Chương Hai Mươi: Cây gậy và cây trượng của Ngài an ủi con

Giới Thiệu: TỰ TRUYỆN “HY VỌNG” CỦA CỐ GIÁO HOÀNG FRANCIS

Chương 20.

Cây gậy và cây trượng của Ngài an ủi con

Đại dịch đã làm đảo lộn mọi kế hoạch, trong đó có cả những kế hoạch của tôi. Một số cuộc hẹn bị hủy bỏ, số khác được giữ lại nhưng dưới hình thức “từ xa,” và các chuyến tông du cũng bị hoãn. Nhưng có một chuyến đi mà tôi nhất quyết không muốn bỏ lỡ, ngay khi có cơ hội: Iraq, vùng đất của hai dòng sông, quê hương của Abraham. Để gặp gỡ Giáo hội tử đạo ấy và những con người đã chịu nhiều đau khổ. Và cùng với các lãnh đạo tôn giáo khác, tiến thêm một bước mới hướng tới tình huynh đệ giữa những người có đức tin.

Gần như ai cũng khuyên tôi đừng đi, vì đây sẽ là chuyến thăm đầu tiên của một vị giáo hoàng đến vùng đất Trung Đông đầy đau thương, bị tàn phá bởi bạo lực cực đoan và sự xúc phạm của chủ nghĩa thánh chiến. Covid-19 khi ấy vẫn chưa hoàn toàn suy yếu, và ngay cả Đức ông Mitja Leskovar, sứ thần Tòa Thánh tại quốc gia này, cũng vừa xét nghiệm dương tính với virus. Mọi nguồn tin cũng nhấn mạnh rủi ro an ninh cực kỳ cao — những vụ tấn công đẫm máu đã diễn ra ngay cả trước ngày tôi khởi hành.

Nhưng tôi muốn hiểu sâu hơn. Tôi cảm thấy mình phải đi.

Tôi đã diễn đạt điều đó bằng những lời giản dị như trong gia đình, rằng tôi cảm thấy cần phải đến thăm ông nội Abraham của chúng ta, người tổ tiên chung của người Do Thái, Kitô hữu và người Hồi giáo.

Nếu nhà của ông nội đang bốc cháy, nếu các hậu duệ của ông đang gặp nguy hiểm hoặc đã mất mạng, thì điều đúng đắn duy nhất là phải đến đó càng sớm càng tốt.

Và, cũng vậy, sẽ thật bất công nếu làm những con người ấy thất vọng — những người đã không thể chào đón Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II hai mươi năm trước. Chuyến đi mà ngài đã hy vọng mở đầu cho Năm Thánh 2000 đã bị Saddam Hussein ngăn cản sau một tín hiệu ban đầu đầy hy vọng.

Tôi còn nhớ rõ giấc mơ dang dở ấy.

Và tôi cũng nhớ rất rõ tầm nhìn tiên tri của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô, người chỉ ba năm sau đó, khi đã già yếu và bệnh tật, đã làm mọi cách — qua những lời kêu gọi và sáng kiến ngoại giao — để ngăn chặn cuộc chiến mới, một cuộc chiến với những lời dối trá về vũ khí hủy diệt hàng loạt mà chẳng bao giờ được tìm thấy, và đã nhân lên cái chết và sự tàn phá, đẩy đất nước ấy vào hỗn loạn, biến nó trong nhiều thập kỷ thành sào huyệt của khủng bố.

Người dân và Giáo hội Iraq đã phải chờ đợi quá lâu. Cần phải gia tăng mọi nỗ lực để ít nhất kéo khu vực này ra khỏi sự khuất phục trước xung đột, trước luật lệ của kẻ mạnh, trước sự bất lực của ngoại giao và pháp luật; và càng cấp thiết hơn khi mà tác động của đại dịch dường như đã khiến cuộc khủng hoảng đó, cũng như nhiều cuộc khủng hoảng khác, bị gạt khỏi chương trình nghị sự toàn cầu.

