Giới Thiệu: TỰ TRUYỆN “HY VỌNG” CỦA CỐ GIÁO HOÀNG FRANCIS
(Để đọc toàn bộ 25 chương TỰ TRUYỆN HY VỌNG của Giáo Hoàng Francis
xin bấm vào: TỰ TRUYỆN HY VỌNG)
Chương 25.
Tôi Chỉ Là Một Bước Đi
Giáo hội luôn có một tương lai. Thật thú vị khi thấy rằng Giáo hội có cội rễ từ quá khứ — nơi Đức Kitô đang sống, sống trong thời đại của Người, trong sự Phục sinh của Người — và cũng có cội rễ từ tương lai, trong lời hứa của Đức Kitô rằng Người sẽ ở cùng chúng ta cho đến tận thế. Và chính trong lời hứa đó mà tương lai của Giáo hội được bảo đảm.
Liệu Giáo hội sẽ bị bách hại chăng? Giáo hội đã từng bị bách hại biết bao lần…
Đôi khi, cũng có lý do, bởi vì Giáo hội đã trở nên quá trần tục. Nhưng cũng nhiều khi không có lý do gì cả — biết bao vị tử đạo hoàn toàn không hề trần tục. Và ngay cả ngày nay, chúng ta vẫn đang sống trong một Giáo hội của những người tử đạo, những người bị giết chỉ vì họ là Kitô hữu, ngay trong thế kỷ XXI này.
Giáo hội sẽ tiếp tục tiến bước, còn tôi chỉ là một bước nhỏ trong lịch sử của Giáo hội.
Tuy nhiên, chức vị giáo hoàng sẽ tiếp tục trưởng thành; tôi hy vọng nó sẽ trưởng thành cả bằng cách quay trở lại nhìn về quá khứ, để đảm nhận nhiều hơn vai trò mà nó đã có trong thiên niên kỷ đầu tiên.
Hiệp nhất với những người trong Giáo hội Chính Thống, điều này không có nghĩa họ phải trở thành Công giáo. Tôi đang nói về sự hiệp nhất trong phục vụ, như những lời của Thánh Gioan Phaolô II cũng đã nhắc đến, về sự hiệp thông trọn vẹn và hữu hình giữa tất cả các cộng đồng Kitô giáo — điều vốn là “niềm mong ước thiết tha của Đức Kitô,” một hành trình mà chúng ta phải dấn bước mà không chần chừ.
Tôi mơ về một giáo hoàng ngày càng trở thành người phục vụ và người kiến tạo sự hiệp thông. Đối với tôi, cuộc quy tụ đại kết để cầu nguyện và cầu xin cho hòa bình ở Trung Đông mà tôi tổ chức tại Bari vào năm 2018, với sự tham dự của hai mươi hai thượng phụ và lãnh đạo của các giáo hội và cộng đồng Kitô giáo phương Đông, là một trải nghiệm vô cùng sâu sắc. Công giáo, Chính Thống giáo, Tin Lành — tất cả cùng nhau. Thật tuyệt vời.
Đó chính là chức vụ giáo hoàng: phục vụ. Tước hiệu cá nhân của vị giáo hoàng mà tôi yêu thích nhất là Servus servorum Dei — Người phục vụ các tôi tớ của Thiên Chúa. Người phục vụ tất cả, phục vụ vì tất cả. Hai tháng sau khi được bầu, khi tôi nhận bản in thử của Niên giám Tòa Thánh, tôi đã gửi trả lại trang đầu tiên ghi các tước hiệu được gán cho giáo hoàng: đại diện Đức Giêsu Kitô, kế vị thủ lãnh các Tông đồ, quốc trưởng, thượng phụ… Tôi đã yêu cầu bỏ hết: chỉ còn Giám mục Rôma. Các tước hiệu còn lại được đưa xuống trang sau. Đó cũng là cách tôi tự giới thiệu mình ngay từ ngày đầu tiên, và cũng bởi vì đó là sự thật. Các tước hiệu kia tuy đúng và có lý do lịch sử cũng như thần học, nhưng cốt yếu giáo hoàng vẫn luôn là Giám mục của Rôma.
