Bản đồ các huyện của tỉnh Bình Thuận – Ảnh: bankervn.com
Không tên – là vô thổ.
Vô thổ – là vô tổ.
Vô tổ – là vô tộc.
Vô tộc – là vô đạo.
Và từ đó, con người thành cây trôi sông, không còn nhớ rừng nào sinh ra mình….
Tên đất tên làng, sợi chỉ đỏ xâu hồn dân tộc, là cột cờ giữa cõi vô hình. Cắt cái tên như chặt đứt dây vía, rớt xuống vực quên lãng.
Hễ nói tới Bình Thuận, tức người ta nói tới một vùng địa linh có dấu chân người từ thuở Chăm Pa ngự trị, rồi đến Việt tộc khai khẩn, rồi tiền nhân gồng gánh mở cõi.
Mà cái tên Bình Thuận, xin thưa không phải tiền nhân bốc đại mà đặt. Nơi đây một thiên địa danh xưng, một lời phong ấn mang thiên mệnh.
Lật sử ra mà coi, năm 1697, triều đình nhà Nguyễn lúc ấy là Chúa Nguyễn Phúc Chu, sau khi thôn tính phần đất còn lại của Chiêm Thành, lập phủ Bình Thuận từ đất cũ của Trấn Thuận Thành.“Bình” là bình an. “Thuận” là thuận hòa.
Hai chữ đó, lời thề của người mở cõi, là nguyện ước tr.ời đất không chiến loạn, là phong ấn cho một vùng biên địa được sống kiếp người, không kiếp loạn.
Người Chăm gọi vùng đất này là Pan Rang tức Phan Rang – Phan Rí, từng có vương thành cuối cùng của Chiêm Quốc. Nguyễn Phúc Chu đặt tên mới nhưng không xóa gốc, người phong ấn như thể “thêm da thịt mới vào bộ xương cũ,” giữ khí linh, hòa huyết thống.
Chữ Bình Thuận vì vậy hơn cả một địa danh, là dòng hòa huyết giữa hai nền văn minh: Việt và Chăm.
Thiên hạ có 3 thứ không thể tuỳ tiện đổi tên: tên người – tên đất – tên núi.
Bởi đổi tên, là đổi khí mệnh. Mà khí mệnh là đường vận của long mạch trời đất.
Phủ Bình Thuận từ thời Chúa Nguyễn có địa thế tuyệt vời:
– Bắc giáp sơn lâm Đà Lạt, Nam hướng biển Đông, Tây nối rừng Đắk Nông, Đông giao hải khẩu Vĩnh Hảo.
– Sông Cà Ty, sông Dinh, sông Lũy như 3 mạch máu lớn dẫn khí từ rừng ra biển.
– Núi Tà Cú gọi là trấn sơn, che chở như cái lưng tựa vào đại địa.
– Biển Lagi cửa sinh, mở đường thông thương tới Côn Đảo, Phú Quốc, Gia Định.
Vì vậy, đặt tên Bình Thuận là để giữ mệnh.
Giống như ai đó lập nghiệp gọi con là An Khang, thì mảnh đất mở cõi cần tên gọi bình ổn, thuận lòng.
Nếu hôm nay ta cắt mất chữ Bình Thuận, là như xé mất bùa hộ mạng tổ tiên đã phong.
Nhập vô Lâm Đồng tuy tên đẹp nhưng khí mệnh không khớp, địa danh không ứng.
Nơi đây, một vùng biên thùy trấn giữ giấc ngủ phía Đông Nam của Đại Việt.
– Năm 1832, vua Minh Mạng chia trấn thành tỉnh – Bình Thuận chính thức là tỉnh độc lập.
– Trong thời Pháp thuộc, Bình Thuận là nơi truyền đạo Công giáo mạnh, cũng là nơi phong trào Duy Tân âm ỉ.
…
Chặt bỏ một tên gọi tồn tại suốt một phần ba thiên niên kỷ, chẳng khác nào đập tan tượng thờ trong ngôi miễu tổ.
