Chương Mười Chín: Bước Đi Qua Những Thung Lũng Tăm Tối Của Tử Thần

Giới Thiệu: TỰ TRUYỆN “HY VỌNG” CỦA CỐ GIÁO HOÀNG FRANCIS

Chương 19.

Bước Đi Qua Những Thung Lũng Tăm Tối Của Tử Thần

Cô gái đứng trước mặt tôi, trong khu nhà của tòa sứ thần Tòa Thánh ở Kinshasa.
Cô đến từ tỉnh Bắc Kivu, nơi có trữ lượng thiếc lớn nhất và những mỏ vàng khổng lồ của Cộng hòa Dân chủ Congo — một khu vực mà tôi đã không thể đến thăm trong chuyến công du tông đồ quốc tế lần thứ bốn mươi vào tháng 2 năm 2023, vì nơi đó vẫn mãi bị tàn phá bởi con quái vật bất tận: chiến tranh.

Câu chuyện cô sắp kể thật kinh hoàng, và để làm được điều đó, cô cần sự giúp đỡ của người bạn đứng bên cạnh.
“Tôi tên là Bijoux Mukumbi Kamala, tôi 17 tuổi, nhưng những đau đớn của tôi bắt đầu từ năm tôi 14 tuổi.
Chuyện xảy ra ở Musenge, một ngôi làng thuộc vùng Walikale.
Khi chúng tôi đang đi lấy nước ở sông, chúng tôi gặp những kẻ nổi loạn.
Chúng bắt chúng tôi vào rừng, mỗi tên chọn một người.
Tên chỉ huy chọn tôi.
Hắn cưỡng hiếp tôi như thể tôi là một con vật, nhiều lần trong ngày, nỗi đau khôn tả.
La hét cũng vô ích, vì không ai có thể đến cứu.
Chuyện đó kéo dài suốt một năm bảy tháng, cho đến khi nhờ một cơ may tôi trốn thoát.
Những người bạn bị bắt cùng tôi hôm đó vẫn chưa trở về.”
Cô trải một tấm chiếu dưới bàn thờ, giống như tấm chiếu mà kẻ hành hạ cô từng quăng cô lên đó.
Rồi Ladislas, bằng tuổi cô, lên tiếng.
Cậu kể về người anh trai đã bị giết — cậu thậm chí không biết bằng cách nào — và người cha bị chặt đầu trước mắt cậu, phần đầu bị đặt trong một chiếc giỏ.
Cậu không thể ngủ được kể từ đó.
Mẹ cậu bị bắt cóc: “Mẹ tôi vẫn chưa trở về, chúng tôi không biết họ đã làm gì với bà.
Tôi và hai em gái nhỏ, giờ chúng tôi thành trẻ mồ côi.”
Rồi đến Emelda.
Rồi Desiré.
Và Léonie, cô bé vẫn còn học tiểu học, dưới chân thập giá cô đặt một con dao — giống như con dao đã giết chết tất cả thành viên trong gia đình cô.
Một bảng tổng hợp của kinh hoàng: cưỡng hiếp, hủy diệt, cướp bóc, sự tàn ác không thể diễn tả. Và những đứa trẻ mồ côi.

Tôi chết lặng, chỉ biết im lặng trước vực thẳm đau thương ấy.

Trong thinh lặng, cũng như tại Auschwitz, bảy năm trước.
Thinh lặng và cầu nguyện.

“Señor, ten piedad de tu pueblo. Señor, perdón por tanta crueldad!”
(Lạy Chúa, xin thương xót dân Ngài. Lạy Chúa, xin tha thứ cho bao tội ác!)

Trong thinh lặng tại trại tập trung Auschwitz-Birkenau.

