Ngộ Không Phí Ngọc Hùng:  TIÊN SƯ ANH TÀO THÁO

       Một ngày, đọc đỏan văn của Nguyễn Đình Nghi, con nhà văn Thế Lữ…

        “Ông cụ tôi không hề hé ra một lời nào về hoạt động cộng sản của cụ. Nhưng khủng bố đỏ thì ghi lại và nói cho con trai ghi chép hết cả. Như đoàn kịch Anh Vũ của cụ đang dựng diễn ở Huế thì Việt Minh lùng bắt cụ để thủ tiêu (thời gian này Thế Lữ hoạt động cho VNQDĐ), may mà cụ trốn được. Dạo ấy Tố Hữu (xem Phụ đính1) phụ trách Xứ ủy Trung Kỳ để trừ Việt gian ghê lắm suốt cả dẻo Trung bộ”.

       Dài hơn nữa với Cuộc trò chuyện cuối cùng của Kim Lân

       “Hồi ấy khoảng năm 1951, các đồng chí trung ương nói phải lột xác, cải tạo triệt để, chứ lý lịch lập trường hôi hám quá. Một hôm Nam Cao đọc bản thảo để tổ văn nghệ góp ý. Đang đọc nửa chừng, Nguyên Hồng cười phá lên: Nam Cao lột xác bịa hay quá. Chỉ sau đó vài tháng, Nam Cao nhận công tác vào Nam Hà làm thuế nông nghiệp: Nam Cao bị Tây bắn chết. Sau này Tô Hoài bảo tớ: Nam Cao nếu còn sống không vướng vào Nhân Văn cũng sa vào xét lại như các cậu.

       Sau khi Nam Cao chết không lâu, Tố Hữu lại bảo tớ lên đường. Thì tớ lên đường. May tớ nhát vì nghĩ đến Nam Cao, thuyền sắp đến bến, tớ bảo anh giao liên cho thuyền ghé vào dưới bến một quãng xem sao. Tớ nghe thấy lính Tây đang đợi sẵn xuỵt chó, tiếng chó đánh hơi, tiếng đạn lên nòng xoành xoạch. Hãi quá. Khoảng nửa giờ, lính Tây kéo nhau đi. Thế là thoát. Hú vía! Không thì lại như Nam Cao”.

      Bèn khảo chữ về tiểu sử ông: Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri. Sinh quán tại làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân, Hà Nam. Mất tại Hoàng Đan, Ninh Bình. Về cái chết của ông là nghi vấn văn học, trước kia: ông tham gia đoàn công tác thuế nông nghiệp ở khu III, đứng ở mũi thuyền bị máy bay bắn chết. Tôi ngẫm nguội thằng Tây lái máy bay bà già cổ lỗ sĩ làm gì có súng mà bắn. Sau này được viết lại: năm 1951, trong chuyến công tác tại Ninh Bình, Nam Cao bị quân Pháp phục kích bắt và xử bắn.

      Cũng chuyện xử bắn, hai người con gái Phạm Quỳnh gặp ông Hồ để hỏi về cái chết của thân phụ mình. Với lý do nào đấy họ không viết về cái chết của ông. Người chết không biết nói nên người sống chịu chết không hay biết Phạm Quỳnh bị giết tại cánh rừng Hắc Thú gần Huế, hay ở bãi cỏ bên bờ sông Hương? Bởi theo sử gia Trần Gia Phụng: Ông bị giết ở Cổ Bi, huyện Phong Điền, Huế và họ phi tang thân xác ông.

       Trong Chúng tôi đi tìm mộ cha – nhà văn Nam Cao cũng vậy, vì lý do nào đó con gái Nam Cao, bà Trần Thị Hồng không viết gì nhiều…  

      “Cha tôi bị bắn cùng đồng đội, họ lại ngăn cấm đồng bào mai táng cho người quá cố. Do vậy đồng bào phải lén lút đóng bè chuối, chở thi thể đến mai táng ở một hố vôi ở huyện Gia Viễn, Ninh Bình bên đường số Một, không gỗ ván, bốn thi thể vùi trong một nấm mồ…Cha tôi bị bắn một phát vào đầu, và một phát làm gãy hai xương sườn. Ngày đưa cha tôi về quê chôn cất, có nhà văn lão thành Kim Lân”.

