Miễn kiếm được tiền dưới chế độ độc tài thì ông ta cũng chẳng thấy có vấn đề gì”: Francis Fukuyama nói về Trump, dân chủ và việc thay đổi quan điểm.
Nhà tư tưởng chính trị từng nổi tiếng với luận điểm rằng dân chủ tự do cuối cùng sẽ thắng thế. Ba mươi bảy năm sau, ông nhìn lại điều mình thực sự muốn nói — và giải thích vì sao hành trình tư tưởng của mình lại đi theo một hướng khá hiếm là từ bỏ cánh hữu để sang cánh tả.
Không phải nhà trí thức nào cũng được Captain James T. Kirk trong StarTrek nhắc đến như Francis Fukuyama. Jonathan Freedland | TQS lược dịch
Trong phim Star Trek VI: The Undiscovered Country, ra mắt năm 1991, Kirk, do William Shatner thủ vai, đã nói với vị thủ tướng Klingon rằng:
“Có người cho rằng tương lai đồng nghĩa với sự cáo chung của lịch sử.”
Rồi ông nói thêm:
“Nhưng xem ra lịch sử vẫn còn nhiều chuyện để kể tiếp.”
Vào thời điểm bộ phim này ra mắt và trong nhiều năm sau đó, những lời ám chỉ như vậy xuất hiện khắp nơi. Chúng đều nhắm đến một lập luận nổi tiếng đến mức gần như không cần giải thích: “sự cáo chung của lịch sử” — the end of history của Fukuyama.
Cụm từ ấy bắt nguồn từ một bài tiểu luận dài 15 trang của Fukuyama, viết khi ông mới 36 tuổi và đang làm việc tại một viện nghiên cứu chính sách. Bài được đăng vào mùa hè năm 1989 trên tờ The National Interest, một tạp chí chính sách đối ngoại Mỹ bảo thủ, với nhan đề “The End of History? — Lịch sử đã cáo chung?
Ba năm sau, khi ông viết ý tưởng này thành sách, dấu hỏi đã biến mất. Cuốn sách mang tên The End of History and the Last Man — Sự cáo chung của lịch sử và con người cuối cùng.
Nhưng lúc đó chẳng mấy ai còn để ý đến những khác biệt tinh tế ấy.
Bài tiểu luận đưa Fukuyama vào hàng ngũ những nhà tư tưởng nổi tiếng nhất thế giới, mở đường cho sự nghiệp của ông với tư cách là một nhà khoa học chính trị, triết gia và chuyên gia về chính sách đối ngoại lẫn kinh tế chính trị. Các chính phủ và giới doanh nghiệp khắp nơi tìm đến ông để tham khảo ý kiến, từ ban lãnh đạo hãng Ford cho đến nhà độc tài Libya Muammar Gaddafi.
Nhưng trong cuốn hồi ký mà ông vừa viết, chính bài viết làm nên tên tuổi ấy cũng trở thành một gánh nặng mà Fukuyama phải mang theo suốt cả sự nghiệp.
Cuốn sách không hẳn là một cuốn tự truyện theo nghĩa thông thường. Fukuyama chủ yếu nhìn lại hành trình tư tưởng của chính mình. Ông thuật lại những lần ông thay đổi quan điểm, những bất đồng trong giới học thuật, cũng như những cuộc tranh luận về chính trị và triết học. Còn đời sống riêng tư thì ông nhắc đến rất ít; ngay cả cuộc hôn nhân kéo dài 40 năm cũng chỉ được nói sơ qua.
Tôi hỏi Fukuyama bây giờ cảm thấy thế nào về bài viết đã làm nên tên tuổi của mình. Có lẽ cũng giống như ban nhạc Beatles và bài She Loves You; họ biết ơn bài viết đó vì nó đem lại thành công, nhưng cũng mệt mỏi vì suốt đời cứ bị yêu cầu chơi đi chơi lại bài.
“Có lẽ tôi cũng biết ơn bài viết và mệt mỏi,” Fukuyama, nay 73 tuổi, trả lời qua cuộc gọi video từ California, trên một chiếc máy tính mà chính ông tự ráp.
“Tôi chắc chắn sẽ không được chú ý đến mức đó nếu chọn một đề tài khác. Vì vậy cái tựa đề của bài viết đó quả thật đã tạo ra tính đặt biệt.”
