Chương Sáu: Như Một Sợi Dây Căng

Tại đám cưới chú Vincente: bên trái là Oscar và Marta; đứng bên phải là Alberto, và Maria Elena ngồi phía dưới.

Giới Thiệu: TỰ TRUYỆN “HY VỌNG” CỦA CỐ GIÁO HOÀNG FRANCIS

Chương 6.

Như Một Sợi Dây Căng

Ông bà ngoại của tôi sống ở Almagro, trong một căn nhà lớn, tại số 556 đường Quintino Bocayuva. Nếu tôi cố hình dung việc đi bộ tới đó, tôi vẫn còn thấy rõ: bạn bước vào một hành lang nhỏ, rồi một hành lang hẹp nữa, rồi một cánh cửa, rồi thêm một cánh cửa nữa, mở ra một sân trong, từ đó dẫn vào phòng khách, phòng ăn lớn, bếp, nhà tắm, và hai phòng ngủ mà đối với tôi lúc đó trông như rộng mênh mông. Rồi tiếp đến là các công trình phụ và khu vườn, đầy hoa, với một bên là chuồng gà, bên kia là xưởng mộc nơi ông ngoại tôi, ông Francisco Sivori, làm việc như một người thợ mộc và thợ làm tủ, cũng giống như anh em của ông. Những món đồ nội thất tinh xảo, được khảm, được phủ vân gỗ, làm ra với sự khéo léo và lòng kiên nhẫn tỉ mỉ.

Ông tôi có một người bạn là thương gia lưu động chuyên bán phẩm nhuộm gỗ anilin, mỗi tuần đều ghé xưởng ông một lần. Họ ngồi trong sân chuyện trò rất lâu, vừa nói vừa nhấp trà pha rượu vang. Đối với tôi, ông chỉ là một quý ông dễ mến, mặc đồ tối màu, râu trắng dài, có phong thái lịch thiệp nhưng trông không mấy khá giả. Tôi đã rất ngạc nhiên khi nghe người lớn nói rằng người đàn ông này, vốn chỉ được giới thiệu đơn giản là Don Elpidio, từng là Phó Tổng thống Argentina và sau đó là Bộ trưởng Nội vụ dưới thời Tổng thống Hipólito Yrigoyen, thuộc chính phủ Liên minh Công dân Cấp tiến (Unión Cívica Radical), chính phủ này đã bị lật đổ năm 1930 trong cuộc đảo chính quân sự đầu tiên trong một chuỗi dài các cuộc đảo chính sau đó. Tên ông là Elpidio González. Ông đã bị giam hai năm trong tù và khi được thả ra, không một xu dính túi, ông từ chối nhận bất kỳ khoản lương hưu hay trợ cấp nào. Ông sống trong một khách sạn rẻ tiền ở đường 9 de Julio, nơi sau này bị phá để mở rộng thành đại lộ. Phần lớn cư dân khách sạn sau đó được chuyển sang sống tại Khách sạn Người Nhập cư (Hotel de Inmigrantes), nơi điều kiện còn tồi tệ hơn. Vào ngày bị cưỡng chế rời khỏi khách sạn, Don Elpidio chỉ gom vài món đồ ít ỏi vào chiếc vali cũ kỹ, rời đi và tiếp tục vòng quay thường nhật của mình như một người bán hàng rong. Người ta kể rằng, trước đó, một phái viên của tổng thống mới đã đến khách sạn mang theo một túi đầy tiền mặt, đủ để ông mua một căn nhà tốt nhất ở Buenos Aires, nhằm tránh gây ra sự bối rối chính trị. Nhưng ông kiên quyết từ chối, thậm chí còn tuyên bố rằng nếu họ còn dám thử lần nữa, ông sẽ tố cáo họ về tội hối lộ. Sau này, khi Quốc hội thông qua luật cho phép các cựu viên chức hành pháp hưởng lương hưu hậu hĩnh, ông cũng từ chối. Ông qua đời trong cảnh nghèo khó, vào một buổi sáng tháng Mười năm 1951, ba năm trước người bạn Francisco của mình. Ông ngoại tôi thường lấy câu chuyện về Don Elpidio để dạy chúng tôi, những đứa cháu, bài học về bổn phận trung thực trong chính trị.

