Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 325)

Thiền ngôn

Ra đời hai tay trắng, 

Lìa đời trắng hai tay.

Sao mãi nhặt cho đầy,

Túi đời như mây bay… 

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Trăng hôm nay cao quá, 
Anh muốn hôn vào má. 
Trăng hôm nay cao tít, 
Anh muốn hôn vào…
Trăng hôm nay mới nhú, 
Anh muốn hôn vào…

1955 tuần báo Người Việt

Năm 1954 di cư vào Nam. Hoạt động trong Hội sinh viên, cùng Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sỹ Tế, Quốc Sỹ chủ trương nguyệt san Lửa Việt (Sài gòn). Năm 1955 cùng các bạn làm tuần báo Dân Chủ của Vũ Ngọc Các và Tuần báo Người Việt chỉ ra được bốn số vào cuối năm 1955.

– Số 4 ra số đặc biệt với chủ đề Sáng Tạo có 66 trang.

Người Việt bộ mới in cỡ 20cm x 27 cm, bìa hai màu, hiện diện ở nửa sau của năm 1955 là một tập hợp đầu tiên giữa Thanh Tâm Tuyền với những người bạn: Mai Thảo, Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sĩ Tế, Quách Thoại .
Thời điểm tuần báo Người Việt có mặt là một năm sau hiệp định Geneve: chia Việt Nam làm hai ở vĩ tuyến 17, lấy sông Hiền Lương làm ranh giới. Báo chí cũ vẫn tiếp tục xuất bản, nhưng nay có thêm nhiều báo mới của những cây bút di cư và những người bỏ hàng ngũ bên kia trở về.

Ở Sài gòn, báo chí có một đời sống rất sinh động. Những báo chuyên về văn nghệ có: Tờ Văn Nghệ Tự Do với các cây viết: Nguyễn Hoạt, Như Phong, Bùi Xuân Uyên, Triều Đẩu, Tam Lang. Tờ Quan Điểm với các cây bút: Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng, Vương Văn Quảng… Tại Huế có tờ Mùa Lúa Mới của Đỗ Tấn, Võ Phiến … Nguyệt san Văn Nghệ Mới của Nguyễn Văn Xuân, Phan Du, Trần Lê Nguyễn…

(nguồn Dương Ngiễm Mậu)

Bạm

Bạm: tướng dữ

(tướng bạm trợn)

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San,  Đinh Văn Thiện)

Nha Trang

Kể từ thế kỷ thứ hai, dưới thời Lâm Ấp (Chiêm Thành), hải cảng Kamran  và Ya-Tră là nơi thuyền buôn từ Ấn Độ tấp nập đến buôn bán, và truyền bá văn minh, văn hoá của Ấn Độ. Đạo Bà La Môn và Phật Giáo (Tiểu Thừa) thịnh hành ở Nam Chiêm. Như vậy, Phật Giáo đã có ở Kamran và Ya-Tră từ thế kỷ thứ 2, văn hoá Ấn Độ được truyền sang Bắc Chiêm, vốn bị ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa (nhà Hán). Như vậy, dưới thời Chiêm Thành, Ya-Tră vừa là trung tâm tôn giáo (Tháp Bà), vừa là hải cảng phồn thịnh.

1653: Thị trấn Ya-Tră phát âm từ tiếng Chàm thành Nha Trang.

“Nha Trang cổ” được lịch sử Chàm nhắc đến vào năm 653 khi nữ hoàng Jagadharma mất, dân Chàm lập tháp Po Nagar (Tháp Bà) ở Cầu Xóm Bóng Nha Trang ngày nay. 

(Xem…“Kamran”…ở phần dưới”)

Con gái bẩy nghề

Thìa la thìa lẫy con gái bẩy nghề gồm:

Ngồi lê, dựa cột, theo trai, ăn quà, trốn việc, hay nằm, đánh cháu.

