Chương Hai Mươi Bốn: Vì những ngày đẹp nhất vẫn còn phía trước

Giới Thiệu: TỰ TRUYỆN “HY VỌNG” CỦA CỐ GIÁO HOÀNG FRANCIS

24.

Vì những ngày đẹp nhất vẫn còn phía trước

“Thế giới của chúng ta đã đến hồi nguy cấp, trẻ con không còn nghe lời cha mẹ. Ngày tận thế chắc chắn không còn xa.”

Sẽ là điều hữu ích nếu chúng ta nhận thức được những câu nói như thế này mỗi khi đối diện với nguy cơ sa vào một kiểu hùng biện mà chẳng thế hệ nào tránh khỏi. Dường như, theo lệ thường, mỗi thế hệ đều bị thế hệ trước cho là tồi tệ hơn — đôi khi là thảm họa — một số phận mà ngay cả thế hệ của tôi, của các anh chị em tôi, những người trẻ Argentina những năm 1950, con cháu của những người di cư từng chịu nhiều đau khổ, cũng không tránh được. Nhờ công lao của cha mẹ, ông bà, thế hệ chúng tôi nhìn chung đã được hưởng những điều kiện tốt đẹp hơn. Theo cách nào đó, điều này đúng ở khắp nơi: những năm 1920, Henry Ford — người cách mạng hóa ngành ô tô — đã không tiếc lời chỉ trích giới trẻ đương thời là “hèn yếu,” “không có suy nghĩ,” và “lười biếng.” Nhưng chính thế hệ trẻ đó sau này lại được tôn vinh là “Thế hệ Vĩ đại” vì đã vượt qua cuộc Đại Suy thoái và góp phần chiến thắng trong Thế chiến II bằng những hy sinh to lớn.

Tương tự, tiến lùi theo dòng thời gian, không thiếu ví dụ. Ngay cả những trí thức lỗi lạc cũng không tránh khỏi rơi vào sai lầm này: Giovanni Boccaccio — tác giả nhiều kiệt tác thế kỷ XIV — cũng từng cho rằng “giới trẻ hiện đại” của nửa cuối thế kỷ ấy là những kẻ bệnh hoạn và yếu đuối, mặc cho thực tế rằng chính những người trẻ đó đã đặt nền móng cho thời kỳ Phục Hưng.

Tuy nhiên, câu nói mở đầu chương này không phải của tổ tiên tôi, cũng chẳng của một nhà phê bình đương đại, dù nó hoàn toàn có thể là thế, vì ai trong chúng ta cũng từng nghe nó vang lên. Để tìm nguồn gốc thực sự, chúng ta phải quay lại bốn ngàn năm trước, trong một dòng chữ khắc bằng chữ tượng hình của một tu sĩ Ai Cập cổ đại — thậm chí còn có những nội dung tương tự khắc trên những chiếc bình đất sét thời Babylon, từ một thiên niên kỷ xa xưa hơn nữa.

Thực tế là, điệp khúc “Ôi thời thế, ôi đạo đức!” — lời than thở rằng “ngày xưa mới là thời tốt đẹp” — còn xưa hơn cả Cicero. Cổ xưa như chính nhân loại, chỉ có điều mỗi thời điểm lại vẽ ra một “thiên đường đã mất” khác nhau, luôn ở khoảng cách “vừa đủ xa mà cũng vừa đủ gần” với hiện tại để người ta nuối tiếc.

Nhưng nếu mọi nỗ lực nhằm ngăn chặn thời gian đều là điều vô lý, thậm chí đôi khi là thảm hại, thì cám dỗ tô hồng quá khứ để đối lập với hiện tại — ngoài việc là một ảo tưởng phản lịch sử — cũng cho thấy sự xa rời với nhãn quan đức tin, và theo một cách nào đó còn mang tính phản Kitô giáo. Bởi vì các môn đệ của Đức Kitô không phải là những người chỉ biết “hoài niệm,” và Chúa Giêsu không phải là một di tích, một vật quý giá từ hai ngàn năm trước, càng không phải là một ký ức cảm tính kiểu “thời của tôi ngày xưa”: Kitô hữu phải làm chứng cho sự hiện diện sống động của Người hôm nay, và luôn được mời gọi hướng về ngày mai. Sự bất mãn, nhất là đối với chính mình, là điều tự nhiên của con người, và ở mức độ thích hợp, nó còn là liều thuốc giải tốt chống lại thói tự mãn và kiêu căng; nhưng Kitô hữu phải sống với xác tín rằng những ngày tốt đẹp nhất của mình vẫn còn ở phía trước. Và chúng ta phải nỗ lực, phải đóng góp trong khả năng và giới hạn của mình để điều đó thành hiện thực.

Có một nỗi nhớ tích cực, hoàn toàn khác biệt với than phiền hay buông xuôi: đó là nỗi nhớ sáng tạo, đầy sức sống, gắn liền với hy vọng — nỗi nhớ của người hành hương, người vẫn bước đi, nhìn về phía trước, đối mặt với khó khăn, tiếp tục tiến bước, giữ vững mối liên kết sâu sắc với cội nguồn của mình. Và cũng có một nỗi nhớ đắng cay, phức tạp, kiểu nỗi nhớ của những cộng đồng hoặc cá nhân đang khủng hoảng: đó là nỗi nhớ tê liệt, nuôi dưỡng bằng những tái dựng giả tạo về quá khứ, và khi không đơn thuần là bảo thủ những gì đã có, nó dễ biến thành sự tự biện hộ hoặc thậm chí những hình thức thần thoại hóa lố bịch và nguy hiểm.