Giống như González, ông ngoại tôi cũng là một người cấp tiến, và là người có niềm đam mê chính trị mãnh liệt. Ông nằm trong số những người đầu tiên được gọi đi nghĩa vụ quân sự ở Argentina vào cuối thế kỷ XIX: họ đưa ông tới Cura Malal, ở vùng Pampas. Và cho đến tận ngày mất, 26 tháng 7 năm 1954, tôi vẫn còn nhớ ông luôn gầy gò, chỉnh tề và thanh lịch. Tôi không nhớ đã bao giờ thấy ông ra khỏi nhà mà không thắt cà vạt, mặc áo ghi-lê, chống gậy, và thường mang polainas (bao chân cao đến bắp chân rất thịnh hành thời đó). Ông sinh ra tại Buenos Aires vào ngày 12 tháng 3 năm 1874, là con trai đầu lòng trong ba anh chị em, cha mẹ đều gốc từ thị trấn Cogorno ở vùng Liguria, Ý. Vợ ông, bà ngoại tôi, bà Maria Gogna, là thế hệ nhập cư đầu tiên; cha bà là thợ đóng giày, mẹ là nông dân.

Bà ngoại tôi chào đời ngày 3 tháng 6 năm 1887, ở một vùng Piedmont đã phảng phất hương vị Liguria, nơi hai vùng địa lý này gặp nhau và được phân cách bởi dãy Apennines xanh tươi, tại số 1, làng Teo, thuộc xã Cabella Ligure—nơi ngày nay chỉ còn lại khoảng chục người sinh sống. Bà mới chỉ là một bé gái khi cùng gia đình nhập cư tới Buenos Aires. Bà kết hôn với ông tôi vào ngày 4 tháng 4 năm 1907, tại nhà thờ giáo xứ San Carlos Borromeo, khi bà mười chín tuổi và ông ba mươi ba tuổi. Nhưng ngày cưới đã bị u ám bởi cái chết đột ngột của mẹ cô dâu, cụ cố của tôi. Chính vì vậy, tên của người mẹ—Regina—đã khắc sâu vào trái tim bà, và bà không chút do dự khi đặt tên cho cô con gái đầu lòng theo tên mẹ mình.

Trước khi kết hôn, bà ngoại Maria đã làm người giúp việc cho một gia đình người Pháp tại Buenos Aires; nhờ đó, ngoài việc thành thạo mọi công việc nội trợ, bà còn nói tiếng Pháp rất giỏi, và sau này thường dạy chúng tôi những bài hát Pháp mà bà vẫn khe khẽ hát một mình. Bà là một người phụ nữ tròn trịa, trầm lặng nhưng đầy năng lượng, một người lao động cần mẫn, tự giáo dục mình qua những quyển sách mà bà có cơ hội đọc khi làm quản gia cho gia đình Pháp ấy. Và bà là người nắm quyền trong nhà: tất cả những người phụ nữ trong gia đình tôi, mỗi người theo cách riêng, đều mạnh mẽ và quyết đoán. Bà và ông thường xuyên cãi vã, nhưng ông tôi chẳng để tâm mấy: ông chỉ cắm cúi làm việc.


giữa là ông bà ngoại của tôi, Francisco và Maria.

Cuộc hôn nhân của họ sinh ra năm người con: ba trai, hai gái, đúng bằng số con sau này trong gia đình tôi. Mẹ tôi là đứa con thứ ba, và là bé gái đầu tiên. Bà sinh ngày 28 tháng 11 năm 1911, và được rửa tội hai năm sau đó, vào ngày 27 tháng 4, cũng tại nhà thờ San Carlos. Bà tiếp tục sống trong ngôi nhà lớn trên đường Bocayuva cho đến khi kết hôn với Papá.

