(Tiếp Theo Kỳ Trước))
Sau những gì tôi từng trải qua với Linda Tripp, hơn ai hết tôi hiểu cảm giác một cuộc trò chuyện với một người bạn gái bị phơi ra trước công chúng, bị săm soi, bị cắt khỏi bối cảnh ban đầu rồi đem ra mổ xẻ là như thế nào.
Nhưng dù vậy, chuyện này bắt đầu gặm nhấm tôi.
Tôi nhận ra rằng Hillary Clinton — không giống như tôi vào thời điểm Tripp moi từng bí mật sâu kín nhất và những bất an riêng tư nhất của tôi ra ánh sáng rồi lén lút ghi âm chúng — hoàn toàn biết những tài liệu này đang được tạo ra.
Theo các bản ghi nhớ, chính bà là người yêu cầu Blair lưu giữ lại những ghi chép, hoặc nhật ký, về các cuộc trò chuyện của họ để phục vụ mục đích lưu trữ.
Đúng, tôi hiểu.
Hillary Clinton muốn lưu lại trong hồ sơ rằng bà đã trút giận lên tình nhân của chồng.
Bà có thể đã trách chồng vì hành xử không đúng mực, nhưng tôi thấy cái thôi thúc muốn đổ lỗi cho Người Đàn Bà — không chỉ cho tôi mà cả cho chính bà — thật đáng lo ngại.
Và đáng lo hơn nữa là nó quá quen thuộc.
Với mỗi một vụ ngoại tình trong hôn nhân bị phơi ra trước công chúng — mà rất nhiều trong số đó liên quan đến các chính trị gia nam — dường như người phụ nữ lúc nào cũng là người thuận tiện nhất để gánh lấy hậu quả.
Đúng, những Anthony Weiner và Eliot Spitzer trên truyền hình cáp sẽ làm mọi thứ cần thiết để tỏ ra nhục nhã.
Họ tạm thời rút khỏi đời sống công chúng, nhưng rồi cuối cùng vẫn quay trở lại, sau khi đã để tất cả những chuyện ấy lại phía sau.
Còn những người phụ nữ trong những vụ bê bối như thế này thì trở về với những cuộc đời không dễ dàng sửa chữa đến vậy.
Nhưng còn một tầng nghĩa khác ở đây khiến tôi thực sự bực bội:
Narcissist? Loony?
“Con người tự yêu mình? Con điên?”
Có lẽ bạn còn nhớ rằng chỉ năm ngày trước khi cả thế giới biết đến tên tôi, FBI — sau khi người bạn của tôi, Linda Tripp, tìm đến văn phòng Công tố viên Đặc biệt Kenneth Starr với thông tin về mối quan hệ giữa tôi và tổng thống — đã giăng cho tôi một cái bẫy khủng khiếp dưới dạng một “chiến dịch bắt quả tang” tại khu mua sắm Pentagon City.
Ngày 16 tháng 1 năm 1998, khi tôi mới 24 tuổi, tôi bị dồn vào một phòng khách sạn, với những người thẩm vấn chủ yếu là đàn ông, làm theo chỉ thị của Starr.
Tôi bị ngăn cản liên lạc với luật sư của mình và bị đe dọa rằng tôi có thể phải ngồi tù 27 năm vì đã nộp một bản tuyên thệ phủ nhận mối quan hệ với Clinton, cùng với một số tội danh khác mà họ cáo buộc.
Họ đề nghị miễn cho tôi khỏi mối đe dọa ấy nếu tôi đồng ý thực hiện những cuộc điện thoại có giám sát và đeo máy ghi âm khi nói chuyện với hai người thân cận của tổng thống, và có thể cả với chính tổng thống.
Tôi từ chối.
Việc tôi tâm sự với Linda Tripp đã biến thành một sự phản bội ngoài ý muốn.
Nhưng chuyện này ư?
Đây là sự phản bội của mọi sự phản bội.
Điều đó, tôi không thể làm.
Dũng cảm hay ngu ngốc, có lẽ là một trong hai.