Kitô hữu không phải là những người có “một tương lai lớn ở phía sau mình”; họ mang trong mình nỗi nhớ đầy nôn nao về tương lai: com saudades do futuro, như Fernando Pessoa viết trong Cuốn sách Bất an; và điều này có thể song hành với nhận xét của nhà văn Julien Green: “Chừng nào tôi còn nôn nao, tôi còn có thể yên lòng.”

Tôi chợt nghĩ: giới trẻ sẽ không bao giờ rơi vào tình cảnh mà Tin Mừng Luca cảnh báo: “Khốn cho các ngươi, khi mọi người đều khen ngợi các ngươi” (Lc 6,26). Nhưng trên hết, thay vì xét đoán hay than phiền, mỗi thế hệ được mời gọi không thể lơ là nhiệm vụ căn bản của mình: giáo dục. Sứ mạng nền tảng mà Thiên Chúa trao cho con người là biết sử dụng thời gian trần thế để xây dựng tương lai. Như nhà xã hội học Zygmunt Bauman — người mà tôi đã gặp ở Assisi vào tháng 9 năm 2016 khi ông đã 90 tuổi, và người đã cho tôi nhiều suy tư quý giá, đặc biệt trong phân tích về “xã hội lỏng” — đã nói: “Nếu anh nghĩ cho năm tới, hãy gieo ngô; nếu anh nghĩ cho mười năm tới, hãy trồng cây; nhưng nếu anh nghĩ cho một trăm năm tới, hãy giáo dục.”

Giáo dục là một trong những thách đố hào hứng nhất của đời người; và đối với tôi cũng vậy. Khi làm cha xứ ở San Miguel, công việc mục vụ với giới trẻ là một trong những hoạt động chính: tôi đón tiếp các em trong những khoảng sân rộng của trường, tổ chức các buổi biểu diễn, trò chơi, dạy giáo lý vào thứ Bảy, và cử hành Thánh lễ thiếu nhi vào Chúa Nhật. Nhưng thậm chí trước đó, khi còn là giáo viên trung học, tôi đã rất thích công việc này. Giáo dục là một hành động của tình phụ tử, giống như việc ban sự sống, và luôn đòi hỏi ta phải tham dự, tự vấn lương tâm mình. Giáo dục luôn là một hành vi của hy vọng, nhìn từ hiện tại hướng về tương lai; và giống như hy vọng, nó là một cuộc lữ hành, bởi không có một nền giáo dục nào bất động. Đó là một con đường hai chiều, một cuộc đối thoại, đòi hỏi chúng ta vừa không áp đặt, vừa không tương đối hóa, và bí quyết của nó nằm ở ba ngôn ngữ: ngôn ngữ của trí óc, của con tim, và của đôi tay. Trưởng thành là biết suy nghĩ điều mình cảm nhận và hành động, biết cảm nhận điều mình suy nghĩ và hành động, và biết hành động theo điều mình suy nghĩ và cảm nhận. Đó là một bản hợp xướng, một sự hòa điệu cần được vun đắp trước hết trong chính mỗi người chúng ta.

Trong ba dạng trí tuệ ấy vang vọng trong tâm hồn con người, trí tuệ của đôi tay là dạng cảm giác nhất, nhưng không hề kém quan trọng. Thực ra, có thể nói nó là tia chớp của tư duy và tri thức, đồng thời là kết quả phát triển cao nhất của chúng. Lần đầu tiên khi tôi ra quảng trường Thánh Phêrô với tư cách là giáo hoàng, tôi đã tiếp cận một nhóm trẻ em khiếm thị. Một em nhỏ đã hỏi tôi: “Con có thể nhìn thấy ngài không? Con có thể ‘xem’ ngài không?” Tôi không hiểu ngay, nhưng vẫn trả lời: “Tất nhiên rồi.” Và em đã “nhìn” tôi bằng cách sờ nắn khuôn mặt tôi bằng đôi bàn tay nhỏ. Trải nghiệm đó đã khiến tôi rất xúc động và giúp tôi hiểu thế nào là trí tuệ của đôi tay. Aristotle từng nói rằng đôi tay “giống như linh hồn,” vì chúng có khả năng cảm nhận và khám phá thế giới. Và Kant cũng không ngần ngại gọi chúng là “bộ não bên ngoài” của con người. Trải nghiệm lao động chân tay, sự cụ thể, là một yếu tố không thể thiếu trong bất kỳ chương trình giáo dục chân chính nào.

Hy vọng luôn lớn lên trong tôi mỗi khi tôi gặp gỡ người trẻ.

Trong suốt triều đại giáo hoàng của mình, tôi đã cử hành bốn Ngày Giới trẻ Thế giới — ở Brazil, Ba Lan, Panama và Bồ Đào Nha — và mỗi lần đều mang đến cho tôi một cảm giác ấm áp trộn lẫn với một sự huyền nhiệm đầy hy vọng. Tôi vẫn nhớ rõ sự kinh ngạc của mình khi đứng trước một triệu bạn trẻ trên bãi biển Copacabana vào tháng 7 năm 2013, chỉ vài tháng sau khi tôi được bầu chọn. Tôi vốn không quen với những đám đông lớn như thế, và ngay cả bây giờ cũng vậy: Là một linh mục, tôi quen nhìn thẳng vào mặt từng người, quen tiếp xúc với từng người tôi có trước mặt. Khi đứng trước đám đông, tôi vẫn cố tìm kiếm những gương mặt, một sự tiếp xúc trực tiếp, ít nhất là ánh mắt. Tôi luôn cố gắng vượt ra ngoài đám đông để đến được với từng cá nhân, bởi vì cho dù họ có thể có những đặc điểm chung, thì người trẻ không phải là một khối đồng nhất, không phải là một khuôn mẫu, ngoại trừ trong ánh nhìn thiển cận của người lớn không biết cách giao tiếp với họ.