       Bởi đưa thì hài ông vào đất liền bằng bè chuối, tôi vẽ ra chuyện ông bị bắn ở trên thuyền với ba đồng đội. Còn máy bay bà già do họ vẽ rắn thêm chân ấy thôi. Nhưng còn người chèo thuyền đâu? Người chèo thuyền này là ai?. Vì trong đêm Hà Nội nổ súng đánh Pháp, ai giết Dương Quảng Hàm! Pháp hay Việt Minh? Từ điển Tác gỉa Việt Nam ở trong nước viết: “Ông mất tích tại Hà Nội…”. Từ điển này, hai tháng sau, không dùng chữ…”mất tích” nữa, sửa lại là ông…”mất”. Cho đến nay nghi vấn giết người mỗi nơi mỗi khác, như Nguyễn Bá Trác bị xử bắn công khai. Thủ tiêu thì Khái Hưng bị bỏ gịo trôi sông. Lan Khai bị xô xuống vực. Trừ Hữu Loan là một ngọai lệ, vì người du kích được lệnh thủ tiêu Hữu Loan nhưng vì mê thơ ông nên tha Hữu Loan.

       Việc bà Trần Thị Hồng đưa thi hài Nam Cao về quê, qua ký sự của nhà báo Phạm Hằng còn khó hiểu hơn nữa! Nhưng ấy là chuyện sau.

       Với “trước kia” và “sau này”, tôi lọ mọ đi tìm những tác phẩm của ông dựa dẫm vào người trong nước dùng từ trước cách mạng ông có 50 truyện ngăn, trong đó có Chí Phèo, Lão Hạc…Sau cách mạng, va vào mắt tôi truyện ngắn…Đôi mắt. (1948)

 Thế là mụ chữ tôi dều người với “Đôi mắt”. Khởi thủy truyện ngắn tên ”Tiên sư anh Tào Tháo”, vì ngự sử văn đàn kết tội ông: Thiển cận, lệch lạc. Vì bạn ông đọc “nghe hơi văn” đề nghị ông đổi tựa đề là Đôi mắt.

       Qua chuyện có hai nhân vật: người thứ nhất là Độ mà tôi đồ chừng là Nam Cao.. Người thứ hai là Hoàng bạn ông tản cư về nhà quê. Với tên “Hòang”, mụ chữ tôi liên tưởng đến làng Đại Hòang quê ông, nên nghĩ vụng ông “phân thân” là nhân vật Hòang để “ngọa đàm” với chính mình. Bỗng khi không tôi lau lách tới ông…”lột xác” trong Đôi mắtviết năm 1948 thuộc thiên niên kỷ 20. Vậy mà mãi đến thiên niên kỷ 21, giới Tây phương mới có Chứng bệnh Ferma. Là bệnh chứng trong văn giới, tác giả tạo ra…nhân vật thứ hai là chính mình để nói chuyện.

Chuyện ông nằm trong mùng, có gói thuốc lá, bao diêm, cái gạt tàn thuốc và chẳng thể thiếu…một vài chú rận. Ngỡ ông tả…con rận thì ông viết về…con chó.

“…Anh thanh niên làng chỉ cái cổng gạch nhỏ, quay lại bảo tôi.:
– Ngõ này, ông Hoàng nhà văn ở đây.
Tôi toan vào. Anh vội ngăn tôi lại:
– Khoan, để em gọi con anh Hòang xích con chó lại.

Tôi nhớ đến những lần đến chơi nhà anh Hoàng ở Hà Nội. Bao giờ tôi cũng phải chờ anh thân hành ra nắm cái vòng da ở cổ con chó tây to bằng con bê. Bây giờ đến thăm anh ở chỗ gia đình anh tản cư về, tôi lại được nghe đến con chó này…”

       Mụ chữ tôi sa đà với nhà văn Nam Cao, hết Trẻ con không được ăn thịt chó đến Lão Hạc cũng có…chó. Lại nữa với truyện ngắn Con chó xấu xí mà Kim Lân bị mang vạ. Nên tôi đồ rằng trước sau tai bay vạ gió cũng đến với ông vì phán quan kết tội ông có cái nhìn thiển cận, lệch lạc. Hoặc trong cuộc kiểm thảo lý lịch lập trường phải lột xác, Nguyên Hồng đã vắn vỏi: “Nam Cao…lột xác hay quá”.

