Chương Mười Lăm: Con Đường Duy Nhất Để Trở Thành Một Con Người Trọn Vẹn

Giới Thiệu: TỰ TRUYỆN “HY VỌNG” CỦA CỐ GIÁO HOÀNG FRANCIS

Chương 15.

Con Đường Duy Nhất Để Trở Thành Một Con Người Trọn Vẹn

Trong khoảng thời gian giữa khóa học triết học — mà tôi đã lấy bằng vào năm 1963 — và khóa thần học, tôi được gửi đến trường Colegio de la Inmaculada Concepción ở Santa Fe để giảng dạy văn học, nghệ thuật và tâm lý học cho các học sinh trong hai năm cuối trung học.

Vài tháng trước đó, tôi đã viết thư cho Bề trên Tổng quyền của Dòng, Cha Pedro Arrupe, người từng là Giám tỉnh Dòng Tên đầu tiên tại Nhật Bản và là giám đốc tập viện ở Hiroshima. Chính ngài đã có mặt tại đó khi quả bom nguyên tử được thả xuống.

Ngài kể lại rằng, vào ngày 6 tháng 8 năm 1945, lúc 8 giờ 15 phút sáng, khi quả bom phát nổ chỉ cách nơi ngài và các tu sĩ Dòng Tên cùng nhiều bạn trẻ đang ở khoảng hơn 4 km, ngài thấy “một luồng sáng chói lòa” và, khi mở cửa ra, nghe một tiếng nổ kinh hoàng “như một cơn bão lốc”. Đồng thời, cửa ra vào, cửa sổ và các bức tường đổ sập xuống tan tành. Những giây phút ấy “dường như là cái chết”, mặc dù tất cả những người hiện diện đều sống sót. Họ chạy qua các cánh đồng lúa để cố gắng hiểu điều gì đã xảy ra, nhưng tất cả những gì họ thấy chỉ là một đám mây dày đặc bị xé toạc bởi những ngọn lửa khổng lồ. Họ leo lên một ngọn đồi để có thể nhìn rõ hơn, và từ đó “chúng tôi nhìn thấy một thành phố bị tàn phá: trước mắt chúng tôi là một Hiroshima tiêu điều. Thành phố đã bị thiêu rụi.” Một biển lửa khổng lồ, chỉ trong vài phút đã biến tất cả thành đống tro tàn. Những người thoát nạn “bám chặt lấy nhau, không thể chạy như họ mong muốn để thoát khỏi địa ngục đó, vì những vết thương khủng khiếp họ phải gánh chịu.”

Vào ngày 6 tháng 8 ấy, tôi còn chưa tròn chín tuổi, và ngôi nhà của tôi ở khu barrio Flores thì cách cây nấm tử thần ấy ở Nhật Bản hơn 20.000 cây số. Chúng tôi bị ngăn cách bởi rào cản ngôn ngữ, những mô hình văn hóa khác biệt và cả một đại dương mênh mông — Thái Bình Dương — mà chưa ai trong gia đình tôi từng tận mắt thấy, và bản thân tôi cũng phải nhiều năm sau đó mới có dịp nhìn thấy. Thế nhưng, tôi vẫn nhớ rất rõ ngày hôm ấy: tôi nhớ đôi mắt ngấn lệ của mẹ và cha tôi khi tin tức được truyền tới. Họ đã khóc.

Chỉ trong một khoảnh khắc lóe sáng — “một luồng sáng chói, vàng rực và rực rỡ như mười ngàn mặt trời” — từ bảy mươi đến tám mươi ngàn người đã thiệt mạng, và một con số lớn không thể đếm xuể đã lâm bệnh và chết dần trong những tháng và năm sau đó do hậu quả của phơi nhiễm phóng xạ. Các nhân chứng kể rằng nếu bạn nắm tay một người bị thương, da thịt họ sẽ bong ra từng mảng, như thể bạn đang tháo một chiếc găng tay. Thành phố vốn dĩ trước đó đông đúc, sầm uất, một trung tâm thương mại và công nghiệp lớn của đảo Honshu, giờ đây chỉ còn là một sa mạc độc hại phủ đầy bụi. Không còn nhà cửa, không còn quảng trường, cũng chẳng còn một ngôi đền nào trong số vô vàn ngôi đền nhỏ từng rải rác khắp nơi: chỉ còn lại một hố đen của sự hủy diệt và cái chết. Nhà báo John Hersey, một năm sau khi đến tận nơi, đã ghi nhận rằng những hình bóng con người vẫn còn in hằn trên các bức tường, như những tiêu bản phim âm bản. Trên cây cầu gần bảo tàng khoa học, hình ảnh một người đàn ông và chiếc xe ngựa của ông ta vẫn còn lưu lại thành một cái bóng sắc nét và chi tiết đến mức có thể thấy rõ vào khoảnh khắc quả bom phát nổ và hóa họ thành tro bụi, người đàn ông ấy đang quất roi vào ngựa.

