Tiếng và chiếc
Bài Phong kiều dạ bạc của Trương Kế được cụ Tản Đà phóng tác thành thơ:
Trăng tà tiếng quạ kêu sương
Lửa chài cây bến còn vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
Theo ngâm sĩ Hồ Điệp thì “Trăng tà chiếc quạ kêu sương” mới đúng trong nguyên tác của cụ Tản Đà mà bà có trong tay. Vì “chiếc” mới gợi lên ý thê lương của con chim lạc bầy trong đêm vắng cùng người lữ khách mất ngủ ở dưới đò.
Đồng thời tránh lập lại hai chữ: “Tiếng quạ và tiếng chuông”.
Viết hoa tước vị
Có viết hoa tước vị, cấp bậc, chức vụ hoặc biệt hiệu không? Mặc dù điểm này từng đề cập ở phần viết hoa tu từ, song giờ đây cũng nảy thêm thắc mắc.
Viết Đại úy Út Đen hay đại úy Út Đen hoặc đại úy Út đen?
Viết Xuân tóc đỏ hay Xuân Tóc Đỏ nhỉ?
(Nguồn: e-cadao.com)
Da Bà Bầu
Da Bà Bầu là tên của một con đường trong Chợ Lớn. Tên đường này làm nhiều người ngạc nhiên vì không phải tên của một danh nhân nào. Nghĩa thực sự của Da Bà Bầu là quán của bà Bầu dưới gốc…cây da.
(Phạm Đình Lân)
Người xưa cảnh cũ
Đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn (trước 1956 tên là Colonel Grimaud) khởi đầu từ ngã tư có rạp xi-nê Khải Hoàn nơi gặp nhau của ba con đường Nguyễn Trãi, Cống Quỳnh, Phạm Ngũ Lão. Đường có chợ Thái Bình, có rạp xi-nê Thanh Bình, tòa soạn nguyệt san Văn, nhà in Nguyễn Đình Vượng.
Xóm Sáu Lèo, một bên là dẫy tường Nhà ga hỏa xa Sài Gòn, một bên liền một dẫy năm, bẩy nhà in, tòa soạn báo như nhà in Thư Lâm Ấn Quán, tạp chí Phổ Thông của ông Nguyễn Vỹ, tòa soạn nhà in tuần báo Điện Ảnh, nhật báo Tiếng Vang của ông Quốc Phong, tòa soạn nhà in Thế Giới, tòa soạn nhà in báo Sài Gòn Mới của bà Bút Trà..v..v..
(Hoàng Hải Thủy – báo Sài Gòn Nhỏ)
Tiếng Việt sao lắt léo thế
Về cách biến thể của những câu nói, chỉ cần 6 tiếng “Tôi bảo anh về nhà nó”, người Việt có thể sắp xếp thành 74 (bẩy mươi tư) câu không giống nhau :
Tôi bảo anh về nhà nó
Tôi bảo nó về nhà anh
….
Tôi bảo nó anh về nhà
Anh bảo tôi về nhà nó
(Duyên Hạc – Trau giồi tiếng Việt)
Ca dao
Trong ca dao dân gian có câu:
Sáng trăng em tưởng tối trời
Em ngồi em để sự đời em ra
Sự đời bằng cái lá đa
Đen như mõm chó, chém cha sự đời.
Bốn câu trên xuất xứ từ sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn:
Minh nguyệt muội tưởng hắc dạ
Muội tọa, muội khỏa thế sự xuất
Thế sự như diệp đa
Hắc tựa khẩu khuyển, trảm phụ thế sự
Những người muôn năm cũ
Tập thơ Ta thấy hình ta những miếu đền của Mai Thảo có bài “Không hiểu” được khắc trên mộ bia của chính ông ở Nam Cali:
Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi
(Nguyễn Văn Quảng Ngãi – Dõan Quốc Sĩ, một tâm hồn…)
Tại sao gọi là rượu vang?
Tranh dân gian Đông Hồ, mầu đỏ lấy từ lá cây vang mầu đỏ.
Vì vậy sau này rượu đỏ (vin) của người Pháp được gọi là rượu vang chăng?
(Phụ chú: Biết đâu lại đúng!)
Hỏi ngã
Tiếng An Nam ta giọng lên giọng xuống có đến tám âm, vì cớ ấy nên lúc trước đặt chữ Quốc ngữ phải đặt ra năm dấu: huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã.
Ngày nay ở Bắc kỳ cũng dùng đủ năm dấu. Còn ngày xưa, các ông tiền bối ở Nam kỳ ta như ông Trương Vĩnh Ký, ông Huỳnh Tịnh Trai cũng viết Quốc ngữ đủ năm dấu, không hề bỏ dấu ngã.
Nhưng mà vì lâu đời rồi giọng nói đổi lần đi, ngày nay người Nam kỳ ta chỉ nói được bốn dấu mà thôi, không nói được dấu ngã, cũng như nhiều người không nói được vần “V” vậy. Đã không phát âm (prononcer) được thì chẳng biết lấy gì làm tiêu chuẩn để mà phân biệt dấu ngã và dấu hỏi. Song theo lẽ thì không bỏ được, bởi vì sự phân biệt của chữ ta nó có một phần ở đó.
