền hậu chiến đều thuộc lòng:

“Muốn quốc gia tiến lên phải quên quá khứ đi.”

Nhưng vấn đề là: họ không thực sự muốn quên – họ chỉ muốn người khác quên.

Quên nỗi đau của gia đình tử sĩ bên kia.

Quên oan khuất của những người bị cải tạo oan.

Quên máu đã đổ mà không nằm đúng phía.

Quên đi mọi thứ không có mặt trong sách lịch sử được duyệt.

Nguyễn Quynh

*Tên bài do TVBH đặt

**Bài do CTV/TVBH gởi tới.

Bài Mới Nhất
Search