       Ừ thì đảo hãy qua Nam Cao lột xác qua nhân vật Hoàng…

“…Mà sao họ đã bận rộn nhiêu khê thế mà vẫn còn thì giờ chú ý đến những người xung quanh? Anh chỉ giết một con gà, ngày mai cả làng này đã biết. Này, anh mới đến chơi thế mà lúc nãy tôi đã thấy có người nấp nom rồi…”.

      Qua cái nhìn của Hoàng về ngươì nhà quê…

“…Tôi gần gũi họ nhiều thấy họ phần đông dốt nát một cách đáng thương. Nghe các ông nói đến “sức mạnh quần chúng”, tôi nghi ngờ. Tôi cho rằng nông dân nước mình thì vạn kiếp nữa cũng chẳng làm cách mạng nổi. Nhưng đến hồi Tổng khởi nghĩa tôi đã ngả ngửa người. Tôi đã theo họ đi đánh phủ, đánh huyện. Tôi đã gặp họ trong mặt trận Nam Trung Bộ. Vô số anh răng đen, mắt toét, gọi lựu đạn là nựu đạn…”

      Vẫn lời của nhân vật Hoàng nói với Độ về…quả lựu đạn:

“…Lại còn các bố tự vệ nữa mới chết người ta chứ! Họ vừa ngố vừa nhặng sị. Đàn bà chửa họ cho là có lựu đạn dắt trong quần! Họ đánh vần xong một cái giấy ít nhất phải mất mươi phút, thế mà động thấy ai đi qua là hỏi giấy. Anh đi, hỏi. Anh về, hỏi nữa. Lát nữa anh ra khỏi làng, lại hỏi. Anh kể người nhà quê toàn là những người ngu độn. Cha con, anh em ruột chẳng tốt với nhau. Các ông thanh niên, các bà phụ nữ mới bây giờ nhố nhăng. Viết chữ quốc ngữ sai vần mà lại cứ hay nói chuyện chính trị rối rít cả lên. Mở miệng ra là thấy phê bình, cảnh cáo, phản động, xã hội chủ nghĩa…”.

       Thêm chuyện anh hàng cháo lòng đánh tiết canh …

“…Họ có nhiều cái ngố không chịu được. Tôi thấy nhiều ông vệ quốc quân cầm khẩu súng lạ, không biết bắn thế nào. Thì cứ để cho họ đánh Tây đi. Nhưng tai hại là người ta lại cứ muốn cho họ làm ủy ban nọ kia, thế mới chết người. Ngay như thằng chủ tịch ủy ban khu phố ở Hà Nội lúc chưa đánh nhau là anh hàng cháo lòng. Bán cháo lòng thì nó biết đánh tiết canh, chứ biết làm ủy ban thế nào mà bắt nó làm ủy ban?…”

       Va vào mắt mụ chữ tôi tên ông Hồ…

“…Tôi cười nhạt:
– Nghe anh nói, tôi nản quá. Như vậy cuộc kháng chiến của ta có lẽ đến hỏng à?
Anh chộp lấy câu của tôi, nhanh như một con mèo vồ con chuột:

– Tôi cho rằng dân mình có tồi đi nữa, xoay quanh rồi cũng cứ độc lập như thường. Như cú Hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3 thì đến chính thằng Mỹ cũng phải lắc đầu: nó cho rằng không thể nào bịp ông Hồ

       Đến đây, mụ chữ tôi nghĩ dại nhân vật Hòang lộng thiên hí địa thật: Vì câu không thể nào bịp ông Hồ chả ai cấm mụ chữ tôi lây dây với…”ngoa ngữ” này nọ. Như…“vọng văn sinh nghiã” tức bịa ra nghiã, mụ chữ tôi được thể bắt qua cái vạ chữ nghĩa với Vũ Trọng Phụng. Ông bị khai trừ trên văn đàn miền Bắc vì bị Hoàng Văn Hoan…bịa cho tội: ông già Hải An trong Giông Tố là ám chỉ ông Hồ.