Đó chính là sự điên rồ của chiến tranh hạt nhân. Albert Einstein đã ghi nhận: “Nhân loại đã phát minh ra bom nguyên tử, nhưng sẽ chẳng có con chuột nào lại tự chế ra một cái bẫy chuột.”

Ba ngày sau, Nagasaki cũng phải hứng chịu số phận tương tự.

Có một bức ảnh đối với tôi đã trở thành biểu tượng cho sự man rợ vô nhân đạo của chiến tranh: nó ghi lại hình ảnh một cậu bé nhỏ, có lẽ không quá mười tuổi, đang mang một trọng lượng nặng trên vai như thể đó là chiếc cặp sách — đó là em trai nhỏ của cậu, đã chết. Khuôn mặt cậu bé căng thẳng, nghiêm nghị, điềm đạm. Cậu đứng đó, chờ đến lượt mình đưa thi thể đứa em út, nạn nhân của vụ nổ bom nguyên tử ở Nagasaki, vào lò thiêu. Toàn bộ nỗi bất an của cậu được bộc lộ trong một cử chỉ gần như không thể nhận ra: cậu cắn chặt môi đến chảy máu.

Trái Đắng của Chiến Tranh: Một bức ảnh đáng giá ngàn lời.

Khi tôi lần đầu tiên nhìn thấy bức ảnh ấy, tôi đã là giáo hoàng. Tôi nghĩ một nhà báo nào đó đã gửi nó cho tôi. Nó chạm thẳng vào trái tim tôi. Tôi đã cầu nguyện rất nhiều trong khi nhìn vào đứa trẻ ấy. Rồi tôi nảy ra ý tưởng in bức ảnh đó thành bưu thiếp để phát hành. Thứ duy nhất tôi thêm vào là dòng tiêu đề: “Trái Đắng của Chiến Tranh.” Và tôi đã phát bưu thiếp ấy ở khắp mọi nơi tôi đến. Bức ảnh ấy thật sự đáng giá cả ngàn lời.

Các bác sĩ phẫu thuật làm việc ở vùng chiến sự đã nhiều lần bắt gặp cùng một biểu cảm như vậy trên gương mặt những đứa trẻ — những nạn nhân của những quả mìn giống như đồ chơi ở Kabul, hoặc của các cuộc ném bom ở Aleppo, tại đất nước Syria thân yêu ấy. Nhiều khi, nỗi đau của những đứa trẻ ấy không còn chỗ cho nước mắt: thay vào đó, chúng tức giận. Chúng sững sờ và cảm thấy bị xúc phạm. Chúng vô cùng phẫn nộ vì bị thế giới người lớn — lẽ ra phải bảo vệ chúng — phản bội, một thế giới dường như đã thôi không còn biết phẫn nộ trước bất công nữa. Đó là lý do tại sao chúng ta cần nhìn lại mọi thứ qua ánh mắt trẻ thơ (Matthêu 18:1–5): trước bất công — và chiến tranh, dù mang tên gì, chính là bất công lớn nhất — trẻ em tức giận. Chúng nhìn bằng đôi mắt của Thiên Chúa.

Trong những ngày ngay sau vụ nổ, Cha Arrupe đã biến tập viện thành một bệnh viện dã chiến, nhờ kinh nghiệm y khoa của ngài từ thời còn ở Tây Ban Nha. Mười năm sau, trong một cuộc phỏng vấn với Gabriel García Márquez, ngài kể lại rằng trong tình trạng hoàn toàn thiếu thốn thuốc men, một người nông dân đã tặng ngài một bao bốn mươi cân axít boric. Ngài pha loãng nó với nước để làm những miếng gạc đắp vết bỏng, và đã dùng nó để chữa trị cho hàng chục người.

