ngộ không;cnlv

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 331)

Đơn vị đo lường Tiếng Việt tuân thủ cách viết SI (tiêu chuẩn quốc tế). Dấu phẩy (,) dùng để phân chia phần số nguyên với phần số lẻ. (thí dụ, “ông ta cao 1,60 m) Dấu chấm (.) dùng để góp từng ba chữ số trong phần số nguyên cho dễ đọc. (thí dụ, “dân số

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 330)

Chữ nghĩa làng văn III Cầm thử bất cứ một cuốn đặc san nào đó xuất bản ở hải ngoại mà xem. Khỏi cần coi kỹ, chỉ cần đọc tựa của mấy bài viết không thôi là cũng đủ thấy ngậm ngùi, xót dạ và buồn rầu quá cỡ: Quê xưa – chốn cũ, thầy

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 329)

Tiếng Việt cổ Một số chữ Việt có âm đầu “ph”, ngày xưa người Việt đọc là “b“. “Phòng” đọc theo âm tiền Hán Việt là “buông”, từ buông là buồng. “Buồng” nay thành “phòng”. “Phiền” (toái) là buồn, “phọc” là buộc..v..v. (Nguyễn Ngọc San – Cơ sở ngữ văn Hán Nôm). Nguồn gốc tiếng

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 328)

A Di Đà Phật Trong thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu có câu: “Thỉnh ông Phật tổ A-Di Đà”. “A” có nghĩa là vô. “Di Đà” có nghĩa là lượng. A Di Đà Phật là tiếng Phạn, là lời niệm mong khi viên tịch được trở về cõi cực lạc (nguyên nghĩa “vô

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 326)

Chữ nghĩa làng văn Hôn phu hôn thê: “Hôn” là cưới, “phu” là chồng, “thê” là vợ. Trong chữ “phu” và chữ “thê” đã có nghĩa của chữ “hôn” rồi, cho nên gọi “hôn phu” và “hôn thê” là để chỉ người chồng người vợ là phi lý. Gọi “hôn lễ” (lễ cưới), “hôn phối”

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 325)

Thiền ngôn Ra đời hai tay trắng,  Lìa đời trắng hai tay. Sao mãi nhặt cho đầy, Túi đời như mây bay…  Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ Trăng hôm nay cao quá, Anh muốn hôn vào má. Trăng hôm nay cao tít, Anh muốn hôn vào…Trăng hôm nay mới nhú, Anh muốn hôn vào… 1955 tuần báo Người

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 324)

Nguồn gốc tiếng Việt I  Dân tộc ta, với ngàn năm lịch sử, có cùng chung một gốc, cùng chung một tiếng nói. Ngoại trừ một số dân thiểu số còn dùng thổ âm và một số địa phương dùng phương ngữ hay phát âm có đôi chút sai biệt, chúng ta đều nói, nghe

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 323)

Văn hóa du mục Văn hóa Việt từ thời nhà Lê sau này lấy Nho giáo làm quốc giáo. Trong đó có tư tưởng “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” với “nam tôn nữ ti”, hay “dương…thiện âm…ác”. Ác hơn nữa là văn hóa du mục Tầu sang nước ta, các cụ ta

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 322)

Những câu đối hay Nguyễn Tử Mẫn, thường được gọi là Huyện Hiệp Hoà, sinh năm 1820 và mất năm 1901, có một câu đối: Sáng sáng ăn sáng rồi, cầm quyển mới, kỳ cui ký cúi viết vài trương, đoạn thu gương mắt, xếp khăn tay, giắt bút vào tam sơn, ngả lưng ngáy

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 321)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ Cha ông xưa đúc kết được kinh nghiệm sống và truyền khẩu cho đời con cháu mai sau qua ca dao và thành ngữ…Nay con cháu mai sau đời sau chế tác “lung tung, trống kèn” những thành ngữ, danh ngôn cho riêng họ : • Trăm năm bia đá cũng

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 318)

Giá sách cũ Nhóm Bách Khoa chọn tòa soạn ở đường Phan Ðình Phùng do nhà văn Huỳnh Văn Lang sáng lập. Sau giao toàn quyền việc điều hành cho ông Lê Ngộ Châu. Ông Châu không phải là nhà văn, cũng không hề là nhà báo. Nhưng ông Lê Ngô Châu là người có

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 317)

Giai thoại làng văn Theo sách Dã sử của Hoài Sơn chép thì năm Gia Long 1819, Minh Mệnh lúc đó là đông cung thái tử, một buổi trưa hè nằm ngủ ở hồ Tĩnh Tâm, mơ thấy một người học trò tên là Giả. Người ấy đội mũ cỏ, cầm một cây gậy đâm

Đọc Thêm »
Search
Lưu Trữ