Trong vòng vây của một triệu bạn trẻ ở Copacabana trong Ngày Giới trẻ Thế giới.

Người trẻ luôn làm bạn lúng túng, họ không dễ dãi gì cả, và điều đó cũng diễn ra tương tự mỗi khi họ đến Vatican: Họ đặt những câu hỏi khó về trải nghiệm cá nhân của mình, thẳng thắn, không vòng vo, và bạn buộc phải trả lời sao cho không tạo ra ảo tưởng rằng bạn chỉ muốn thắng một trận đấu ngôn từ hay giành lấy một chiếc cúp chiến thắng. Bạn phải mở ra một cánh cửa, gợi mở một chân trời nào đó. Bạn có thể dựa vào ký ức, và điều đó dĩ nhiên rất quan trọng — bởi nếu không có ký ức, bạn sẽ không có quá khứ, không có gốc rễ — mà không có gốc rễ thì cũng không thể sinh hoa trái. Nhưng mục tiêu là để vượt lên trên cả ký ức ấy.

Thiên Chúa đặc biệt yêu thích những câu hỏi. Theo một nghĩa nào đó, Ngài còn yêu thích câu hỏi hơn cả câu trả lời. Trước khi đưa ra các câu trả lời, Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy tự hỏi mình một câu hỏi căn bản: “Con tìm gì?” Nếu ai đó còn đặt câu hỏi này, thì người ấy vẫn còn trẻ, cho dù đã tám mươi tuổi. Ngược lại, nếu chưa từng đặt ra câu hỏi ấy, người đó đã già, dù chỉ mới hai mươi.

Theo lời Rainer Maria Rilke, giáo dục có nghĩa là “yêu mến những câu hỏi,” để cho chúng được sống, được lang thang. Người sợ hãi câu hỏi cũng chính là người sợ câu trả lời, và đó là đặc điểm của những chế độ độc tài, của những nền dân chủ rỗng tuếch, chứ không phải của những đứa con tự do. Giáo dục không phải là “thuần hóa,” cũng không phải là trao cho ai đó một gói quà xinh đẹp thắt nơ kèm lời nhắn: “Hãy giữ nó nguyên vẹn như vậy.” Giáo dục là “đồng hành.” Là dạy người ta biết biến đổi những giấc mơ đã nhận được, tiếp tục nuôi dưỡng chúng, và biết mơ lại.

Sự thật là, thay vì phán xét người trẻ, trước hết chúng ta cần xin lỗi họ. Chúng ta phải xin lỗi vì đã không lắng nghe những nhu cầu chân thật nhất của họ, vì đã không coi trọng họ, vì đã không biết khuyến khích họ, hay vì đã gạt họ ra bên lề như những phụ lục của sự mãi-mãi-thanh-xuân của những người lớn chưa trưởng thành thực sự. Vì chúng ta đã quá thường xuyên bỏ mặc họ giữa một thế giới chỉ biết đến bề ngoài, một lối sống hời hợt dẫn đến sự trống rỗng nội tâm. Vì chúng ta đã đẩy họ vào tình trạng phụ thuộc vĩnh viễn, khiến cuộc sống hiện tại của họ trở nên mong manh và tương lai của họ trở nên bất định, vì một xã hội phù du và vứt bỏ, trong đó người trẻ thường là những người đầu tiên bị loại bỏ.

Sự thật nữa là: những gì chúng ta đã truyền lại cho các thế hệ mới không phải lúc nào cũng là một món quà mà chính chúng ta đã biết trân trọng và gìn giữ.

Ngày nay, hơn ba tỷ rưỡi người đang sống ở những khu vực có nguy cơ bị tàn phá cao do biến đổi khí hậu, và đó là lý do khiến họ buộc phải di cư, mạo hiểm và đánh đổi cả mạng sống trong những hành trình tuyệt vọng. Chúng ta đã khai thác cạn kiệt, đã làm ô nhiễm, đã khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách vô độ, đến mức đe dọa chính sự tồn tại của mình và của các anh chị em đồng loại. Một trong những tình trạng khẩn cấp lớn nhất thời đại chúng ta là thực thi mệnh lệnh thiêng liêng nhằm bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta, đồng thời bảo vệ sự thánh thiêng và phẩm giá của mọi sự sống con người. Bóng ma của biến đổi khí hậu phủ bóng lên mọi khía cạnh: đe dọa nguồn nước, không khí, thực phẩm, hệ thống năng lượng; các nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng cũng đáng báo động không kém: các dự báo rất đáng lo ngại, và thời gian thì cạn dần. Chúng ta cần giảm một nửa tốc độ ấm lên trong khoảng thời gian ngắn ngủi chỉ một phần tư thế kỷ, và để làm được điều đó đòi hỏi phải có hành động tức thời và quyết đoán, một cách tiếp cận toàn diện có thể bắt đầu tạo ra sự thay đổi dần dần và những quyết sách chính trị nghiêm túc.

