
Waiting for Godot – Tranh: Anthony Breslin (Nguồn: www.art-prints-on-demand.com)
CHỜ
(Tưởng nhớ GS Phùng Văn Tửu – Thầy ta!)
1.
Còn gì phi lí hơn khi một gã mù được đấng tối cao ban cho sứ mạng dẫn dắt
Chúng dân toàn những ngây ngô đui què mẻ sứt
Ú ớ ngôn từ
Rào rạt ngôn từ
Ồn ã ngôn từ
Dòng thác ngôn từ hoa mắt chóng mặt rối bời và không tài nào hiểu được
Ngôn từ dẫn dụ
Ngôn từ mê dụ
Ngôn – từ – phi – giao – tiếp
Những luồng thanh âm cục cằn thô lỗ
Thoắt chuyển thành lộng lẫy hào nhoáng và rỗng
Ô những luồng thanh âm vị thanh âm
Đui què mẻ sứt câm điếc mù lòa tự nguyện theo sợi dây dẫn dắt
Mù lòa là triết học
Mù lòa là tư tưởng
Mù lòa là mĩ cảm
Mù lòa là tiếng gọi thiêng liêng…
.
Và kìa sứ mệnh trên vai mang vác
Một – va – li – cát lộn nhào
Tung tóe
Vãi rơi
Cả một sự nghiệp vô nghĩa tầm vóc tuyệt vời…
.
Ôi! S.Becket
Ồ “Chờ Godot” kiệt tác!
Thức tỉnh lương tri lương năng
Cả nhân loại thảng thốt
Cả nhân loại ngác ngơ
Để rồi bất động
Để rồi câm nín
Để rồi nhẫn nhục đợi chờ…
2.
Thời trẻ ta đọc “Chờ Godot”
Tuyệt nhiên không hiểu
Ta dụt dè thưa cùng Sư phụ thuộc hàng bụng chứa vài bồ chữ
Sư phụ mặt tỉnh bơ – tôi cũng như anh, không hiểu mà hiểu để làm gì!
Năm tháng qua đi
Đầu xanh tuổi trẻ đã thành một thủa
Sư phụ ta từ rất lâu đã thành người thiên cổ
Godot vẫn còn vẹn nguyên lửng lơ ẩn hiện chập chờn ma ám
Gương mặt tỉnh bơ cùng câu trả lời lơ lửng của Thầy cứ bám riết trong ta nơi óc não
Hiểu để làm gì?
Đúng – sai
Tốt – xấu
Bi – hài
Cười – khóc
Vinh – nhục
Địch – ta
Thắng – thua
U mê – thức tỉnh…
Giả tạm thôi mà tất thảy đều giả tạm
Vĩnh viễn nhân gian một khối hỗn mang
Vĩnh viễn mù mờ đích đến
Vĩnh viễn rỗng không ý nghĩa
Chờ – cái – không – thể – chờ!
Hi – vọng – những – gì – không – bao – giờ – có
Tôi – chờ – và – tôi – tồn – tại
Bạn cũng vậy thôi
Chúng – ta – chờ – và – chúng – ta – tồn – tại!
ÔI MỘT NGÀY ĐẸP TRỜI
1.
Người thứ nhất xua tay, nhún vai, khẽ lắc đầu
Người thứ hai giơ tay lên trời, cười nhạt và cũng nhún vai
Người thứ ba mặt gần như vô cảm cũng khẽ lắc đầu
Người thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ chín, thứ mười…
Cũng gần như thế
Không ai lên tiếng
Ngôn từ chạy trốn từ khi nào?
Ngôn từ lạnh cóng
Ngôn từ đã chết lâm sàng
Ngôn từ bất lực
Thời khiếm thanh
Không muốn nói
Không có chi cần nói
Không có chi đáng nói
Hay
Không thể nói
Ngôn ngữ thể hình đã đủ
Lắc đầu
Nhún vai
Xua tay, nhếch mép
Vô cảm mặt nạ mặt người…
2.
Không tay bắt mặt mừng
Không tặng sách mới in
Không đọc thơ mới viết
Không buôn dưa không tiếu lâm chính trị chính em
Không ngẩn ngơ không lưu luyến không buồn không vui
Và hình như càng không ngại ngần sợ sệt
Nhún vai
Nhếch mép
Xua tay
Hết nhu cầu biểu đạt…
3.
Bia cỏ chiều
Cà phê sáng
Bạn bè mấy chục năm
Lạ
Chưa từng thế bao giờ
Chờ – Go – đô?
