Khung Cửa Hẹp – Tranh: HOÀNG THANH TÂM
Hết Lễ nghỉ đầu tuần, đường sá đều thức dậy. Xa lộ toàn xe chạy. Phố xa đầy người đi… Tôi nghĩ bài Đường Thi muốn mơ màng một chút…ca ngợi cái “tỉnh thức” của không gian thời gian…Nhưng, tôi chỉ đi ngang… cõi-đời-này-quán-trọ! Có nghe ai nói nhỏ: “Cõi Tạm Dung Thôi Mà!”. (1)
Một nửa Thế Kỷ qua, suýt soát sáu trăm tháng…không ai còn lãng mạn; tôi làm thơ khô ran! Đường Thi ngàn ngàn năm còn chăng là bóng hạc, thấy chăng chỉ phù vân! Thơ văn toàn Tân Thanh! Mà… Tân Thanh Đứt Ruột! (2)
Nguyễn Du đã trớt quớt, hậu sinh có ai hiền? (3) “Hoa trôi nước lặng đã yên, hay đâu địa ngục giữa miền trần gian!” (4). Nguyễn Du nói như than…đồng bào ông câm lặng…thế là “ổn” như nắng! Nắng không cực thì vui! Dĩ nhiên mưa ngậm ngùi. Dĩ nhiên bão hung tợn. Dĩ nhiên đường đi xuống… tìm lông hạc… biết đâu!
*
Tôi nhớ ông Nguyễn Du, thời Sứ Tàu, ông viết: “Nghêu ngao vui thú yên hà, mai là bạn cũ, hạc là người xưa!” (5). Ông để hai câu thơ, sứ Giang Tây lồng lộng. Cái thời Nguyễn Du sống… là cái thời bâng khuâng? Cái thời đó, Nước Nam, Tàu đặt tên xỏ lá…(6) Chữ Nguyễn Du: Chữ Nôm! Tình Nguyễn Du: Cố Lý!
Ba mươi lăm năm, tôi, Mỹ, tôi cũng là phù vân!
Ba mươi lăm năm! Ba mươi lăm năm! Bạch vân thiên tải không du du! Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản!(7)! Nước mắt tôi loáng thoáng chuếnh choáng đường bụi sương… (8)
Trần Vấn Lệ
(1) Nhan đề một thi phẩm của Ngọc Hoài Phương, Cõi Tạm.
(2) Nguyễn Du là tác giả Đoạn Trường Tân Thanh không phải Truyện Kiều.
(3) Hiền: Hiền nhân quân tử, người có lương tri, bậc sĩ phu, không phải Kẻ Sĩ. Người xưa coi người có học là Bậc Sĩ Phu, Đấng Sĩ Phu. Chữ Kẻ dành cho lũ ăn cướp, ăn cắp, ăn trộm thí dụ: kẻ cướp, kẻ cắp, kẻ trộm, kẻ lang thang…
(4) Hai câu này trích từ Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du.
(5) Nguyễn Du khi Bắc Hành sang Tàu, có tới “tham quan” lò sứ Giang Tây, tại đây người chủ lò sứ xin Nguyễn Du bút tích, Ông ghi ngay hai câu lục bát bằng chữ Nôm… viết y chang như chữ Tàu mà Tàu không đọc được.
(6) Chúa Nguyễn Ánh thống nhất sơn hà, lên ngôi Vua mở ra triều đại Nhà Nguyễn năm 1802, lấy Niên Hiệu Gia Long (giàu và phát triển), Quốc Hiệu Nam Việt (nước Việt phía Nam Bắc Quốc), chữ Việt viết bộ Mễ (mễ cốc), cử sứ giả sang Tàu cầu phong làm An Nam Quốc Vương cho ổn. Vua Tàu là Càn Long bực bội, không nói gì, tức tối mà lâm bệnh và chết. Năm 1804, Vua Tàu kế tiếp mới cử sứ giả sang Thăng Long gặp Vua Gia Long và cho biết Quốc Hiệu Việt Nam, chữ Việt viết bộ Tẩu, chạy trốn về phương Nam! Bọn Tàu Thanh không công nhận Huế là Kinh Đô nước Ta, chỉ công nhận Thăng Long thôi. Các Vua Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức đều phải ra Thăng Long gặp Sứ Tàu. Năm 1820, Minh Mạng lên ngôi, xác định nước Ta là Đại Nam, Thăng Long là Hà Nội. Đại Nam tồn tại tới năm 1945 còn Hà Nội chính thức đi vào Đại Nam Nhất Thống Chí từ năm 1838, năm cuối cùng Bác Hành của Vua Tự Đức…
(7) Nguyên bản: Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản, Bạch vân thiên tải không du du (Thôi Hiệu).
(8) Tôi, TVL, nhập cư Mỹ tối 17 tháng 11 năm 1989.
*
Bạn có thể thấy những chi tiết trên trong tất cả các cuốn Việt Sử nhưng tại vì người mình không trọng môn Lịch Sử… thì thôi! Cái thời thế thế thời phải thế thế thời thôi!