Tuy nhiên, sau cái chết của ông ngoại Francisco, khi tôi mười bảy tuổi, nhánh gia đình ấy đã tan vỡ và mọi người chia lìa nhau. Những cuộc cãi vã, một bầu không khí buồn thảm và đắng cay của sự đổ vỡ. Bà ngoại tôi sau đó đến sống với dì Catalina, em út của mẹ tôi, và bà qua đời nhiều năm sau đó, vẫn còn mang trong lòng nỗi buồn về một gia đình ly tán.


Mẹ tôi, Regina Maria Sivori, đơn sơ và chân thành như bà ngoại tôi. Bà là một người thực tế, luôn mong muốn gia đình mình vươn lên, nhất là thông qua văn hóa và giáo dục: bà bắt tất cả chúng tôi học đàn piano, và riêng Alberto thì học violin vì cậu ấy ghét piano. Một người phụ nữ với những hoài bão đôi khi phải chịu đựng vì hoàn cảnh tài chính eo hẹp mà cuộc sống chúng tôi đem lại. Thế nhưng, chúng tôi, những đứa trẻ, vẫn hạnh phúc và không bao giờ cảm thấy thiếu thốn điều gì. Hồi đó, nhà ông bà nội ngoại tôi đều chưa có tủ lạnh—họ dùng một khối băng lớn đặt trong tủ gỗ bọc tôn để giữ lạnh—và gia đình tôi cũng không bao giờ sở hữu một chiếc ô tô. Tuy vậy, tôi vẫn còn nhớ sự hỗn loạn trên các đường phố Buenos Aires vào một ngày Chủ nhật năm 1942, khi giao thông thay đổi từ lái bên trái như ở Anh sang lái bên phải như ở châu Âu và đặc biệt là Hoa Kỳ. Những chiếc xe đầu tiên như chạm mặt, như hít thở thăm dò nhau, đối diện sự thay đổi đó với sự lưỡng lự và dè dặt, như trước một canh bạc chưa rõ phần thắng.

Dù khó khăn, Mamá vẫn xoay xở bằng mọi cách, đóng góp cho gia đình trong nhiều phương diện. Tuy nhiều năm sau chúng tôi mới có ti-vi, và lúc đó trong nhà cũng chưa có máy hát đĩa, nhưng chúng tôi đã có một chiếc radio, giúp cả gia đình có cơ hội học hỏi và quây quần bên nhau. Mỗi chiều thứ Bảy, lúc hai giờ, Đài phát thanh Nhà nước (Radio del Estado) phát sóng các vở opera. Khi đó, Mamá tập hợp đám trẻ chúng tôi lại và kể cho chúng tôi nghe cốt truyện, giải thích các nhân vật, các loại giọng hát, từng chi tiết nhỏ. “Đây là Desdemona, chuẩn bị cho đêm cuối đời, trong linh cảm bất an. Giờ thì, từ cánh cửa bí mật, Othello bước vào, tiến tới, hôn nàng nhưng… Nghe đây, các con: Giờ hắn giết nàng!” Chúng tôi bật người lên vì giật mình. “Và đây là chiến binh trẻ Radames trở về trong khải hoàn; bây giờ, lắng nghe: bản hành khúc chiến thắng bắt đầu!” Dường như các chiến binh Ai Cập với cờ xí và áo giáp sắp sửa diễu hành ngay trước mặt chúng tôi. Chúng tôi mê mẩn.

Đến mức, khi còn nhỏ, chúng tôi đã tự mình đi xem opera: tôi lúc đó khoảng mười sáu tuổi, và em gái Marta mới mười tuổi. Chúng tôi leo lên tầng cao nhất của nhà hát—gọi là gallinero—và từ đó, chỉ với một hay hai peso, chúng tôi được xem hầu hết các buổi diễn lớn. Tôi còn nhớ rõ buổi hòa nhạc huyền thoại của Tito Schipa tại sân khấu ngoài trời ở Buenos Aires, một trong những lần xuất hiện cuối cùng của một trong những giọng tenor nhẹ xuất sắc nhất trong lịch sử opera. Nửa triệu khán giả im phăng phắc, lắng nghe La Traviata và L’elisir d’amore.

