Chương Mười: Họ nhận ra nhau từ xa

Giới Thiệu: TỰ TRUYỆN “HY VỌNG” CỦA CỐ GIÁO HOÀNG FRANCIS

Chương 10.
Họ nhận ra nhau từ xa

Cậu ấy là con trai của một viên cảnh sát. Và ở nhiều khía cạnh, cậu ấy là người thông minh và tài năng nhất trong chúng tôi, với sự hiểu biết sâu sắc và say mê âm nhạc cổ điển cũng như một lòng yêu thích văn chương không kém.

Cái cậu to lớn nhất lớp đó, đúng vậy, là một thiên tài. Một thiên tài.

Nhưng tâm trí con người đôi khi lại là một điều bí ẩn không thể dò lường. Và một ngày nọ, tưởng chừng như mọi ngày khác, cậu ấy đã cầm khẩu súng của cha mình và giết chết một cậu bạn cùng tuổi, cũng là người bạn thân thiết, người hàng xóm.

Tin tức đó vang lên như một tiếng súng đối với chúng tôi. Nó khiến chúng tôi choáng váng. Người ta giam cậu ấy trong khu dành cho bệnh nhân tâm thần phạm tội của bệnh viện tâm thần, và tôi đã đến thăm. Đó là lần đầu tiên tôi thực sự trải nghiệm nhà tù—và lần này, là một nhà tù gấp đôi vì cũng là nơi giam giữ người mắc bệnh tâm thần. Tôi chỉ có thể chào bạn mình qua một ô cửa nhỏ xíu, một ô cửa như tem thư bị chia làm bốn bởi những thanh sắt nặng nề. Cảnh tượng đó khiến tôi đau đớn sâu sắc.

Tôi đã quay lại cùng với vài bạn học khác để thăm cậu ấy. Nhưng chỉ vài ngày sau, tôi nghe thấy một người giám thị và vài học sinh khóa khác đang chế giễu cậu ấy. Tôi nổi giận. Tôi quát vào mặt họ, sau đó chạy thẳng đến hiệu trưởng để bày tỏ sự phẫn nộ: rằng chuyện như vậy không thể nào được phép xảy ra, rằng thậm chí một giám thị cũng tham gia là điều không thể chấp nhận, rằng cậu bạn đó đã đau khổ quá đủ rồi khi bị nhốt trong một cơ sở như thế.

Sự bùng nổ đó đã khiến tôi có tiếng tăm nhất định ở trường là một người chính trực—tôi không biết mình có xứng đáng hay không, nhưng đó là cách mà danh tiếng được hình thành.

Bạn tôi sau đó được chuyển đến một trại giáo dưỡng, và chúng tôi vẫn tiếp tục trao đổi thư từ. Cậu ấy đã tránh được án tù chung thân vì khi gây án, cậu vẫn còn vị thành niên. Cậu được trả tự do vài năm sau.

Khi tôi đã tốt nghiệp, trong thời gian tôi đang thực tập chủng viện, một người bạn cũ gọi điện cho tôi. Cậu ấy cho biết mình đã liên lạc được với chị gái của người bạn đó. Bà ấy đau khổ nói rằng em trai bà đã tự tử không lâu sau khi ra khỏi trại giáo dưỡng. Khi ấy cậu ấy mới hai mươi bốn tuổi.

Đôi khi, như Thánh Vịnh đã nói, những mưu định trong lòng người thật kín nhiệm.

Đó là một nỗi đau mà người khác phải mang trong tim và trí óc.

Tôi đang học năm tư thì có một cậu học sinh năm nhất đến bắt chuyện với tôi trên xe buýt. Tôi nhớ cậu ấy đã nhờ tôi tìm giúp một cuốn sách; tôi đồng ý, nói rằng mình có ở nhà và sẽ mang cho, và từ đó tình bạn giữa chúng tôi bắt đầu. Cậu ấy là con một và nổi tiếng ở trường là nghịch ngợm.