Trong thinh lặng như với Lidia Maksymowicz, một trong ba ngàn đứa trẻ từng bị Josef Mengele dùng làm vật thí nghiệm cho các cuộc nghiên cứu di truyền tại Auschwitz-Birkenau.
Ông bà của cô đã bị đưa thẳng vào phòng hơi ngạt, mẹ cô bị bắt lao động cưỡng bức, còn Lidia bị đưa vào khu trại trẻ em.
Khi đó cô mới năm tuổi.
Ba năm trước, ở tuổi 81, cô đến gặp tôi tại Vatican.
Cô xắn tay áo lên và cho tôi xem cánh tay có khắc số: 70072.
Còn lời nào để nói? Tôi im lặng: tôi hôn lên cánh tay cô.
Trong ba ngàn đứa trẻ, chỉ có hai trăm em còn sống khi trại được giải phóng ngày 27 tháng 1 năm 1945.
Những người sống sót từ vực sâu đau khổ.

Nhiều người Do Thái trốn khỏi sự bách hại đã tìm được nơi nương náu ở Argentina.
Ước tính có ít nhất 250.000 người đến từ cuối thế kỷ XIX đến sau Thế chiến II.
Trước đó, đã có những người từ Morocco, Đế quốc Ottoman, Syria, và sau này từ Ai Cập.
Đối với tôi, ở khu phố thời thơ ấu, họ là những người quen thuộc mỗi ngày: bạn chơi, cha mẹ của bạn học.
Ngay từ nhỏ, và sau này khi làm linh mục, tổng giám mục và hồng y, tôi đã thiết lập những tình bạn thực sự với những người Do Thái bình dân, các lãnh đạo cộng đồng, và các giáo sĩ ở Buenos Aires.
Như với Abraham Skorka, hiệu trưởng chủng viện Do Thái và giáo sĩ của cộng đồng Benei Tikva, ở khu Belgrano.
Chúng tôi đã cùng ghi hình khoảng ba mươi chương trình truyền hình về Kinh Thánh, phát sóng trên kênh của tổng giáo phận.
Đầu tháng 2 năm 2013, chúng tôi chào tạm biệt nhau để bước vào kỳ nghỉ hè, và đã hẹn gặp lại vào tháng 3 để thực hiện buổi ghi hình tiếp theo về tình bạn.
Nhưng Thánh Thần, như ta biết, luôn thay đổi dòng sự kiện, tạo ra những tình huống không thể ngờ…
Tôi đã không quay lại tổng giáo phận vào tháng 3 đó.
Chương trình cuối cùng chưa bao giờ được thực hiện.
Abraham là một trong những người đầu tiên tôi gọi điện vào tối hôm được bầu làm giám mục Roma:
“Họ giữ tôi lại đây, anh ghi lại địa chỉ mới của tôi đi,” tôi nói với anh.
Và dù cách nhau cả một đại dương, tình bạn ấy vẫn bền chặt, được hình thành từ khát khao phục vụ nhân loại, điều mà cả hai chúng tôi đều xem là hình thức phụng sự Thiên Chúa cao quý nhất.

Đối thoại giữa người Do Thái và Kitô hữu không chỉ là đối thoại liên tôn, mà là đối thoại gia đình.
Chúng ta gắn bó với nhau trước một Thiên Chúa duy nhất, và qua lối sống của mình, chúng ta được mời gọi làm chứng cho tình yêu và hòa bình của Ngài.
Chúng tôi đã cùng cộng đồng Do Thái Buenos Aires thực hiện nhiều sáng kiến văn hóa, tôn giáo và xã hội — như chương trình cung cấp thực phẩm cho người nghèo do các giáo sĩ Do Thái và linh mục Công giáo cùng quản lý.
Chúng tôi cũng đã cùng nhau trải qua những nỗi đau trong đêm đen khủng khiếp của chế độ độc tài ở quê hương tôi: trong số ba mươi ngàn người mất tích tại Argentina — hầu hết đều từng đi qua những phòng tra tấn treo đầy ảnh Hitler trên tường — ít nhất hai ngàn người thuộc cộng đồng Do Thái, và còn nhiều người khác mang nguồn gốc Do Thái, hoặc là bạn bè, anh chị em của họ.
Họ là những người anh chị lớn của chúng ta.