Nhưng tự yêu mình và điên loạn ư?
Những cách mô tả về tôi từ 16 năm trước ấy đã khơi lại những ký ức về những đau đớn trong quá khứ, đặc biệt là những chuyện liên quan đến việc phụ nữ ném sự khinh miệt vào nhau.
Vậy thì, có lẽ bạn đang tự hỏi:
Các nhà nữ quyền khi ấy ở đâu?
Đó là một câu hỏi vẫn làm tôi day dứt cho đến tận hôm nay.
Tôi đã khao khát biết bao một dấu hiệu, dù chỉ là nhỏ nhất, của sự thấu hiểu từ phía những người nữ quyền.
Một chút tình chị em kiểu cũ, thứ sự ủng hộ mà phụ nữ dành cho phụ nữ, thực sự là điều rất cần thiết.
Nhưng chẳng có gì cả.
Xét những vấn đề đang nằm trên bàn — chính trị giới, tình dục nơi công sở — bạn sẽ nghĩ rằng họ hẳn phải lên tiếng.
Nhưng họ đã không làm vậy.
Tôi hiểu thế khó của họ:
Bill Clinton là một tổng thống “thân thiện” với các vấn đề và phong trào vì phụ nữ.
Mọi chuyện càng trở nên phức tạp vì trường hợp của tôi không phải là một vụ “quấy rối tình dục” theo nghĩa thông thường.
Cáo buộc đó đối với Bill Clinton được đưa ra bởi Paula Jones, người đã đệ đơn một vụ kiện khổng lồ chống lại ông.
Tên tôi chỉ xuất hiện bởi vì, nhờ những thành quả mới giành được của phong trào nữ quyền, các cuộc điều tra trong những vụ việc như thế giờ đây được phép mở rộng phạm vi tìm kiếm.
Vụ Paula Jones trở thành một cây gậy để phe cánh hữu dùng nhằm đánh trả những người nữ quyền ủng hộ Clinton:
“Tại sao họ không nhiệt tình ủng hộ một cuộc điều tra về một vụ quấy rối tình dục? Nếu tổng thống là một người Cộng hòa thì sao?”
Những lời cáo buộc đạo đức giả bay khắp nơi.
Một số ít đại diện của phong trào nữ quyền hiện đại cũng có lên tiếng, nhưng khá gián tiếp.
Tuy nhiên, thay vì một sự đối thoại có ý nghĩa, thứ chúng tôi nhận được lại là thế này:
Ngày 30 tháng 1 năm 1998. Ngày thứ chín của vụ bê bối.
Một buổi cocktail tại Le Bernardin, Manhattan.
Những người tham dự gồm các nhà văn Erica Jong, Nancy Friday, Katie Roiphe và Elizabeth Benedict; biên kịch của Saturday Night Live Patricia Marx; Marisa Bowe, biên tập viên của tạp chí trực tuyến Word; nhà thiết kế thời trang Nicole Miller; cựu nữ thống trị tình dục Susan Shellogg; và chủ nhà, Maguy Le Coze, đồng sở hữu Le Bernardin.
The New York Observer đã tập hợp “hội phù thủy” này lại để họ trao đổi những suy nghĩ về Interngate, với nội dung được Francine Prose ghi lại.
Đáng tiếc là người phụ nữ có thể khiến “hội phù thủy” này thực sự hoàn chỉnh lại vắng mặt:
Maureen Dowd — hay“Moremean Dowdy”, như tôi từng gọi bà ấy.
Ngày nay, tôi sẽ sẵn lòng gặp bà ấy để cùng uống một ly.
Ồ, giá mà lúc đó tôi có mặt ở bữa tiệc cocktail đó:
Marisa Bowe: Cả đời ông ta lúc nào cũng phải kiểm soát và cực kỳ thông minh. Và vợ ông ta cũng cực kỳ thông minh và luôn kiểm soát mọi thứ. Ý nghĩ được làm “chuyện ấy” ngớ ngẩn với một người phụ nữ không mấy xuất chúng ngay tại Bầu dục, tôi có thể hiểu được sự hấp dẫn trong đó.