Người ta có thể xây lại một ngôi nhà, đắp lại một cái đình, dựng lại một cổng làng. Nhưng một khi đã mất tên đất, thì mọi sự nối kết đều như rơi vào hư không.
Lấy ví dụ:
Lễ hội Dinh Thầy Thím hơn 100 năm qua gắn với xã Tân Tiến, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
Nếu bây giờ ghi trong giấy tờ là “Lâm Đồng,” thì văn khấn phải sửa.
Mà sửa văn khấn là cắt luôn sợi dây nối giữa trần và âm.
Chùa Phật Tích (Tà Cú) nổi tiếng linh thiêng khách thập phương hành hương luôn đọc:
“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, chúng con là tín đồ đến từ Bình Thuận về bái Tà Cú xin cầu an.”
Nếu đổi thành Lâm Đồng mà không ai sửa lại kinh văn thì linh ứng có còn linh?
Sau này ta sẽ gọi:
“Phan Thiết – Lâm Đồng”?
Hay: “Phan Thiết cũ, tỉnh lỵ nay thuộc Lâm Đồng mới sáp nhập từ tỉnh Bình Thuận xưa”?
Có ai đọc sử mà lại quằn quại như dây thừng gút bụng như vậy?
Tên đất là cái neo giữa quá khứ và hiện tại.
Mất nó lịch sử sẽ như cánh buồm bị đứt cột, trôi khỏi bến bờ văn hiến.
Người mình dù Nam hay Bắc, Kinh hay Thượng, có một tục bất biến ngàn năm:
Hễ đến ngày giỗ, là lập mâm hương, ghi địa danh đầy đủ trên văn tế, rồi gọi linh hồn tổ tiên về chứng giám.
Ví dụ:
“Hôm nay là ngày kỵ nhật, cháu con họ…, ngụ tại xã Tân Hà, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, thành tâm thiết lễ mọn, mời tiên tổ về dự.”
Vậy thử hỏi, nay tên “Bình Thuận” biến mất, thay bằng “Lâm Đồng mở rộng,” thì ông bà tiên tổ có lội bộ từ cõi âm về tới nơi không?
Ông bà mình đâu phải… xài Google Maps, mà cứ “cập nhật hành chính” là biết đường về.
Chuyện này không phải mê tín. Mà là nghiệp lý dân gian, tồn tại hơn mười thế hệ ở vùng đất Bình Thuận này.
Trong tâm linh Á Đông, linh hồn người mất giữ nguyên ký ức cõi sống. Mà ký ức ấy gắn liền với địa danh, tên núi tên sông.
Nếu chỗ đó không còn tên như khi họ mất, họ sẽ lạc lối giữa trung giới không biết đâu mà về hưởng hương khói.
Cũng vậy, Dinh Thầy Thím ở Tân Tiến một trong những lễ hội lớn nhất Nam Trung Bộ, người ta rước bài vị, dựng kiệu, thắp đuốc luôn bắt đầu bằng câu:
“Chúng con là con cháu vùng Bình Thuận, về đây rước Thầy Thím, xin độ trì cho xóm làng.”
Giờ đọc sao?
“Chúng con ở tỉnh Lâm Đồng mở rộng, về đây rước thần linh từng cai quản đất Bình Thuận cũ”?
Rồi đến mộ gió Phan Rí, những ngôi mộ không hài cốt, chỉ là cát, đá, tượng trưng cho linh hồn người đi biển mất xác.
Tục xưa dạy rằng, khi vớt được tên người mất, thì phải lập bài vị nơi họ sinh ra, không phải nơi họ mất.
Vậy thử hỏi, dân Phan Rí sinh ra ở “Bình Thuận,” giờ con cháu họ chỉ biết ghi “Lâm Đồng” – thì hồn trôi ngoài khơi biết đâu mà tìm?