Tại Kinshasa, tôi hôn lên những mỏm tay, mỏm chân đã bị chặt đứt. Tôi vuốt ve những cái đầu. Tôi lắng nghe những tiếng thở dài.
Tôi ngưỡng mộ lòng can đảm trong những lời chứng ấy: nước mắt của họ là nước mắt của tôi, nỗi đau của họ là nỗi đau của tôi.
Và tất cả chúng tôi cùng cất tiếng: Đủ rồi!
Đủ rồi những tàn ác làm ô nhục toàn thể nhân loại!
Đã đến lúc ngừng xem châu Phi là một mỏ tài nguyên để khai thác và một mảnh đất để cướp bóc.
Đã đến lúc phải chấm dứt những vụ bê bối và sự đạo đức giả của những doanh nghiệp vẫn tiếp tục thịnh vượng trong khi gây ra bạo lực và cái chết!

Cuộc chiến ở Congo đã cướp đi sinh mạng của hơn năm triệu người kể từ cuối những năm 1990.
Đây là cuộc xung đột lớn nhất kể từ Thế chiến II: nó đã để lại những vết thương chưa lành suốt nhiều năm, nơi các lực lượng sắc tộc chiến đấu đến cùng vì tài nguyên thiên nhiên và quyền lực, dưới sự can thiệp tai tiếng của các công ty đa quốc gia và các cường quốc nước ngoài.

Và còn hàng trăm ngàn nạn nhân, cùng với hàng triệu người vô gia cư và tị nạn, từ cuộc chiến ở Nam Sudan — ngày nay là quốc gia trẻ nhất thế giới — một vùng đất mà hiệp định hòa bình ký năm 2018 vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc thực thi đầy đủ.
Hàng trăm ngàn người đã mất người thân và mái ấm; các gia đình bị ly tán mãi mãi; những đứa trẻ, người già, phụ nữ và đàn ông đều đã trải qua những nỗi đau không thể diễn tả bằng lời.

Tôi đã từng gặp tổng thống nước này, Salva Kiir Mayardit, trong chuyến thăm Uganda năm 2015: ông đã yêu cầu một cuộc gặp khẩn cấp ngoài chương trình, và tôi đã tiếp đón ông vào buổi tối tại Kampala.
Sau đó, vào tháng 4 năm 2019, tôi lại gặp ông tại Santa Marta, cùng với các phó tổng thống được chỉ định là Riek Machar, lãnh đạo phe đối lập, và Rebecca Nyandeng de Mabior, góa phụ của lãnh đạo Nam Sudan John Garang, người đã thiệt mạng trong chiến tranh.
Cuộc gặp này được tổ chức như một kỳ tĩnh tâm thiêng liêng, phối hợp với tổng giám mục Canterbury, Justin Welby, và điều phối viên của Giáo hội Scotland, John Chalmers.
Kết thúc buổi gặp, phá vỡ mọi nghi thức ngoại giao, bằng một cử chỉ xuất phát từ trái tim, tôi quỳ xuống và hôn chân tất cả các lãnh đạo Nam Sudan.
Tôi nài nỉ họ, như một người anh em: Hãy ở lại trong hòa bình!

Quỳ xuống trước các nhà lãnh đạo Nam Sudan để cầu xin hòa bình.

Hòa bình là điều có thể, tôi sẽ không bao giờ mệt mỏi lặp lại điều đó.
Hòa bình là điều kiện căn bản để tôn trọng quyền con người và để mỗi quốc gia có thể phát triển trọn vẹn.
Tôi cầu xin rằng những hạt giống được gieo từ kỳ tĩnh tâm thiêng liêng ấy sẽ chín mọng và sinh hoa kết trái.
Tôi biết rằng vẫn còn vô vàn khó khăn.
Ngay cả trước ngày tôi đến Juba vào ngày 3 tháng 2 năm 2023, với tư cách là một người hành hương vì hòa giải, tiếng súng vẫn chưa lặng.
Nhưng chúng ta phải tiếp tục chiến dịch:
Chúng ta phải vận động và phản đối để hành trình thiết yếu hướng tới hòa bình ở đất nước thân yêu ấy, và ở nhiều nơi khác, không bị cản trở bởi làn sóng bạo lực, không bị sa lầy trong vũng lầy tham nhũng, cũng như không bị đắm chìm bởi cơn lũ nghèo đói.
Tham nhũng là đồng lõa với kinh hoàng.
Việc tích trữ tài nguyên thiên nhiên là đồng lõa với kinh hoàng.
Việc thiếu dân chủ là đồng lõa.
Và sự im lặng cũng là đồng lõa.