Còn về âm nhạc đại chúng, tôi nhớ khi Carlo Buti, một trong những danh ca nhạc nhẹ Ý vĩ đại nửa đầu thế kỷ XX, đến Argentina. Hơn hai trăm nghìn người đã tụ tập năm 1946 để nghe ông hát tại Casinò di Buenos Aires. Những bài hát trước và sau chiến tranh ấy, khi được nghe tại nhà, chẳng khác nào tham dự Thánh lễ: thiêng liêng và tràn đầy kính trọng. Nếu radio thông báo sẽ phát sóng buổi biểu diễn của ông, thì không ai trong nhà được vắng mặt. Tôi từng thấy Papá như hồi sinh khi nghe “Non ti scordar di me,” hay “Regina della pampa,” hoặc một bài dân ca Napoli. Chính vì vậy, tôi đã học thuộc lòng “O sole mio”: “che bella cosa è na jurnata ’e sole, n’aria serena doppo na tempesta…” Khi nghe một dàn hợp xướng thiếu nhi hát bài này trong chuyến viếng thăm Napoli với tư cách Giáo hoàng, tôi đã xúc động như gặp lại một phần ký ức thân quen.

Âm nhạc đại chúng, theo năm tháng, vẫn là một sợi dây nối liền hai bờ đại dương, một sợi dây căng tràn sức sống; và sau này còn có Mina với bài “Parole parole” hay Iva Zanicchi với “Zingara” đưa chúng tôi trôi theo từng giai điệu.

Nhưng cũng có những nỗi đau. Không chỉ trong cộng đồng người Piedmont ở Buenos Aires, mà khắp nơi đều bàng hoàng khi nhận tin tai nạn máy bay Superga tháng 5 năm 1949: chiếc máy bay chở đội bóng Torino—một trong những đội mạnh nhất thế giới, xương sống của đội tuyển Ý—đã đâm vào bức tường thành của Vương cung thánh đường và tất cả đều thiệt mạng. Nhiều năm sau, tôi đã tự mình đến viếng thăm Vương cung thánh đường và xúc động sâu sắc khi đứng trước tấm bia ghi tên ba mươi mốt nạn nhân. Sợi dây ấy không đứt—nỗi đau tập thể ấy chỉ càng thắt chặt tình cảm hơn.


Giống như Mamá, chúng tôi mê mẩn giọng ca của Beniamino Gigli và Maria Caniglia, có lẽ là những ca sĩ nổi tiếng nhất thời đó, và cũng như Papá, chúng tôi hết lòng yêu quý Mamá. Tháng 1 năm 2015, trên chuyến bay trở về từ chuyến tông du Sri Lanka, trong một câu trả lời ứng khẩu với các nhà báo về mối quan hệ giữa quyền tự do tôn giáo và quyền tự do ngôn luận—cả hai đều thiêng liêng—khi nhắc đến tinh thần tiết chế, tôi đã nói đại loại rằng: “Nhưng nếu ai đó xúc phạm mẹ bạn, thì việc bạn cho họ ăn một cú đấm cũng là điều bình thường.” Những lời đó đã khiến không ít người ngạc nhiên. Nhưng tôi chỉ muốn nhấn mạnh sự tôn trọng luôn phải dành cho những cảm xúc sâu sắc và những niềm tin của người khác. Như đức tin vậy. Và như tình yêu ruột thịt dành cho mẹ.

Tôi, Mamá, Marta và Oscar năm 1941.

Papá tôi luôn hết mực yêu thương bà, thường tặng bà hoa, những món quà nhỏ, giản dị. Ông là một người đàn ông vui tính. Ông đề ra các nguyên tắc trong gia đình, là một nhân vật có uy quyền, nhưng không hề gia trưởng. Một cái liếc mắt của Papá dành cho lũ trẻ chúng tôi cũng đã đủ: Một ánh nhìn trách móc từ ông giống như một tia sét đánh thẳng vào người. Bạn thà bị một cái bạt tai còn hơn là nhận lấy ánh nhìn đó.


