ngộ không;cnlv

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 365)

Thành Nhà Hồ (1) Thành nhà Hồ nằm trên hai xã Vĩnh Long và Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Thành được xây dựng vào thời Trần Thuận Tông (1388 – 1398). Thành Nhà Hồ còn có tên gọi khác là thành Tây Đô. Theo Đại Việt sử ký toàn thư cho biết

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 364)

Chữ nghĩa làng văn Những chữ dùng để chỉ kẻ hầu người hạ đã tùy hoàn cảnh xã hội mà thay đổi. Chữ con nhài, nàng hầu tương đối lâu đời nhất được dùng trong các nhà quan. Sang đến thời Pháp thuộc có chữ con sen, chị vú, anh phu xe, rồi anh tài

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 360)

Giai thoại làng văn Xuân Diệu là người rất chu đáo, thiết thực, tiết kiệm đến tỉ mỉ, chi tiết. Những lần tôi đến anh vào buổi chiều, mải nói chuyện đến gần tối, anh thường giục tôi về, vì đường thì xa, đi lại nguy hiểm. Anh nói: “Có thể ở nhà vợ lo

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 358)

Giai thoại làng văn Chế Lan Viên một thời, dựa thế Tố Hữu cũng hách lắm. Tô Hoài gọi là thằng nặc nô của đảng. Hồi chỉnh huấn văn nghệ sĩ, Chế Lan Viên làm tổ trưởng, nói với Nguyễn Tuân: ông tưởng ông to lắm à? Tôi phụ trách ông kia mà! Họp chấp

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 357)

Đoạn Trường Tân Thanh Đoạn Trường Tân Thanh, sáng tạo dựa vào tác phẩm cổ của đời Minh có tên là Kim Vân Kiều, truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (hoặc Thanh Tâm tài tử), cuốn truyện nầy bản sao chép tay hiện còn lưu giữ tại Thư Viện trường Viễn Đông Bác Cổ, Pháp.

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 356)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ Nếu biết rằng em đã lấy chồng Xây đền, lập miếu cúng hồn vong Nguyện cầu thập phương, tam thế cõi Van vái cho em sớm…góa chồng Chữ nghĩa làng văn Huế là biến thể “kẻ Hũe” (kẻ: một cộng đồng người), của người Chăm xưa, sống khu vực

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 355)

Cóc ba năm lại quay đầu về núi  Trong Từ điển thành ngữ Việt Nam có câu thành ngữ“cóc ba năm lại quay đầu về núi”. Hình thức gốc của câu này là “cáo chết ba năm quay đầu về núi” như ai nấy đều biết. Đâu có thể nào tự tiện đổi “cáo” thành

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 353)

Bạch diện thư sinh Đời nhà Tống, có người tên là Trầm Khánh Chi, từ nhỏ đã ôm chí lớn, giỏi về bài binh bố trận. Vua Tống muốn mở mang bờ cõi, sai nhóm Vương Huyền Mô đem quân Bắc phạt. Trầm Khánh Chi can ngăn, đưa ra trường hợp của nhiều vị vua

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 352)

Tục ngữ Tầu Thượng sàng phu thê, hạ sàng quân tử (Lên giường là vợ chồng, xuống giường là quân tử) (Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh) Lợn Nên lưu ý là về lợn, vốn từ vựng tiếng Việt rất dồi dào. Không những dồi dào mà còn chi li: lợn có nhiều loại khác

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 351)

Giai thoại làng văn 54-75 Nguyễn Thụy Long với tôi (Cung Tích Biền) có cái số viết cùng một tờ báo, rất lâu dài như Nghệ Thuật, Khởi Hành, Sống, Đời, Sóng Thần, Độc Lập, Đông Phương… Sàigòn xưa [trước 1975 nay là …xưa rồi], có một cái vui là có những con đường nhiều

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 350)

Ca dao và lịch sử Khi Lê Lợi dấy binh chống Minh, khởi đầu ở vùng Thanh Hóa, sau chiếm lĩnh Nghệ An mở rộng đất đai. Sau đấy, người dân được cổ võ cho cuộc di dân vào vùng này: Ðường vô xứ Nghệ quanh quanhNon xanh nước biếc như tranh họa đồAi vô

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 349)

Phan Yên Báo Nhiều nhà nghiên cứu đều cho rằng Phan Yên Báo viết bằng chữ Hán được xuất bản năm 1868, do ông Diệp Văn Cương chủ trương biên tập, Nguyễn Trường Tộ làm chủ nhiệm, về nội dung như Gia Ðịnh Báo lúc đầu (Số 1 ra ngày 15-4-1865). Tờ báo nầy về sau

Đọc Thêm »
Search
Lưu Trữ