Tôi (trong tưởng tượng): Tôi không nói mình là người xuất sắc, nhưng sao cô biết tôi không phải như vậy? Công việc đầu tiên của tôi sau khi tốt nghiệp đại học là ở Nhà Trắng.
Susan Shellogg: Và cô có nghĩ điều đó là vô cùng ích kỷ không? Ích kỷ và đòi hỏi, khi quan hệ tình ý bằng miệng mà lại không đáp lễ? Ý tôi là… cô ta đâu có nói, “À, anh biết đấy, anh ấy đã làm tôi thỏa mãn.”
Tôi: Và chính xác thì tôi “đã không” nói điều này ở đâu? Trong tuyên bố công khai nào mà tôi chưa từng đưa ra? Trong lời khai nào chưa từng được công bố?
Katie Roiphe: Tôi nghĩ điều khiến mọi người phẫn nộ chính là ngoại hình của [Monica Lewinsky], điều đó thật thú vị. Bởi vì chúng ta thích nghĩ về các tổng thống của mình như những vị thần, thế nên nếu J.F.K. ngoại tình với Marilyn Monroe, thì tất cả đều thuộc về thế giới của những á thần… Ý tôi là, điều tôi cứ nghe đi nghe lại mãi là Monica Lewinsky trông không đẹp cho lắm.
Tôi: Về điều này, cảm ơn nhé. Bức ảnh đầu tiên xuất hiện là một bức ảnh chụp hộ chiếu. Các bạn có muốn bức ảnh hộ chiếu của mình bị tung lên các ấn phẩm khắp thế giới để trở thành bức ảnh định hình con người bạn không?
Điều mà các bạn cũng đang nói ở đây là phẩm chất hàng đầu để một phụ nữ đủ điều kiện có một mối quan hệ thân thiết với một người đàn ông quyền lực chính là sự hấp dẫn về thể xác. Nếu đó không phải là việc làm phong trào phụ nữ thụt lùi, thì tôi không biết cái gì mới là như vậy.
Erica Jong: Nhân viên vệ sinh răng miệng của tôi đã chỉ ra rằng cô ấy bị bệnh nướu răng giai đoạn ba.
Shellogg: Các cô nghĩ điều gì sẽ xảy ra với [cô ấy]? Ý tôi là, cô ấy sẽ lặng lẽ chìm vào quên lãng hay viết một cuốn sách? Hay mọi người sẽ quên cô ấy sau sáu tháng nữa?
Nancy Friday: Cô ta có thể cho thuê cái miệng của mình.
Tôi: (Câm lặng.)
Jong: Nhưng, bạn biết đấy, đàn ông rất thích đến gần cái miệng từng ở gần quyền lực. Hãy nghĩ đến tưởng tượng trong đầu người đàn ông khi cô ấy đang ân ái với anh ta và anh ta nghĩ, “Ôi chúa ơi.”
Elizabeth Benedict: Hãy làm cho tôi những gì cô đã làm với Tổng thống. Hãy làm điều đó.
Tôi: (Vẫn câm lặng.)
Jong: Tôi nghĩ đó là sự tôn vinh cho việc chúng ta đã tiến xa đến mức nào khi chúng ta không vùi dập Monica Lewinsky.
Cuộc tán gẫu cay độc này xuất hiện dưới tiêu đề SUPERGALS LOVE THAT NAUGHTY PREZ (Những cô nàng siêu đẳng thích vị tổng thống hư hỏng đó). Viết trên tạp chí Vanity Fair, Marjorie Williams gọi đó là “thứ đáng xấu hổ nhất mà tôi từng đọc trong một thời gian dài.” Đối với tôi, nó minh họa cho một khía cạnh khó hiểu của văn hóa nhục mạ, một điều mà Phyllis Chesler đã nhận ra trong cuốn sách Woman’s Inhumanity to Woman (Sự tàn nhẫn của phụ nữ đối với phụ nữ): ngay cả phụ nữ cũng không miễn dịch với một số loại kỳ thị phụ nữ. Chúng ta thấy điều đó ngày nay ở cách những “cô nàng lắm chiêu” ở trường lảng vảng trên sân chơi hiện đại của Internet (hoặc xung quanh bàn tròn của các chuyên gia trên TV hoặc tại một nhà hàng Pháp), luôn háo hức hùa vào châm chọc.