Chúng tôi, đám trẻ con trong nhà, đều khá hiếu động. Tuy vậy, bên cạnh sự hồn nhiên và bản năng thích lao vào những trò nghịch ngợm, tôi còn sớm có những cảm xúc hoài niệm và thường trải qua những xáo động nội tâm đặc trưng khi lớn lên. Không hẳn là nỗi buồn, mà là một dạng sầu muộn.

Sầu muộn luôn là một người bạn đồng hành trong cuộc đời tôi—không phải lúc nào cũng hiện diện, nhưng là một phần trong bản chất của tôi—một cảm xúc tôi đã học cách nhận biết. Tôi đã nhiều lần thấy mình tìm được tiếng vọng trong thơ ca của Paul Verlaine: “Les sanglots longs des violons de l’automne blessent mon coeur…” (Những tiếng nức nở dài của vĩ cầm mùa thu làm tổn thương trái tim tôi…)

Tôi còn nhớ một sinh nhật của mình, ngày 17 tháng 12, có lẽ khi tôi lên mười hoặc mười một tuổi. Ông bà ngoại đã đến nhà, ông bà nội cũng sắp đến. Lúc đó tôi đang ở trên sân thượng, có thể đang chơi gì đó, nhưng một mình. Em gái tôi, Marta, chạy lên gọi: “Ông bà đến rồi, xuống đi!” Tôi đáp: “Ừ, ừ,” nhưng lại chần chừ, không biết có nên đi không. Tôi cảm thấy mình muốn ở một mình hơn. Việc thêm một tuổi khiến tôi bối rối, nó như một thách thức: Giờ đây sẽ ra sao? Và điều đó mang đến một nỗi sầu lạ lùng về thời gian, âm thầm dâng lên rồi tan biến.

Cảm giác sầu muộn đó đôi lúc vẫn trở lại. Thỉnh thoảng, đó là một nơi tôi tìm thấy mình, một nơi tôi đã học cách nhận ra. Và nó rất hữu ích: để tôi dừng lại, suy nghĩ, lắng nghe cuộc sống. Sương mù—cái màn mờ ảo của sự tồn tại—chính là nơi chạm tới điều sâu xa nhất. Nếu tôi bước vào đó, thì đó là một tín hiệu cho biết rằng có điều gì đó đang diễn ra và tôi cần phải đưa ra câu trả lời cho cuộc đời mình. Tôi cũng đã học được cách bước tới. Đó là lý do tại sao tôi luôn yêu thích chủ nghĩa Lãng mạn, cả trong âm nhạc lẫn văn học. Hölderlin tiếp thêm sức sống và niềm vui cho tôi: “Ôi thiên nhiên diễm phúc! Ta chẳng hiểu vì sao khi ngẩng lên ngắm vẻ đẹp của Người, nhưng toàn bộ niềm vui trên thiên đàng đọng lại trong những giọt nước mắt ta rơi trước Người, người yêu dấu trước người yêu dấu…” Giống như bài thơ tuyệt đẹp mà ông đã viết mừng sinh nhật bà nội mình, kết thúc bằng lời nguyện: “Cầu mong người đàn ông thực hiện được lời hứa với bà từ thuở còn thơ bé.”

Tại đám cưới chú Vincente: bên trái là Oscar và Marta; đứng bên phải là Alberto, và Maria Elena ngồi phía dưới.


Ngay sau khi Maria Elena ra đời, cũng tại nhà ở calle Membrillar vào ngày 17 tháng 2 năm 1948—sau khi mẹ tôi từng bị mất một người con trong thai kỳ trước đó—gia đình tôi đã trở nên trọn vẹn. Ngoài Churrinche, một chú chó nhỏ thuộc giống loài không thể xác định, mà chúng tôi đặt tên theo một chú chó bền bỉ khác ở vùng Pampas, từng thuộc về ông bà ngoại tôi. Năm đứa con của chúng tôi, như mẹ vẫn nói, giống như những ngón tay trên một bàn tay: mỗi đứa khác nhau, nhưng tất cả đều là của mẹ, “Vì nếu một ngón tay bị châm, mẹ sẽ thấy đau chẳng kém gì các ngón còn lại.”