       Sau đây là “ngọa đàm”, hút thuốc lá trong mùng…

 “…Buổi tối ăn khoai vùi xong, uống tuần trà rồi Hoàng với tôi đi nằm trước. Tôi để nguyên cả quần áo tây và chỉ ngay ngáy lo đêm nay một vài chú rận mò vào chăn để hỏi thăm. Anh Hoàng hỏi tôi:
– Anh có thích đọc Tam Quốc không?
Tôi thú thật là chưa bao giờ được xem trọn bộ. Anh bảo tiếp:
– Sở dĩ lúc này tôi hỏi anh vì chúng tôi có cái thú đọc một vài hồi Tam Quốc rồi mới ngủ.

Dĩ nhiên tôi mời vợ chồng anh cứ giữ lệ thường. Anh cười cùng cục như con gà trống: Chị Hoàng lấy một quyển sách bìa dày, gáy da, đem lại.
– Hôm qua đọc đến đâu rồi nhỉ. Hình như đoạn nói về Tào Tháo giết Lã Bá Sa.

– Không cần, mình đọc lại cái đoạn thằng Tào Tháo nó tán Quan Công ấy.

– Theo ý anh thì Tào Tháo có giỏi không?
Tôi trả lời qua loa cho xong chuyện:
– Tôi nghe thấy nói là nó giỏi.
– Giỏi lắm anh ạ! Giỏi nhất Tam Quốc. Sao nó tài đến thế. (2)

Chị Hoàng đã tìm thấy, bắt đầu cất tiếng thanh thanh đọc. Anh Hoàng vừa hút thuốc lá vừa nghe. Mỗi khi đọc đến đoạn hay anh lại vỗ đùi kêu:
– Tài thật! Tài thật! Tài đến thế là cùng! Tiên sư anh Tào Tháo…”

       Đến tao đọan này là hết chuyện. Nhưng mặt mũi ngáo ệch ra Lã Bá Sa là ai, chả lẽ là…Lã Bố. Bèn tìm Tam Quốc diễn nghĩa của Phan Kế Bính…

Hai người, đến cửa trại xuống ngựa vào chào Lã Bá Sa, Tháo nói:
– Nếu không gặp được quan đây, thì bây giờ đã thịt nát xương tan rồi.
Nghe xong, Lã Bá Sa vào trong nhà, một chốc trở ra, bảo:
– Nhà tôi không có rượu ngon. để tôi sang xóm tây, mua một bình rượu ngon về uống.
Nói rồi lật đật cưỡi lừa ra đi.
Tháo chợt nghe thấy sau nhà có tiếng mài dao. Tháo bảo Trần Cung rằng:
– Chuyện nầy đáng nghi đấy!
Hai người sẽ rón rén bước vào sau nhà tranh, chỉ nghe thấy có tiếng người nói:
– Trói lại mà giết!
Tháo bảo Trần Cung:
– Ðúng rồi! Ta phải hạ thủ trước.


Tháo và Cung rút kiếm đi vào, gặp người nào giết người ấy. Khi vào đến bếp, chỉ thấy một con lợn trói bốn vó, sắp đem chọc tiết. Cung giật mình nói:
– Mạnh Ðức ơi! Ta đa nghi quá, giết nhầm phải người tử tế rồi.
Hai người vội vàng trở ra lên ngựa đi gặp Lã Bá Sa cưỡi lừa về, và nói: 
– Ta đã dặn người nhà làm thịt con lợn rồi. Ngại gì một đêm, xin quay ngựa lại cho.
Tháo cứ tế ngựa đi. Đi được vài bước, rút kiếm ra, quay ngựa trở lại, gọi Lã Bá Sa hỏi:
– Ai đi đằng sau ông đấy?
Sa quay đầu lại xem. Tháo chém ngay, Sa ngã xuống chết. Cung nói:
– Biết rằng mình lầm rồi, lại còn cố ý giết người nữa thực là đại bất nghĩa!
Tháo nói:
– Thà ta phụ người, không để người phụ ta.