Bức tranh đó, giới trẻ trên toàn thế giới dường như nhìn thấy khá rõ ràng. Các cuộc khảo sát cho thấy, cùng với cuộc chiến chống đói nghèo và bất bình đẳng — những vấn đề gắn chặt với cuộc khủng hoảng khí hậu — người trẻ coi môi trường là ưu tiên hàng đầu trong các chính sách công. Một chính sách mà, tuy nhiên, cho đến nay vẫn chỉ phản ứng quá nhút nhát, thiếu đồng bộ, mâu thuẫn và chưa đủ. Sự thiếu sót rõ rệt này đã được các nghệ sĩ đương đại thể hiện bằng những hình ảnh mạnh mẽ, thậm chí không thiếu chất hài hước chua chát. Tôi nhớ đến một tác phẩm điêu khắc thu nhỏ của một nghệ sĩ vùng Galicia, mang tựa đề “Các chính trị gia tranh luận về sự nóng lên toàn cầu”: một nhóm người đàn ông mặc vest đang thảo luận, hoàn toàn thản nhiên, trong khi nước đã ngập gần hết thân họ, chỉ còn phần đầu nổi lên. Một nhà khoa học trẻ, về phần mình, đã nhận xét rằng chương trình nghị sự về môi trường của giới chính trị khiến cô liên tưởng đến đứa con trai nhỏ của mình mỗi lần cô cố gắng đánh thức nó đi học: “Năm phút nữa thôi mẹ,” lúc nào cũng “năm phút nữa.” Nhưng giờ đây không còn “năm phút nữa” nào nữa: tiếng chuông đã sắp reo và người gác cổng chuẩn bị khóa cửa. Không còn là chuyện mơ ước hay lần lữa: bây giờ là lúc phải hành động. Đã đến lúc vượt qua những chia rẽ giữa các phe phái, giữa những người báo động và những kẻ thờ ơ, giữa những người cấp tiến và những kẻ phủ nhận biến đổi khí hậu, để cùng nhau từng bước, kiên quyết bước ra khỏi đêm tối của sự tàn phá môi trường. Đã đến lúc ưu tiên lợi ích của tất cả thay vì chỉ của một số ít người, vì lợi ích của thế hệ hiện tại và tương lai.

Những người trẻ đang xuống đường, đang lên tiếng đòi hỏi một tương lai, đang phản ánh tiếng kêu cứu của lưu vực Amazon và Congo, của những đầm lầy than bùn và rừng ngập mặn, của đại dương và rạn san hô, của các dải băng địa cực và các vùng đất canh tác, của người nghèo và những người bị loại trừ. Họ đang dạy chúng ta điều quá hiển nhiên, điều mà chỉ một lối nhìn tự sát và hư vô chủ nghĩa mới có thể phủ nhận: sẽ không còn ngày mai nếu chúng ta hủy diệt môi trường nuôi dưỡng mình.

Dù người trẻ luôn là hy vọng cho tương lai nhân loại, nhưng chúng ta đang sống trong một thời kỳ mà hy vọng, đối với nhiều người, dường như lại là yếu tố đang thiếu vắng, ngay cả giữa các thế hệ trẻ. Điều này đúng với những ai đang chịu đựng bạo lực, bắt nạt, khó khăn cá nhân, và nó cũng được phản ánh rõ rệt qua tỷ lệ tự tử cao ở giới trẻ tại nhiều quốc gia. Một nghiên cứu của một nhà tâm lý trị liệu gốc Argentina gọi hiện tượng này là “thời đại của những đam mê buồn”: một sự bất an chung, một cảm giác bất lực và bất định lan rộng khiến con người nhìn thế giới như một mối đe dọa và tự khép kín, tự cô lập mình.

Hiện tượng này, trong những trường hợp nặng nhất — được mô tả bằng từ tiếng Nhật hikikomori, nghĩa là “thu mình vào trong” — trở thành một sự lệ thuộc toàn diện vào cô lập, thậm chí cắt đứt tiếp xúc với cả cha mẹ, ngoại trừ qua internet.

Tôi cùng với hơn bốn tỷ người — tất cả những ai sinh trước năm 1990, tức khoảng một nửa dân số hành tinh — chia sẻ ký ức về một thời mà bản đồ giấy là phương tiện duy nhất để đi đường, mà buồng điện thoại công cộng là cách duy nhất để liên lạc trong những chuyến đi, mà gõ phím máy chữ là lựa chọn duy nhất bên cạnh viết tay, mà tìm kiếm tài liệu là một cuộc phiêu lưu thực thụ giữa những kệ sách thư viện, mà bưu điện là phương tiện duy nhất để gửi tài liệu. Như trong mọi sự, đối với ít nhất ba thế hệ đương đại, luôn tồn tại nguy cơ lý tưởng hóa và đơn giản hóa thế giới “xưa cũ bé nhỏ” ấy — cụ thể ở đây là thế giới trước khi có internet: “Ngày xưa con người tử tế hơn, lương thiện hơn, bao dung hơn, đức hạnh hơn, yêu hòa bình hơn, các mối quan hệ chân thành hơn…” và còn nhiều điều khác tương tự. May thay, giá trị phổ quát của văn học cho chúng ta thấy kỳ vọng, bản năng, đức hạnh và thói xấu của con người qua các thời kỳ vẫn không thay đổi. Bằng cách đọc Shakespeare, Manzoni hay các tiểu thuyết gia Nga vĩ đại (“đọc Tolstoy còn chân thực hơn đọc báo,” một độc giả từng viết), chúng ta nhận ra rằng ở mọi thời đại, cũng như hôm nay, con người đều đối diện trước hết với chính nhân tính, tự do và trách nhiệm của mình. Và qua đó, ta cũng học được cách nhìn đời bằng sự kiên nhẫn, bằng sự khiêm nhường để không đơn giản hóa thực tại, không tự cho mình quyền xét đoán một cách mù quáng hay hời hợt.