Có lẽ cũng chính một câu chuyện—của Nadia Murad—đã cho tôi động lực then chốt. Tôi đã gặp cô gái Yazidi trẻ tuổi này—người sau đó được trao giải Nobel năm 2018—tại Vatican vào năm 2017, cùng với Đức Tổng Giám mục Paul Gallagher, Thư ký Quan hệ với các Quốc gia và Tổ chức Quốc tế: “Con muốn mình là người cuối cùng,” Nadia đã nói với tôi, “người phụ nữ cuối cùng trên trái đất có một câu chuyện như con.” Bởi vì câu chuyện của cô, dù không phải là duy nhất, thực sự quá kinh hoàng. Một cuộc đời trẻ trung bỗng chốc bị tàn phá vào một ngày tháng Tám năm 2014, khi vừa hơn hai mươi tuổi, cô bị bắt cóc ở miền bắc Iraq trong chiến dịch diệt chủng của tổ chức tự xưng Nhà nước Hồi giáo nhắm vào các nhóm thiểu số, đặc biệt là người Yazidi. Các tay súng xông vào ngôi làng Kocho của cô với sự tàn bạo khủng khiếp và phóng hỏa thiêu rụi các ngôi nhà. Họ tập trung những người đàn ông trưởng thành và giết chết sáu trăm người bằng súng Kalashnikov, rồi bắt giữ những người phụ nữ, dồn họ lên một chiếc xe buýt có cửa kính tối màu. Hôm đó, cô đã mất mẹ và sáu người anh em ruột, cùng anh em kế. Và ngay sau đó, cô và các chị em của mình bắt đầu một chuỗi ngày khổ ải mới: Bị tước đoạt mọi phẩm giá, bị bán tại chợ nô lệ sabaya, và liên tiếp bị các tay súng khác mua đi bán lại, hãm hiếp. Gần như kỳ diệu, sau bốn tháng chịu đựng tra tấn, cô đã trốn thoát, và vào tháng Mười Một năm sau đó, cô đến được nước Đức nhờ một chương trình nhân đạo. Vài tháng sau, cô đã có mặt tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc để đấu tranh chống nạn buôn người, và từ đó đến nay cô chưa bao giờ dừng lại.

Tôi đã lắng nghe cô kể lại câu chuyện của mình, đã đọc cuốn sách của cô, và những lời ấy cứ vang vọng mãi trong lòng tôi. Cùng với nhiều suy nghĩ khác, đó là một trong những động lực thôi thúc tôi quyết định lên đường đến đó.

Tôi đã gặp lại Nadia ở Iraq, rồi sau đó tại Santa Marta. Tôi rất khâm phục chiến dịch của cô, một chiến dịch không biết đến thành kiến. Và bên cạnh câu chuyện của cô, tôi còn nghe thêm biết bao câu chuyện kinh hoàng khác về những cuộc thảm sát của Daesh.

Mosul là một vết thương trong tim. Ngay từ trên trực thăng, nó đã làm tôi đau nhói: một trong những thành phố cổ nhất thế giới, đầy ắp lịch sử và truyền thống, nơi chứng kiến sự kế tiếp của biết bao nền văn minh qua thời gian, và là biểu tượng cho sự chung sống hòa bình giữa các nền văn hóa khác nhau—người Ả Rập, người Kurd, người Armenia, người Turkmen, người Kitô hữu, người Assyria—trong cùng một quốc gia. Trước mắt tôi chỉ còn lại một biển đổ nát sau ba năm bị tổ chức Nhà nước Hồi giáo chiếm đóng, khi chúng chọn nơi này làm pháo đài của mình. Khi bay qua, tôi nhìn thấy từ trên cao một bức ảnh chụp thù hận, một trong những thứ cảm xúc hoạt động hiệu quả nhất trong thời đại chúng ta, bởi nó thường tự tạo ra những cái cớ để bùng phát: chính trị, công lý, và luôn luôn, trong một hình thức báng bổ, là tôn giáo. Đó là những động cơ giả tạo, bề ngoài, chóng tàn; bởi vì rồi, cũng như trong những câu thơ tuyệt đẹp của nhà thơ người Ba Lan Wisława Szymborska, lòng hận thù “tự nó tạo ra đà của chính mình.”

Cảnh tượng Mosul đã khiến tôi vô cùng xúc động.

Và ngay cả sau sự tàn phá ấy, ngọn gió hận thù vẫn chưa lặng xuống.

Tôi đã cảm nhận được điều đó từ ngày hôm trước, ngay khi chúng tôi hạ cánh xuống Baghdad. Cảnh sát đã thông báo cho Đội Hiến binh Vatican về thông tin nhận được từ cơ quan mật vụ Anh: Một người phụ nữ mang theo chất nổ, một nữ cảm tử trẻ tuổi, đang trên đường đến Mosul để kích nổ trong chuyến thăm của giáo hoàng. Và một chiếc xe tải đã lao đi với tốc độ cao cùng mục đích như vậy.

Cuộc hành trình của tôi vẫn tiếp tục.

Đã có những cuộc gặp với chính quyền tại dinh tổng thống ở Baghdad. Đã có cuộc gặp với các giám mục, linh mục, giáo sĩ và giáo lý viên tại nhà thờ Công giáo Assyria Sayidat-al-Nejat (Đức Mẹ Cứu Rỗi), nơi mười một năm trước hai linh mục và bốn mươi sáu tín hữu đã bị thảm sát, và hiện nay quy trình phong chân phước cho họ đang được tiến hành.