Tôi vẫn dành sự tôn trọng sâu sắc cho phong trào nữ quyền và biết ơn những bước tiến lớn mà phong trào này đã đạt được trong việc thúc đẩy quyền lợi của phụ nữ trong vài thập kỷ qua. Nhưng, với trải nghiệm bị chuyền tay như một món đồ nhặt nhạnh trong các cuộc bàn về chính trị giới tính, tôi không tự nhận mình là một nhà Nữ quyền viết hoa. Các nhà lãnh đạo của phong trào đã thất bại trong việc đưa ra một lập trường không mang tính chống lại phụ nữ trong cuộc săn phù thủy năm 1998. Trong trường hợp của nhóm Supergals New York, lẽ ra họ không nên quá khó khăn để ngất ngây vì tổng thống mà lại đi tấn công và làm nhục tôi. Thay vào đó, họ đã tham gia vào cuộc đua nhục mạ này.
Bản thân tôi vô cùng hối hận về những gì đã xảy ra giữa tôi và Tổng thống Clinton. Hãy để tôi nói lại lần nữa: BẢN. THÂN. TÔI. VÔ. CÙNG. HỐI. HẬN. VỀ. NHỮNG. GÌ. ĐÃ. XẢY. RA. Vào thời điểm đó—ít nhất là theo quan điểm của tôi—đó là một mối liên hệ đích thực, có sự thân thiết về cảm xúc, những chuyến thăm thường xuyên, những kế hoạch được vạch ra, những cuộc điện thoại và quà tặng được trao đổi. Ở độ tuổi đầu đôi mươi, tôi quá trẻ để hiểu được hậu quả thực tế của cuộc sống, và quá trẻ để thấy rằng mình sẽ bị đem ra hy sinh vì sự vụ lợi chính trị. Nhìn lại bây giờ, tôi lắc đầu trong sự hoài nghi và tự hỏi: tôi đã—chúng tôi đã—nghĩ gì thế? Tôi sẽ đánh đổi mọi thứ để quay ngược thời gian và tua lại cuốn băng đó.
Giống như nhiều người Mỹ khác, tôi đã suy nghĩ về Hillary Clinton. Tôi tự hỏi điều gì có thể xảy ra nếu bà ấy thực sự tranh cử vào năm 2016? Và điều gì sẽ xảy ra nếu bà ấy thắng cử—rồi lại thắng nhiệm kỳ thứ hai?
Nhưng khi tôi suy nghĩ về những vấn đề này, đối với tôi còn có một chiều kích khác ngoài thực tế là cuối cùng chúng ta có thể có một nữ tổng thống ở Nhà Trắng. Tất cả chúng ta đều nhớ khẩu hiệu của phong trào nữ quyền làn sóng thứ hai: Cái riêng tư là chính trị. Nhiều người (bao gồm cả tôi) đã lớn tiếng tuyên bố rằng mối quan hệ của tôi với Bill Clinton là một vấn đề cá nhân, không phải thứ để đem ra sử dụng trong một cuộc chiến tranh chính trị có rủi ro cao. Khi nghe về chiến dịch tranh cử sắp tới của Hillary, tôi không thể không sợ hãi làn sóng thợ săn ảnh tiếp theo, làn sóng những bài báo “Bây giờ cô ấy đang ở đâu?” tiếp theo, và những lần tiếp theo nhắc đến tên tôi trong các bản tin của Fox News về các cuộc bầu cử sơ bộ. Tôi bắt đầu cảm thấy suy nhược khi phải lên kế hoạch cho chu kỳ cuộc đời mình dựa vào, ở một mức độ nào đó, lịch trình chính trị. Đối với tôi, đó là một kịch bản mà ở đó cá nhân và chính trị là không thể tách rời.