Đường cái quan

Đường thiên lý là tên gọi cũ của Quốc Lộ 1A (QL1A) ngày nay. Thời nhà  Nguyễn còn có tên là “đường cái quan”, chạy dài từ Lạng Sơn  từ cây số 0 ở Ải Nam Quan  (nay gọi là “Hữu Nghị Quan”) đến mũi Cà Mâu (thị trấn Năm Căn). Đường thiên lý được thiết lập và xây dựng qua nhiều triều đại. Đường cái quan (hay đường thiên lý) vượt 5 con đèo hiểm trở là đèo Tam Điệp, đèo Ngang, đèo Hải Vân, đèo Cù Mông và đèo Cả.

Đèo  Cả nằm giữa tỉnh Phú Yên (Tuy Hòa) và tỉnh Khánh Hòa (Nha Trang), dài 9 km, cao 153 m.

(Nguồn: Vương Sinh)

Vấn đề phát âm

Một vấn đề khá quan trọng vẫn tồn tại, đó là vấn đề phát âm. Từ đầu thế kỷ này (tức thế kỷ 20), một người nước ngoài học tiếng Việt đã có thể nêu lên một nhận xét nửa đùa, nửa thật sau đây:

“Người Bắc thường phạm lỗi về phần “đầu”.

Người Trung về phần “bụng”.

Người Nam về phần “tay chân”

(Đặng Thái Mai – Tiếng Việt, một biểu của sức sống dân tộc)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Bước tới nhà em, bóng xế tà
Đứng chờ năm phút, bố em ra
Lơ thơ phía trước, vài con chó
Lác đác đằng sau, chiếc chổi chà
Sợ quá anh chuồn, quên đôi dép
Ông già ngoác mỏ, đứng chửi la
Phen này nhất quyết mua cây kiếm
Trở về chém ổng đứt làm ba!!!

Bấm

Bấm: nhịn

(cố bấm ăn sôi, sôi lại hẩm)

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San,  Đinh Văn Thiện)

Manh mối chữ Việt cổ

Bài “Ký một giấc mộng” trong sách Thánh Tông di thảo giả định rằng người Văn Lang có chữ viết của mình, chữ “ngoằn ngoèo như hình con giun con dế, nay ta không thể đọc được”.
Gần đây có học giả phát hiện ra rằng, hồi cuối thế kỷ XIX, tạp chí Hàn Lâm của nước Anh có đăng một bài của Terrien De La Couperie. Trong bài đó tác giả nói Sĩ Nhiếp buộc người Việt Nam phải học chữ Hán và y cấm người Việt Nam dùng chữ tượng thanh của mình (London 1887).

(Trần Văn Giàu – Chữ quốc ngữ La-tinh…)

Con đĩ đánh bồng

Người Tầu gọi các cô làm nghề múa hát, ca xướng là “kỹ nữ”.

Chữ “kỹ” bộ nữ của tiếng Hán được ta đọc Nôm là: đĩ.

Kỹ nữ của Tầu hóa thân thành con đĩ của Ta.

Xưa kia khi đình làng mở hội tế lễ có kiệu, cờ quạt, cờ biển. Đi sau có phường đồng văn vừa đánh trống vừa múa hát và được gọi là con đĩ đánh bồng.

Con đĩ ngày trước của Nguyễn Công Trứ, Trần Tế Xương “Chơi cho thủng trống tầm bông” hay “Cũng đĩ ra đĩ rạc” trong bài Đĩ rạc đi tu hay Dương Khuê với “Hồng, Hồng, Tuyết, Tuyết…” là kỹ nữ hát ả đào chú không phải là con đĩ…làm đĩ ngày nay.