Khi ấy, tôi đã cảm nhận được tiếng gọi trong lòng, đã có ý thức mạnh mẽ về ơn gọi, dù chưa chia sẻ với ai. Tôi nhận ra cậu bé đó chưa rước lễ lần đầu, và thế là tôi bắt đầu dành thời gian cho cậu, trò chuyện, chăm sóc cậu theo khả năng của mình. Tôi cũng đến nhà cậu, gặp bố mẹ cậu, gia đình Heredia, những người tốt bụng… Nhưng cuối cùng, khi tôi đang học năm sáu, cậu bé ấy đã sát hại mẹ mình bằng dao. Khi ấy cậu ấy chưa đầy mười lăm tuổi.

Tôi còn nhớ buổi lễ tang tại nhà, gương mặt người cha tái nhợt như tro, nỗi đau kép không nguôi. Khuôn mặt ấy như hóa thân của Gióp: “Mắt tôi mờ đi vì đau buồn, tấm thân tôi chỉ còn là cái bóng.” (Gióp 17:7)

Tin tức về vụ việc vỡ òa như một cơn bão trong trường: có thể nói rằng chúng tôi đã bị choáng ngợp bởi thảm kịch và sự khắc nghiệt của cuộc đời.

Jorge Luis Borges đã viết: “Tôi đã cố gắng hết sức—không biết có thành công hay không—để viết nên những câu chuyện thẳng thắn. Tôi không dám khẳng định rằng chúng đơn giản; bởi trên đời này, chẳng có một trang sách hay một từ ngữ nào thực sự đơn giản cả.”

Để diễn tả được kinh nghiệm phức tạp của cuộc sống, đòi hỏi phải có sự khiêm nhường.

Tôi rất ngưỡng mộ và kính trọng Borges; tôi bị ấn tượng bởi sự nghiêm túc và phẩm giá mà ông đã sống trong suốt cuộc đời.

Năm tôi hai mươi bảy tuổi, tôi bắt đầu dạy môn Văn học và Tâm lý học tại Trường Colegio de la Inmaculada Concepción ở Santa Fe. Tôi tổ chức một khóa sáng tác văn học cho các học sinh, và thông qua cô thư ký của ông—người từng dạy piano cho tôi—tôi quyết định gửi cho Borges hai truyện ngắn do học sinh viết. Tôi trông trẻ hơn tuổi thực, đến nỗi các học sinh gọi tôi là “Carucha” (Mặt Bé). Borges, khi đó đã là một trong những tác giả nổi tiếng nhất thế kỷ XX, đã nghe người ta đọc hai câu chuyện ấy cho ông (vì lúc ấy ông gần như đã mù hoàn toàn). Và ông rất thích.

Ông đề nghị tôi tập hợp các truyện ngắn đó thành sách, sau đó được nhà xuất bản Castellví của Argentina phát hành dưới tựa đề Cuentos originales (Những câu chuyện nguyên bản), và Borges thậm chí còn hào phóng viết lời tựa—có lẽ là lời tựa đầy ân tình nhất của ông: “Lời tựa này không chỉ dành cho cuốn sách này, mà còn cho mỗi một trong những tác phẩm có thể còn chưa thành hình mà các bạn trẻ được tập hợp ở đây có thể viết trong tương lai.”

Tôi đã mời ông đến thuyết giảng về chủ đề gauchos trong văn học, và ông đã đồng ý. Borges có thể nói về bất cứ điều gì, mà không hề ra vẻ ta đây. Năm sáu mươi sáu tuổi, ông đi xe khách suốt tám tiếng qua đêm từ Buenos Aires đến Santa Fe. Một lần nọ, chúng tôi đến muộn vì khi tôi đến đón ông tại khách sạn, ông nhờ tôi giúp cạo râu cho mình.

Ông là một người theo thuyết bất khả tri, nhưng hằng đêm vẫn đọc Kinh Lạy Cha vì đã hứa với mẹ mình; và ông đã chết khi đã lãnh nhận các bí tích sau cùng.