Đã có cuộc gặp với các nhà lãnh đạo tôn giáo của đất nước tại đồng bằng Ur, vùng sa mạc nơi những tàn tích của ngôi nhà tổ phụ Abraham nằm gần tháp bậc thang tuyệt đẹp của nền văn minh Sumer: Các tín hữu Kitô từ những giáo hội khác nhau, người Hồi giáo Shia cũng như Sunni, và người Yazidi cuối cùng cũng cùng gặp mặt trong một căn lều chung, trong tinh thần của Abraham, để nhắc nhở rằng tội lỗi báng bổ nhất là làm ô uế danh Thiên Chúa bằng cách thù ghét anh em mình. Thù hận, cực đoan và bạo lực luôn là sự phản bội tôn giáo. Chính chúng ta, đặc biệt là những người có đức tin, phải biến những công cụ thù hận thành công cụ của hòa bình; chính chúng ta phải chỉ ra những hoạt động đen tối xoay quanh buôn bán vũ khí và tiền bạc; chính chúng ta phải can đảm ngẩng đầu nhìn lên những vì sao trong lời hứa của Abraham.

Đi chân trần tại dinh thự của Đại giáo chủ al-Sistani ở Najaf.

Trước đó, tôi đã đến thánh địa Najaf, trung tâm lịch sử và tinh thần của Hồi giáo Shia, nơi đặt ngôi mộ của Ali, anh em họ của Tiên tri Muhammad, để có một cuộc gặp riêng mà đối với tôi đặc biệt quan trọng, vì nó sẽ là một dấu mốc trong con đường đối thoại liên tôn và hiểu biết giữa các dân tộc. Tòa Thánh đã chuẩn bị cho cuộc gặp với Đại giáo chủ Ali al-Sistani suốt nhiều thập kỷ, nhưng chưa có vị tiền nhiệm nào của tôi thực hiện được điều đó.

Ayatollah al-Sistani đã đón tiếp tôi như anh em trong nhà của ông, một cử chỉ ở phương Đông còn ý nghĩa hơn cả những tuyên bố hay văn bản, vì nó biểu thị tình bạn, sự thuộc về cùng một gia đình. Điều đó đã sưởi ấm tâm hồn tôi và khiến tôi cảm thấy vinh dự: Trước đây ông chưa từng tiếp đón nguyên thủ quốc gia nào, và cũng chưa từng đứng lên chào đón ai, vậy mà hôm ấy, đầy ẩn ý, ông đã đứng dậy nhiều lần để đón tôi, còn tôi, với cùng một tâm tình tôn trọng, đã bước vào phòng ông mà không mang giày. Ông lập tức gây ấn tượng với tôi như một con người khôn ngoan, đầy đức tin, trăn trở trước bạo lực và dấn thân lên tiếng bảo vệ những người yếu thế, bị bách hại, khẳng định sự thánh thiêng của sự sống con người và tầm quan trọng của sự hiệp nhất giữa các dân tộc. Tôi cảm nhận được nỗi lo lắng của ông về sự pha trộn giữa tôn giáo và chính trị, một nỗi e ngại mà tôi cũng chia sẻ, và đồng thời là lời khẩn cầu đối với các cường quốc hãy từ bỏ ngôn ngữ chiến tranh, ưu tiên lý trí và sự khôn ngoan. Tôi vẫn ghi nhớ một câu nói đặc biệt mà tôi coi là món quà quý giá: “Con người hoặc là anh em trong đức tin, hoặc là bình đẳng bởi tạo hóa.” Trong tình huynh đệ đã bao hàm sự bình đẳng, nhưng dù thế nào, không thể hạ thấp hơn sự bình đẳng được. Vì vậy, cũng như với sự phát triển đích thực, con đường hòa bình không bao giờ có thể mang tính nhị nguyên, không bao giờ là “chống lại,” mà chỉ có thể là bao hàm, tôn trọng sâu sắc.

Khi tôi hỏi Đội Hiến binh vào ngày hôm sau rằng có tin tức gì về hai kẻ đánh bom cảm tử hay không, viên chỉ huy trả lời ngắn gọn: “Chúng không còn nữa.” Cảnh sát Iraq đã chặn và cho nổ tung chúng. Điều đó cũng khiến tôi cảm thấy vô cùng bàng hoàng. Đây cũng là trái đắng của chiến tranh.