Internet là một nguồn tài nguyên phi thường trong thời đại của chúng ta, một cánh cửa mở ra những mối quan hệ và sự gặp gỡ mà trước đây ta không thể tưởng tượng nổi. Nhưng trong khi nói chung, chúng ta đã dành hai thập kỷ đầu tiên để ca ngợi những lợi ích của nó mà không nhận ra những giới hạn, và một thập kỷ gần đây để chỉ trích những giới hạn ấy mà không còn nhấn mạnh đến những mặt tích cực, thì trên thực tế, không ai — kể cả những người đang lớn tiếng phản đối bằng những lý lẽ mơ hồ theo kiểu “bài công nghệ” — thực sự muốn hoặc biết cách quay trở lại một thời kỳ trước Internet.

Ngay từ khi có mặt, Giáo hội đã luôn cố gắng thúc đẩy việc sử dụng Internet để phục vụ cho sự gặp gỡ giữa con người với nhau và cho tình liên đới giữa mọi người: Trang web Vatican, có thể truy cập bằng sáu ngôn ngữ, đã được Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II khai trương vào dịp Giáng Sinh năm 1995, nhằm mục đích phổ biến rộng rãi hơn các giáo huấn của ngài và các hoạt động của Tòa Thánh; các tài khoản mạng xã hội đầu tiên của một vị Giáo hoàng được Đức Bênêđictô XVI mở ngay trước khi ngài từ nhiệm, và chính tôi, thông qua Bộ Truyền thông, cũng sử dụng mạng xã hội như một công cụ để giao tiếp, suy tư và truyền giáo.

Trên khắp thế giới, có rất nhiều ví dụ sáng tạo về sự dấn thân trên mạng xã hội, từ các cộng đồng địa phương cho đến các cá nhân, những người mang chứng tá về sự dấn thân, tình liên đới và đức tin trên những nền tảng này, đôi khi thậm chí còn sống động hơn cả các cơ cấu tổ chức chính thức của Giáo hội, cùng với vô số sáng kiến mục vụ và giáo dục tuyệt vời được thực hiện bởi các phong trào, cộng đoàn, dòng tu và các cá nhân.

Tuy nhiên, mặt khác, nhiều chuyên gia hiện nay cũng chỉ ra rằng Internet, đặc biệt kể từ khi chúng ta chấp nhận sự tập trung và thương mại hóa thái quá vào tay một số ít tập đoàn, đã trở thành một trong những môi trường dễ tổn thương nhất đối với thông tin sai lệch và sự bóp méo có chủ ý các sự kiện cũng như các mối quan hệ liên nhân. Một phần tư trẻ em trong độ tuổi nhỏ nhất đã vướng vào những vụ bạo lực mạng (cyberbullying), và tất cả người dùng đều dễ rơi vào ảo tưởng rằng mạng Web có thể mang lại sự thỏa mãn trọn vẹn về mặt quan hệ xã hội — một sai lầm gây tổn hại nghiêm trọng đến kết cấu xã hội. Đây là kinh nghiệm chung trong nhiều gia đình: trong bữa ăn, mỗi người đều mải mê với điện thoại thay vì trò chuyện với nhau, người lớn cũng như trẻ em (vì những người than phiền rằng “bọn trẻ suốt ngày dán mắt vào điện thoại” thường chính là những người bị nghiện trước tiên).

Ở đây, vấn đề chính lại là trách nhiệm và giáo dục: nếu đúng là thiết bị tự nó trung tính — con dao có thể dùng để cắt bánh mì cũng như để gây án — thì cũng đúng là những phương tiện càng phổ biến và quyền năng càng đòi hỏi sự ý thức cao hơn, tài nghệ giáo dục tốt hơn, và những tấm gương sống động hơn. Chiếc kính vạn hoa của những “hóa thân” (avatars) và sự nhân lên của các màn hình — một từ mà ngay trong gốc từ cũng hàm ý về sự can thiệp vào trải nghiệm thực tế — có thể làm say mê ánh nhìn, giống như con rắn Kaa trong phim The Jungle Book bản hoạt hình, từ từ thôi miên và tước đoạt ý chí của người xem, bằng sự quyến rũ của ảo ảnh được cho là thật: “Cứ ngủ đi, ngủ thật ngon…ngủ đi nào…” Nhưng ngày nay, điều chúng ta cần không phải là những người trẻ — hay người lớn — chỉ biết nằm dài trên sofa, chỉ biết ngắm cuộc đời qua “ban công” của màn hình (balconear la vida, như tôi vẫn thường nói). Chúng ta cần những giấc mơ không ru ngủ hay làm tê liệt, mà đánh thức, thách thức, khơi nguồn cho những dự phóng, những quyết định, và sự nhập cuộc.

Nền dân chủ — nền dân chủ mà ông bà tổ tiên chúng ta đã đổ biết bao máu xương để giành lấy ở nhiều nơi trên thế giới — ngày nay cũng không còn ở trạng thái khỏe mạnh, đang bị phơi bày trước nguy cơ “ảo hóa,” thay thế sự tham gia thực sự bằng thứ tham dự giả tạo hoặc làm trống rỗng ý nghĩa. Trong đó, một hệ thống thông tin dựa trên các mạng xã hội, nằm trong tay một số tập đoàn kinh doanh quyền lực cực lớn, chỉ có thể là mối nguy mà chúng ta cần cảnh giác.

Hơn hai mươi năm trước, một nhà ngôn ngữ học nổi tiếng đã cảnh báo về sự nguy hiểm của một loại tương tác có vẻ ngoài là tự do mà thực chất bị chi phối bởi lợi ích thương mại — ví dụ như những cuộc khảo sát truyền hình trong các sự kiện thể thao lớn, nơi mà, giữa hai đoạn quảng cáo, người xem được hỏi họ nghĩ huấn luyện viên hoặc cầu thủ nên làm gì trong một tình huống cụ thể; người xem trả lời, rồi bị lầm tưởng rằng mình đã tham gia vào trận đấu, trong khi trên thực tế, trận đấu diễn ra hoàn toàn không phụ thuộc vào ý kiến đó.