Nhưng nó cũng đem lại cho ông không ít phiền toái.
“Trên mạng, tôi nhận đủ thứ bình luận ngớ ngẩn. Tôi đăng hình mấy đứa cháu của tôi lên, người ta cũng nói: ‘Ủa, tôi tưởng cháu chắt cũng đã cáo chung rồi chứ.’”
Một sự hiểu lầm kéo dài 37 năm
Theo Fukuyama, vấn đề bắt đầu từ một sự hiểu lầm kéo dài suốt 37 năm, gần như ngay từ khi bài tiểu luận được công bố.
Chỉ vì cụm từ quá đơn giản và dễ nhớ — “sự cáo chung của lịch sử” — nhiều người tưởng ông muốn nói rằng khi Chiến tranh Lạnh sắp kết thúc và Bức tường Berlin sắp bị sụp đổ, thì xung đột giữa con người, thậm chí cả những biến cố lớn của lịch sử, cũng sắp chấm dứt.
Các cuộc tranh luận lớn đã ngã ngũ. Chiến tranh rồi sẽ không còn nữa. Và cả thế giới cuối cùng sẽ sống dưới một nền dân chủ tự do kiểu Mỹ.
Trong cuốn sách mới của ông với tựa đề In the Realm of the Last Man, Fukuyama viết rằng quan điểm của ông thường bị xem như biểu hiện của một sự “ngu ngơ của một chủ nghĩa tự do tất thắng.” Suốt hơn ba thập niên, gần như tuần nào cũng có người hỏi liệu ông có muốn rút lại luận điểm ấy hay không.
“Tôi đã viết hàng ngàn chữ và trả lời hàng chục cuộc phỏng vấn chỉ để giải thích về chuyện này.”
Đó cũng là một lý do khiến ông viết hồi ký:
“Tôi muốn một lần cuối cùng có thể nói cho thật rõ: tôi đã muốn nói gì, tôi đã sai ở đâu, và ở những điểm nào tôi vẫn tin rằng mình đúng.”
Thực ra, lập luận ban đầu của Fukuyama tinh tế hơn rất nhiều. Nó bắt nguồn từ tư tưởng Hegel và chịu ảnh hưởng mạnh từ Alexandre Kojève, nhà tư tưởng đã diễn giải Hegel và cũng là người Fukuyama mượn cụm từ “sự cáo chung của lịch sử.”
Theo Kojève, lịch sử “cáo chung hay kết thúc” không có nghĩa là từ đó chẳng còn gì xảy ra.
Mà nó có nghĩa là nhân loại đã tìm ra một nguyên tắc tổ chức xã hội mà chưa có hệ thống tư tưởng hay chính trị nào khác có vẻ vượt trội hơn trong việc đáp ứng những nhu cầu căn bản của con người.
Kojève từng, nửa đùa nửa thật, cho rằng lịch sử đã kết thúc vào năm 1806. Đó là năm Napoleon đánh bại quân Prussian tại Jena-Auerstedt và đưa Bộ luật Napoleon, một sản phẩm pháp lý của Cách mạng Pháp, vào trung tâm châu Âu cũ.
Theo Fukuyama, cuộc cách mạng Pháp năm 1789 đã đặt nền móng cho trật tự tự do hiện đại bằng hai nguyên tắc căn bản: tự do và bình đẳng — hay bình đẳng trong tự do.
Dĩ nhiên, những nguyên tắc ấy không lập tức trở thành hiện thực.
Ngay khi Napoleon đang đưa quân vào Trung Âu, chính quyền thuộc địa Pháp vẫn đàn áp cuộc nổi dậy của những người nô lệ tại Haiti.
Nhưng theo Kojève, một khi ý tưởng về tự do phổ quát đã xuất hiện, vấn đề chỉ còn là thời gian để những nguyên tắc ấy dần được chấp nhận và trở thành hiện thực ở những nơi khác.
Và “thời gian” ấy có thể kéo dài hàng thế kỷ, với vô số biến cố, kể cả hai cuộc chiến thế giới.
Đó mới là điều Fukuyama muốn nói vào năm 1989.
Ông không nói rằng chế độ dân chủ tự do là hoàn hảo. Ông cũng không nói rằng nó đã có mặt khắp nơi, càng không cho rằng chiến tranh hay các cuộc xung đột sẽ biến mất từ đó.