      ***

      Lấy ngắn nuôi dài vì đụng chạm đến ông Hồ qua ông già Hải An trong Giông Tố nên Vũ Trọng Phụng bị loại trừ khỏi văn học. Gần đây, nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân làm lễ kỷ niệm 50 năm ngày giỗ Vũ Trọng Phụng tại Văn Miếu Hà Nội.

       Thêm chuyện Nam Cao cũng qua cúng giỗ…

“Ngày 30-11-2004 là ngày giỗ lần thứ 53 của cha tôi. Cho tới nay, cứ có dịp văn hữu lại tặng sách. Gần đây nhất Nguyễn Huy Thắng, con trai nhà văn Nguyễn Huy Tưởng vừa tặng sách Nhà văn của em. Do vậy, đã thúc đẩy Tô Chiêm viết quyển NamCao nhà văn của những kiếp sống mòn”.

       Qua một kiếp sống mòn, bà Trần Thị Hồng, con gái ông than phiền những tác phẩm của Nam Cao như Đôi mắt, Đợi chờ đã bị lọai ra khỏi văn học. Nói thẳng mực tàu đau lòng gỗ, ông bị đẩy dần vào bóng tối, sau được lôi ra…vùi dập tiếp (3) .

       Lại nữa (nguồn Nguyễn Khắc Phê) gần đây Hội Nhà văn xuất bản Nhà văn Việt Nam hiện đại, dày 1200 trang, tập hợp chân dung trên một ngàn nhà văn các thế hệ, từ Ngô Tất Tố, Phan Khôi đến lớp nhà văn vừa được kết nạp…Điều quan trọng cuốn sách đã mang một cái tên không xứng hợp. Vì rõ ràng là khiếm khuyết, khi cuốn sách mang tên “NVVNHĐ” mà lại không có Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Khái Hưng.

       Bởi thế chẳng thể không vun chuyện Vũ Bằng viết về Nam Cao. Mà làm như tác giả và tác phẩm có một dòng sinh mệnh với nhau sao ấy, trước kia Nam Cao lụi đụi với Cái chết của con mực, Con mèo. Nay Vũ Bằng tả hình dáng ông qua…con cò:

“Có ai đi bát ở các đường Tự Do Sài Gòn, vô công rồi nghề, nhìn vào các cửa hàng thấy con cò máy từ từ ngửng đầu lên rồi lại từ từ cúi xuống để mổ vào một chén nước không? Ấy đấy, Nam Cao đi đứng cũng từa tựa như con cò máy ấy”.

       Ông dẫu chuyện gia đình Nam Cao…

‘’Trong suốt thời kỳ đi lại với nhau, anh không cho biết anh có mấy con, nhưng anh nói: Nhà nghèo chật, nền nhà mưa thì dơ, nắng thì bụi, mà lũ con oánh nhau chí choé cả ngày Không cố viết mà kiếm tiền nuôi chúng thì làm thế nào được hở anh?’’.

      Vũ Bằng viết về cảnh chia đàn xẻ nghé của bạn hữu văn nghệ:

      ‘’Thế rồi đến những ngày tao loạn, khói lửa bốc lên, anh em tản mát mỗi người một ngả. Tôi về ở một cái nhà cỏ trên đường về Hà Nam. Phần đông những người tản cư về phía đó đều ghé qua nhà tôi, nên căn nhà ấy được coi là ‘’trạm nghỉ chân’’ của anh em văn nghệ. Chính trong thời kỳ này, tôi được tin Nam Cao làm báo văn nghệ của kháng chiến. Tôi cũng làm báo kháng chiến, lê chân đi trên nhiều nẻo đường đất nước, nhưng không một lần nào gặp Nam Cao. Thì một ngày mưa phùn giá rét căm căm, tôi thấy Nam Cao tóc phủ mang tai, đội nón lá, đi dép Bình-Trị-Thiên gật gù cái đầu như con cò bước vào căn nhà tôi tạm trú, như thể đã ra vào quen thuộc lắm rồi’’.

