Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 354)

Phố Kỳ Lừa

Đứng trước các di tích đã được truyền tụng lâu nay, tôi (Trần Công Nhung) chợt thắc mắc: “Đồng Đăngphố Kỳ Lừa,…”
Thực tế Đồng Đăng là một huyện lỵ sát biên giới phía Bắc, xa Lạng Sơn trên 10km, cách Ải Nam Quan chừng 3km. Phố Kỳ Lừa nằm ngay thị xã Lạng Sơn, bên kia sông Kỳ Cùng.

Như thế câu ca dao trên đúng chăng? Có người cho biết chợ Lạng Sơn có cái cầu nhỏ gọi là cầu Kỳ Lừa. Có thể mấy câu trên có từ thuở Lạng Sơn và Đồng Đăng là một?

(Trần Công Nhung – Về thăm Lạng Sơn)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Cờ bạc là bác thằng…ăn trộm.

Văn miếu, văn chỉ

Nơi thờ phụng Khổng tử thường gọi là văn miếu (ở huyện) và văn chỉ (ở tổng).

Riêng tại kinh đô được gọi là Quốc tử giám vì là trường dậy học cho vương tôn công tử.

(Nguyễn Ngọc Phách – Chữ Nho & đời sống mới)

Ải quan

Quỷ Môn Quan là một địa điểm hiểm trở, nhỏ hẹp trong Ải Chi Lăng. Ngạn ngữ Trung Hoa có câu: “Quỷ Môn Quan, Quỷ Môn Quan! Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn”.

(Nguồn: Vương Sinh)

Tiếng Việt, dễ mà khó


Con số còn thay đổi được, huống gì những từ khác. Như từ “không”, chẳng hạn. Phủ định điều gì, người ta có thể nói “không”, mà cũng có thể nói “hông”, nói “khổng”, nói “hổng”. Xuất hiện trong câu nghi vấn, chữ “không” ấy có thể có thêm một biến âm khác là “hôn”: “nghe hôn?” Chưa hết. Một số âm vị trong cụm “nghe hôn” ấy bị nuốt đi; “nghe hôn” biến thành “nghen”, rồi đến lượt nó, “nghen” lại biến thành “nghén” hay bị rút gọn lần nữa, thành “nhen”, rồi “hen”, rồi “hén”, rồi “nhe”, v..v…

(Nguyễn Hưng Quốc – e-cadao.com)

 Câu đối dân gian

Ba nhà sư ngồi ở chính điện tụng kinh gõ mõ. Bỗng thấy bốn cô thôn nữ đội gạo lên chùa, bèn bỏ cả kinh kệ mà ỡn ờ trêu ghẹo:

Tứ nữ đồng hành, tung hoành bát khẩu

Tức thì một trong bốn cô đối đáp:

Tam nam đồng tọa, thượng hạ lục đầu

Sông Thương

Sông Thương – Một con sông ở bên Tàu (có thể là sông Tương ở Động Đình Hồ?). Khi bị trích ở Thương giang, Đỗ Phủ có câu thơ rằng “Nhất ngọa Thương giang kinh tuế vản”.

Ở Bắc kỳ gần biên giới Tàu, cũng có một con sông tên gọi là sông Thương chảy vào sông Thái Bình. Nghĩa là năm đau liệt ở Thương giang, năm cùng tháng tận rồi mà chưa về nhà.

Và ca dao ta có câu:

Ai lên xứ Lạng cùng anh

….

Đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Thương

Hàm ý mộng ở Lạng Sơn, mơ tưởng đi đò sông Thương về với người thân.

(Phan Mạnh Danh – Thập ngũ san)

Ải quan

Pha Lũy hay Bắc ải là tên ải Nam Quan do người Việt gọi, ở thị trấn Đồng Đăng, phía bắc tỉnh Lạng Sơn. Người Trung Hoa vẫn gọi là trấn Nam Quan. Năm 1953, Mao Trạch Đông đổi là “Mục Nam Quan” và sau này có tên là “Hữu Nghị Quan” hay “Cửa Khẩu Hữu Nghị” (Vị trí cây số 0 ngày nay lùi sâu vào nội địa Việt Nam, khác với vị trí cũ). Ải Pha Lũy là nơi phòng ngự biên cương, chống sự xâm nhập của giặc Hán từ phương bắc.

(Nguồn: Vương Sinh)

Địa danh miền Bắc trong văn học sử

Phú Thọ

Phú Thọ được coi là vùng đất tổ cội nguồn của Việt Nam. Tương truyền tại nơi đây các vua Hùng đã dựng nước nên nhà nước Văn Lang – nhà nước đầu tiên của Việt Nam, với kinh đô là Phong Châu, tức xung quanh thành phố Việt Trì ngày nay.