Dân chủ không phải là một cuộc bình chọn trên truyền hình, cũng không phải là một siêu thị. Chúng ta cần sáng tạo trở lại những hình thức tham gia thực sự, không phải như một công cụ phục vụ cho sự thần tượng hóa cá nhân hay tôn sùng ứng viên nhất thời — điều mà cuối cùng chỉ càng làm gia tăng tỷ lệ vắng mặt trong bầu cử — mà như sự dấn thân thực sự vào một dự án chung, vào một giấc mơ tập thể. Chúng ta cần lao động với bàn tay lấm bùn, cần lấy lại vai trò trung tâm của mình, cần đặt con người — chứ không phải con người như món hàng hóa — vào trung tâm của đời sống.

Bởi vì lựa chọn ngược lại — lựa chọn chấp nhận một thế giới trong đó con người bị biến thành sản phẩm tiêu dùng — chính là một cuộc tấn công vào phẩm giá nhân vị, vào sự nguyên vẹn của thiên nhiên, vào vẻ đẹp, vào hạnh phúc của sự sống, và cũng là một sự xói mòn chậm mà chắc đối với những quyền căn bản, những quyền vốn đã được tuyên dương long trọng trong các bản hiến chương nhưng lại khó lòng đi vào thực tế đời sống.

Mỗi thời đại, từ khi phát minh ra bánh xe, đều ghi dấu bằng những đổi mới, nhưng ai cũng thấy rõ rằng từ đầu thế kỷ trước, tốc độ tăng trưởng khoa học và công nghệ đã trở nên phi thường, và không chỉ theo một tiến trình tuyến tính mà còn theo cấp số nhân. Người ta nói về “sự gia tốc” (rapidization), một từ do người Hà Lan đặt ra, chỉ sự tiến triển hình học của thời gian, mang trong nó nguy cơ không còn khả năng dừng lại để lĩnh hội, suy nghĩ, chiêm nghiệm, và được đặc trưng bởi một nhịp sống vội vã, cuống cuồng đến mức dễ dẫn đến bạo lực.

Rất thường xuyên, mỗi giai đoạn mới, cùng với sự hứng khởi và hoài nghi đi kèm, lại chứng kiến cuộc tranh luận giữa hai phe có thể được mô tả một cách sinh động như nhà ký hiệu học Umberto Eco đã từng làm: một bên là những “nhà tận thế” (apocalípticos), đại diện cho thái độ siêu phê phán và có phần quý tộc đối với những phát triển mới; bên kia là những “người tích hợp” (integrados), những người theo chủ nghĩa lạc quan tuyệt đối, coi đó là phương thuốc bách bệnh cho mọi vấn đề.

Một cuộc xung đột như thế đã xảy ra nhiều lần trong lịch sử gần đây. Hôm nay, khi nhìn lại, có thể thấy buồn cười, nhưng vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, đã diễn ra một cuộc tranh luận sôi nổi về việc các linh mục có nên đi xe đạp (khi ấy còn gọi là velocipedes) hay không. Ở không ít giáo phận, việc sử dụng xe đạp bị ngăn cấm hoặc khuyên nên tránh, với lý do rằng: “Thật không đứng đắn khi chứng kiến một linh mục loạng choạng trèo lên xe đạp… và ngồi khập khiễng trong chiếc áo chùng thâm cưỡi lên khung xe. Một linh mục phải giữ gìn phẩm giá.” Cuối cùng, tranh luận khép lại khi chiếc xe đạp trở thành phương tiện vận chuyển quen thuộc của các cha sở ở thành phố cũng như thôn quê.

Khó khăn hơn nhiều là câu hỏi đạo đức xung quanh ca ghép tim đầu tiên do bác sĩ phẫu thuật người Nam Phi Christiaan Barnard thực hiện vào năm 1967 — đúng vào thời điểm tôi còn là sinh viên thần học — dẫn đến việc thiết lập các tiêu chí chung về việc xác định “chết não” của người hiến tạng, làm cơ sở cho các luật quốc gia sau này ở nhiều nước.

Sau hàng triệu ca ghép tạng, ngày nay đã trở thành kỳ công hàng ngày của y học, cuộc tranh luận hiện nay về đổi mới công nghệ lại xoay quanh trí tuệ nhân tạo (AI) — thứ mà tương lai của nền kinh tế, nền văn minh và thậm chí cả nhân loại sẽ phụ thuộc vào. Đây là một công cụ cực kỳ quyền năng, sẽ được ứng dụng ngày càng nhiều trong vô số lĩnh vực hoạt động của con người: từ y học đến thị trường lao động, từ văn hóa đến truyền thông, từ giáo dục đến chính trị, và chắc chắn sẽ có ảnh hưởng sâu sắc đến cách chúng ta sống, cách chúng ta giao tiếp xã hội, và có thể cả cách chúng ta cảm nhận về chính bản thân mình.

Tôi đã nghĩ đến Romano Guardini — vị thần học gia mà những tư tưởng của ngài đã nhiều lần soi sáng cho tôi — khi chuẩn bị bài phát biểu về vấn đề này tại hội nghị G7 năm 2024 ở Borgo Egnazia, Puglia, trước sự hiện diện của nhiều nhà lãnh đạo thế giới. Tôi muốn loại bỏ những cách diễn giải mang tính thảm họa và những hệ quả tê liệt mà chúng mang lại, cũng như sự cứng nhắc của những ai phản đối cái “mới” trong nỗ lực hão huyền nhằm bảo tồn một thế giới vốn đã bị định sẵn là sẽ biến mất, đồng thời nhắc nhở về trách nhiệm của chúng ta: phải luôn tỉnh thức trước mọi nguy cơ hủy hoại và phi nhân tính, nhất là khi đối mặt với những viễn cảnh phức tạp như hiện nay.