Tại Hosh al-Bieaa, quảng trường của bốn nhà thờ, một biển đổ nát tượng trưng cho thảm kịch của cả một dân tộc. Cũng vậy, Qaraqosh, trên đồng bằng Nineveh, từng là nơi có cộng đồng Kitô giáo lớn nhất, trước cơn cuồng nộ của Nhà nước Hồi giáo đã phá hủy nhà cửa và biến Nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm thành một bãi tập bắn, buộc 120.000 Kitô hữu phải chạy trốn, nhiều người đến Kurdistan của Iraq. Thế nhưng, mọi thứ vẫn là một chứng từ mạnh mẽ không chỉ về những thiệt hại không thể đo đếm do sự tàn sát bi thảm những người theo Chúa Kitô gây ra, mà còn về việc Giáo hội vẫn đang sống, rằng Chúa Kitô hằng sống vẫn đang hoạt động nơi dân tộc tử đạo và trung tín ấy.

Tôi đã gặp biết bao chứng nhân can đảm trong chuyến đi ấy.

Biết bao vị thánh sống ngay cạnh chúng ta.

Tôi nhớ một người mẹ đã mất con trai trong một trong những vụ ném bom đầu tiên của Daesh, và điều đầu tiên bà nói là: “Tôi tha thứ.” Dù có biết bao khó khăn, dù mang trong mình những vết thương sâu sắc của ngày hôm qua và hôm nay, chủ nghĩa khủng bố và chiến tranh đã không có tiếng nói cuối cùng. Chúng sẽ không bao giờ có. Tình huynh đệ mạnh hơn sự huynh đệ tương tàn, hòa bình mạnh hơn chiến tranh, hy vọng mạnh hơn cái chết.

Chừng nào tôi còn sống, Iraq sẽ luôn ở trong lòng tôi: Chúng ta phải xứng đáng với sự dấn thân của những Kitô hữu ấy và với sự hy sinh của những con người ấy.

Khi đại dịch bắt đầu lắng xuống, nhờ vào sự trợ giúp của vaccine — cùng với những lời kêu gọi mạnh mẽ rằng vaccine phải được phân phối đến mọi người ở mọi vùng trên thế giới, đặc biệt là những người yếu thế và nghèo khó — thì chuyến đi ấy trở thành một ân phúc và một động lực mới để hiểu rõ hơn về thực tại của sự tương liên giữa chúng ta, và cùng với nó là nhu cầu về một loại vaccine cho trái tim.

Đại dịch Covid-19 cũng đã buộc chúng ta đối diện với đại dịch của sự thờ ơ và với một thực tế tàn khốc: Chúng ta không hiện diện trên thế giới này để chết, mà để sinh ra sự sống và chăm sóc nó. Đại dịch đã cho chúng ta thấy rằng việc dạy cho người ta biết chăm sóc là điều thiết yếu cho chính sự sinh tồn của chúng ta: chăm sóc tạo vật, chăm sóc tha nhân, chăm sóc các mối quan hệ của mình. Nó cho thấy rằng căn bệnh của chủ nghĩa ích kỷ toàn cầu hóa có thể là tội ác và luôn là vô ích.

Nhưng nó cũng cho chúng ta biết rằng vẫn có thuốc chữa.

Trong một tiểu luận về sự vô ích của chủ nghĩa ích kỷ, nhà văn Mỹ George Saunders mời gọi trước hết hãy kiên nhẫn với chính mình: “Hãy tìm kiếm những liều thuốc chống ích kỷ hiệu quả nhất, một cách nhiệt thành, suốt phần đời còn lại của bạn; tìm ra điều gì khiến bạn trở nên nhân hậu hơn, điều gì mở lòng bạn ra và đưa đến phiên bản yêu thương, quảng đại và can đảm nhất của chính bạn — và hãy theo đuổi những điều ấy như thể không còn điều gì khác quan trọng.” Bởi vì, ngoài việc có thể gây tội ác, ích kỷ còn là điều phản tác dụng.

Ngay trước khi tôi lên đường đi Baghdad, mười hai người tị nạn Iraq được cộng đoàn Sant’Egidio đón nhận đã đến gặp tôi tại Santa Marta, do Hồng y Chánh sở Từ thiện Krajewski tháp tùng. Một người trong số họ mang chân giả vì bị xe tải cán qua khi trốn chạy. Di cư luôn là một quyền kép: quyền tìm kiếm các điều kiện sống xứng đáng tại chính quê hương mình, và quyền ra đi khi những điều kiện tối thiểu ấy không tồn tại. Thế nhưng — và tôi không thể không nhận ra điều này khi trở lại bằng ô tô từ Qaraqosh, giữa những đám thanh niên đã bị cướp đi tất cả ngoại trừ hy vọng — thế giới vẫn chưa tỉnh thức trước chân lý phổ quát này khi đối diện với những địa ngục như thế.