Muốn viết cho đúng dấu hỏi dấu ngã thì người ta bày cách như vầy: Hãy đọc tiếng nào mà nghe nó chìm xuống như cái gáo trong ang nước chìm luôn đi, ấy là dấu hỏi; còn tiếng nào chìm xuống rồi lại như cái gáo nổi lên, ấy là dấu ngã. Phân biệt như vậy là rành lắm, và cái thí dụ ấy thật là tài tình, song nói thiệt mà nghe, cái phương pháp ấy không theo được.
Không theo được là vì mình đã không phát âm được, không đọc được, thì còn làm thế nào biết nó là nổi hay là chìm?
Chỉ có một phương mà thôi, là: Phải giở tự điển Trương Vĩnh Ký ra mà học. Hễ chữ nào hỏi thì theo hỏi; chữ nào ngã thì theo ngã.
Trong chúng tôi có người nào viết Quốc ngữ đúng, cũng chỉ dùng một phương thần hiệu ấy mà thôi.
(Phan Khôi – Về chữ Quốc Ngữ)
Chữ và nghĩa
Ẩu đả, ẩu tả – Nhiều người dùng lộn hai từ này. Hai chữ này đều “ẩu” nhưng chữ Hán khác nhau. Ẩu đả là đánh nhau, trong chữ Ẩu có bộ thù là ngọn giáo. Ẩu tả, nghĩa là làm bậy bạ; chữ ẩu có bộ khẩu nghĩa là nôn mửa, còn chữ tả nghĩa là đi tiêu phân lỏng vừa ẩu vừa tả thì nó tùm lum ra (giống như thượng thổ, hạ tả).
(Ngô Nhân Dụng – Phiếm khảo)
Quán cóc
Thú thật lúc Hồ Dzếnh đưa tôi vào quán cóc bên lề đường, mời tôi một chai lave với một tô mì khô hai vắt. Đợi tôi ăn hết tô mì, Hồ Dzếnh hỏi tôi:
– Cậu thấy thế nào?
– Anh nói cái món mì này hả?
Tôi thành thật cho Hồ Dzếnh biết là cái thứ mì này thua xa mì Hà Nội. Đói thì ăn hết vậy thôi chứ không thấy ngon gì hết.
Hơn 20 năm, bao nhiêu biến đổi, giờ này nếu Hồ Dzếnh còn sống chắc cũng đã già yếu lắm… không rõ anh có còn nhớ câu chuyện trong một quán cóc vô danh đường Nguyễn Văn Thinh Sài Gòn? Riêng tôi thì sau hơn hai chục năm lăn lóc trong làng báo miền Nam, những quán cóc lề đường của Sài Gòn đã trở thành một kỷ niệm không bao giờ có thể quên. Số thời gian la cà trong quán cóc của tôi có thể nói là ngang với thời gian ngồi trong các tòa soạn viết bài.
Sài Gòn đổi mới, nên Sài Gòn dẹp bỏ những quán cóc đó. Chuyện này đối với những người khác thì chẳng có ý nghĩa gì, nhưng với tôi đó là một trong số những tin buồn từ quê nhà đưa sang. Bởi từ hình ảnh những quán cóc đó, tôi nhớ lại những con đường quen thuộc Sài Gòn mà tôi đã qua lại nhiều lần trong một ngày, những con đường mang tên Phạm Ngũ Lão, Võ Tánh, Lê Thánh Tôn, Phát Diệm. Nhớ đến những bảng hiệu Tiếng Vang, Nghệ Thuật, Tia Sáng, Trắng Đen, Kịch Ảnh, những buổi trưa cùng một số anh em từ các tuần báo đổ về họp mặt. Mỗi buổi trưa trở thành một buổi hội khó quên. Biết bao nhiêu bộ biên tập đã được khai sinh từ những buổi trưa họp mặt đó, bên cạnh những đĩa tôm khô, củ kiệu, những đĩa xì oát, những tô mì khô, những trái soài tượng chấm mắm ruốc, những trái ổi xanh bên những chén muối ớt đỏ tươi, những con khô mực nằm kề bên chén tương pha trộn hai màu đen đỏ, những dãy vỏ chai 33 sắp hàng theo chiều dọc chiều ngang của từng chiếc bàn gỗ ọp ẹp…
Bây giờ, nhiều lúc thấy thương, thấy nhớ, thấy thèm hết sức cái không khí quán cóc những buổi trưa nào ở Sài Gòn thuở xưa.
(Thanh Nam – Hồi ức về thi sĩ Hồ Dzếnh)
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Con gái, đàn bà toàn diện là:
“Trưa diện, chiều diện, tối diện”.
Tục ngữ Ta và Tầu
Chồng ăn chả, vợ ăn nem
Công yếu bột bột, bà yếu miến
(Ông muốn ăn bánh, bà muốn ăn…mì)
(Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh)
Gỡ rối tơ lòng
Bà Tùng Long là người đầu tiên khởi xướng mục “Gỡ rối tơ lòng” trên nhật báo Sài Gòn và “Tâm tình cởi mở” trên tờ Tiếng Vang.
Bà tên thật là Lê Thị Bạch Vân. Trước bà học Đồng Khánh, Huế, sau học trường Gia Long (trường áo tím). Năm 1952 bà dậy Việt văn và Pháp văn tại trường Tân Thịnh, Đạt Đức, Les Lauries. Khi viết “feulleton” cho báo bà lấy bút hiệu là Tùng Long và bà có khoảng 50 tác phẩm đã xuất bản như Tình duyên, Tình và nghĩa, Giòng đời..v..v..
(Trần Yên Hòa – báo Sài Gòn Nhỏ)
Ngộ Không
(Sưu Tập)