Liliana Segre, hiện là thượng nghị sĩ trọn đời của Ý, mới mười ba tuổi khi bị đưa tới Auschwitz, cùng với ông bà và cha mình — những người bà không bao giờ gặp lại.
Khi bà được hỏi muốn khắc từ gì trên sân ga số 21 của nhà ga Milan — nơi các đoàn tàu chở người tới các trại tập trung Đức quốc xã khởi hành sau sự ô nhục của các đạo luật phân biệt chủng tộc tại Ý — bà không do dự: “Thờ ơ,” bà nói.
Không ai trước đó từng nghĩ đến từ ấy.
Nhưng chính bằng sự thờ ơ hèn nhát của bao người mà cuộc thảm sát ít nhất mười lăm triệu sinh mạng đã diễn ra, và cũng chính trong sự im lặng và thờ ơ toàn cầu của chúng ta mà những cuộc tàn sát ngày nay vẫn đang diễn ra.

Ngôn ngữ của kinh hoàng, của bạo lực, của khốn khổ, của sự mục ruỗng, của những thung lũng tối tăm nhất mà con người rơi vào trên hành trình của mình, gần như luôn được nuôi dưỡng bởi những từ ngữ giống nhau, và thậm chí thường hơn nữa là bởi những điều không được nói ra.
Bởi vì sự thờ ơ thậm chí không cần lời nói: “Đó không phải chuyện của tôi, không liên quan đến tôi, cứ quay mặt đi…”

Chỉ cần tự cứu lấy mình, chỉ cần chăm lo cho bản thân, chỉ cần nghĩ tới mình thôi.
Đó cũng là câu chuyện của nhân loại đã đóng đinh Chúa chúng ta trên thập giá (Luca 23:35–37), và của một xã hội đang bệnh hoạn sâu sắc.
Bởi vì ích kỷ không chỉ chống lại Kitô giáo.
Ích kỷ cũng là một hình thức tự hủy hoại.
Sự thiển cận của một lối sống ích kỷ không có trí tưởng tượng hay sự sáng tạo chỉ dẫn tới việc lãng phí vào tái vũ trang, vào chiến tranh, vào hủy diệt môi trường — trong khi môi trường mới là một kho báu vô giá gấp bội.
“Igino Giordani, đồng sáng lập Phong trào Focolari và là người mở đường cho thời kỳ Công đồng Vatican II, từng viết về sự vô ích của chiến tranh rằng:
‘Khi người ta bắt đầu tự làm mình chảy máu về thể xác, thì về tài chính họ cũng đã gần cạn kiệt. Để giết chết chi phí, tự tử cần tiền. Ngu dốt là một thứ xa xỉ. Và sự ngu dốt tạo vỏ bọc trí thức cho hận thù.'”

Ích kỷ là ngu dốt.

Tất cả mọi thứ đều liên kết với nhau, tất cả đều kết nối.
Ngày nay hơn bao giờ hết.
Sự thật không thể chối cãi này chính là trung tâm của hai thông điệp xã hội trong triều đại giáo hoàng của tôi: Laudato si’Fratelli tutti.

Và đại dịch coronavirus, vào đầu năm 2020, nơi tất cả chúng ta cùng rơi vào, lẽ ra đã phải một lần nữa dạy cho chúng ta bài học đó.

Tin tức về việc kết thúc một cuộc chiến tranh, bước chân đầu tiên của con người lên Mặt Trăng, sự sụp đổ của một bức tường chia cắt châu Âu suốt ba mươi năm, cuộc tấn công khủng bố của hai chiếc máy bay đâm vào hai tòa tháp đôi, tạo ra một hố sâu nuốt chửng hàng ngàn sinh mạng trong một hành động phá hủy phi lý: tất cả những tin tức ấy đều khắc ghi một khoảnh khắc, đóng đinh ký ức của mỗi chúng ta trong thời gian và không gian.

Nhưng sự kiện này thì khác, ở Santa Marta cũng như ở mọi nơi khác.
Nó là một sự leo thang.