Điều ông nói là: vào thời điểm ấy, chưa có một mô hình tổ chức xã hội hay chính trị nào cho thấy có thể vượt qua hệ thống dân chủ tự do.
Cho đến nay, Fukuyama vẫn giữ quan điểm đó.
“Trong hơn 30 năm qua, tôi vẫn cố tìm xem liệu có một hệ thống nào khác có thể đáp ứng nhu cầu của con người tốt hơn nền dân chủ tự do hay không. Cũng đã có một vài mô hình được đưa ra, nhưng theo tôi, chẳng có mô hình nào thực sự có sức thuyết phục.”
Ông lấy chế độ thần quyền kiểu của Iran làm ví dụ.
Trung Quốc là một trường hợp đáng chú ý hơn. Một chế độ độc tài có thể quyết định nhanh hơn và, trong một số trường hợp, làm việc có hiệu quả hơn so với một nền dân chủ tự do.
“Vì vậy, với tôi, câu hỏi then chốt là hệ thống ấy có thể tồn tại bền vững hay không? Ba mươi năm nữa, liệu chúng ta có thấy mô hình đó được phát triển rộng rãi ở những nơi khác không? Hiện giờ, câu hỏi ấy vẫn chưa có câu trả lời.”
Nếu trong khoảng một thế hệ tới Trung Quốc chứng tỏ thành công vượt trội so với Hoa Kỳ, xây dựng được một mô hình có thể xuất khẩu và đáp ứng tốt hơn nhu cầu con người, Fukuyama nói ông sẽ “hoàn toàn vui vẻ thừa nhận rằng tiền đề căn bản của mình đã sai.”
Trump và chiếc la bàn đạo đức
Fukuyama cũng thừa nhận rằng ngày nay, hệ thống dân chủ tự do còn lâu mới được mọi nơi chấp nhận như một mô hình chung.
Điều đang bị đe dọa nhiều nhất chính là yếu tố “tự do” (liberal) trong nền dân chủ tự do (liberal democracy). Nghĩa là, một chính quyền dù được đa số dân chúng bầu lên cũng không thể muốn làm gì thì làm. Quyền lực của người thắng cử vẫn phải bị giới hạn bởi luật pháp và các thể chế, đồng thời phải chịu sự kiểm soát và sự kiềm chế của những cơ quan khác.
Theo Fukuyama, người ta chỉ thật sự nhận ra giá trị của những cơ chế kiềm chế quyền lực khi còn nhớ rõ hậu quả của một xã hội trong đó những giới hạn ấy bị xóa bỏ.
Một thế hệ trẻ lớn lên trong hòa bình và thịnh vượng, coi các chế độ độc tài của giữa thế kỷ XX như chuyện xa xưa, có thể không biết hết hiểm họa của một quyền lực không bị kiểm soát.
Nhưng Donald Trump sinh ra chỉ một năm sau khi chủ nghĩa Quốc xã bị đánh bại. Vậy chẳng phải chính ông là bằng chứng cho thấy việc sống gần một thời kỳ lịch sử đen tối không đồng nghĩa với việc người ta sẽ biết trân trọng những hàng rào bảo vệ nền dân chủ tự do hay sao?
Fukuyama trả lời:
“Đó là một trong những câu hỏi tâm lý lớn mà các sử gia trong tương lai sẽ phải tìm cách giải thích. Ông ta rất ngưỡng mộ nước Nga ngày nay và Vladimir Putin một cách kỳ lạ. Ngay từ thập niên 1980, ông ta đã sang Moscow. Ông ta từng bỏ tiền để đăng nguyên một trang trên báo để công kích NATO khi chúng ta vẫn còn trong cuộc Chiến tranh Lạnh.”
Theo Fukuyama, điều ấy có lẽ liên quan đến việc Trump “không có một chiếc la bàn đạo đức nào ngoài lợi ích của chính mình.”
“Về căn bản, điều ông ta quan tâm là mình có kiếm được tiền hay không. Nếu sống dưới một chế độ độc tài mà vẫn kiếm được tiền thì ông ta cũng chẳng thấy có vấn đề gì.”