—
Ngày nay người ta thường nói nhiều về sự thế tục hóa, nhưng cũng giống như với sự bách hại, đây chắc chắn không phải là lần đầu tiên. Hãy chỉ cần nghĩ đến Vương quốc Pháp, đến những linh mục thế tục trong triều đình hoàng gia, đến những “monsieur l’Abbé.” Người mục tử của Giáo hội, người mang lấy “mùi chiên” của đoàn chiên mình, thì không có liên quan gì đến điều đó. Giáo hội từ lâu đã từng trải qua những thời kỳ thế tục hóa; ngay cả trong những lạc giáo đầu tiên — chẳng hạn như thuyết Ariô — đã có những giám mục cung đình coi chính sách tôn giáo của hoàng đế là quy chuẩn tối cao phải tuân theo, và cũng có những hoàng đế đã bách hại các giám mục Công giáo không theo thuyết Ariô. Và còn từ trước đó nữa. Điều này đã xảy ra rất nhiều lần.
Tất nhiên, thế tục hóa không phải là một bản sao y nguyên giữa các thời kỳ: nó liên quan đến văn hóa của mỗi thời đại. Nhưng hiện nay Giáo hội không thế tục hóa hơn so với thời xưa.
Đúng là chúng ta đang sống trong một thế giới của khoa học, với những khám phá về việc kiểm soát sự sống và cái chết, nhưng tinh thần thế tục, đời sống thế gian, luôn tồn tại từ thuở ban đầu. Chính vì vậy, trong lời nguyện Hiến tế trong Bữa Tiệc Ly (Gioan 17,11–19), Chúa Giêsu đã không xin Cha đưa chúng ta ra khỏi thế gian, mà xin Cha bảo vệ chúng ta để chúng ta không thuộc về thế gian. Tính thế tục thiêng liêng — đời sống theo kiểu thế tục mà Giáo hội đã nhận ra từ rất sớm — thực sự là lời nguyền lớn nhất. Chỉ cần nhớ đến câu chuyện về Anania và Saphira trong sách Công vụ Tông đồ (5,1–11): đôi vợ chồng ở Giêrusalem thời sơ khai đã bán tài sản của cộng đoàn nhưng lén giữ lại một phần cho riêng mình. Theo nhà thần học Henri de Lubac, đây là cám dỗ thâm hiểm nhất, “lời cám dỗ tinh vi nhất, luôn rình rập” Giáo hội. Trong tác phẩm Suy tư về Giáo hội, ông viết rằng tính thế tục thiêng liêng “còn tồi tệ hơn cả những căn bệnh cùi lở loét từng làm biến dạng tàn khốc Giáo hội trong lịch sử,” khi tôn giáo gây nên gương mù ngay trong “nơi thánh,” và che lấp khuôn mặt của Chúa Giêsu dưới những viên đá quý, dưới những lớp trang trí xa hoa. Thậm chí, ông cho rằng nó còn tồi tệ hơn cả những thời kỳ các giáo hoàng sống trong thói trụy lạc. Thật khủng khiếp. Và đây chính là hiểm họa mà Chúa Giêsu đã cảm nhận được, nên Ngài đã cầu xin Cha đừng để các môn đệ sa vào.
Đây là một lời cảnh tỉnh, trước hết dành cho các mục tử, rồi cho tất cả mọi người. Bởi vì tất cả chúng ta đều là Giáo hội. Giáo hội không chỉ là những bức tường đẹp đẽ bao quanh.
Nếu các thế hệ trẻ hôm nay cho rằng họ có một mối quan hệ khó khăn với tôn giáo, thì thay vì lo lắng về thế tục hóa, chúng ta phải tự hỏi về chính chứng tá của mình. Chính những nhân chứng sống động mới lay động được con tim. Thánh Ignatiô thành Antiôkia đã hiểu điều đó: “Tốt hơn hết là hãy im lặng và sống như một Kitô hữu, hơn là nói nhiều mà không sống như vậy,” bởi vì vào cuối cuộc đời, điều chúng ta sẽ bị chất vấn không phải là việc chúng ta đã tin, mà là chúng ta có đáng tin hay không.