        Không hẹn mà gặp, Vũ Bằng “khìa”…Lã Bá Sa:

’’Chúng tôi toàn nói chuyện lăng nhăng, y như không hề xa cách nhau bao giờ cả. Qua đêm, chúng tôi dậy uống trà, tình cờ Nam Cao thấy bộ Tam Quốc của Phan Kế Bính dịch mà tôi mang theo, anh mang vào mùng đọc. Đến lúc ấy tôi mới biết Nam Cao chưa hề đọc Tam Quốc bao giờ. Đoạn anh mở ra đọc đọan nói về Tào Tháo giết Lã Bá Sa.

Quả tình tôi chưa thấy anh cười khóai trá như thế bao giờ, anh vỗ vào đùi bôm bốp và thỉnh thoảng lại muốn nói to lên, nhưng Nam Cao lại bịt mồm, nói khe khẽ:

– Thánh thật. Cái thằng Tào Tháo này thánh thật.

Sau này, buổi nói chuyện đọc Tam Quốc đêm hôm ấy, Nam Cao thuật lại trong bài đăng trang nhất “văn nghệ” của kháng chiến…”.

       Tôi ớ ra vì trong Đôi mắt, cũng một tối, cũng qua một tuần trà: Nhân vật Độ chả biết gì về Tam Quốc Chí. Thế mà Vũ Bằng viết tuốt tuột Nam Cao mang vào mùng đọc và…gật gù như con cò máy. Với bài Tôi đi tìm Tào Tháo của tôi như chuỗi xích, mụ chữ tôi xâu chữ như xiên khoai đến Vũ Bằng và Nam Cao ở cái khoen nào đó.

       Vì Vũ Bằng lại cũng bị cái vạ chữ nghĩa như Nam Cao…

       Ngày ông mất, con ông đến một tòa soạn đăng cáo phó (4). Tòa soạn không cho viết hai chữ nhà văn trước tên Vũ Bằng. Thành thử nội dung cao phó chỉ vỏn vẹn có vài chữ: Vũ Đăng Bằng sinh ngày…mất ngày…Đám tang ông vắng người đưa vì bằng hữu hầu hết đang bị cải tạo. Người viết (Trần Ngọc Tự), là người thu thập bài vở của anh em văn nghệ sĩ viết từ trong nước gửi ra hải ngoại kể rằng khi công an cộng sản phá án Vụ án hồ con rùa (hay Những tên biệt kích cầm bút) đã đến nhà Vũ Bằng định bắt nhưng thấy Vũ Bằng đang hấp hối nên chỉ lấy cung ở nhà. Vì vậy trong cáo trạng được đọc trước tòa có tên Vũ Bằng là tác giả bài Cái tai sứt của thằng cùi phương Bắc. Vũ Bằng gửi bài ra hải ngọai để có nhuận bút gửi về bằng những thúng đồ. Thành ra nếu không mất thì Vũ Bằng đã bị đưa ra tòa rồi.

       Tới trần ai khoai củ này, bởi mụ chữ tôi đọc không thông, thêm bệnh khoe chữ với Chứng bệnh Ferma, bệnh chứng trong văn giới, tác giả tạo ra nhân vật thứ hai là chính mình để nói chuyện. Nên mới có chuyện Nam Cao “phân thân” là nhân vật Hòang

       Nay đọc Tô Hòai viết về Vũ Bằng mới vỡ ra:

       “Những năm ấy Nam Cao đương ở với tôi trên Nghĩa Đô. Chúng tôi mải mê đọc Vũ Bằng thấy truyện ngắn Vũ Bằng rất lạ. Đối với tôi lúc ấy tất cả là mọi công việc bắt đầu của nghề mới viết văn với tôi. Vũ Bằng chính là người tìm ra văn tài của Nam Cao và đưa tác phẩm đầu tay của Nam Cao vào Tiểu thuyết thứ bảy: Ấy là truyện ngắn Ba người bạn (Vũ Bằng, Tôi Hoài, Nam Cao?). Sau đấy cái hiệu phở Tàu tái lăn Nghi Xuân góc hàng Nón hàng Thiếc mà Vũ Bằng hay dắt Nam Cao và tôi đi ăn, tưởng như cả đời chưa được thưởng thức phở ngon như thế. Đó là những kỷ niệm. Thêm kỷ niệm Nam Cao viết truyện ngắn ấy ở xóm người Dao bên Vàng Kheo, thoạt đầu tên truyện là Tiên sư thằng Tào Tháo. Sau Nam Cao ngại, đổi tên là Đôi mắt”.