“Con người cuối cùng” (The Last Man)
Muốn hiểu Fukuyama thực sự nói gì vào năm 1989, chúng ta cần phải đọc phần cuối của bài tiểu luận nổi tiếng ấy.
Ông viết:
“Sự cáo chung của lịch sử sẽ là một thời kỳ rất buồn.”
Theo Fukuyama, một khi câu hỏi căn bản về mô hình chính trị đã được giải quyết trên bình diện tư tưởng, dù trên thực tế còn lâu mới được thực hiện trọn vẹn, thì những cuộc đấu tranh ý thức hệ lớn lao, từng đòi hỏi lòng can đảm, trí tưởng tượng và lý tưởng, sẽ dần nhường chỗ cho những tính toán kinh tế, việc giải quyết không ngừng các vấn đề kỹ thuật, những mối quan tâm về môi trường và sự thỏa mãn ngày càng tinh tế hơn các nhu cầu tiêu dùng.
Trong cuốn sách mới, Fukuyama viết:
“Con người ở điểm cuối của lịch sử thường là một con người không còn đấu tranh, không còn mạo hiểm và cũng chẳng còn tham vọng, kiểu người mà Nietzsche gọi là ‘Con người cuối cùng’. Chúng ta đã sống trong thế giới của Con người cuối cùng từ khá lâu rồi.”
Hiểu theo cách ấy, ngay cả những người không đồng tình với cách Fukuyama nhìn thế giới vào năm 1989 cũng khó phủ nhận rằng ông đã sớm nhận ra một vấn đề về sau sẽ ngày càng trở nên rõ nét.
Các xã hội dân chủ tự do có thể tạo ra sự ổn định và mức sống vật chất tương đối sung túc, nhưng con người vẫn có thể cảm thấy đời mình thiếu sót một thứ gì đó sâu xa hơn.
Fukuyama viện dẫn khái niệm thymos của Socrates, tức là phần con người khao khát được người khác công nhận và tôn trọng.
“Con người cuối cùng” có thể đã được bảo đảm đầy đủ những nhu cầu vật chất căn bản, nhưng vẫn có thể nổi giận nếu cảm thấy mình không được công nhận và tôn trọng đúng với những giá trị mà mình tin rằng mình xứng đáng có.
Nói đơn giản hơn, đó là khát vọng được người khác công nhận và đối xử như một con người có phẩm giá ngang hàng với mọi người.
MAGA và cảm giác bị coi thường
Ngày nay, đọc những đoạn ấy, người ta khó tránh khỏi liên tưởng đến làn sóng dân túy dân tộc chủ nghĩa đang nổi lên ở nhiều nơi, đặc biệt là phong trào MAGA tại Hoa Kỳ.
Fukuyama nói:
“Phần đông những người tham dự các cuộc mít tinh của Donald Trump cảm thấy họ không được giới tinh hoa tôn trọng.”
Theo Fukuyama, một trong những lý do giúp Trump vươn tới đỉnh cao chính trị là ông rất rõ tâm lý của những người cảm thấy mình bị coi thường, rồi biết cách nói với họ bằng một thứ ngôn ngữ khiến họ cảm thấy được thấu hiểu, chứ không phải bị những người ở trên nhìn xuống.
“Ông ta không dùng những từ ngữ cao siêu. Ông ta kể những câu chuyện ngớ ngẩn mà họ thấy buồn cười, trong khi những người có học thì thấy rùng mình.”
Theo Fukuyama, đây là một thách thức quan trọng đối với Đảng Dân chủ.
“Nếu thực sự muốn giải quyết vấn đề tôn trọng một cách bình đẳng… thì phải biết cả lắng nghe lẫn nói chuyện.”
Ông cho rằng nhiều chính trị gia thuộc giới tinh hoa đơn giản là không biết lắng nghe những người khác mình.
“Họ không chịu nghe những gì người bình thường nói, và họ cũng không biết phải nói với người bình thường như thế nào.”
Ông nhắc đến việc Đảng Dân chủ đang tìm kiếm những ứng cử viên xuất thân từ tầng lớp lao động để tham gia cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11 này.
Nhưng theo Fukuyama, muốn người ta cảm thấy mình được tôn trọng và đối xử bình đẳng, việc chỉ phân phối lợi ích vật chất một cách công bằng vẫn chưa đủ. Chính trị còn đòi hỏi một cách giao tiếp với người dân khiến họ cảm thấy mình được lắng nghe và tôn trọng.