Giáo hội phải lớn lên trong sự sáng tạo, trong khả năng hiểu những thách đố của thời đại, mở ra đối thoại, chứ không co rúm lại vì sợ hãi. Một Giáo hội khép kín, sợ hãi là một Giáo hội đã chết. Chúng ta cần tin tưởng vào Thánh Thần, Đấng là động cơ và người hướng dẫn Giáo hội, Đấng luôn làm vang dậy những tiếng động lớn. Hãy nhớ lại câu chuyện lễ Hiện Xuống: “Bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như thể một luồng gió mạnh thổi đến, và làm rung chuyển cả căn nhà” (Cv 2,2), và các Tông đồ bắt đầu nói các thứ tiếng lạ, rồi họ bước ra ngoài. Tất cả ra khỏi nhà. Ra ngoài. Ra khỏi vùng an toàn của mình. Vì chỉ khi cởi mở như vậy, sự hòa hợp mới được tạo ra. Thánh Thần là Đấng an ủi, là hơi thở của sự sống, chứ không phải là một loại khí gây mê. Một lần khi tôi đang dạy hai trăm trẻ em ở San Miguel, một đứa trẻ đã nhầm lẫn từ “Paráclito” (Đấng an ủi) thành “paralítico” (bị bại liệt), và điều đó đã khiến tôi bật cười… Nhưng đó chính là kiểu Giáo hội mà chúng ta không được phép trở thành: một Giáo hội bất động, đông cứng. Sứ mạng của chúng ta là phải phân định, phải hiểu điều thời đại này đòi hỏi, với ý thức rằng cứng nhắc thì không phải là Kitô giáo, bởi vì nó từ chối sự vận động của Thánh Thần. Cứng nhắc là bè phái. Cứng nhắc là quy ngã. Cứng nhắc là một thứ lạc giáo thường nhật. Nó biến Giáo hội thành một pháo đài, một lâu đài kiêu hãnh, từ trên cao nhìn xuống thế giới và cuộc sống, thay vì sống giữa lòng thế giới.
Có một bộ phim tôi rất thích, tôi xem lại mỗi khi có dịp: Bữa tiệc của Babette (Babette’s Feast), chuyển thể từ truyện ngắn của Karen Blixen, từng đoạt nhiều giải thưởng. Bộ phim kể về một ngôi làng nhỏ u ám ở Scandinavia, nơi người dân sống khắc khổ và bị trói buộc bởi những quy tắc cứng nhắc đến mức họ đánh mất niềm vui. Cho đến khi Babette, một người phụ nữ đến từ Paris, xuất hiện. Khi trúng số, thay vì dùng tiền cho bản thân, cô đã dùng toàn bộ số tiền đó để tổ chức một bữa tiệc Pháp thịnh soạn cho cả làng. Bữa tiệc, ban đầu bị nghi ngờ, sau cùng đã phá vỡ những xiềng xích, tái tạo cộng đồng, mở ra cho họ niềm vui sống.
Chúng ta phải biết phá vỡ sự cứng nhắc, điều này không có nghĩa là rơi vào chủ nghĩa tương đối, mà là biết tiến lên, dám chấp nhận rủi ro. Chúng ta phải tránh cám dỗ muốn kiểm soát đức tin, bởi vì Chúa Giêsu không cần người giám sát hay kiểm soát. Thánh Thần là tự do. Và tự do cũng có nghĩa là chấp nhận mạo hiểm.
Giáo hội bước đi cùng nhau sẽ luôn là Công giáo, phổ quát, và sức mạnh, tương lai của nó cũng sẽ đến từ Mỹ Latinh, từ châu Á, từ Ấn Độ, từ châu Phi, như chúng ta đã thấy nơi sự phong phú các ơn gọi. Như ở Indonesia, Singapore, Papua New Guinea, Đông Timor — nơi tôi đã có một trải nghiệm tuyệt vời vào tháng 9 năm 2024: một biển trẻ em, những người ném áo choàng xuống để xe của giáo hoàng đi qua trên suốt hành trình mười dặm đến tòa khâm sứ. Ở đó, tôi đã gặp một Giáo hội đang lớn lên, với bản sắc riêng, gắn liền với nền văn hóa tươi trẻ nhưng cũng sâu sắc, điều làm tôi rất xúc động. Tôi cũng gặp rất nhiều con người đầy trí tuệ — chẳng hạn ở châu Phi, nơi những nền văn hóa kết hợp tuyệt vời giữa tư duy suy luận và sự khôn ngoan trực giác. Ngay cả ở Mông Cổ, chuyến đi “ngoại biên” nhất của tôi, nơi một cộng đoàn Công giáo nhỏ bé sống giữa lãnh thổ rộng mênh mông, tôi đã được trải nghiệm một nền thần bí và những giá trị đặc trưng, điều mà tất cả chúng ta đều có thể học hỏi, mà không rơi vào chủ nghĩa chiêu dụ. Chúng ta lớn lên nhờ sức hấp dẫn, chứ không nhờ chiêu dụ.