(Nguyễn Dư – Tân Văn)

Tục ngữ Ta và Tầu

Nhìn núi này trông núi nọ

Nhất tâm tưởng ngật thiên nga nhục

(Suốt ngày tơ tưởng thịt…thiên nga)

(Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh)

Bảy chữ, tám nghề

Tuy sách vở không kê khai rõ ràng nhưng có thể nói rằng nước ta vốn có nhiều nghề. Nghề hạ tiện là nghề gì? ” Đó là những nghề làm mất nhân phẩm con người như ” bé đi câu, lớn đi hầu, già đi làm khách nợ “, làm nho lại tại các công đường, làm mõ, xướng ca…” (Toan Ánh, Phong tục Việt Nam).

Sau nghề đặc biệt của các ông là nghề cũng không kém đặc biệt của các chị em. Nghề ” bán trôn nuôi miệng “, màu mè gọi là nghề mại dâm. Theo truyền thuyết thì mại dâm là nghề xưa nhất của loài người. Từ ngày con người có mặt trên trái đất, tại miền Đông Á, các thế hệ đàn anh đàn chị không ngừng đúc kết kinh nghiệm truyền lại cho đàn em.

Này, con thuộc lấy làm lòng
Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề…

(Kiều).

” Bảy chữ, tám nghề ” là một bộ kinh, có thể đã được soạn trước cả Ngũ kinh của Nho giáo. ” Bảy chữ ” là bảy mẹo quyến rũ khách làng chơi, gồm có: khấp (khóc), tiễn (cắt tóc), thích (xâm tên), thiêu (đốt hương thề), giá (hẹn hò), tẩu (đi trốn), tử (doạ chết). “

“Tám nghề” tám cách gãi đúng chỗ ngứa khách hàng, gồm có:

Kích cổ thôi hoa (dùng cho khách nhỏ con), kim liên song toả (khách to béo), đại xiển kì cổ (khách nóng tính), mạn đả khinh khao (khách chậm chạp), khẩn thuyên tam trật (khách mới vỡ lòng), tả trì hữu trì (khách thạo đời), toả tâm truy hồn (khách si tình), nhiếp thần nhiệm toả (khách lạnh lùng). Không phải là nhà nho thì khó mà thuộc lòng được bộ cẩm nang. Cô Kiều được Tú Bà cho thực tập ” bảy chữ, tám nghề “.

(Nguyễn Dư – Chimviet.free.fr)

Trích…“Tập làm văn”

Đề:  Tả người thầy em yêu quý nhất.

Thấm thoắt đã ba mùa hoa ban nở, thầy giáo phải tạm biệt chúng em để về xuôi. Cả làng cả bản đứng tiễn thầy vô cùng ngậm ngùi. Riêng em đứng nhìn theo thầy cho đến khi thầy xa dần, xa dần, đến khi nhỏ bằng…con chó em mới quay lại bản.

Gốc gác địa danh Huế: tiếng Chàm

Hầu hết sách báo bấy lâu nay đều cho rằng Huếlà do đọc trại chữ Hoátiếng Hán trong tên gọi Thuận Hoá. Đúng thế chăng? Điều có thể khiến nhiều người ngạc nhiên:

Địa danh Huếxuất xứ từ tiếng Chàm.

Trước thế kỷ XIV, chính xác là trước năm Đinh Mùi 1307 lúc triều Trần chính thức tiếp quản hai châu Ô và Ry (Lý) thì: Người Chàm tại lưu vực sông Hương gọi địa bàn mình trú ngụ bằng tên Hoé

Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi chi tiết vào năm Nhâm Thìn 1472, niên hiệu Hồng Đức thứ III: “Ra sắc chỉ cho Thái bộc tự khanh xét họ tên của bọn người Chiêm.”. Nhiều gia đình người Chiêm, tức Chăm, mang họ Bá, Bạch, Cái, Chế, Hàm, Hứa, Ma, Ông/Ôn, v.v., lưu lại xứ Thuận Hoá bấy giờ vẫn gọi đất này là Hoé giống trước kia và giống cách phát âm của bà con họ ở Ninh Thuận lẫn Bình Thuận ngày nay. Địa danh cổ xưa đó về sau được Dictionnaire Căm – Vietnamien – Français(Từ điển Chăm- Việt-Pháp)của Gerard Moussay xuất bản tại Phan Rang năm 1971 ghi là Hwe.