Vì sự phục vụ cho đức tin, vì thúc đẩy công lý và vì chọn lựa yêu thương những người nghèo khổ, Cha Arrupe đã trở thành một nhân vật biểu tượng đối với Dòng Tên, ngay cả trong những thời kỳ khó khăn và sóng gió. Ngài thường nói rằng không ai có thể thực sự nói về nghèo đói nếu chưa từng kinh qua nó nơi mà nó hiện hữu; nếu không, người ta có nguy cơ trở nên trừu tượng, giáo điều hoặc cực đoan. Ngài đã diễn đạt rõ điều đó trong một lá thư gửi các Trung tâm Nghiên cứu và Hành động Xã hội (CIAS). Ngài viết rằng “chỉ bằng cách trở thành người-vì-người-khác, ta mới có thể trở thành con người trọn vẹn,” và không thể “lên án bất công trong khi lại hành động trái với Tin Mừng.” Đồng thời, ngài cũng là một người cầu nguyện sâu sắc. Tôi vẫn nhớ hình ảnh ngài cầu nguyện bằng cách ngồi bệt dưới đất, theo phong cách của người Nhật. Khía cạnh ấy khiến tôi cảm thấy rất an tâm.

Năm 1981, khi đang trên máy bay trở về Rôma từ Bangkok, Cha Arrupe đã bị đột quỵ. Trước đó không lâu, tại một trung tâm tị nạn, ngài đã từ biệt anh em bằng một lời mời gọi cầu nguyện — đó chính là khúc hát thiên nga tuyệt vời của ngài, di sản cuối cùng của ngài, trước khi bước vào một quãng thời gian dài suy tàn nhưng đầy gương sáng.

Năm 1963, khi còn là một tập sinh trẻ, tôi đã viết thư cho ngài, bày tỏ mong muốn được hoàn tất thời kỳ thực tập tông đồ của mình tại một sứ mạng ở Nhật Bản. Đất nước ấy làm tôi say mê: từ khi còn bé, tôi đã cảm thấy một sự ấm áp và trìu mến dành cho vùng đất ấy. Nhưng vì vấn đề ở phổi, tôi đã không được chấp nhận.

Về sau, vào tháng 11 năm 2019, tôi đã đến Nhật Bản trong chuyến tông du thứ ba mươi hai của mình, cũng đi qua Thái Lan và đất nước Mặt Trời Mọc yêu dấu. Tôi cũng đã từng ghé Nhật Bản, một cách ngắn ngủi, vào năm 1987.

Tôi đã cầu nguyện trên Đồi Nishizaki, trước đài tưởng niệm các vị tử đạo, nơi Golgotha thế kỷ XVI, nơi đã dựng lên hai mươi sáu cây thánh giá cho các tu sĩ Dòng Phanxicô, Dòng Tên và giáo dân, những người đã bị giết hại và đóng đinh, trong đó có ba người chỉ là những đứa trẻ. Tôi đến như một người hành hương, để củng cố và được củng cố trong đức tin bởi những người anh em ấy. Thánh địa ấy nói nhiều về chiến thắng của sự sống hơn là của cái chết. Đó là một Núi Các Mối Phúc và Phục Sinh, vang lên chứng từ của những con người tràn đầy Thần Khí, không vướng bận ích kỷ hay kiêu căng. Câu chuyện của Thánh Paolo Miki và các bạn tử đạo không chỉ là một di tích huy hoàng của những hành động xưa cũ, mà còn là ký ức và ngọn lửa sống động trong tâm hồn của mọi sứ vụ trên đất nước này. Ngày nay, hơn cả những thế kỷ trước, các Kitô hữu ở nhiều nơi trên thế giới vẫn đang chịu đau khổ và tử đạo vì đức tin của họ. Chúng ta cần phải đấu tranh và lên tiếng đòi hỏi quyền tự do tôn giáo cho mọi người, ở mọi nơi trên thế giới, và lên án mọi sự thao túng, khai thác tôn giáo ở bất cứ đâu.