Lần sinh cuối cùng không hề dễ dàng, và nó để lại những hậu quả: Mamá gặp khó khăn trong việc đi lại và mất cả một năm để hồi phục hoàn toàn. Đó cũng là năm tôi học nấu ăn. Tôi gần mười hai tuổi và là anh cả, nên phải giúp đỡ nhiều nhất: Mỗi khi đi học về, tôi thấy mẹ ngồi trên ghế, xung quanh đã chuẩn bị đầy đủ nguyên liệu. Thế là bài học nấu ăn cho tôi và Oscar bắt đầu: “Đặt cái này ở đây, cái kia ở đó, xào nhẹ thôi, hạ lửa xuống, cẩn thận, hạ nhỏ nữa…” Khóa học cấp tốc ấy sau này rất hữu ích cho tôi khi làm Giám đốc Colegio Máximo tại San Miguel năm 1972, vào những ngày Chủ nhật không có đầu bếp, tôi phải nấu ăn cho các chủng sinh. Em gái tôi còn kể rằng món mực nhồi của tôi rất ngon—ít nhất thì cũng chưa từng khiến ai bị ngộ độc…


Và thế là, như những ngón tay của một bàn tay, chúng tôi—lũ trẻ—luôn rất gần gũi bên nhau. Với Maria Elena, mối liên kết đặc biệt hơn nữa đã hình thành. Cô ấy còn rất nhỏ, mới chỉ là một thiếu nữ, khi cha tôi qua đời.

Ông đã cùng anh trai tôi, Alberto, tới sân vận động, và trong lúc đang reo hò mừng bàn thắng của đội San Lorenzo, ông bị lên cơn đau tim. Người ta đã sơ cứu và đưa ông về nhà. Khi đó tôi đang ở cùng các tu sĩ Dòng Tên tại San Miguel: tôi nhận được tin và vội vã trở về. Hai ngày sau, khi đang nằm trên giường với các bác sĩ qua lại thăm khám, Papá bị cơn đau tim thứ hai. Và không lâu sau đó, khi tôi đang ở bên cạnh giường ông, cơn đau tim thứ ba đã đến. Đó là lần cuối cùng. Trong suốt hai mươi ngày ấy, tình hình tưởng như có vẻ trầm trọng, nhưng có những điều trẻ con rất khó thừa nhận và chấp nhận: như cái chết của người cha. Khi đó, dù mọi dấu hiệu đã rõ ràng, cái chết của ông vẫn đến như một cú sốc. Ông mới chỉ năm mươi ba tuổi, vào ngày 24 tháng 9 năm 1961.

Đó là một cú đánh mạnh đối với cả gia đình. Năm đó, từ vai trò người anh của Maria Elena, tôi buộc phải trở thành một người cha. Và cho tới giờ, việc phải sống xa em gái có lẽ vẫn là một trong những hy sinh lớn nhất đối với tôi. Đó cũng là lý do vì sao tôi vẫn gọi điện cho em mỗi tối Chủ nhật.

Mamá sau đó cũng bị suy tim và cần phải phẫu thuật. Bà được thay van hai lá bằng một van sinh học làm từ mô động vật, có thể là lợn—một kỹ thuật tiên tiến vào đầu những năm 1960. Bà sống thêm một thời gian khá ổn, nhưng rồi van nhân tạo cũng hỏng, và những cục máu đông đã kết liễu. Bà mất hai mươi năm sau Papá, thọ sáu mươi chín tuổi, vào ngày 8 tháng 1 năm 1981.

Kể từ khi Alberto, người em trai cuối cùng của tôi, qua đời ngày 15 tháng 6 năm 2010—Oscar đã ra đi trước đó ngày 25 tháng 10 năm 1997, và Marta cũng mất mười năm sau, vào ngày 11 tháng 7 trong một ngày tuyết rơi nặng—chỉ còn lại tôi và Maria Elena.

Cộng thêm một đàn cháu và chắt rất đông đảo.

Bài Mới Nhất
Search