Một người có thể viết những dòng như thế này chắc chắn phải là người có đời sống tâm linh sâu sắc:

Cain và Abel gặp lại nhau sau cái chết của Abel. Họ đi bộ qua sa mạc và nhận ra nhau từ xa, vì cả hai đều rất cao lớn. Hai anh em ngồi xuống đất, nhóm lửa và ăn. Họ ngồi im lặng, như những người mệt mỏi thường làm lúc chạng vạng. Trên bầu trời, một ngôi sao lấp lánh, nhưng vẫn chưa có tên.
Dưới ánh lửa, Cain nhìn thấy dấu vết của viên đá trên trán Abel và anh làm rơi miếng bánh mì đang định đưa vào miệng, rồi xin em mình tha thứ.
“Có phải anh đã giết em, hay em đã giết anh?” Abel đáp:
“Em không còn nhớ nữa; giờ đây, chúng ta lại ở bên nhau như xưa.”
“Giờ thì anh biết em đã thật sự tha thứ cho anh,” Cain nói, “bởi vì quên đi là tha thứ. Anh cũng sẽ cố gắng quên…”

Bên cạnh những người bạn học, tôi còn có những người bạn tại giáo xứ San José de Flores. Chúng tôi bắt đầu gặp nhau nhiều hơn khi chương trình học ba năm kết thúc.

Chúng tôi tụ tập, tổ chức tiệc tùng, và chị gái tôi đã đính hôn với một người trong nhóm.

Một bữa tiệc với bạn bè và họ hàng
(Chị gái tôi, Marta, ở phía trên bên trái; còn tôi ở phía dưới bên phải)

Tôi cũng có cảm tình với hai cô gái vào thời gian ấy: một người ở Flores, tại nhà thờ, và người kia ở khu Palermo, khu phố Ý của Buenos Aires, nơi có tượng cưỡi ngựa của Giuseppe Garibaldi. Tôi quen cô gái thứ hai vì cha mẹ chúng tôi là bạn bè, hai gia đình thường qua lại.

Nhưng giữa tôi và họ chưa bao giờ có một mối quan hệ chính thức; chúng tôi thường đi cùng bạn bè, cùng nhau đi nhảy tango. Khi đó tôi mười bảy tuổi, và trong lòng tôi đã bắt đầu cảm nhận sự xao động của ơn gọi linh mục.

Cả hai cô ấy vẫn còn sống, và sau này tôi gặp lại họ khi tôi đã là giám mục. Một người hiện là nhân viên quản lý giáo xứ ở khu Caballito, có gia đình và con cái; người kia vẫn sống ở Palermo, cũng có một gia đình đẹp đẽ.

Trước đó, khi tôi còn nhỏ, tôi từng có một mối tình ngây thơ với một cô bé ở Flores—một câu chuyện cảm động mà tôi đã quên mất cho đến khi được nhắc lại ngay sau khi tôi được bầu làm giáo hoàng.

Cô bé đó tên là Amalia Damonte, bạn học cùng lớp tiểu học với tôi. Tôi đã viết cho cô ấy một bức thư nói rằng: “Hoặc là em, hoặc là không ai cả,” và để làm rõ ý định, tôi còn vẽ thêm ngôi nhà trắng nhỏ mà chúng tôi sẽ mua và sống cùng nhau sau này—bức vẽ ấy, thật ngạc nhiên, cô bé đã giữ suốt cả cuộc đời.

Amalia sống ở đường Membrillar, chỉ cách nhà tôi vài căn, và gia đình cô cũng có gốc Piemonte. Nhưng dù có cùng nguồn gốc, mẹ cô dường như đã có dự định khác cho con gái mình: nếu thấy tôi lảng vảng gần đó, bà sẽ vung chổi đuổi tôi đi!

Đó là những cảm xúc và mối quan hệ bình dị, trong sáng của một đứa trẻ rồi đến một thiếu niên: vui chơi, học hành, kết bạn, những chuyến dã ngoại, và những rung động tình yêu đầu tiên.

Nhưng đồng thời, cuộc sống vốn phức tạp cũng mang đến những khoảnh khắc buồn và cay đắng, ngay cả trong gia đình.

Như câu chuyện về bà cô Rosa của tôi.