Ở những nơi khác, chúng ta phải ý thức rằng chúng ta đã bước vào một Kitô giáo thiểu số, một Kitô giáo chứng tá. Điều này đòi hỏi sự can đảm cho một cuộc hoán cải Giáo hội thực sự, chứ không phải sự rụt rè hoài cổ.
Chính với tinh thần này, tháng 12 năm 2024, tôi đã phong 21 Hồng y mới từ Peru, Argentina, Ecuador, Chile, Nhật Bản, Philippines, Serbia, Brazil, Bờ Biển Ngà, Iran, Canada, Úc và cả Ý. Tôi phong các ngài bởi vì đây là gương mặt chân thực hơn ngày càng lớn mạnh của tính công giáo phổ quát của Giáo hội, và với ý định để cho danh hiệu “người phục vụ” — theo nghĩa thừa tác vụ — ngày càng che mờ danh hiệu “Đức Hồng y.”
—
Giáo hội cần tất cả mọi người — mỗi người nam, mỗi người nữ — và chúng ta cũng cần lẫn nhau.
Không ai trong chúng ta là một hòn đảo, một cái tôi tự trị và độc lập; tương lai chỉ có thể được xây dựng cùng nhau, không loại trừ bất cứ ai.
Chúng ta có bổn phận phải cần mẫn và tỉnh thức, vượt qua cám dỗ của sự thờ ơ.
Tình yêu đích thực luôn thao thức.
Người ta thường nói rằng đối nghịch với tình yêu là hận thù, và điều này đúng, nhưng nơi nhiều người, không tồn tại lòng hận thù có ý thức. Đối nghịch thường ngày hơn với tình yêu của Thiên Chúa, với lòng trắc ẩn và lòng thương xót của Ngài, chính là sự thờ ơ.
Muốn loại bỏ một người nam hay một người nữ, chỉ cần phớt lờ họ. Sự thờ ơ chính là hành động gây hấn.
Sự thờ ơ có thể giết chết. Tình yêu thì không bao giờ chấp nhận thờ ơ.
Chúng ta không thể khoanh tay đứng nhìn, không thể thờ ơ hay chỉ nhún vai với thái độ buông xuôi. Người Kitô hữu chúng ta giang rộng đôi tay ra.
Ngày nay, hơn bao giờ hết, mọi sự đều kết nối với nhau, và hơn bao giờ hết chúng ta cần tái kết nối: những phán xét khắc nghiệt mà tôi còn cưu mang trong lòng đối với anh chị em mình, những vết thương chưa được chữa lành, những lỗi lầm chưa được tha thứ, những định kiến cố chấp, những nghi ngờ giận dữ, những oán giận chỉ làm tổn thương chính tôi — tất cả đều là những mầm mống chiến tranh âm ỉ mà tôi mang trong lòng, những tàn than cần phải dập tắt trước khi chúng bùng lên thành đám cháy và thiêu rụi tất cả chỉ còn tro tàn.
Chúng ta cũng cần phải đi cùng với sự phát triển của đổi mới khoa học và công nghệ bằng một sự công bằng và bao trùm xã hội ngày càng lớn hơn. Trong khi chúng ta khám phá những hành tinh xa xôi, chúng ta cần khám phá những nhu cầu của anh chị em đang ở ngay bên cạnh mình. Chỉ có giáo dục hướng đến tình huynh đệ và tình liên đới cụ thể mới có thể vượt qua được “văn hóa loại bỏ,” không chỉ đối với thực phẩm và vật chất, mà trước hết đối với con người — những con người bị gạt ra ngoài lề bởi những hệ thống kinh tế-kỹ thuật không còn đặt trọng tâm vào con người, mà vào sản phẩm do con người tạo ra.
—
Ngày nay, nhiều người, vì nhiều lý do khác nhau, dường như không còn tin rằng một tương lai hạnh phúc là điều khả thi. Những nỗi sợ này cần được nhìn nhận nghiêm túc, nhưng chúng không phải là bất khả chiến thắng. Chúng chỉ có thể bị vượt qua khi chúng ta thôi đóng kín lòng mình.