Vẫn với tư cách là một người hành hương, một người hành hương vì hòa bình, tôi cảm thấy cần phải đến Nagasaki và Hiroshima. Tôi đã làm điều đó với trái tim mang theo những lời khẩn cầu và khát vọng của con người thời đại này, đặc biệt là giới trẻ, đồng thời khiêm nhường mang theo tiếng kêu đau thương của người nghèo, những nạn nhân yếu thế nhất của hận thù và xung đột. Khi chúng ta khuất phục trước logic của vũ khí và xa rời đối thoại, chúng ta bi thảm quên mất rằng vũ khí, ngay cả trước khi tạo ra các nạn nhân và sự tàn phá, đã gieo rắc những giấc mơ tồi tệ. Như Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói trong bài diễn văn trước Liên Hợp Quốc vào ngày 4 tháng 10 năm 1965: “Vũ khí đòi hỏi những khoản chi tiêu khổng lồ. Chúng làm gián đoạn các dự án liên đới và lao động hữu ích. Chúng làm méo mó tầm nhìn của các quốc gia.” Chúng ta không thể yêu thương con người khi tay còn cầm vũ khí. Tôi đã cầu nguyện cho các nạn nhân của những vụ nổ. Và tôi cúi đầu trước sức mạnh và phẩm giá của những ai đã chịu đựng những đau đớn khôn xiết, cả trong thể xác lẫn trong tâm trí, suốt nhiều năm trời.

Tôi kính cẩn dâng lời tri ân tại Công viên Tâm điểm Bom nguyên tử ở Nagasaki

Tôi đã nghe một mô tả không thể diễn tả thành lời từ miệng một người từng mười bốn tuổi vào thời điểm ấy: “Người ta đi bộ kề bên nhau như những bóng ma,” bà Yoshiko Kajimoto kể với tôi. “Cơ thể họ cháy đen đến mức tôi không thể phân biệt được nam hay nữ, tóc dựng thẳng, mặt sưng phồng, môi chảy xệ, hai tay duỗi thẳng ra với làn da lủng lẳng. Không ai trên thế giới có thể hình dung được một cảnh tượng địa ngục như thế. Trong những ngày tiếp theo, thi thể bắt đầu phân hủy và khói trắng bao trùm mọi thứ: Hiroshima đã trở thành một lò thiêu khổng lồ. Trong một thời gian dài, tôi không thể rũ bỏ được mùi hôi đó ra khỏi cơ thể và quần áo của mình…” Ba ngày sau, trên đường về nhà, cô bé tình cờ gặp lại cha mình, người đã tuyệt vọng đi tìm cô suốt ba ngày ba đêm, nghĩ rằng cô đã chết. Họ ôm chầm lấy nhau. Cô bé hạnh phúc tột cùng khi tìm lại được cha mình… Nhưng không lâu sau đó, cha cô bắt đầu nôn ra máu và qua đời. Mẹ cô cũng ra đi sau một thời gian dài chống chọi với hậu quả của bức xạ. Và chính bản thân cô cũng không thoát được, phải chống chọi dai dẳng với bệnh bạch cầu và ung thư.

Những câu chuyện và những địa danh này phải khiến chúng ta ý thức được nỗi đau mà loài người có thể gây ra cho nhau. Đồng thời, chúng cũng chứa đựng những mầm mống của tương lai. Không ai, nhất là trong thời đại nguyên tử này, có thể nhắm mắt làm ngơ trước sức tàn phá của một nền văn hóa không biết đối thoại. Chúng ta phải học lấy bài học từ lịch sử. Chúng ta không thể để các thế hệ tương lai quên đi ký ức của những sự kiện ấy: ký ức sống động đó phải là sự đảm bảo và là động lực để xây dựng một tương lai công bằng hơn, để chúng ta có thể nói với nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác: “Nunca más!” Không bao giờ nữa! Không bao giờ còn chiến tranh, không bao giờ còn tiếng gầm của vũ khí, không bao giờ còn những đau thương!