Hwe tiếng Chăm có nghĩa hương thơm, chẳng mấy chốc chuyển thành Huế tiếng Kinh. Điều đó khiến hậu thế ngộ nhận rằng Huế do Hoá đọc trại ra.

(Phanxipăng – Thử xét lại nguyên địa danh Huế)

Thơ Bút Tre và Hồ Xuân Hương

Anh đi công tác Ban Mê
Thuột xong một cái, anh về với em

Tiếng Việt, dễ mà khó

Biện pháp biến âm đã dẫn đến một hiện tượng khá thú vị trong tiếng Việt: Hiện tượng từ tương tự, tức những từ hao hao gần nhau về cả ngữ âm lẫn ngữ nghĩa.

Chẳng hạn các chữ bớt và ngớt; đớp, tợp, hớp và đợp.

Bẹp, xẹp, lép, khép, nép và nẹp

Xoăn, xoắn, quăn và quắn

Tụt, rụt và thụt.

Véo, nhéo, và béo…v.v…

(Nguyễn Hưng Quốc – e-cadao.com)

Cam Ranh

Kamran phát âm từ tiếng Chàm thành Cam Ranh.

Chữ nghĩa làng văn

Cũng giống như Thơ Bút tre hiện nay, từ văn phong thơ “Bút Tre thật” dân gian đã sáng tác cả trăm, ngàn câu thơ “Bút Tre mới”. Thơ nôm Hồ Xuân Hương đi vào cuộc sống dân Việt Nam ta đã ngót 200 năm với bản in sớm nhất là “Xuân Hương di cảo” in năm 1914; các bản khắc ván “Xuân Hương thi tập” in năm 1921và 1923. Thời điểm xuất hiện”Xuân Hương thi tập” là thời vua Minh Mạng (1820-1840)

Bản chép tay “Quốc Văn Tùng Ký” soạn vào thời Tự Đức đến đầu Duy Tân; các bản chép tay “Xuân Hương thi sao”, “Tạp thảo tập”, “Quế Sơn thi tập”, “Xuân Hương thi vịnh”, “Liệt truyện thi ngâm” và “Lĩnh Nam quần hiền văn thi văn diễn âm tập”.

Vậy bài nào là chính gốc thơ Hồ Xuân Hương trong số 213 bài đang được lưu hành khá rộng rãi? Sau hơn 40 năm nghiền ngẫm…Ông Kiều Thu Hoạch, một chuyên gia về chữ Nôm đã công bố cuốn “Thơ Nôm Hồ Xuân Hương”, sau khi dịch nghĩa, dịch thơ, chú giải, chú thích đã loại trừ được một số bài thơ bị gán cho bà chúa thơ Nôm như các bài: “Đánh cờ người”, “Tát nước”, “Cái nợ chồng con”, “Đánh đu”, “Bà đanh”, “Đồng tiền hoẻn”, “Ông Cử Võ”, v…v…. thì chỉ còn với 84 bàii.

(Nguồn Nguyễn Khôi)

Bầm

Bầm: nhiều

(uống hơi say mà ngủ bầm)

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San,  Đinh Văn Thiện)

Phù sinh

Phù sinh dùng như chữ phù du.

Phù du là giống côn trùng sống ở dưới nước. Hóa thân có cánh, bay lên được và có một cuộc sống ngắn ngủi. Người ta thường ví đời người ngắn hạn như kiếp phù du.

Trong bài Uống rượu tiêu sầu của Cao Bá Quát có câu:

“Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy – Cảnh phù du trong thấy cũng nực cười”.

Ngộ  Không

(Sưu Tập)

Bài Mới Nhất
Search