Ban đầu chỉ là những câu chuyện về một bệnh viêm phổi lạ ở một thành phố đông dân mười một triệu người tên là Vũ Hán, thuộc tỉnh Hồ Bắc, miền trung-trung quốc.
Một bản tin nhỏ lúc đầu, rồi ngày càng dày đặc hơn.
Nhiều ca lây nhiễm mới xuất hiện trong số những người làm việc ở chợ hải sản và động vật.
Vào đầu tháng Hai, trong buổi đọc kinh Truyền tin, tôi đã dâng lời cầu nguyện “cho những anh chị em Trung Quốc đang chịu đau khổ vì căn bệnh tàn ác này.”
Lúc ấy, nó vẫn còn có vẻ như một hiện tượng biệt lập, nhưng đến tháng Hai, nước Ý đã nhận ra một cách đau đớn rằng điều đó sẽ không dừng lại ở đó.
Tại Lombardia, miền bắc nước Ý, các bệnh viện đột ngột chật kín, trong khi virus di chuyển như một đàn ong từ khu vực này sang khu vực khác, rồi từ vùng đất này sang vùng đất khác trên hành tinh.

Bức tranh toàn cầu ngày càng trở nên nặng nề:
Người dân cầu cứu từ ban công, bệnh viện bên bờ sụp đổ, thi thể chồng chất.
Đến ngày 11 tháng 3, số quốc gia bị ảnh hưởng đã lên tới 114, và Tổ chức Y tế Thế giới chính thức tuyên bố tình trạng đại dịch.
Cả thế giới bắt đầu quen trở lại với những từ ngữ như cách ly và kiểm dịch — những từ ngữ đã vắng bóng qua nhiều thế hệ.
Tiếng còi xe cứu thương trở thành bản nhạc nền cho những con phố hoang vắng và nhân loại bị cô lập, bị giam hãm trong chính ngôi nhà của mình, đôi khi còn bị lưu đày trong những bệnh viện dã chiến mới.

Sau ba năm liên tiếp, số nạn nhân được ước tính là hơn hai mươi triệu người.
Một cuộc chiến tranh thế giới.

Đại dịch đã đưa chúng ta đối diện với sự mong manh của cả cá nhân lẫn xã hội, và đồng thời một lần nữa chỉ ra rằng, giữa những cơn bão của lịch sử, tất cả chúng ta đều ở chung một con thuyền.

Đối với tôi, cũng như với mọi người, ban đầu đó là một khoảnh khắc đầy bức bối; tôi đã muốn làm rất nhiều điều, nhưng lại cảm thấy như một vị giáo hoàng “bị nhốt trong lồng.”
Trong khi đó, lịch làm việc cũng buộc phải thay đổi theo các quy định phòng chống Covid: đọc Kinh Truyền Tin từ thư viện của Dinh Tông Tòa, chứ không từ cửa sổ như thường lệ, được phát trực tiếp trên các màn hình tại Quảng trường Thánh Phêrô; các Thánh lễ buổi sáng không có giáo dân tham dự.
Tôi lại một lần nữa phó thác nơi lời cầu nguyện. Tôi cảm nhận được sự cấp bách, một sự cấp bách phổ quát.

Vì lý do đó, một buổi chiều tháng Ba, sau khi chỉ báo cho đội an ninh và trưởng phòng báo chí vào phút chót, tôi rời Santa Marta để đến nhà thờ Santa Maria Maggiore: tôi biết rằng một lần nữa Mẹ Maria, Đức Bà Salus Populi Romani (Sự Cứu Rỗi của Dân Thành Rôma), sẽ ôm lấy những nỗi lo âu và vết thương của chúng ta.
Tôi cảm thấy mình có thể một lần nữa phó thác bản thân, thành phố, nước Ý, và toàn thế giới cho Người và sự bảo vệ mẫu tử của Người.

Tôi bước đến nhà thờ San Marcello trong một thành Rôma hoang vắng vì đại dịch.