Thời An Dương Vương, Phú Thọ thuộc Mê Linh, Phong Châu.

Thời nhà Lý, nhà Trần, quận, huyện thời Bắc thuộc được thay thế bằng các đạo (lộ, trấn, xứ, tỉnh), dưới đạo là các phủ, châu, huyện. Phú Thọ thuộc lộ Tam Giang.

Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), đổi tất cả các trấn trong nước là tỉnh: Tỉnh Phú Thọ.

Khi đó tỉnh Phú Thọ gồm có 2 phủ lớn là Đoan HùngLâm Thao. Phú Thọ có 3 con sông lớn chảy qua: sông Hồng, đoạn từ Lao Cai đến Việt Trì được gọi là sông Thaosông Lô và sông Đà, chúng hợp lại với nhau ở thành phố Việt Trì.

Đôi mách

Đôi mách : nói xấu, đưa chuyện

(ngồi lê đôi mách

Người hỏi đôi mách giả mặt thật hay)

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

“Nõn nường” hay ”nõn nà”?

Rất nhiều từ điển hiện nay đã giải thích nghĩa của từ “nõn nường” tương đương với “nõn nà”
Nhưng bản chất của “nõn-nường” (cũng nói “nõ-nường”) là gì?

Tục truyền rằng ở làng La (Hà Đông), vào ngày rã đám, dân làng tổ chức một ngày rước rất long trọng rồi đến một giờ nhất định tắt đèn đi để cho ông già, bà cả và thanh niên, thiếu nữ thả cửa sờ soạng nhau. Hồi gần đây, những làng như Miếu Trò (Phú Thọ) và Di Hậu (Hưng Hóa) giữ tục “rước cái nõn nường” trong những ngày tết cũng là nằm ở trong tinh thần khuyến khích đoàn kết, cầu nguyện cho sinh sản tăng gia, phồn thịnh. 


Nõn là bộ phận sinh dục của đàn ông, nường là bộ phận sinh dục của đàn bà.

Trong cuộc lễ, dân làng để nõn và nường làm bằng gỗ lên kiệu rước, có nam đồng quan và nữ đồng quan đi giật lùi trước kiệu vừa đi vừa hát “Ba mươi sáu cái nõn nường; Cái để đầu giường, cái để đầu tay.” Cuối cùng, các vị chủ tế tung nõn nường lên trên trời, trai gái đổ xô ra cưởp, gái mà được cái nõn, trai mà được cái nường thì may mắn vô cùng và nếu có sự gì trục trặc hay không tổ chức được buổi rước vì nguyên nhân gì đó thì cả làng lo sợ vì có nhiều phần chắc chắn là năm ấy không may mắn.

Đờ

Đờ: sờ mó

(đờ tay đến)

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Chữ nghĩa làng văn

Chợ búa: chợ búa đều chỉ nơi họp chợ mua bán nhưng ngày trước có phân biệt nghĩa.

Chợ là nơi có lều quán, họp theo phiên (có chợ họp mỗi tháng 6 phiên hoặc 12 phiên).

Búa thường họp trên một đám đất rộng, không có lều quán, không có phiên liếp che.

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mõ

Đặt tay vào chỗ thường quen đặt

Quen đặt hầu như nghiện mỗi ngày

Quen đặt mà lòng không ngớt sóng

Đặt tay mỗi bận mỗi chơi vơi

Chữ Hán

Chữ Hán, chữ Nho hay chữ Tàu là một. Nước Tàu gồm năm giống dân Hán, Mãn, Mông, Tạng và Hồi hợp thành.

Riêng giống Hán mạnh và thông minh đã đồng hóa bốn sắc dân kia và dùng thứ chữ của họ làm quốc tự Triều đại nhà Hán (202 TTL – 220 STL) là triều đại huy hoàng , do đó người Tầu rất tự hào và họ xưng là “Hán tộc”, chữ viết gọi là “chữ Hán”.