Một lần, khi bàn về mùa đông dân số tại Ý, một nhà xã hội học đã nói với tôi: “Chỉ trong vòng bốn mươi năm nữa, chúng ta sẽ buộc phải nhập khẩu người nước ngoài để họ làm việc và đóng thuế nuôi lương hưu cho chúng ta.” Điều này cũng đúng đối với nhiều quốc gia châu Âu và phương Tây.

Nhưng nhiều người vẫn tiếp tục coi di cư là một cuộc xâm lược. Họ chơi trò bóng bàn với mạng sống của những con người vốn cần thiết cho chính sự cứu rỗi của chúng ta, và họ tiếp tục giữ một thái độ không chỉ vô nhân đạo sâu sắc mà còn tự làm hại chính mình.

Ngày càng cấp bách hơn việc phải áp dụng các biện pháp để bảo đảm rằng người ta có thể sống xứng đáng tại quê hương mình. Đồng thời, cần áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền được di cư. Hội nhập là chìa khóa của tiến trình này, và Thụy Điển đã là một trong những tấm gương điển hình từ bốn mươi năm trước. Tôi đã từng chứng kiến điều đó trực tiếp: Biết bao người Argentina, Uruguay và Chile đã chạy trốn khỏi các chế độ độc tài quân sự để tìm nơi nương náu tại Thụy Điển. Tôi đã đích thân giúp một số người trong số họ. Những người anh em đồng hương ấy đã được chào đón, hội nhập. Và khi tôi thực hiện chuyến đi đại kết đến Lund vào năm 2016 để kỷ niệm cuộc cải cách năm 1517, người đại diện chính phủ ra tiễn tôi tại sân bay, bà Alice Bah Kuhnke, Bộ trưởng Văn hóa và Dân chủ, là một người phụ nữ có nét đẹp châu Phi tuyệt vời, con gái của một phụ nữ Thụy Điển và một người di cư từ Gambia. Một người di cư thế hệ thứ hai đã hội nhập đến mức trở thành bộ trưởng chính phủ. Những câu chuyện như vậy cần trở thành mẫu mực, cần thấm vào tận gốc rễ của châu Âu để việc di cư và giao thoa văn hóa trở thành những yếu tố thiết yếu cho sự phát triển văn hóa và chính trị của châu lục. Giống như những gì Lebanon và Jordan đã từng là…

Với những suy nghĩ ấy trong lòng, vài tháng sau chuyến đi Iraq, tôi trở lại Lesbos, hòn đảo Hy Lạp nơi đặt trại tị nạn Moria, trại lớn nhất châu Âu, nơi từ lâu đã đại diện cho bộ mặt thất bại của chính sách di cư châu Âu. Tôi đã từng đến đó năm năm trước, vào năm 2016, trong một chuyến thăm chớp nhoáng cùng Thượng phụ Bartholomew của Constantinople, Tổng Giám mục Ieronymos của Athens, và Thủ tướng Hy Lạp khi đó, Alexis Tsipras, một người mà tôi rất kính trọng, một chính trị gia biết chiến đấu vì lợi ích nhân dân mình. “Chúng ta sắp chứng kiến thảm họa lớn nhất kể từ Thế chiến thứ hai,” tôi đã nói khi ấy.

Trại tị nạn ngay lập tức hiện ra trước mắt như một trong những tầng địa ngục của Dante: nỗi đau con người, những tấm vải rách, bùn lầy, những tấm tôn gỉ sét, sự khốn khổ. Họ đến từ Iraq, Afghanistan, Syria, châu Phi, và vô số quốc gia khác. Nhiều người là trẻ em, nhiều em đã phải chứng kiến cảnh cha mẹ mình hoặc bạn bè chết đuối trên biển. Một tấm áp phích đầy màu sắc của một bé gái viết: “Chúng tôi là người Yazidi, chúng tôi cần giúp đỡ, giúp đỡ, giúp đỡ.” Ba lần.

Ngày hôm đó, chúng tôi đã ôm lấy họ, bắt tay từng người. Tôi vẫn còn nhớ câu chuyện của một người đàn ông trẻ cùng hai con trai của mình, anh ta là một người Hồi giáo kết hôn với một cô gái Kitô giáo: Họ yêu thương nhau, họ tôn trọng nhau, anh nói trong nước mắt… người đàn ông ấy không thể ngừng khóc. Nhưng một ngày nọ, những kẻ khủng bố đã đột nhập vào nhà họ, và người vợ, vì không chịu từ bỏ đức tin, đã bị cắt cổ ngay trước mắt anh. Một vị tử đạo tự nguyện, giữa vô số những vị tử đạo vô danh…

Chính tại Moria, Thủ tướng Tsipras đã kể cho tôi về ba gia đình tị nạn Syria: giấy tờ di trú của họ đã hoàn chỉnh, nhưng không tìm được nơi nào để đi. “Tôi sẽ đưa họ đi cùng,” tôi nói. Chúng tôi vội vàng thu thập giấy tờ, xin được visa từ chính phủ Hy Lạp và Ý, và ba tiếng sau, tất cả họ đều đã trên máy bay đến Rome, được Vatican và Cộng đồng Sant’Egidio đón nhận.