Tôi đã dành một khoảng thời gian dài dưới bức ảnh thánh rất thân thuộc ấy, mà truyền thống cho là do chính Thánh Luca, vị thánh bảo trợ các nghệ sĩ, vẽ nên.
Rồi, trong một thành phố Rôma gần như hoang vắng, được hôn nhẹ bởi những tia nắng xuân đầu tiên, trong sự tĩnh lặng siêu thực chỉ thỉnh thoảng vang lên tiếng xào xạc của chiếc xe đạp hay tiếng kêu của một con mòng biển, tôi đi bộ dọc theo via del Corso tới nhà thờ San Marcello, nơi lưu giữ cây thánh giá đã được rước qua các khu phố của thành phố vào năm 1522, thời kỳ Đại Dịch.

Tôi đã ước gì có thể mang theo mình — bức ảnh của Đức Mẹ và cây thánh giá kỳ diệu đó, những biểu tượng đã in hằn dấu tích của tình yêu và sự đau khổ của những người đã tôn kính nó — khi, hai tuần sau đó, trong một buổi lễ được truyền hình trực tiếp trên khắp thế giới, tôi bước băng qua Quảng trường Thánh Phêrô trống vắng, ướt đẫm mưa, trong buổi Statio Orbis, để đáp lại đại dịch virus bằng sức mạnh của lời cầu nguyện, lòng trắc ẩn và sự dịu dàng.

Tôi bước đi một mình, và trong lòng tôi có thể nói rằng tôi cảm nhận được sự cô đơn của mọi người, tôi cảm thấy những bước chân của họ hòa vào bước chân tôi, bàn chân họ trong đôi giày tôi.
Trong sự im lặng ấy, tôi nghe thấy tiếng vọng của hàng triệu lời khẩn cầu và một nhu cầu phổ quát về hy vọng.
“Chiều tối đã buông xuống” (Mc 4:35), thời điểm của giông bão, thời điểm để lột bỏ những sự chắc chắn giả tạo và thừa thãi, và tất cả chúng ta thấy mình sát cánh bên nhau, như thể neo chặt vào Chúa Kitô, Đấng sẽ vượt qua sợ hãi và mang lại cứu giúp.

“Meté mano”, tôi cầu khẩn với Người, một cách diễn đạt rất riêng mà tôi thường dùng trong lời cầu nguyện:
“Xin Người ra tay giúp chúng con, làm ơn. Người đã làm điều đó vào thế kỷ XVI, Người biết tình cảnh này.”

Thỉnh thoảng ánh mắt tôi hướng về phía cột bên phải, nơi có tượng đài về người di cư mà từ năm trước tôi đã muốn đặt tại đây, để nhắc nhở chúng ta, ngay tại trung tâm của Kitô giáo, không chỉ phải đáp lại thách thức Tin Mừng về sự tiếp đón, mà còn phải biết đọc những dấu chỉ của thời đại.
Tác phẩm điêu khắc bằng đồng và đất sét ấy, mang tên Những thiên thần vô hình”, mô tả những con người từ mọi thời đại, nhiều nền văn hóa khác nhau, đứng sát cánh trên một chiếc bè, với gương mặt mang dấu vết của bi kịch trốn chạy, nguy hiểm, và tương lai bất định.

Bây giờ, tất cả chúng ta đều ở trên chiếc bè ấy, cùng với nỗi lo âu đó, không biết bao nhiêu người sẽ cập bến, và khi nào.
Chúng ta ở bên nhau.

Trong quảng trường ấy, vì lẽ đó, tôi chưa bao giờ cảm thấy thật sự đơn độc.
Tôi hôn chân cây thánh giá, và điều đó đã cho tôi hy vọng — như vẫn luôn vậy.
Tôi xin Chúa xua đuổi sự dữ bằng bàn tay Người, và ban cho chúng tôi món quà của sự sáng tạo để biết mở ra những hình thức huynh đệ và liên đới mới, ngay cả trong hoàn cảnh xa lạ này.
Để trong tôi và trong toàn thể Giáo hội, sự cấp bách của lời cầu nguyện sẽ lập tức song hành cùng sự cấp bách của việc phục vụ.
Đặc biệt là cho những ai yếu đuối nhất, gặp khó khăn nhất: người vô gia cư, tù nhân, bệnh nhân, người già.