Thiên Chúa đã ban Thần Khí của Ngài cho loài người để ban cho họ “sự khéo léo, hiểu biết và kiến thức trong mọi nghề thủ công” (Xuất Hành 35:31), vì vậy khoa học và công nghệ là những thành tựu phi thường của tiềm năng sáng tạo nơi con người. Nhưng chúng ta cũng phải ý thức rằng, như câu ngạn ngữ cổ về lưỡi gươm của Damocles từng nói, quyền lực lớn luôn đi đôi với trách nhiệm lớn.

Bài phát biểu của tôi về trí tuệ nhân tạo tại Hội nghị Thượng đỉnh G7 năm 2024

Chúng ta không thể nghi ngờ rằng sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo chính là một cuộc cách mạng nhận thức – công nghiệp thực thụ, sẽ góp phần tạo nên một hệ thống xã hội mới với những biến đổi sâu rộng mang tính thời đại. Việc sử dụng công cụ hấp dẫn — và đồng thời cũng đầy hiểm họa — này sẽ đi theo hướng nào, chính chúng ta sẽ quyết định, bởi đây là một công cụ còn phức tạp hơn những công cụ khác, vì nó có khả năng tự thích ứng với nhiệm vụ được giao và, nếu được thiết kế như vậy, có thể tự mình đưa ra lựa chọn độc lập với con người để đạt được mục tiêu định trước. Theo Guardini, chúng ta phải nói rằng: mọi vấn đề mang tính kỹ thuật, xã hội hay chính trị chỉ có thể được giải quyết “bởi con người. Một kiểu nhân loại mới cần phải được hình thành, được trang bị một chiều sâu tâm linh hơn, với một sự tự do và nội tâm mới.”

Sự sống và cái chết không thể bị quyết định bởi một thuật toán, cũng như sự phát triển của tư duy con người hay của thông tin, lĩnh vực vốn đã phải đối mặt với một loại “ô nhiễm nhận thức,” nay lại còn bị đe dọa thêm bởi hiện tượng deepfake — việc tạo ra và lan truyền hình ảnh, giọng nói tưởng như thật nhưng lại hoàn toàn giả mạo: chính tôi cũng đã từng trở thành đối tượng của việc này. Rộng hơn, tự do và sự chung sống hòa bình bị đe dọa mỗi khi con người sa vào cám dỗ của ích kỷ, lòng tham lợi nhuận và khát khao quyền lực.

Chúng ta sẽ xây dựng những tầng lớp mới dựa trên quyền kiểm soát thông tin, tạo ra những hình thức bóc lột mới, hay ngược lại, chúng ta sẽ đảm bảo rằng trí tuệ nhân tạo được sử dụng để mang lại bình đẳng, để thu hút sự chú ý đến những nhu cầu của con người và các dân tộc?

Nó sẽ trở thành cơ hội mới cho sự hủy diệt và chết chóc, khiến chúng ta thêm tê liệt trước cơn điên cuồng của chiến tranh, hay chúng ta sẽ biến nó thành công cụ của công lý, phát triển và hòa bình?

Một lần nữa, chúng ta cần trân trọng những câu hỏi này, dành chỗ cho chúng, để chúng sống động, bởi chính những câu hỏi sẽ dạy chúng ta trở nên có trách nhiệm và tỉnh thức.

Chính nhân loại phải quyết định: sẽ trở thành thức ăn cho thuật toán, hay tiếp tục tiến bước trên con đường của chính mình, giữ gìn bản sắc riêng và tìm lại điều quan trọng nhất, thiết yếu nhất — cốt lõi của mỗi con người, đó chính là trái tim. Trong tông huấn thứ tư của mình, Dilexit nos, về tình yêu nhân loại và thần linh nơi trái tim Chúa Kitô, tôi đã viết rằng dường như xã hội thế giới đang đánh mất trái tim của chính mình. Khi chúng ta chứng kiến những người bà đau buồn mà điều đó không còn làm tất cả chúng ta phẫn nộ, thì đó chỉ có thể là dấu hiệu của một thế giới không còn trái tim. Và đây chính là sự ô nhục mà tôi đã nhiều lần chứng kiến: trong quá nhiều chuyến đi, trong quá nhiều buổi tiếp kiến, giữa một thế giới bị xé nát bởi những cuộc xung đột tàn khốc: những người bà đau đớn vì mất cháu, hoặc lang thang vô gia cư, trong sợ hãi và tuyệt vọng. Chúng ta phải đối mặt với nỗi ô nhục này.

Thế giới chỉ có thể thay đổi khi có sự thay đổi nơi trái tim, bởi như Công đồng Vatican II đã dạy, những mất cân bằng mà thế giới phải gánh chịu — vốn đã xuất hiện từ lâu và hiện đang phát triển mạnh mẽ trong xã hội lỏng lẻo ngày nay — đều bắt nguồn từ sự mất cân bằng sâu xa nơi nội tâm con người. Thuật toán vận hành trong thế giới kỹ thuật số cuối cùng cho thấy rằng tư duy và quyết định của chúng ta thực ra thông thường, bình thường và dễ đoán hơn chúng ta tưởng, và cũng dễ bị thao túng hơn. Nhưng với trái tim, thì không như vậy. Chúng ta chính là trái tim mình, bởi chính trái tim phân định chúng ta, hình thành bản sắc tâm linh của chúng ta và kết nối chúng ta với người khác.