       Theo mụ chữ tôi ấy là cuối năm 1946, Vũ Bằng cùng gia đình tản cư ra vùng kháng chiến. Thế nhưng không thấy ai viết ông họat động cho kháng chiến như thế nào? Không ngòai chính ông thổ lộ ngắn gọn ở trên: “Tôi được tin Nam Cao làm báo văn nghệ của kháng chiến. Tôi cũng làm báo kháng chiến”. Vậy thôi, thế đó.

       Trở lại với Tô Hòai: “Đọc hồi ký của Vũ Bằng ở Sài Gòn nghe người ta kể truyện ngắn ấy của Nam Cao viết về anh. Vũ Bằng viết anh bằng lòng Nam Cao đã miêu tả anh (Vũ Bằng) như nhân vật Hoàng, con người mơ màng bước vào trường kỳ kháng chiến. Năm 54, theo Tô Hòai: “Vũ Bằng không chịu đựng được gian khổ của kháng chiến, dinh tê về thành với Pháp. Sau đó anh xuống Hải Phòng rồi đi Sài Gòn”.

       Vũ Bằng mất, gần đây có nguồn cho rằng ông vào Nam làm tình báo. Số là họ mượn hoa cúng Phật từ ông Tô Hòai: “Khi Hà Nội sắp được tiếp quản 1954, tôi viết thư cho Vũ Bằng. Nguyễn Bắc cán bộ hoạt động nội thành ra họp ở Việt Bắc rồi cầm thư vào. Nguyễn Bắc đã cho một chú bé cơ sở đi đánh giầy đặt thư ấy vào trong giầy của nhà văn. Trên báo Bách Khoa ở Sài Gòn, Vũ Bằng đã viết về bức thư này của tôi, và đến khi in lại trong Bốn mươi năm “nói láo” sự việc còn được kể tỉ mỉ, kĩ lưỡng. Nhưng sau đó Vũ Bằng đã không ở lại, anh xuống Hải Phòng rồi đi Sài Gòn”.

       Nếu ông làm tình báo, sau 75 lý sự ông viết Cái tai sứt của thằng cùi phương Bắc để con ông bị quấy rầy với cáo phó (5) và dĩ nhiên đám tang ông đã khác. Đám tang ông vắng người đưa vì bằng hữu hầu hết nằm trong trại cải tạo. (Trần Ngọc Tự)

       Hậu sự chuyện chôn cất Vũ Bằng cũng hẻo mọn như Nam Cao …

“Theo nhà báo Phạm Hằng trong ký sự đi thăm Mộ nhà văn Nam Cao tại quê nhà
Một đoàn do họa sĩ Trịnh Yên là trưởng đoàn, ông Doãn Phú là phó. Tới nơi đoàn đi qua nghĩa trang làng không vào. Vấn đề khó hiểu cho tới nay ông Phú không giải thích rốt ráo, vì khi đưa hài cốt nhà văn về tới quê hương, chủ tịch xã Hòa Hậu thời đó là ông Xạ muốn chôn cất ở nghĩa trang xã Hòa Hậu. Nhưng ông Phú cho đó không phải là nơi tốt. Lên xe đi tiếp 7 phút nữa, ông Phú liền chỉ chỗ có gò đất. Ông Phú nhận chỉ thị từ đâu không để nhà văn an nghỉ ở Hòa Hậu nơi nhà văn sinh ra

       Chữ thừa câu thiếu thì thi hài ông lúc đầu vùi lấp ở hố vôi bên đường số 1, rồi được chôn ở nghĩa trang huyện Gia Viễn, Ninh Bình, 45 năm sau mới di cốt về Hà Nam

       Qua đám tang, mụ chữ tôi ngỡ ấy là cái khoen chót, là hết chuyện.