Giáo hội đã đáp lại, đã làm tròn bổn phận của mình. Tôi nhớ có một cú điện thoại đầy lo lắng từ một vị giám mục khá cứng nhắc: “Tôi gặp một vấn đề,” ngài nói. “Họ không cho tôi vào bệnh viện để giải tội, cũng không cho vào viện dưỡng lão, vậy tôi phải làm gì?” Tôi gợi ý rằng ngài nên nghĩ tới những gì đã xảy ra trên các con tàu lúc đắm: ngay cả khi nước tràn vào thuyền, một linh mục có thể đứng ở đuôi tàu và ban phép giải tội cho mọi người từ xa; cũng như vậy, ngài có thể giải tội từ cửa ra vào hoặc từ phòng trực lễ tân. “Thế còn việc rước lễ?” ngài hỏi tiếp. Tôi trả lời: ngài có thể gửi Mình Thánh Chúa trong các phong bì đã niêm phong cho một y tá, người sẽ trao Mình Thánh cho bệnh nhân. Vị giám mục ấy vẫn chưa hoàn toàn hài lòng. Đối mặt với nỗi đau nhân loại, chúng tôi đã tổ chức lại, đã thích ứng để thay đổi.

Biết bao nhiêu giáo dân, biết bao nhiêu cha sở đã làm chứng cho lòng can đảm phục vụ, chăm sóc những người cô đơn nhất, mang lại sự an ủi và thuốc men, cho thấy khuôn mặt đẹp đẽ của một Giáo hội thân thiện, một Giáo hội biết quan tâm… Tính đến cuối năm đầu tiên, riêng ở Ý đã có gần ba trăm linh mục thiệt mạng, không chỉ vì tuổi già yếu ớt, mà còn vì đã trả giá bằng chính mạng sống mình khi chọn ở lại gần dân chúng, có mặt ở những nơi dễ bị virus tấn công nhất. Và biết bao tử đạo trong số các bác sĩ, y tá, biết bao anh hùng thầm lặng. Cuộc sống của chúng ta — cuộc sống của tất cả mọi người — đã được trợ giúp, được cứu vớt, bởi những con người vốn dĩ không xuất hiện trên mặt báo, không bước lên sàn diễn, không tham gia những chương trình truyền hình, mà lại đang viết nên những trang sử quan trọng nhất của lịch sử chúng ta: các nhân viên y tế, nhân viên siêu thị, lao công, tài xế vận tải, lực lượng cảnh sát…

Cách duy nhất để vinh danh sự hy sinh của rất nhiều người — thay vì chỉ bằng những lời hoa mỹ rỗng tuếch — là không quên những bài học mà đại dịch đã dạy chúng ta.

Điều đầu tiên mà nó dạy chúng ta, đó là hòa bình không phải là hệ quả, mà phải là điều kiện tiên quyết.
Tôi đã ngay lập tức ủng hộ và thúc đẩy Nghị quyết 2532 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, lần đầu tiên trong lịch sử được thông qua nhất trí, yêu cầu ngừng bắn toàn cầu, cũng như mở các hành lang nhân đạo để cứu trợ những người dễ bị tổn thương nhất.
Nhận thức này chẳng là gì khác ngoài bằng chứng cho thấy chiến tranh chỉ khiến mọi giải pháp trở nên xa vời hơn, nó phóng đại mọi vấn đề, làm cho chúng trở nên trầm trọng và đôi khi không thể giải quyết được.
Với chiến tranh, tất cả có thể bị mất hết.

Và bài học thứ hai mà đại dịch dạy chúng ta là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa con người với nhau, như một gia đình nhân loại, và giữa tất cả chúng ta với hành tinh này.
Ngoài việc làm chúng ta nhận thức được một cách đau đớn rằng sự tồn tại của chúng ta không thể chỉ dựa vào truyền thông ảo, mà còn nhất thiết phải có “sự hiện diện thể chất,” đại dịch còn phơi bày những sai lầm, sự mất cân bằng, sự kiêu ngạo của hệ thống kinh tế toàn cầu hiện nay.
Một nền kinh tế giết chết, loại trừ, làm đói khát, tập trung sự giàu có khổng lồ vào tay một số ít, gây ra nghèo đói và bóp nghẹt mức lương, làm ô nhiễm môi trường, sản sinh ra chiến tranh — đó không còn là kinh tế nữa: nó chỉ còn là sự trống rỗng, là bệnh hoạn.
Đó là sự tha hóa của chính kinh tế học và của sứ mệnh nguyên thủy của nó.
Như một câu tục ngữ Tây Ban Nha nói:
“Cría cuervos y te sacarán los ojos” (Nuôi quạ, chúng sẽ móc mắt bạn).
Chúng ta đã tàn phá và cướp bóc chính cuộc sống của mình.