Vào năm 2008, khi Hillary tranh cử tổng thống, tôi hầu như sống ẩn dật, mặc dù bị ngập chìm trong các yêu cầu phỏng vấn của báo chí. Tôi đã hoãn việc công bố một số dự án truyền thông vào năm 2012 cho đến sau cuộc bầu cử. (Sau đó chúng đã bị hủy bỏ—và, không, tôi không được đề nghị 12 triệu đô la cho một cuốn hồi ký bóc trần những chuyện giật gân, trái ngược với các báo cáo của báo chí.) Và gần đây tôi lại thấy mình rụt rè một lần nữa, sợ hãi “trở thành một vấn đề” nếu bà ấy quyết định đẩy mạnh chiến dịch tranh cử của mình. Nhưng liệu tôi có nên đặt cuộc sống của mình ở chế độ tạm dừng trong 8 đến 10 năm nữa không?
Là một đảng viên Dân chủ tận tâm—và nhận thức được rằng tôi có thể bị lợi dụng như một công cụ cho phe tả hoặc phe hữu—tôi đã giữ im lặng trong 10 năm. Im lặng đến mức, những lời đồn đại trong một số giới cho rằng nhà Clinton chắc chắn đã trả tiền bịt miệng tôi; nếu không thì tại sao tôi lại kiềm chế không lên tiếng? Tôi có thể đảm bảo với bạn rằng không có gì sai sự thật hơn thế.
Vậy tại sao lại lên tiếng bây giờ? Bởi vì đã đến lúc.
Tôi đã bước sang tuổi 40 vào năm ngoái, và đã đến lúc ngừng việc rón rén bước qua quá khứ của mình—và tương lai của người khác. Tôi quyết tâm có một cái kết khác cho câu chuyện của mình. Cuối cùng tôi đã quyết định ngẩng cao đầu vượt qua rào cản để có thể giành lại câu chuyện của mình và mang lại ý nghĩa cho quá khứ của tôi. (Cái giá tôi phải trả cho việc này là gì, tôi sẽ sớm biết thôi.) Mặc dù một số tiêu đề báo chí sẽ đưa tin sai lệch về bài viết này, đây không phải là cuộc chiến giữa Tôi với nhà Clinton. Cuộc sống của họ đã tiếp tục; họ đang chiếm giữ những vị trí quan trọng và quyền lực trên trường quốc tế. Tôi không có ý định thù hằn gì họ. Và tôi hoàn toàn hiểu rằng những gì đã xảy ra với tôi và vấn đề tương lai của tôi không có ý nghĩa gì với cả hai người họ.
Nó cũng quay trở lại vấn đề cá nhân và chính trị. Tôi đã trải qua nhiều câu hỏi đã trở thành cốt lõi trong diễn ngôn quốc gia của chúng ta kể từ năm 1998. Chúng ta nên cho phép chính phủ can thiệp vào phòng ngủ của mình đến mức nào? Làm thế nào để chúng ta hòa giải quyền riêng tư với nhu cầu phơi bày sự thiếu kín đáo trong tình dục? Làm thế nào để chúng ta phòng thủ trước một chính phủ quá ư hăng hái đòi hỏi dữ liệu và thông tin riêng tư của chúng ta? Và quan trọng nhất đối với cá nhân tôi, làm thế nào để chúng ta đối phó với trò chơi nhục mạ khi nó được chơi trong Thời đại Internet? (Mục tiêu hiện tại của tôi là tham gia vào các nỗ lực vì nạn nhân của việc sỉ nhục và quấy rối trực tuyến, đồng thời bắt đầu nói về chủ đề này trong các diễn đàn công cộng.)