Đối diện với những bất công và tủi nhục mà thời đại này dành cho chúng ta, chúng ta cũng bị cám dỗ từ bỏ giấc mơ về tự do. Vì thế, chúng ta rút lui vào những sự bảo đảm mong manh của con người, trong những thói quen an toàn, trong những nỗi sợ quen thuộc. Và cuối cùng, chúng ta từ bỏ hành trình tiến về miền đất hứa của hạnh phúc để quay trở lại ách nô lệ Ai Cập. Sợ hãi là cội nguồn của nô lệ, và là nguồn gốc của mọi hình thức độc tài, bởi vì chính trên sự khai thác nỗi sợ của dân chúng mà sự thờ ơ và bạo lực được nuôi dưỡng. Sợ hãi là cái lồng nhốt chúng ta khỏi hạnh phúc, cướp đi tương lai của chúng ta.
Nhưng chỉ cần một người nam hoặc một người nữ, hy vọng đã có thể tồn tại — và người đó có thể chính là bạn. Rồi sẽ có một “bạn” khác, rồi một “bạn” nữa, và thế là chúng ta trở thành “chúng ta.”
Đối với người Kitô hữu chúng ta, tương lai có một cái tên: hy vọng.
Có hy vọng không có nghĩa là ngây thơ lạc quan, giả vờ không thấy bi kịch của sự dữ. Hy vọng là nhân đức của một trái tim không khép kín trong bóng tối, không dừng lại nơi quá khứ, không lê lết trong hiện tại, nhưng biết nhìn thấy rõ ràng ngày mai.
Kitô hữu phải luôn thao thức và vui tươi như thế.
Hạnh phúc luôn là một cuộc gặp gỡ với tha nhân, và tha nhân luôn là cơ hội cụ thể để gặp chính Chúa Kitô. Việc loan báo Tin Mừng trong thời đại chúng ta chỉ có thể nhờ sự lan tỏa của niềm vui và hy vọng.
Khi có “chúng ta,” hy vọng có tồn tại không? Không, hy vọng đã bắt đầu từ “bạn.” Khi có “chúng ta,” một cuộc cách mạng đã khởi sự.
Khi Tin Mừng thực sự hiện diện — không phải là sự phô trương, không phải là sự lợi dụng, mà là sự hiện diện cụ thể — luôn có một cuộc cách mạng. Một cuộc cách mạng của sự dịu dàng.
Dịu dàng đơn giản chỉ là: tình yêu trở nên gần gũi và cụ thể. Đó là dùng đôi mắt để nhìn tha nhân, dùng đôi tai để lắng nghe tha nhân, lắng nghe tiếng kêu của người trẻ, của người nghèo, của những ai sợ hãi tương lai; lắng nghe cả tiếng kêu thầm lặng của ngôi nhà chung của chúng ta, của trái đất bệnh tật và bị ô nhiễm. Và sau khi đã nhìn thấy, sau khi đã lắng nghe, thì không còn chỉ dừng lại ở lời nói, mà là hành động.
—
Một sinh viên đại học trẻ từng hỏi tôi: “Con có nhiều bạn đại học là người theo thuyết bất khả tri hoặc vô thần. Con phải nói gì để khiến họ trở thành Kitô hữu?”
Tôi trả lời: Không cần nói gì cả. Điều cuối cùng con nên làm là nói. Trước hết, con phải hành động. Rồi người khác sẽ thấy con sống thế nào, con cư xử thế nào, và sẽ hỏi: Tại sao con lại làm như vậy? Lúc đó, con mới có thể lên tiếng.
Bằng đôi mắt. Bằng đôi tai. Bằng đôi tay. Và chỉ sau đó mới bằng lời nói. Trong việc làm chứng bằng cuộc sống, lời nói chỉ đến sau, như một hệ quả. Hãy để dành chỗ cho sự hoài nghi — đó cũng là một chìa khóa quan trọng.
Không ích gì khi một người tuyên bố chắc chắn rằng mình đã gặp Thiên Chúa. Nếu có ai trả lời được hết mọi câu hỏi, điều đó chứng tỏ rằng Thiên Chúa không ở cùng người đó. Nghĩa là họ là những tiên tri giả, những người lợi dụng tôn giáo vì mục đích riêng. Những người lãnh đạo vĩ đại của dân Thiên Chúa, như Môsê, luôn chừa chỗ cho sự hoài nghi.
Chúng ta cần khiêm tốn, cần dành không gian cho Chúa, chứ không phải cho những sự an toàn giả tạo của chúng ta.
Sự dịu dàng không phải là yếu đuối: đó là một sức mạnh đích thực.