Ngày nay, hơn bao giờ hết, việc sử dụng năng lượng nguyên tử cho mục đích chiến tranh không chỉ là tội ác chống lại nhân loại và phẩm giá của nó, mà còn chống lại mọi khả năng tồn tại trong ngôi nhà chung của chúng ta. Điều đó là vô luân, cũng như việc sở hữu vũ khí nguyên tử là vô luân. Chúng ta sẽ bị xét xử vì điều này. Các thế hệ tương lai sẽ đứng lên phán xét chúng ta nếu hòa bình chỉ còn là “một từ rỗng tuếch” và nếu chúng ta không hành động cùng các dân tộc khác trên trái đất để đạt được nó. Hiện nay thế giới còn đủ vũ khí nguyên tử để hủy diệt địa cầu bốn lần, và đủ vũ khí hóa học để tiêu diệt toàn bộ dân số thế giới năm nghìn lần. Nhưng vũ khí—mọi loại vũ khí—không chỉ là những sứ giả của cái chết: chúng còn là chiếc nhiệt kế đo lường sự bất công. Và bất công chính là gốc rễ hiểm ác của nghèo đói. Chúng ta không thể nói về vũ khí mà không nói về sự bất công sâu sắc mà chúng tạo ra và duy trì: đặc quyền của số ít chống lại đa số. Những người tị nạn kêu gào, chen chúc trên những con thuyền tìm kiếm hy vọng, không biết cảng nào sẽ đón nhận họ, trong khi cùng lúc đó, ở châu Âu, những cảng ấy vẫn mở ra cho những con tàu chở đầy vũ khí tối tân, đắt đỏ, có thể gieo rắc sự tàn phá không chừa cả trẻ em. Trong một thế giới mà hàng triệu gia đình đang sống trong điều kiện vô nhân đạo, thì số tiền khổng lồ được chi ra và những khối tài sản khổng lồ được tạo ra từ việc sản xuất, hiện đại hóa, duy trì và buôn bán các loại vũ khí ngày càng hủy diệt hơn chính là một sự công kích không ngừng lên tới trời cao. Và cũng vậy đối với những sự nghiệp—bao gồm cả sự nghiệp chính trị—của những ai ăn nên làm ra nhờ vào thứ thương mại ấy. Nếu chúng ta làm ngơ trước tất cả điều này, thì mọi lời nói về hòa bình chỉ là đạo đức giả.

Hãy nhớ, hãy cùng nhau bước đi, hãy bảo vệ. Bảo vệ từng mạng sống, nhận ra phẩm giá thiêng liêng của mỗi người. Gói ghém trong những mệnh lệnh luân lý này chính là bài học của Hiroshima. Một bài học hoàn toàn không phải là chuyện viển vông. Trái lại, đó là hiện thực văn hóa, xã hội và chính trị. Và nó đáp ứng khát vọng của hàng triệu người nam và nữ trên khắp thế giới. Con đường sáng tạo của đối thoại, dù vất vả và đòi hỏi, chính là liều thuốc giải duy nhất cho sự điên rồ hủy diệt mà chúng ta đã từng và vẫn còn đang chứng kiến.

Bài học ấy đã vang lên trong trái tim tôi từ khi còn bé. Và nó lại được nhắc nhở tôi lần nữa, sau bảy mươi tư năm.

Vì vậy, vào năm 1963, thay vì đi Nhật Bản, tôi đã ở lại Argentina, và họ cử tôi đi dạy học. Maestrillo là cách người ta gọi một tu sĩ Dòng Tên đang trong giai đoạn thực tập.

Tôi vốn là kỹ thuật viên hóa học, nên cứ nghĩ họ sẽ giao cho tôi giảng dạy các môn toán hoặc vật lý. Thế nhưng, tôi lại trở thành giáo viên dạy nhân văn. Tôi đã vượt qua được nhiệm vụ ấy, hy vọng là không quá tệ, bằng cách tận dụng triệt để những gì mình vừa học tại Chile.

Trong năm đầu tiên, tôi tập trung vào văn học Tây Ban Nha, bao gồm Gonzalo de BerceoCantar de mio Cid (Bài ca về chàng Cid), bài thơ sử thi quan trọng nhất của Tây Ban Nha, được lưu truyền từ thời trung cổ qua những người hát rong và thi sĩ du mục.