Tại Lesbos trong trại tị nạn Moria, trại tị nạn lớn nhất châu Âu.

Trong chuyến bay, họ kể lại câu chuyện đời mình: những cuộc đời đã mất hết mọi thứ: nhà cửa, công việc, ký ức.

Ramy và Suhila đến từ Deir ez-Zor, vùng đất giáp biên giới Iraq, nơi xảy ra một trong những vụ thảm sát dã man nhất do các phần tử thánh chiến thực hiện trong cuộc nội chiến Syria. Anh là giáo viên, chị là thợ may: vượt qua muôn vàn hiểm nguy, họ cùng ba đứa con đã tới được Hy Lạp, qua ngả Thổ Nhĩ Kỳ.

Osama và Wafa thì đến từ Zamalka, một quận của Damascus, nơi họ buộc phải trốn chạy vào ngày ngôi nhà của mình bị đánh bom. Họ mang theo hai đứa con nhỏ: người mẹ cho biết cú sốc đã khiến cô con gái út mất tiếng nói trong một thời gian dài, và đến giờ em vẫn thường thức giấc khóc lóc vào ban đêm.

Và còn Hasan và Nour; anh là nhà thiết kế vườn, chị thuộc một gia đình Syria-Palestine, có bằng kỹ sư nông nghiệp: Họ đã trốn thoát khỏi vùng ngoại ô Damascus cùng đứa con trai hai tuổi. “Trước chiến tranh,” Nour Essa kể với tôi, “đất nước tôi là biểu tượng của sự chung sống hòa bình. Chúng tôi là người Hồi giáo, nhưng những người bạn thân nhất của chúng tôi là Kitô hữu, Druze và Alawite. Chúng tôi cùng nhau tổ chức lễ Giáng Sinh và lễ Eid của người Hồi giáo. Rồi chồng tôi bị gọi nhập ngũ, nhưng cả anh ấy và tôi đều không muốn cầm súng giết đồng bào mình.” Cuộc hành trình của họ kéo dài hàng tháng trời: chạy trốn bom đạn, rồi rơi vào tay bọn buôn người, ISIS, và cả chính quyền, cuối cùng là hành trình vượt biển khắc nghiệt, nhiều lần bị đẩy lùi, thuyền lật. “Chỉ có hòa bình mới là điều thiêng liêng,” Nour nói. “Chiến tranh là điều ghê tởm.”

Dù đã sang được đất liền an toàn, khi máy bay hạ cánh, họ vẫn do dự không muốn xuống máy bay, vẫn còn tê liệt vì sợ hãi. Tôi cũng nhớ một cú điện thoại với Tsipras ngay trước khi lên đường. Khi chúng tôi tạm biệt, ông ấy kể với tôi về một danh sách khác gồm những người tị nạn, giấy tờ cũng đã sẵn sàng: “Nhưng tôi biết máy bay của ngài đã chật kín chỗ,” ông nói thêm. “Đừng lo,” tôi trả lời, “cứ thu xếp đi, tôi sẽ tiếp nhận họ.” Và đúng như vậy: Một vài tháng sau, chín người tị nạn Syria nữa đã đến sân bay Rome trong sự phối hợp với Bộ Nội vụ Hy Lạp; rồi thêm bốn mươi ba người tị nạn khác, lần này đến từ Afghanistan, Cameroon, Togo, cũng đến vào tháng 12 năm 2019, cũng từ Lesbos, qua Phủ Từ thiện Tòa Thánh.

Ở Rome, Nour Essa đã lấy bằng cử nhân ngành sinh học nhờ học bổng và hiện đang làm việc như một nhà sinh học tại Bệnh viện Nhi Bambino Gesù. Người từng có nguy cơ chứng kiến đứa con của mình chết đuối giữa Địa Trung Hải, nay đang cứu sống những đứa trẻ khác tại một trung tâm chuyên điều trị các bệnh hiếm.