Bà Rosa Gogna là chị gái của bà ngoại tôi, sống trong một căn phòng nhỏ ở khu vườn sau căn nhà lớn trên đường Bocayuva, ngay cạnh xưởng mộc của ông ngoại tôi. Khi ấy bà gần bốn mươi tuổi và là mẹ đỡ đầu của dì Catalina, em gái út của mẹ tôi.

Bà là một người phụ nữ kỳ lạ, sống một cuộc đời cực kỳ cô lập, hầu như tách biệt khỏi gia đình—không tham gia các buổi họp mặt, không đến ăn lễ cùng mọi người.

Bà bị tai biến mạch máu não, một bên mặt bị liệt, và với sự vô tâm trẻ con, anh em chúng tôi thường chế giễu bà. Trong mắt chúng tôi, bà giống như một người kỳ quặc, và chúng tôi đôi khi bày trò chọc ghẹo bà.

Người ta trưởng thành dần dần.

Khi tôi khoảng mười sáu, mười bảy tuổi, tôi cảm thấy cần phải đến thăm bà. Khi ấy, bà đã rời nhà ông bà tôi, thuê một căn phòng nhỏ với bếp và nhà vệ sinh riêng, chất đầy những món đồ lặt vặt vô ích—hôm nay chúng ta có lẽ sẽ gọi đó là một người mắc hội chứng tích trữ. Bà không vứt bỏ bất cứ thứ gì: sau này, người ta còn tìm thấy tiền trợ cấp của bà được giấu trong lõi cuộn giấy vệ sinh.

Tôi đến thăm bà và đau lòng khi thấy bà sống cô độc và trong cảnh như vậy. Bà giống như một người chưa từng biết đến sự ấm áp của tình thân.

Mỗi lần bước vào căn phòng đó, tôi phải len lỏi như một nhà thám hiểm giữa một rừng hộp và đồ đạc lộn xộn, và sau đó ra ngoài, người ngứa ngáy khắp nơi. Tôi rất muốn giúp bà, điều đó khiến tôi day dứt, nhưng tôi không biết phải làm thế nào: lúc ấy bà ngoại tôi vẫn còn sống, cùng với năm người con của bà, vậy mà bà cô Rosa gần như bị cả gia đình lãng quên. Bà cô vô gia cư trong chính gia đình mình.

Một ngày nọ, năm 1958, khi tôi hai mươi mốt tuổi và đang thực tập dòng Tên tại Córdoba, cha tôi đến thăm tôi. Tôi kể chuyện với ông: “Cha, cha hãy đến thăm cô Rosa.” Và cha tôi, một người rất giàu lòng nhân ái, đã hứa sẽ làm vậy, và ngay lập tức đến thăm bà.

Sau đó, khi về nhà, cha đã viết thư báo cho tôi biết vì thời kỳ tập viện không được gọi điện thoại.

Lần tới khi cha đến thăm tôi, tôi nói: “Tại sao cha không đưa cô về nhà mình ở?” Khi đó, gia đình tôi đã chuyển đến đại lộ Rivadavia số 8862, căn nhà lớn mà tôi chưa bao giờ sống ở đó—nơi cha tôi cũng sẽ qua đời ba năm sau.

Và họ đã làm như vậy.

Họ chuẩn bị một căn phòng đẹp gần cầu thang cho bà, và bà cô Rosa chuyển đến sống cùng gia đình.

Bà đã sống những ngày cuối đời không phải trong cô đơn, mà trong mái ấm của gia đình.

Một ngày nọ, trong năm đầu tiên học triết học, khi tôi đang nghe bản Messiah của Handel, thì điện thoại reo và tôi nhận được tin: đó là ngày 15 tháng 8 năm 1961, tôi nghĩ vậy. Bà cô Rosa của tôi đã qua đời ở tuổi tám mươi ba, ra đi trong bình an. Cuộc đời của bà, suốt bao năm dài, là một bất công mà cuối cùng cha mẹ tôi, nhờ lòng quảng đại của mình, đã kịp sửa chữa.

Bài Mới Nhất
Search