Sau đó, tôi mở rộng chương trình sang các tác giả Argentina, bao gồm cả những cây bút đương đại, từ văn học cao bồi gaucho cho tới María Esther Vázquez, Leopoldo MarechalBorges. Tôi không ngại để học sinh tự do khám phá và cho phép các em tìm hiểu bất kỳ lĩnh vực nào mà các em quan tâm. Đó cũng là thời kỳ hoàng kim của nhóm nhạc Beatles, và bốn học trò của tôi đã cố gắng thành lập một ban nhạc, sáng tác nhạc và viết lời bài hát: họ tự gọi mình là Shouters (Những người Hét lên). Nhưng biểu diễn kịch cũng là một hoạt động rất quan trọng ở trường Inmaculada. Học sinh ở trường đều là nam, trong khi vở kịch được chọn năm đó, một bài thơ sử thi của nhà văn Uruguay Juan Zorrilla de San Martín, lại có những nhân vật nữ. Trước đó, các vở kịch thường được biểu diễn mà không có vai nữ, dù có phải cắt gọt rất nhiều, viết lại kịch bản, hay thậm chí—tệ hơn—cho các cậu bé đóng vai nữ. Tôi cảm thấy như vậy là làm nghèo nàn và hạ thấp hiện thực cũng như hình ảnh người phụ nữ. Thế là chúng tôi đề nghị các bà mẹ và chị em gái của các diễn viên tham gia, và chẳng bao lâu sau, chúng tôi đã có thể biểu diễn vở kịch đúng như nguyên tác, và như nó xứng đáng.

Hơn thế, tôi cũng muốn các học trò của mình không chỉ học văn học mà còn thử tự viết sáng tác.

Tôi thường nói rằng giáo dục, và giảng dạy, nghĩa là phải ghi nhớ hai thực tại: vùng an toàn và vùng mạo hiểm. Giáo dục luôn bao hàm một sự chênh vênh, và chúng ta phải tìm ra sự cân bằng giữa hai nhu cầu này. Ta chỉ có thể tiến bộ nếu ý thức được những gì mình còn thiếu, bởi nếu cứ nghĩ mình đã có đủ thì sẽ không thể tiến xa. Đây chính là sự cân bằng cần tìm kiếm mỗi lần: chúng ta cần bước đi với một chân đặt trong vùng an toàn, trên tất cả những gì mình đã lĩnh hội và tiếp thu, nhưng chân còn lại phải bước vào vùng mạo hiểm, với mức độ mạo hiểm phù hợp, để dám tiến về phía trước.

Không dám mạo hiểm thì không thể tiến bộ. Nhưng cũng không thể liều lĩnh lao mình xuống vực sâu.

Tôi rất quý mến những cậu học trò mười sáu, mười bảy tuổi ấy; các em chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ, là những con người dửng dưng. Và tôi biết ơn các em vì tất cả những điều tốt đẹp mà các em đã đem lại cho tôi.

Tôi nhận thấy giảng dạy là một trải nghiệm tuyệt vời—là một trải nghiệm theo cả hai nghĩa, bởi vì giảng dạy cũng có nghĩa là học hỏi. Nó đòi hỏi luôn phải có một tấm lòng rộng mở và một tâm trí sẵn sàng, để dành chỗ cho sự ngạc nhiên.

Tôi đã trải qua hai năm tại Santa Fe, rồi trở về Buenos Aires vào năm 1966 để làm giám thị cho các học sinh năm thứ tư và giảng dạy môn văn học cùng tâm lý học tại trường Colegio del Salvador.

Sau đó, tôi quay lại làm sinh viên thần học trong ba năm, từ năm 1967, tại Colegio Máximo, cho đến khi nhận bằng tốt nghiệp vào năm 1971.

Đó cũng là những năm diễn ra Công đồng Vatican II, khai mạc vào tháng 10 năm 1962 và kết thúc các phiên họp vào tháng 12 ba năm sau đó. Giáo hội tại Argentina cũng đã chia sẻ những khoảnh khắc đầy căng thẳng và hy vọng, mở lòng đón nhận nhưng cũng có những do dự. Những đối lập này cũng được cảm nhận rõ trong thần học. Các thần học gia tín lý đã cố gắng mở mình ra với tinh thần mới; các thần học gia Kinh Thánh thì phần nào đi trước hoặc theo kịp; trong khi luân lý học thì vẫn còn mang nặng tính giáo điều và ngoái nhìn về quá khứ, chưa có cơ hội tiến bước.