Tôi trở lại hòn đảo Aegean ấy vào năm 2021, bởi vì đối với tôi nó đại diện cho thách thức về một thảm họa mà chúng ta phải ngăn chặn bằng mọi giá: thảm họa sẽ hủy diệt nền văn minh của chúng ta. Chúng ta không thể tiếp tục cho phép dòng người di cư bị đẩy lùi, tình huynh đệ bị từ chối, tiếp tục đại diện cho chúng ta, tiếp tục trở thành nỗi ô nhục của Liên minh châu Âu. Chúng ta không thể để Địa Trung Hải, suốt hàng ngàn năm đã kết nối các dân tộc và các vùng đất xa xôi, biến thành một nghĩa trang lạnh lẽo với những ngôi mộ vô danh. Chúng ta không thể để mare nostrum (biển của chúng ta) trở thành mare mortuum (biển chết), một sân khấu của thù hận thay vì là nơi của thiện chí. Những ai sợ hãi những khuôn mặt tôi đã nhìn thấy ở Lesbos là những người chưa bao giờ đủ can đảm để nhìn thẳng vào mắt họ, chưa bao giờ nhìn thẳng vào mắt chính những đứa con của mình.

Tôi nhớ một người phụ nữ bế đứa con nhỏ bị hở hàm ếch, một dị tật nghiêm trọng nếu không được điều trị kịp thời, tốt nhất là ngay trong năm đầu đời. Tôi muốn giúp cô ấy nhưng không chắc nên làm cách nào. Thế là tôi quyết định nhờ chỉ huy đội Hiến binh Vatican liên hệ với bệnh viện Bambino Gesù: Người phụ nữ và đứa bé đó đã lập tức được đưa đi ngay trong ngày. Đó là một món quà lớn đối với tôi.

Chúng ta phải nuôi dưỡng hy vọng bằng sức mạnh của những cử chỉ, thay vì đặt hy vọng vào những cử chỉ của bạo lực. Và chúng ta phải tránh xa bằng mọi giá những tuyên truyền gieo rắc nỗi sợ người khác trong tâm trí công chúng. Loại tuyên truyền ấy, hoàn toàn không vô hại, được nuôi dưỡng bằng các cuộc chiến tranh được tài trợ hậu hĩnh, bằng các chiến dịch buôn bán và mua bán vũ khí bí mật, bằng những thỏa thuận tài chính chống lại lợi ích của nhân dân.

Cuộc chiến phải nhắm vào nguyên nhân sâu xa, chứ không phải vào những người nghèo đang gánh chịu hậu quả. Và để làm được điều đó, cần phải có tầm nhìn lớn, hiểu rằng ngoài những lợi ích chính trị tầm thường, không có câu trả lời đơn giản nào cho những vấn đề phức tạp.

Trước hết, chúng ta phải tin chắc một điều: Khi người nghèo bị đẩy lùi, hòa bình cũng bị đẩy lùi; và khi điều đó xảy ra, chính chúng ta đang tự hủy diệt mình. Bởi vì lịch sử đã cho chúng ta bài học cay đắng rằng sự khép kín và chủ nghĩa dân tộc cực đoan luôn dẫn đến những hậu quả thảm khốc cho chính những kẻ thực hiện chúng.

Năm 2021 đó cũng là một năm của những đau đớn cá nhân. Một thời gian dài tôi cảm thấy đau bụng dữ dội và bị sốt, và lần thứ hai, sau những gì đã xảy ra năm 1957, chính kinh nghiệm của một y tá đã cứu mạng tôi. Mặc dù những ý kiến khác cho rằng tôi chỉ nên tiếp tục điều trị bằng kháng sinh, Massimiliano Strappetti, người hiện là trợ lý y tế cá nhân của tôi, đã quả quyết: “Ngài phải phẫu thuật.” Sự kiên quyết đó rất quan trọng, bởi vì các bác sĩ phẫu thuật đã phát hiện ra một số mô hoại tử khi loại bỏ đoạn ruột bị hẹp gây đau. Tháng 7 năm đó, tôi đã trải qua ba tiếng đồng hồ phẫu thuật đoạn đại tràng ngang, và hai năm sau đó phải phẫu thuật lần hai: Họ lại mở bụng tôi ra và rửa sạch các chỗ dính — tôi đã xem đoạn phim ấy, chỉ thiếu mỗi… xà phòng.