Một bằng chứng rõ ràng cho sự tha hóa này là thực tế đầy nghịch lý:
Thời kỳ đại dịch lại trùng khớp với thời kỳ mà hành tinh của chúng ta, ngôi nhà chung của chúng ta, bắt đầu “thở” trở lại: trong vài tháng, lượng khí thải CO₂ đã giảm xuống mức chưa từng có.

Chúng ta không được cho phép mình nghĩ rằng đó chỉ là một hiện tượng nhất thời.

Trong bi kịch Hy Lạp, điều tạo ra những hậu quả khủng khiếp chính là hubris — sự ngạo mạn, thứ tâm trí kiêu ngạo đến mức con người không còn nhận thức được giới hạn của mình.
Mọi thứ đều có liên hệ với nhau:

  • Một hệ thống phát triển vô nghĩa, méo mó,
  • Nạn phá rừng điên cuồng và bất hợp pháp, mỗi năm làm mất một diện tích rừng nguyên sinh bằng kích thước nước Bỉ,
  • Sự hủy diệt toàn bộ các hệ sinh thái,
  • Việc xâm phạm đa dạng sinh học,
  • Việc cải tạo thiên nhiên một cách vô tội vạ để phục vụ nhu cầu ích kỷ của con người…

Tất cả dẫn đến một thực tế mà cộng đồng khoa học giờ đây coi là chắc chắn:
Những môi trường bị suy thoái chính là nơi ẩn chứa nhiều loại virus có thể lây nhiễm sang con người hơn.

Không tồn tại hai cuộc khủng hoảng — một về môi trường và một về xã hội — mà chỉ có một cuộc khủng hoảng duy nhất và phức tạp, khủng hoảng xã hội-môi trường, và điều này chắc chắn sẽ dẫn đến những thảm họa y tế nhiều hơn.

Khôi phục phẩm giá cho những người bị gạt ra ngoài lề xã hội, đấu tranh chống đói nghèo và bóc lột, chăm sóc môi trường và bảo vệ sự sống của chính chúng ta — tất cả những nhiệm vụ này không thể tách rời.
Chúng thậm chí còn không mâu thuẫn nhau, mà ngược lại, phải dẫn chúng ta đến một hướng tiếp cận tổng thể duy nhất, một cách tiếp cận giờ đây đã trở thành điều không thể tránh khỏi.

Những thảm họa toàn cầu như Covid-19 và biến đổi khí hậu đang gào thét cảnh báo chúng ta rằng chúng ta không thể chần chừ thêm nữa:
Thời điểm hành động là ngay bây giờ.

Chúng ta ai cũng đã có những mất mát. Tôi cũng đã mất những người thân yêu, ở Argentina và ở Ý — người thân, bạn bè. Chẳng hạn như Giáo sư Fabrizio Soccorsi, bác sĩ riêng của tôi.

Tiếp tục bước đi không có nghĩa là quên lãng.

Ai có thể quên được những đoàn xe quân đội chở các quan tài ra khỏi các thành phố nơi không còn chỗ để an táng, nỗi đau của các bác sĩ bị căn bệnh tàn nhẫn đánh bại, những gương mặt biến dạng vì đeo khẩu trang bảo hộ và vì kiệt sức, nỗi cô đơn xé lòng của các bậc cha mẹ và ông bà trong viện dưỡng lão và bệnh viện?

Tiếp tục bước đi có nghĩa là phải thay đổi.

Bởi vì “năm mà chúng ta chẳng đi đâu cả” đã đặt chúng ta đối diện với thực tại bi thảm của con đường dẫn đến sự tự hủy diệt.

Bài Mới Nhất
Search