Đó là những năm tháng sôi động và đầy nhiệt huyết trên toàn thế giới, với những cuộc xung đột xã hội và dân sự, với bài diễn văn nổi tiếng “Tôi có một giấc mơ” của Martin Luther King tại Washington, và cũng là những năm tràn đầy sự ngây thơ. Chỉ cần một chút phân tích phê bình là ta có thể nhận ra những yếu điểm. Tôi còn nhớ có một linh mục tại Buenos Aires đã vui mừng khôn xiết khi John F. Kennedy—một người Công giáo—được bầu làm tổng thống vào năm 1960, cứ như thể Giáo hoàng Gioan XXIII đã được bầu vào Nhà Trắng vậy. Sự ngây thơ đó làm tôi bực bội. Và tôi còn tức giận hơn trước cuộc chiến tranh Việt Nam, lúc ấy đang leo thang dữ dội, cũng giống như những cuộc chiến ngày nay.

Chiến tranh luôn là điều khó hiểu. Chiến tranh luôn là cuộc tàn sát vô nghĩa.

Nó đã và vẫn khiến tôi đau đớn tận trong da thịt mình.

Năm tháng trước khi tôi được thụ phong linh mục, vào tháng 7 năm 1969, con người lần đầu tiên đặt chân lên mặt trăng. Dĩ nhiên chúng tôi đều theo dõi sự kiện đó qua truyền hình, nhưng trong những năm ấy, điều gây ấn tượng mạnh với tôi còn hơn cả những hình ảnh ấy chính là các tác phẩm của đạo diễn điện ảnh Ingmar Bergman. Ông đã mở ra những chân trời rộng lớn hơn: “Ấn tín thứ bảy”, với ván cờ không thể nào quên giữa người hiệp sĩ trở về từ cuộc Thập tự chinh và nhân vật hóa thân của tử thần; “Nguồn suối trinh nữ”, lấy cảm hứng từ một truyền thuyết trung cổ; và “Trong gương tối”, hành trình khuấy động vào mê cung tâm trí, được lấy cảm hứng từ một đoạn trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô: “Vì hiện giờ, chúng ta thấy mờ mịt như trong gương; mai sau, chúng ta sẽ thấy tỏ tường, mặt đối mặt. Hiện tại, tôi chỉ biết một phần; nhưng mai sau, tôi sẽ biết rõ như Thiên Chúa đã biết tôi vậy” (1 Côrintô 13,12).

Sau khi chịu chức, vào tháng 8 năm 1970, tôi được gửi đến Tây Ban Nha, tới Colegio San IgnacioAlcalá de Henares, quê hương của Cervantes, trong cộng đồng Madrid, để thực hiện giai đoạn thứ ba của quá trình huấn luyện Dòng Tên, còn được gọi là “trường của con tim,” hoàn tất sự đào luyện. Bề trên của tôi khi đó là cha José Arroyo, một người đã mang lại cho tôi rất nhiều điều tốt lành, và tôi vẫn luôn ngưỡng mộ ông cho đến tận ngày nay.

Tôi đã tuyên khấn trọng thể lần cuối, lời khấn thứ tư, vào ngày 22 tháng 4 năm 1973, tại San Miguel, khi tôi đã là cha giám tập.

Và chỉ ba tháng sau, vào ngày 31 tháng 7 năm 1973, tôi được bổ nhiệm làm Bề trên Tỉnh dòng. Tôi mới ba mươi sáu tuổi, và là người trẻ nhất từng đảm nhận vị trí này tại Argentina. Tôi vẫn thường nói rằng việc bổ nhiệm đó là một sự điên rồ—và thực sự là như vậy. Nhưng vào thời điểm ấy, không thể làm khác được.

Tôi đã phạm nhiều sai lầm. Và tôi đã học được nhiều bài học cay đắng từ những sai lầm của mình.

Bài Mới Nhất
Search