Điều này đã khiến tôi phải tạm dừng một thời gian, và về mặt tâm lý cũng làm tôi suy sụp phần nào, nhưng đầu óc tôi vẫn luôn tỉnh táo và lòng nhiệt huyết với công việc — tiếp tục các kế hoạch, đưa ra chỉ đạo — đã giúp tôi rất nhiều. Giờ thì tôi khỏe, ăn uống bình thường, và thực tế là tôi đã già. Quả thật, chính cơn đau ở đầu gối mới là sự sỉ nhục về thể chất nặng nề nhất đối với tôi. Ban đầu, việc phải ngồi xe lăn khiến tôi rất xấu hổ, nhưng tuổi già không bao giờ đến một mình, và ta phải chấp nhận nó như vốn có: Giáo hội được điều hành bằng cái đầu và con tim, chứ không phải bằng đôi chân. Tôi vẫn tập vật lý trị liệu hai lần một tuần, dùng gậy để đi lại, cố gắng bước đi nhiều nhất có thể, và tiếp tục tiến bước. Trên hết, tôi đặt mình trong tay Chúa: Gậy và cây trượng của Ngài “an ủi tôi” (Thánh Vịnh 23:4). Và nếu tôi không còn chạy nhảy như thời thơ ấu, tôi biết rằng Ngài luôn đi trước tôi, không bao giờ bỏ rơi tôi (Đệ Nhị Luật 31:6–8).

Mỗi khi một giáo hoàng ốm nặng, gió của mật nghị giáo hoàng lại thổi rì rào, nhưng thực tế ngay cả trong những ngày nằm viện, tôi cũng chưa từng nghĩ đến chuyện từ chức, ngoại trừ việc ngay từ khi mới được bầu, tôi đã giao một bức thư từ chức cho vị Hồng y Chưởng ấn, trong trường hợp sức khỏe không cho phép, giống như Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đã làm. Nếu một ngày nào đó phải từ chức, tôi sẽ ở lại Rome, với tư cách là giám mục danh dự.

Ngay từ đầu triều đại giáo hoàng, tôi đã có linh cảm rằng nó sẽ ngắn ngủi: tôi nghĩ không quá ba hoặc bốn năm. Tôi đã nói vậy trong một cuộc phỏng vấn với một nhà báo truyền hình Mexico. Đó là một cảm giác mơ hồ nhưng khá mạnh mẽ, bắt nguồn từ việc tôi tin rằng mình được bầu do mật nghị diễn ra quá nhanh: tôi không tìm thấy lời giải thích nào khác. Tôi chưa bao giờ tưởng tượng rằng mình sẽ viết bốn thông điệp, cùng bao nhiêu lá thư, tài liệu, tông huấn, hay rằng tôi sẽ thực hiện hơn sáu mươi chuyến tông du đến các quốc gia. Chuyến đầu tiên đến Brazil đã đủ làm tôi kinh ngạc. Ấy vậy mà tôi đã làm được, và tôi vẫn sống sót.

Sự thật là đồng hồ của cuộc đời nằm trong tay Chúa. Trong khi chờ đợi, tôi cứ tiếp tục bước đi.

Tôi cảm nhận toàn bộ trải nghiệm của mình luôn tràn đầy hy vọng, và ngay cả trong những khoảnh khắc đen tối nhất — tôi nhớ đến đêm đen ở Córdoba, nơi tôi làm cha giải tội từ năm 1990 đến 1992 — tôi cũng chưa từng mất hy vọng. Chưa bao giờ. Và chắc chắn cũng vậy khi làm giáo hoàng, ngay cả trong những thời khắc khó khăn, phức tạp nhất. Vụ bê bối bất động sản ở London, vụ án gọi là “Sloane Avenue”, chẳng hạn, là một thời điểm thực sự đau đớn, nhưng tôi luôn cảm thấy mình phải tiến bước và không được che đậy bất cứ điều gì. Những quyết định tôi đưa ra khi ấy không hề dễ dàng, tôi biết sẽ gặp nhiều vấn đề, nhưng tôi cũng biết rằng sự thật thì không bao giờ được giấu giếm, còn sự mập mờ thì luôn là sự lựa chọn tồi tệ nhất.

Vậy nên, tiếp tục bước tới.

Thời gian của chúng ta gấp gáp: Khi bạn muốn nắm bắt hôm nay, nó đã trở thành hôm qua; còn khi bạn muốn nắm bắt ngày mai, thì nó vẫn chưa tới. Những năm tháng giáo hoàng của tôi là một cuộc đời căng thẳng, luôn hướng về phía trước. Nhưng tuổi già cũng là một thời kỳ ân sủng và tăng trưởng: Người già có khả năng hiểu thấu những tình huống khó khăn hơn, và vì thế lời cầu nguyện của họ thường mạnh mẽ, đầy quyền năng.

Hành trình của Giáo hội, cuộc đời chúng ta, nền tảng của niềm vui và lý do hy vọng — tất cả đều đặt trong tay Chúa, chứ không phụ thuộc vào sự tiện lợi hay xu thế. Và khi chúng ta mệt mỏi hơn, Chúa biết khi nào cần bế chúng ta vào lòng.

Bài Mới Nhất
Search