Trong bối cảnh đó, ông đánh giá cao Rahm Emanuel, cựu thị trưởng Chicago và một gương mặt có thể tham gia cuộc đua tổng thống năm 2028. Fukuyama mô tả Emanuel là người có phong cách của một tay “tay đấu đá chính trị lão luyện” và “rất hài hước”.
Khi người ta cần một cuộc đấu tranh để thấy đời mình có ý nghĩa
Một đặc điểm khác của “Con người cuối cùng” là nhu cầu tìm thấy một chính nghĩa, một cuộc đấu tranh đủ lớn để đem lại ý nghĩa cho đời mình.
Ngay từ năm 1989, Fukuyama đã dự đoán rằng rồi sẽ xuất hiện một nỗi hoài niệm sâu sắc về thời đại của những cuộc đấu tranh lớn lao.
Trong hiện tại, dự đoán ấy gần như là tiên tri.
“Về căn bản, chúng ta đang sống trong một thời kỳ rất kỳ lạ,” Fukuyama nói.
Ông lấy thí dụ của nước Đức ở thập niên 1930.
“Họ vừa thua một cuộc chiến khủng khiếp, với hàng triệu người chết. Sau đó họ phải chịu nạn siêu lạm phát. Tiền tiết kiệm của người dân bị xóa sạch. Đường phố thời Cộng hòa Weimar đầy bất ổn. Vì vậy, tuy không phải để biện minh, chúng ta ít nhất có thể hiểu phần nào vì sao người Đức lúc ấy lại bị những hệ tư tưởng cực đoan cuốn hút.”
“Nhưng đó không phải là thế giới mà chúng ta đang sống vào năm 2026.”
“Thực ra, chúng ta đang sống trong một thời kỳ khá ổn định và hòa bình. Vậy mà cả bên tả lẫn bên hữu đều có những người nói: ‘Đây là thế giới không thể nào tồi tệ hơn.’”
“Tại Mỹ, phe MAGA nói rằng nước Mỹ đang suy tàn, rằng phía bên kia đang hủy hoại đất nước. Nhưng nếu có chút hiểu biết về lịch sử thì thật khó hiểu vì sao người ta có thể nhìn vào thực tại hôm nay theo một cách bi quan đến như vậy.”
Còn phía cánh tả thì sao? Chẳng phải họ cũng xem khủng hoảng khí hậu là một yếu tố góp phần tạo nên cảm giác rằng thế giới đang tiến gần đến ngày tận thế?
Ông nói tiếp:
“Mạng xã hội và Internet nói chung đã tạo ra một khoảng cách khổng lồ giữa đời sống vật chất mà con người thực sự đang sống và thế giới mà họ trải nghiệm trên mạng.”
Ông lấy một số thanh niên trong thế giới manosphere làm ví dụ. Họ dành hàng giờ chơi game, liên tục thấy trên mạng một bức tranh u ám và méo mó về thế giới, trong khi lại khao khát một chính nghĩa đủ lớn để mình có thể sống, thậm chí chết, vì nó.
Điều ấy gợi lại chính câu cuối trong bài tiểu luận năm 1989 của Fukuyama:
“Có lẽ chính viễn cảnh hàng thế kỷ buồn chán sau khi lịch sử cáo chung sẽ khiến lịch sử bắt đầu trở lại.”
Học cách thay đổi quan điểm
Một chương trong cuốn sách mới mang nhan đề On Changing Your Mind — Về việc thay đổi quan điểm.
Nhan đề ấy cũng bật mí đề tài lớn thứ hai trong hồi ký của Fukuyama.
Ông đã trải qua một hành trình chính trị tương đối hiếm: từ cánh hữu sang cánh tả.
Fukuyama từng làm việc trong các chính quyền của Reagan và Bush, từng là học trò của học giả bảo thủ nổi tiếng Allan Bloom, đồng thời thuộc nhóm những nhà tư tưởng tân bảo thủ góp phần xây dựng cơ sở lý luận cho cuộc chiến Iraq năm 2003.
Đến tháng 2 năm 2004, ông công khai rút lại sự ủng hộ đối với cuộc chiến.