Cho đến nay, Người Phụ Nữ Đó chưa bao giờ có thể thoát khỏi cái bóng của mô tả đầu tiên đó. Tôi là Kẻ bám đuôi bất ổn (một cụm từ được Nhà Trắng của Clinton lan truyền), Cô ả ngốc nghẻo, Kẻ ngây thơ tội nghiệp chẳng biết gì cả. Chính quyền Clinton, những kẻ tay sai của công tố viên đặc biệt, các nhà hoạt động chính trị ở cả hai phe và truyền thông đã gán mác cho tôi. Và cái mác đó đã bám chặt lấy tôi, một phần vì nó được truyền sức mạnh. Tôi đã trở thành một biểu tượng xã hội, một tấm vải bạt xã hội để bất cứ ai cũng có thể phóng chiếu sự bối rối của họ về phụ nữ, tình dục, sự ngoại tình, chính trị và các vấn đề cơ thể.
Không giống như các bên liên quan khác, tôi còn quá trẻ nên chưa có một bản sắc vững chắc nào để quay về. Tôi không “để điều này định hình” mình—tôi đơn giản là chưa có đủ trải nghiệm sống để thiết lập bản sắc riêng của mình vào năm 1998. Nếu bạn chưa tìm ra mình là ai, thật khó để không chấp nhận hình ảnh khủng khiếp về bạn do người khác tạo ra. (Do đó, tôi có sự đồng cảm sâu sắc với những người trẻ tuổi thấy mình bị bỉ mặt trên Web.) Mặc dù đã tự tò mò tìm hiểu, trị liệu và khám phá các con đường khác nhau, tôi vẫn bị “kẹt” trong quá nhiều năm.
Không còn nữa. Đã đến lúc đốt chiếc mũ nồi và chôn vùi chiếc váy xanh. Và tiến về phía trước.****
Monica Lewinsky
________________
Chú Thích:
*Erin Payne: Từ Watergate đến Interngate: Truyền thông rất chuộng bê bối (02/12/1998)
Người ta gọi đó là Interngate, Monicagate, Clintongate và hàng loạt cái tên khác ví von “vụ bê bối” mới nhất tại thủ đô nước ta với Watergate.
Và ở nhiều khía cạnh, mối quan hệ bị cáo buộc giữa Bill Clinton và Monica Lewinsky cùng khả năng vi phạm pháp luật bắt nguồn từ đó rất giống với Watergate. Nhưng ở các khía cạnh khác, thì lại không phải vậy.
Tôi không hoàn toàn hiểu tại sao mọi vụ bê bối đều phải gắn thêm chữ “gate”. Tôi biết rằng Nixon đã từ chức do một âm mưu cuối cùng bị phanh phui sau vụ đột nhập vào trụ sở đảng Dân chủ tại khu phức hợp Watergate ở Washington, D.C. Kể từ khi các tuyên bố của Lewinsky được công khai, toàn bộ sự náo động này đã trở thành một thứ “gate”. Tôi đã đọc các tờ báo châu Âu, đặc biệt là những tờ xuất bản ở Luân Đôn, và hầu như tờ nào cũng gắn chữ “gate” vào một từ nào đó. Thêm vào đó, tôi nghĩ thật khá nực cười khi Lewinsky lại có một căn hộ ngay tại khu phức hợp Watergate.
Nhưng bất chấp tranh cãi về chữ “gate”, vẫn có những điểm tương đồng khác — có lẽ dễ nhận thấy nhất trong số đó là các cơ quan truyền thông tin tức.
Như bạn có thể đã nhận thấy, câu chuyện Clinton-Lewinsky đã thống trị các tờ báo, tạp chí, Internet và bản tin truyền hình. Nó rất nổi bật ngay khi vừa nổ ra. Tất cả các đài truyền hình thực tế đã tạm dừng việc đưa tin về chuyến thăm Cuba của Giáo hoàng, và các phát thanh viên đã bay trở lại nước Mỹ. Đột nhiên, Giáo hoàng dường như không còn quan trọng đến thế. Sau vài ngày, lượng tin tức có giảm sút đôi chút, nhưng rồi lại bùng lên và có khả năng trở thành một cuộc khủng hoảng toàn diện.
Tuy nhiên, truyền thông cũng chính là nơi xuất hiện sự khác biệt giữa Watergate và vụ bê bối Clinton-Lewinsky.