(Trần Bích San – Văn Khảo)

Hội Nõ Nường

Ở miếu Trò Trám gần Đền Hùng, Phú Thọ thờ vật sinh linh thực khíLễ hội nõ nường

Dân làng ngợi ca cái hèm: to và dài như cái giằng xay. Nường rộng và sâu như cối xay lúa. Ngày 12 tháng giêng âm lịch Lễ hội nõ nường trai gái đối đáp nhau tại miếu thờ:

Gặp đây anh mới hỏi nàng

Cái gì lủng lẳng một gang trong quần

Chàng đố thì thiếp thưa rằng

Cái đeo lủng lẳng là giằng cối xay

***

Ước gì em hóa ra trâu

Anh hóa ra chạc xỏ nhau cả ngày

Ước gì em hóa lưỡi cày

Anh hóa thành bắp lắp ngay bây giờ

Đó là biểu tượng của ngày lễ hội nõ nường, không còn quan niệm “dâm” và “tục” nữa.

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Tục ngữ: Không phải những lời thô tục mà những lời hay ý đẹp.

(Nguồn: từ sổ tay của một người Mỹ học tiếng Việt)

Kiến văn tiểu lục – Lê Qúy Đôn III

“Đạo ngô ác giả thị ngô sư – Đạo ngô mỹ giả thị ngô tặc”

(ai chê ta là thầy ta, ai khen ta là kẻ thù ta)

Địa danh miền Bắc trong văn học sử

Phủ Lý

Dưới thời Lê vào khoảng năm 1624, Thượng thư Nguyễn Khải đã cho chuyển thủ phủ Trấn Sơn Nam từ thôn Tường Lân huyện Duy Tiên phủ Lỵ Nhân đến đóng ở thôn Châu Cầu thuộc tổng Phù Đạm, huyện Kim Bảng, phủ “Lỵ Nhân”, Trấn Sơn Nam Thượng.

Đến năm 1832, vua Minh Mạng năm thứ 12 bỏ “trấn” thành “tỉnh”, phủ “Lỵ Nhân” được đổi là phủ Lý Nhân thuộc tỉnh Hà Nội.

Đến tháng 10 năm 1890 (đời vua Thành Thái năm thứ 2) tỉnh Hà Nam được thành lập từ “các huyện của Hà Nội và Nam Định”.

Tên tỉnh Hà Nam ra đời từ chữ Hà của Hà Nộichữ Nam của Nam Định ghép lại và Phủ Lý trở thành tỉnh lỵ của tỉnh.

Địa danh miền Bắc trong văn học sử

Thái Bình

Vùng đất tỉnh Thái Bình ngày nay, vào thời Bắc thuộc trước thế kỷ 10, thuộc hương Đa Cương (vùng đất từ sông Luộc ra đến biển) của quận Giao Chỉ. Tới nhà Hậu Lê, thời vua Lê Thánh Tông về sau vùng đất Thái Bình ngày nay thuộc Trấn Sơn Nam.

Đến cuối thời nhà Lê Trung hưng sang đầu nhà Nguyễn, vùng này thuộc Trấn Sơn Nam Hạ. Năm 1832, vua Minh Mạng năm thứ 12 cắt hai phủ Thái Bình, Kiến Xương nhập vào tỉnh Nam Định, nhập phủ Tiên Hưng vào tỉnh Hưng Yên.

Tỉnh Thái Bình được thành lập vào năm thứ hai niên hiệu Thành Thái (1890), từ hai phủ Kiến Xương và Thái Bình của tỉnh Nam Định và lấy thêm huyện Thần Khê của phủ Tiên Hưng thuộc tỉnh Hưng Yên. Huyện Thần Khê lúc đó được nhập vào phủ Thái Bình, sau đó phủ này được đổi tên thành Thái Ninh. Đến năm 1894, hai huyện Hưng Nhân và Duyên Hà, phần còn lại của phủ Tiên Hưng cũng được nhập về tỉnh Thái Bình từ Hưng Yên, và phủ Tiên Hưng được tái lập trực thuộc tỉnh Thái Bình.

Sau đó, các phủ bị loại bỏ, các huyện có sở lỵ phủ thì đổi theo tên của phủ kiêm quản trước đó: Thanh Quan thành Thái Ninh, Trực Định thành Kiến Xương, Thần Khê thành Tiên Hưng.

Chữ nghĩa làng văn

Những từ có vần “ut” thường diễn tả “sự chuyển động từ không gian này đến  không gian khác”.

Thí dụ: đút, rút, hút, mút, sút, trút, tụt, vút, cút, v..v…

Nếu chúng ta chịu khó quan sát, tìm hiểu, chúng ta sẽ phát hiện những chữ tuy rất quen thuộc chúng ta sử dụng hàng ngày lại ẩn giấu những quy luật bí ẩn lạ lùng nhưng không kém phần thú vị

(Nguyễn Hưng Quốc – Tiếng Việt dễ mà khó)

Ngộ  Không

(Sưu Tập)

Bài Mới Nhất
Search