Trong cuốn sách mới, Fukuyama thẳng thắn thừa nhận rằng một trong những lý do khiến ông không đoạn tuyệt sớm hơn chẳng liên quan gì đến tư tưởng hay chính sách.
Đơn giản là chuyện nể cả.
Ông không muốn mất những người bạn mà ông quý mến.
Nhưng việc Fukuyama rời bỏ cánh hữu không chỉ bắt nguồn từ chính sách đối ngoại.
Trong khi nhiều đồng nghiệp bảo thủ cũ của ông coi chính phủ chủ yếu là một chướng ngại cần thu hẹp, quá trình nghiên cứu các xã hội trên thế giới khiến Fukuyama ngày càng tin rằng một nhà nước có năng lực là điều không thể thiếu.
Tên của một chương trong sách cho thấy quan điểm của ông đã thay đổi đến mức nào:
“Học cách yêu giới quan liêu.”
Nếu những điều mình tin dẫn đến thảm họa, thì phải xem lại
Tôi hỏi Fukuyama liệu việc ông là người Mỹ gốc Nhật có khiến cách ông nhìn thế giới khác với nhiều người trong Đảng Cộng hòa hay bảo thủ khác hay không.
Cuốn sách dành một đoạn khá xúc động để kể về bà của ông, một picture bride — tức cô dâu được mai mối qua ảnh. Năm 21 tuổi, bà rời Nhật Bản, một mình vượt Thái Bình Dương bằng tàu thủy sang Los Angeles để kết hôn với một người đàn ông xa lạ lớn hơn mình 10 tuổi.
Một người chú của Fukuyama từng gây dựng được một cửa hàng, rồi gần như “trắng tay” khi tài sản bị tước đoạt trong thời kỳ chính phủ Mỹ cưỡng bức người Mỹ gốc Nhật vào các trại tập trung trong Thế chiến thứ hai.
Liệu lịch sử bị kỳ thị của một gia đình thuộc sắc dân thiểu số có khiến Fukuyama nhạy cảm hơn với những vấn đề như vậy không?
“Không, tôi không nghĩ thế,” ông trả lời ngay.
“Suốt đời, tôi cố tránh để người khác nhìn tôi như một người Mỹ gốc Á, bởi tôi không thích kiểu chính trị bản sắc ấy.”
Ông thừa nhận rằng sau vụ khủng bố 11 tháng 9, từng có những tiếng nói bên cánh hữu ở Mỹ đề nghị đưa người Mỹ gốc Arab vào các trại tập trung.
“Và tất nhiên, xét từ lịch sử gia đình mình, tôi thấy điều đó hoàn toàn sai trái. Nhưng tôi không nghĩ lịch sử ấy khiến tôi nhạy cảm hơn với vấn đề này.”
Điều thực sự khiến Fukuyama thay đổi quan điểm là thực tế đã thay đổi.
Dù vẫn tin rằng câu hỏi lớn về mô hình chính trị đã được giải đáp ở cấp độ nguyên tắc, ông cũng hiểu rằng những gì xảy ra ngoài đời vẫn có thể buộc người ta phải xem xét lại niềm tin của mình.
Cuộc chiến Iraq và cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã làm lung lay sâu sắc cách ông nhìn thế giới.
Fukuyama nói:
“Nếu anh là một trí thức, tin vào một số điều về việc sử dụng sức mạnh quân sự trong chính sách đối ngoại và về thị trường kinh tế không bị kiểm soát, nhưng rồi cả hai đều dẫn đến những thảm họa lớn, thì anh phải xem lại một số giả định của mình.”
Với Francis Fukuyama, lịch sử cáo chung chưa bao giờ có nghĩa là con người cũng ngừng suy nghĩ hay ngừng thay đổi quan điểm của mình.
In the Realm of the Last Man của Francis Fukuyama do Profile Books xuất bản, phát hành ngày 8 tháng 9 năm 2026.
Tôi thấy câu kết mới “lịch sử cáo chung chưa bao giờ có nghĩa là con người cũng ngừng suy nghĩ — hay ngừng thay đổi quan điểm của mình” ăn khớp với toàn bài hơn câu cũ, vì nó nối được cả hai dòng suy nghĩ lớn: The End of History và hành trình tư tưởng của Fukuyama.
Jonathan Freedland | TQS lược dịch
*Bài do CTV/TVBH gởi.