Chỉ có trái tim mới có khả năng thống nhất và hài hòa câu chuyện cá nhân của chúng ta, câu chuyện tưởng như bị vỡ thành nghìn mảnh. Ngược lại, cái “phản trái tim” là chân trời ngày càng bị chi phối bởi chủ nghĩa vị kỷ và mưu cầu lợi ích cá nhân, cuối cùng dẫn đến sự thờ ơ, trầm cảm, đến “sự đánh mất khát vọng,” bởi vì tha nhân biến mất khỏi chân trời của chúng ta. Và như Heidegger nói, để đón nhận Thần Linh, chúng ta cần xây dựng một “nhà khách,” để tiếp đón chính mình, để đáp lại bản chất chân thực nhất của mình. Nếu trái tim không sống động, như Guardini viết trong nghiên cứu của mình về thế giới Dostoyevsky, “con người trở nên xa lạ với chính mình.”

Không một thuật toán nào có thể ôm giữ những ký ức tuổi thơ mà chúng ta vẫn trân quý, những hình ảnh dường như ngủ yên trong chiếc hộp ký ức và rồi thức dậy mỗi lần, sống động như xưa, có thể chỉ bởi hương thơm thoảng qua hay một giai điệu cũ. Tôi nhớ đến người bà đã dạy tôi dùng nĩa viền mép bánh empanadas, những buổi chiều bên đài phát thanh cùng Mẹ, giữa trò chơi và bài học, nụ cười của Cha khi tôi buông một câu pha trò, nỗi hồi hộp khi chờ đợi sự ra đời của em gái Maria Elena, hay sự chăm sóc tôi dành cho chú chim non rơi khỏi tổ, hay những lần ngắt cánh hoa cúc mà ngân nga: “yêu – không yêu.” Trong thời đại trí tuệ nhân tạo này, ta không thể quên rằng: thi ca và tình yêu là điều không thể thiếu để cứu lấy nhân loại. Chúng giống như tuổi thơ, là muối của đất: nếu muối mất mặn — như một nhà văn Pháp cảnh báo — thế giới sẽ chỉ còn lại sự thối rữa và mục nát. Khi cá nhân tính của trái tim không được trân trọng, ta đánh mất những câu trả lời mà chỉ trái tim mới mang lại, đánh mất cuộc gặp gỡ với tha nhân, và đánh mất cả lịch sử, những câu chuyện đời mình, bởi cuộc phiêu lưu chân thật nhất của con người luôn bắt nguồn từ trái tim. Và cuối cùng, đó sẽ là điều duy nhất còn lại trong đời.

Chúng ta không được để mình vấp ngã trước ngày mai, mà phải xây dựng nó — và tất cả chúng ta đều có trách nhiệm thực hiện điều đó theo cách đáp ứng với kế hoạch của Thiên Chúa, kế hoạch vốn không gì khác ngoài hạnh phúc của nhân loại, lấy con người làm trung tâm, không loại trừ bất kỳ ai.

Ở buổi bình minh của một thời đại thay đổi mới, tôi muốn nhắc mọi người nhớ đến những lời Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên bố trong Năm Thánh 2000: “Đừng sợ! Hãy mở rộng cửa cho Đức Kitô!” Và nếu một ngày nào đó bạn bị lấn át bởi nỗi sợ hãi và những lo âu, hãy nghĩ đến sự kiện trong Tin Mừng theo Thánh Gioan, tại tiệc cưới Cana (Gioan 2:1–12), và hãy tự nhủ: Rượu ngon nhất vẫn còn đang được giữ lại. Đây là một hình ảnh mà tôi đặc biệt yêu mến, với tư cách là chắt của những người nông dân.

Hãy vững lòng tin: Thực tại sâu sắc nhất, hạnh phúc nhất, đẹp đẽ nhất cho chúng ta và cho những người chúng ta yêu thương vẫn còn ở phía trước. Dù có những con số thống kê nói ngược lại, dù mệt mỏi có làm suy yếu sức mạnh của bạn, đừng bao giờ đánh mất niềm hy vọng không thể bị khuất phục này. Hãy cầu nguyện với những lời ấy, và nếu bạn không thể cầu nguyện, hãy thì thầm chúng trong lòng mình; hãy làm như thế, ngay cả khi đức tin của bạn yếu đuối; hãy thì thầm cho đến khi bạn tin được; hãy thì thầm cả với những ai đang tuyệt vọng, với những ai đang cạn kiệt tình yêu: Rượu ngon nhất vẫn còn đang được giữ lại.

Chừng nào chúng ta còn biết vui mừng trước ánh nhìn của một đứa trẻ và trước những khả năng vô hạn của lòng nhân ái, chừng nào chúng ta còn để lòng thương xót ngự trị trong tâm hồn mình, thì mọi sự vẫn luôn có thể. Bám chặt vào chiếc neo hy vọng, chúng ta có thể thưa lên cùng lời thơ của thi sĩ Nâzim Hikmet:

Biển đẹp nhất
chúng ta chưa vượt qua.

Đứa trẻ đẹp nhất
chúng ta chưa nuôi lớn.

Những ngày đẹp nhất
chúng ta chưa được sống.

Và những lời đẹp nhất tôi muốn nói với bạn
tôi vẫn chưa kịp thốt ra…

Ngọn gió của Chúa Thánh Thần vẫn chưa ngừng thổi. Chúc anh chị em lên đường tốt đẹp.

Bài Mới Nhất
Search