Đó là con đường mà những người mạnh mẽ và can đảm nhất đã chọn. Hãy cùng nhau bước đi trên con đường đó, hãy chiến đấu bằng sự dịu dàng và bằng lòng can đảm.
Nguyện chúc bạn cũng chọn lấy con đường ấy, chiến đấu bằng sự dịu dàng và bằng lòng can đảm… Tôi chỉ là một bước chân.
HẾT
Một Ghi Chú Ngắn của Đồng Tác Giả
Carlo Musso
Theo mong muốn của Đức Thánh Cha Phanxicô, tài liệu đặc biệt này ban đầu được dự định công bố sau khi ngài qua đời. Nhưng Năm Thánh Hy Vọng mới và hoàn cảnh của thời điểm hiện tại đã khiến ngài quyết định chia sẻ di sản quý giá này ngay từ bây giờ.
—
Công việc viết lách bắt đầu từ năm 2019, là kết quả của nhiều buổi gặp gỡ, đối thoại, và nghiên cứu các văn bản, tài liệu công khai cũng như riêng tư.
Kết cấu thời gian của tác phẩm phát triển từ những năm đầu tiên đến khi ngài được thụ phong linh mục, rồi chiếu rọi suốt nửa thế kỷ tiếp theo và toàn bộ thời kỳ giáo hoàng của ngài, vốn được nuôi dưỡng sâu sắc từ những cội nguồn ấy. Một câu nói của Gustav Mahler được nhắc trong văn bản cho rằng: “Truyền thống không phải là thờ lạy tro tàn; mà là duy trì ngọn lửa.” Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh: truyền thống không phải là bảo tàng viện; việc cứ quay lại với tro tàn chỉ là hoài niệm của những người cực đoan, nhưng ý nghĩa đích thực của từ đó thì không phải vậy. Truyền thống là một cội rễ, và cần thiết để cái cây tiếp tục sinh hoa kết trái.
Nếu có một từ nào diễn tả được hình ảnh của ngài — một từ luôn hiện lên trong tâm trí tôi trong suốt tiến trình công việc và qua những lần gặp gỡ — thì đó là: Tiến bước!
Một con người sinh năm 1936, mà nếu có ngoái nhìn về quá khứ, thì chỉ để phóng ánh mắt đi xa hơn về phía trước.
Đồng thời, những trang viết này được thực hiện với tinh thần phục vụ, với mong muốn nhiệt thành để trao truyền hai trong số những gia sản bền vững nhất mà con người có thể để lại: cội rễ và đôi cánh.
Theo nghĩa đó, câu chuyện của ngài cũng chính là câu chuyện của chúng ta.
—
Dù đã cố gắng hết sức để tránh sai sót, mọi lỗi lầm hay thiếu sót, nếu có, đều hoàn toàn thuộc về tôi.
Đây là một cuộc hành trình dài và sâu sắc, và tôi cảm thấy vô cùng biết ơn vì nó.
—
Về phần tôi, tôi xin dành những nỗ lực, sai sót và thiếu sót ấy để tưởng nhớ đến ông ngoại tôi, sinh ra ở Piemonte, cùng hai anh em trai bị điều động ra mặt trận vùng cao nguyên Karst trong Thế chiến thứ nhất (chỉ mình ông sống sót trở về), sau đó di cư đến Buenos Aires sau Thế chiến thứ hai, và yên nghỉ tại Cochabamba, Bolivia, trong một “nghĩa trang cho người ngoại quốc,” từ lâu trước khi tôi chào đời. Cũng xin kính dâng lên bà ngoại và mẹ tôi, những người đã không kịp đón ông trở về.
Đó là lý do vì sao tên tôi là Carlo.
Carlo Musso, biên tập viên, từng là Giám đốc biên tập mảng phi hư cấu của Piemme và Sperling & Kupfer (thuộc Tập đoàn Mondadori), và sau đó sáng lập nhà xuất bản độc lập Libreria Pienogiorno. Trong sự nghiệp của mình, ông đã biên tập nhiều tác phẩm bán chạy quốc tế của Đức Giáo hoàng Phanxicô, khởi đầu với cuốn Tên của Thiên Chúa là Lòng Thương Xót, được xuất bản tại một trăm quốc gia và dịch ra ba mươi hai ngôn ngữ.
(Để đọc toàn bộ 25 chương TỰ TRUYỆN HY VỌNG của Giáo Hoàng Francis
xin bấm vào: TỰ TRUYỆN HY VỌNG)