Trước – cửa – luật – pháp?
Hóa – thân?
Người – xa – lạ?
Hay Ác – hoa?
Hay Những – thanh – âm – vụn – vỡ?
Hay Nhà – búp – bê?
Linh – sơn hoang vắng
Sứ giả Thần báo thù
Những bầy ruồi hắc ám hoàng hôn.
THỦY NGUYỆT
1.
Thủy nguyệt thực hư ảo diệu Tây Hồ
Đêm tịch lặng
Nhớ tiền nhân
Nghe vọng âm từ trăng nơi đáy nước
Thăng Long những vụn vỡ tiếng gà
Ngẩn ngơ cổ tự
Ngẩn ngơ đền đài miếu phủ
Ngẩn ngơ những vương phi cung nữ
Thi nhân úp mặt vách nhà
Sen cuối mùa te tua xơ xác…
Chỉ còn chỉ còn trăng soi đáy nước
Chưa nỡ bỏ xứ ra đi!
2.
Nghe nói
Lí Bạch khi cao hứng đã nhảy dòng Trường Giang vớt trăng
Thi nhân chếnh choáng tưởng nhầm trăng đuối nước
Thủy nguyệt giăng bẫy
Lí Bạch lìa cõi thế
Trăm năm truyền tụng
Ngàn năm truyền tụng
Phút – giây – nhầm – lẫn – tuyệt – kì!
Hậu thế ai nấy đều hết lời ngợi ca
Dường như ngôn từ cạn kiệt
Nhưng hình như không kẻ noi gương Thi tiên Lí Bạch
Thủy nguyệt hình như hết phép nhiệm màu
Hồ Tây trăng soi đáy nước
Cô độc và buốt lạnh.
ĐỒNG VỌNG
Bỗng vang lên từ thăm thẳm cõi lòng
“Bài – thơ – của – một – người – yêu – nước – mình”(*)
Buồn thương mênh mang
Buồn thương quặn thắt
Trầm trầm giọng
Bi thương như nghẹn ngào tiếng nấc
Không trào tuôn nước mắt
Mà lòng dạ đầm đìa
Mà rối bời những câu hỏi
Trời thì thăm thẳm xanh
Rờn rợn xanh
Nắng xối bỏng rát ròn khô tóc
Sầm sập mưa chết cây thối đất
Trống trải những ngả đường không thấy một bóng người
Vất vưởng liêu xiêu tiếng hát ầu ơ da diết nhớ
Nước ơi!
Đất nước ơi!
Khổ đau tiếng gọi đêm sâu
Thương nhớ mười hai bến nước
Buốt giá sông Gianh
Một trăm năm mươi năm chiến địa kinh hoàng
Bến Hải mươi sải nước
Ba mươi năm đoạn trường nắng dãi đôi bờ
Ba mươi năm trần ai khổ lụy bi ai câu hò bờ Nam bờ Bắc
Thạch Hãn leo lẻo dòng trong sao rơi lạnh buốt
Mĩ Chánh – một thủa đầm đìa ngơ ngác những hồn oan…
.
Bài thơ của một người yêu nước…
Bài thơ của một người mãi mãi ra đi không hẹn ngày về
Bài thơ của một người vất vưởng tàn phế thời hậu chiến
Bài thơ của một người dường như đã lãng quên tất cả
Bài thơ của một người bị tất cả lãng quên
Bài thơ của một người không còn gì để mất
Bài thơ của một người giang rộng bé nhỏ vòng tay muốn ôm tất cả
Bài thơ của một người như muốn quên đi tất cả
Bài thơ của một người không thể quên bất cứ một điều gì
Bài thơ của tôi
Bài thơ của bạn
Bài thơ của chúng ta
Bài thơ viết lên trời xanh lồng lộng gió
Bài thơ viết trên mặt đất âm âm tử khí hình như còn rất đỗi nặng nề
.
Ơi sông Gianh!
Ơi sông Bến Hải!
Ơi mười hai bến nước!
Đừng bao giờ
Đừng bao giờ
Trở lại nỗi đoạn trường bi ai sầu thảm
.
Bài thơ của tôi
Bài thơ của bạn
Tiếng yêu thương
Xin hãy được lắng nghe
Xin hãy làm sợi dây kết nối
Thơ của bạn xin được là của tôi
Đặng Tiến (Thái Nguyên)
—-
*Tác phẩm nổi tiếng của Trần Vàng Sao. Lưu ý: thấy không ít người vì lí do nào đó nhớ thành “Bài thơ yêu nước mình”!