Trong giáo lý Phật giáo, nhất là tông phái Tịnh Độ, con cháu làm Phổ độ, Chẩn tế đọc rõ:
“Pháp hội tại Bình Thuận, cầu siêu cho chư hương linh…”
Nếu tên đổi, kinh tụng vẫn cũ thì địa giới âm linh không tiếp nhận.
Mà nếu sửa theo tên mới linh h.ồn nghe không quen, không nhận được lệnh triệu.
Đạo giáo có thuyết “Ngũ phương địa phách”, dạy linh hồn người mất chia làm 3 phần:
Một phần về tr.ời.
Một phần theo tên gọi mà quy địa.
Một phần lưu lại nơi mất để chờ tế lễ.
Còn Nho học, trong “Lễ Ký”, có câu:
“Bất tri tôn tổ kỳ địa, phi nhân dã.”
(Không biết nơi tổ tiên yên nghỉ, thì chẳng phải người.)
Đó là vì xưa nay, người có gốc, hồn có rễ.
Mà rễ đó chính là tên đất. Là tấm thẻ căn cước của âm linh.
Ta từng nghe tên đất như những bài thơ cổ trong dòng sử Việt:
Thuận Hóa – nơi khởi nghĩa Tây Sơn bắt đầu.
Gia Định – quê Nguyễn Du viết Truyện Kiều.
Bình Định – đất võ trời Nam.
Và Bình Thuận – nơi Phan Chu Trinh từng để dấu giày, nơi thi sĩ Bùi Giáng “về làng giữa biển.”
Vậy thì câu hỏi đau đớn là:
Khi xóa một cái tên – ta xóa luôn những tầng văn hóa đọng lại trên địa danh đó?
Làm sao còn thể dạy trẻ em thuộc sử địa phương nếu không còn “địa phương” để nhớ?
Ta hãy tưởng tượng:
Một du khách quốc tế tìm đọc bản đồ, hỏi hướng dẫn viên:
– “Tôi muốn đến Phan Thiết, thủ phủ nước mắm truyền thống.”
– “Dạ, xin lỗi, Phan Thiết giờ thuộc tỉnh… Lâm Đồng.”
– “Ủa? Vậy còn Bình Thuận?”
– “Dạ… tỉnh đó xóa rồi.”
Rồi du khách sẽ hỏi:
– “Vậy sao trên chai nước mắm ghi là ‘nước mắm Phan Thiết – Bình Thuận’?”
Sự lú lẫn tên gọi chính là cái mất ngấm ngầm của ngành du lịch bản địa.
Không có tên riêng, không có câu chuyện riêng.
Không có câu chuyện riêng, không có bản sắc.
Trong chương trình Sử – Địa lớp 4, có bài:
“Kể lại lịch sử tên gọi và truyền thống quê em.”
Nếu em bé Phan Rí học bài này, em viết sao?
“Quê em là tỉnh Lâm Đồng. Nhưng trước đây, người ta gọi là Bình Thuận. Nhưng giờ không ai nhắc đến nữa…”
Một thế hệ lớn lên như thế, thì mạch lịch sử bị đứt gãy. Dân tộc mình sẽ thành ra lớp người lưu lạc trong bản đồ tổ quốc.
Trong Kinh Xuân Thu, có ghi lời của Khổng Tử:
“Quốc hữu danh, dân hữu vị. Quốc vô danh, dân vô căn.”
Tức là:
“Nước có tên, thì dân có vị trí trong tr.ời đất.
Nước mất tên thì dân hóa phiêu linh.”
Ngày xưa nước Sở, vì bị đổi tên qua 3 triều đại, đã khiến hơn 3 đời dân không nhận ra mình là người cũ.
Khi kẻ thù tới họ không bảo vệ được quê vì chẳng biết quê là đâu.
Tên tỉnh, huyện, xã không phải để thống kê.
Nó là những tượng đài vô hình, nơi chứa cả hồn lịch sử, m.áu dân tộc, x.ương tổ tiên.
Bình Thuận là chữ “Bình” nghĩa là an hòa, chữ “Thuận” nghĩa là thuận hòa, thuận đất trời.