Kể từ khi câu chuyện lộ ra, người dân trên cả nước đã chỉ trích giới truyền thông vì đưa tin quá nhiều, đưa tin dựa trên thông tin chưa được nguồn thứ hai xác nhận, đưa tin dựa trên tin đồn và nhiều thứ khác nữa.
Bất cứ khi nào có điều gì đó quy mô như thế này xảy ra, giới truyền thông tin tức lại phản ứng với quy mô tương tự.
Điều được truyền thông mệnh danh là một cuộc khủng hoảng ở Washington thực sự có liên quan đến đất nước chúng ta, bất chấp phản ứng của công chúng. Chắc chắn rồi, các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy tỷ lệ ủng hộ Clinton trong lòng người Mỹ vẫn cao, và nhiều người cho rằng giới truyền thông không nên xới tung đời tư của tổng thống, nhưng toàn bộ vấn đề không chỉ dừng lại ở những sự vụ ngoại tình có thể xảy ra của nhà lãnh đạo đất nước. Đây là vấn đề cản trở công lý, về tội khai gian trước tòa và xúi giục người khác làm điều đó. Việc những điều này gắn liền với đời tư của ông ấy không có nghĩa là chúng ta nên xem nhẹ tầm quan trọng của việc duy trì công lý ở Mỹ, đặc biệt là ở các cấp bậc cao nhất.
Nếu những tuyên bố của Monica Lewinsky là sự thật, ông Clinton sắp gặp rắc rối lớn. Một mặt, dường như công chúng mặc định rằng các chính trị gia đều mờ ám và họ có khả năng làm những điều sai trái. Điều đó gần như đã được chấp nhận. Vì vậy, việc các cáo buộc chống lại Clinton nổ ra là một cú sốc, nhưng thực ra cũng không hẳn là bất ngờ.
Mặt khác, tôi nghĩ việc thừa nhận tổng thống có dính líu đến một số hành vi sai trái vẫn là điều khó khăn đối với nhiều người Mỹ. Tình hình cũng từng như vậy vào những năm 1970, khi các cáo buộc chống lại Nixon ngày càng gia tăng.
Tất cả những điều này minh chứng cho sự đạo đức giả của công chúng. Mặc dù việc lo lắng về việc nền kinh tế đang giúp ích hay làm tổn hại đến túi tiền của bạn là quan trọng, chúng ta không nên xem nhẹ công lý như một giá trị cốt lõi trong hệ thống của mình.
Và đây lại là lúc truyền thông xuất hiện trở lại. Tỷ lệ tín nhiệm của Clinton đang tăng lên, và nhiều người nói rằng họ chán ngấy việc phải nghe về những “phát triển” mới nhất ở Washington, nhưng phần lớn việc đưa tin về câu chuyện này xuất phát từ con người, và quan trọng hơn là từ công nghệ.
Kể từ khi câu chuyện nổ ra, tôi đã suy nghĩ về nó trong mối liên hệ với việc truyền thông đưa tin về Watergate (có lẽ vì học kỳ trước tôi đã viết một bài luận về chủ đề đó). Tôi đã kỳ vọng truyền thông sẽ tạo ra một gánh xiếc ở Washington. Hãy nhìn những gì đã xảy ra ở Des Moines khi những đứa trẻ sinh bảy ra đời. Nhưng tôi cũng kỳ vọng thông tin sẽ được truyền tải đến công chúng nhanh chóng hơn, là kết quả của thời đại thông tin mà chúng ta đang sống.
Tôi có thể coi là một kẻ “nghiện thông tin”. Tôi thích đọc và xem tin tức. Tôi dành sự quan tâm đặc biệt đến chính trị và tin tức quốc tế. Và qua đó, tôi phát hiện ra rằng thường thì những gì được đưa tin thực sự không phải là “tin tức”.