       Bởi trong chuỗi xích của Bình Nguyên Lộc, ông đùm đậu phải tìm cho ra cái khoen trung gian, ấy là: Cái quan định luận…Ừ thì hãy đốt lò hương cũ về nhà văn đỏan mệnh ở tuổi 34, tôi đổi ngược tựa đề bài khảo chữ theo tác phẩm nguyên thủy của ông:

       Tiên sư anh Tào Tháo

       Cái quan định luận với Ta còn để lại gì không (Vũ Hòang Chương) của  nhà văn Nam Cao, thôi thì đành ăn mày chữ nghĩa cụ Vũ:

       Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người

       Chiều nay một dấu than buông đứt

       Đinh đóng vào săng tiếng trả lời

       Chỉ thế thôi…

  Thạch trúc thảo lư

  Kỷ Hợi 2019

  Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

  (đúc kết 2021)

Phụ đính :

(1) Ghi theo ông Vũ Đình Huỳnh (thân phụ Vũ Thư Hiên), bí thư của ông Hồ:

“Một phái đoàn Trung ương do ông Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu, Cù Huy Cận vào Huế dự lễ thoái vị của Bảo Đại. Phái đoàn lên đường hai hôm rồi, Hồ Chủ tịch nói với ông Hoàng Hữu Nam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ; ông Lê Giản, Tổng giám đốc Nha Công an và tôi (ông Huỳnh): “Chú Bằng, chú Liệu, chú Cận vô Huế rồi mình mới nhớ ra thì đã trễ, giờ chú Nam xem có ai vô Huế gặp họ được không”. (nguồn: Phạm Tôn)

Dựa vào hồi ký của Trần Huy Liệu, sử gia Trần Gia Phụng ghi nhận: “Phạm Quỳnh bị bắt ngày 13-8-1945, bị giết ngày 6-9, như vậy chính Trần Huy Liệu mang lệnh từ Hà Nội vào Huế từ Hồ Chí Minh“.

***

Về việc bắt Phạm Quỳnh, Tố Hữu, Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa Huế kể cho Tô Hoài ghi, đăng ở Đặc san Cứu quốc (8-1946, trang 31):

“Mười hai giờ rưỡi, một chiếc ô tô đi về phía Hương Cựu đỗ trước ấp Hoa Đường. Một người thanh niên mặc áo the, khăn đóng chỉnh tề bước vào dinh Phạm Quỳnh. Người thanh niên cởi áo dài, lộ dưới ngực một dấu hiệu sao vàng nền đỏ và một khẩu súng sáu giắt bên dây lưng. Vợ con lão đương ăn cơm. Ngó thấy khẩu súng sáu, lão biến sắc, run đứng lên không được. Lão bị điệu ra xe, chở đi”.

Tháng 91945, Phạm Quỳnh bị bắn ở cánh rừng Hắc Thú, Huế. (nguồn: Sơn Tùng)

(2) Hồ Chí Minh được đánh giá là gian hùng cỡ Tào Tháo chứ không phải là người hiền lành gì. (nguồn:Trần Viết Đại Hưng)

(3) Nam Cao bị đẩy dần vào bóng tối, mãi đến khi Trần Đăng Khoa làm phó chủ tịch Hội Nhà văn của Nguyễn Hữu Thỉnh, Trần Đăng Khoa…“lôi” ông ra ánh sáng không phải để vinh danh mà phó chủ tịch Hội Nhà văn vùi dập…Nam Cao tiếp.

Cáo phó viết theo khuôn mẫu có sẵn ở tòa báo, tang gia chỉ điền theo giới hạn cho phép bởi pháp lệnh

Với Vũ Bằng, hai chữ nhà văn không được viết vào cáo phó. Chỉ còn lại Vũ Đăng Bằng với năm sinh…không quê hương bản quán

©T.Vấn 2024

Bài Mới Nhất
Search