Nó không phải cái tên tùy tiện.
Nếu đổi thành “Lâm Đồng mở rộng” thì đó là cái tên mô tả địa lý không phải linh hồn.
Nguyễn Du từng khóc:
“Quê hương khuất bóng sau lưng,
Mộ cha phủ cỏ mà từng đắng môi.”
Nguyễn Tất Nhiên thì viết:
“Anh bỏ em về quê ngoại
Em đòi theo… anh giấu quê mình.”
Còn giờ, thử hỏi:
Con cháu Bình Thuận có muốn “giấu quê mình” vì quê không còn trên bản đồ nữa không?
“Thời xưa xưng đất mà lập quốc.
Thời nay xoá đất để… tiện giấy tờ.
Ngày xưa lập làng, lấy tên ông tổ đặt tên ấp.
Nay lập tỉnh, xoá tên ông bà tổ cho… dễ quản lý.”
Nghe qua tưởng chuyện đùa.
Mà không: đang là thật.
Mà không chỉ thật mà còn là một sự thật trần truồng đầy nhức nhối.
“Bình Thuận” có từ thế kỷ 17, thời vua Nguyễn Phúc Chu.
Tên “Bình” là mong yên, “Thuận” là mong hòa.
Là lời khấn của tổ tiên ta khi khai phá vùng đất cát trắng, biển xanh nơi có rồng nằm ngủ dưới dãy Tà Cú.
Mà nay, lấy lý do “sáp nhập cho tiện” rồi gom cả một vùng đất có mạch sử riêng, bản sắc riêng, tiếng nói riêng… quăng vào chung một cái tên: “Lâm Đồng”.
Xóa hết 300 năm danh xưng trong một dòng văn bản hành chánh.
Bình Thuận là nơi phát tích Hát Bội Phan Thiết, nơi tổ nghiệp là ông Ba Tấn từng lưu danh.
Là đất sinh của bánh căn, nước mắm cá cơm, chè đậu xanh đá biển những thứ không đâu có.
Vậy thử hỏi: xóa tên “Bình Thuận”, thì những sử liệu ghi danh “Bình Thuận” sẽ trở thành… cái gì?
Trở thành sử ký của một vùng đất không còn tên.
Người sau tra cứu, đọc tới:
“Cuộc khởi nghĩa Phan Rí năm 1903 ở tỉnh Bình Thuận…”
Sẽ hỏi:
“Ủa, tỉnh đó ở đâu? Giờ không thấy tên nữa?”
Lúc đó, lịch sử không còn tọa độ.
Ở Trung Quốc, đời nhà Tần có một đợt cải cách tên đất toàn quốc, xoá gần hết địa danh cũ, đặt tên mới như “Quận Hộ,” “Quận Thượng,” “Huyện Dực.”
Nghe rất hành chánh, rất tiện quản lý.
Hệ quả là:
Sử ký nhà Hán ghi lại:
“Người dân không nhớ nổi gốc. Lễ tế thần tổ bị mất. Họ cúng sai thần.”
Và hàng chục triều sau, người Tống – Minh – Thanh phải khôi phục lại tên cũ vì dân không chịu nhận tên mới.
Bạn hỏi một đứa trẻ:
– “Con ở đâu?”
– “Dạ… Lâm Đồng… chỗ biển…”
Nó phải dùng từ mượn “chỗ biển” để mô tả Bình Thuận.
Vậy là quê hương nó nơi ông bà nó sinh ra không còn một tên gọi riêng.
Ở Pháp, khi hợp nhất các vùng hành chánh như “Alsace” vào “Grand Est,” người dân vẫn giữ tên Alsace trong đời sống, bản sắc, bảng chỉ đường.
Ở Nhật Bản, thành phố Tokyo mở rộng ra nhiều vùng nhưng tên cổ như Edo, Shibuya, Asakusa vẫn được bảo tồn, thậm chí thành thương hiệu quốc tế.
Nguyễn Quynh
*Bài do CTV/TVBH gởi.