Vụ việc của Clinton là một ví dụ. Tôi nhận thức được rằng ở Washington có những vụ rò rỉ thông tin và ai cũng có nguồn tin riêng, nhưng việc lạm dụng các nguồn tin ẩn danh cứ khiến tôi cảm thấy không thoải mái. Khi Carl Bernstein và Bob Woodward điều tra vụ Watergate, họ không sống trong thời đại điện tử như chúng ta hiện nay. Theo tờ USA Today số ra ngày thứ Tư đưa tin, họ không có những nguồn lực giống như chúng ta. Họ đã thực hiện nghiên cứu chuyên sâu. Và họ đã có sự xác nhận thông tin từ các nguồn thứ hai.
Điều đó không diễn ra ở Washington. Mặc dù tôi yêu mến truyền thông tin tức, đặc biệt là tin tức truyền hình, tôi vẫn cảm thấy bối rối. Phải chăng giới truyền thông đã đánh mất những giá trị cơ bản trong cuộc đua giành lấy một tin độc quyền (scoop)? Dường như là vậy.
Việc đưa tin ngay lập tức đã trở thành ưu tiên hàng đầu trong thời gian gần đây — phần lớn là hệ quả của thời đại thông tin. Công chúng mong đợi thông tin được cập nhật tức thì, và đó là những gì họ nhận được, cho dù đó có phải là tin tức hay không. Cuộc điều tra vụ Watergate không được hoàn thành trong một ngày, và sự cố mới nhất với chính quyền Clinton cũng sẽ không kết thúc nhanh như vậy.
Tôi thừa nhận, tôi sẽ tiếp tục xem tin tức và theo dõi câu chuyện này. Tại sao? Bởi vì việc biết điều gì đang diễn ra là quan trọng, và bởi vì tôi là một kẻ nghiện tin tức. Nhưng cũng vì tôi ngưỡng mộ các nhà báo và muốn học hỏi từ họ, ngay cả khi tôi đang học cách để biết những gì không nên làm.
Tôi cũng hy vọng công chúng nhận ra rằng câu chuyện này không chỉ xoay quanh chuyện tình dục. Việc phớt lờ những gì đang diễn ra ở Washington và ủng hộ Clinton chỉ để giữ cho nền kinh tế an toàn không phải là con đường tốt nhất để đi theo.
Công lý nằm ở đâu?
**Tyler Clementi
Tyler Clementi là một câu chuyện bi thương nhưng có sức lan tỏa mạnh mẽ, trở thành biểu tượng cho cuộc đấu tranh chống bắt nạt – đặc biệt là bắt nạt người LGBTQ+ – trong thời đại kỹ thuật số. Điều làm câu chuyện của Tyler ám ảnh không chỉ là bi kịch của một thanh niên 18 tuổi, mà còn là cách xã hội buộc phải nhìn lại sự tàn nhẫn vô hình của mạng Internet và những định kiến âm ỉ trong đời sống hằng ngày.
Tyler Clementi sinh ngày 19/12/1991 tại Ridgewood, New Jersey. Cậu là một thiếu niên thông minh, hiền lành, sống nội tâm và đặc biệt đam mê âm nhạc. Tyler chơi violin từ nhỏ và nhanh chóng trở thành một tài năng nổi bật, biểu diễn trong nhiều dàn nhạc lớn của vùng .
Mùa hè trước khi vào đại học, Tyler bắt đầu hành trình “come out” – chia sẻ với gia đình và bạn bè rằng mình là người đồng tính. Đó là một bước đi can đảm nhưng cũng đầy mong manh, như mọi câu chuyện tuổi 18 đang tìm cách sống thật với chính mình .
Tháng 8/2010, Tyler nhập học tại Rutgers University – một khởi đầu mà cậu rất háo hức. Chỉ vài tuần sau, tài năng âm nhạc của Tyler giúp cậu giành được vị trí trong một dàn nhạc dành cho sinh viên cao học – một thành tích hiếm có đối với sinh viên năm nhất .
Nhưng chính tại ký túc xá Rutgers, bi kịch bắt đầu.
Ngày 19/9/2010, Tyler xin bạn cùng phòng – Dharun Ravi – cho mình chút riêng tư vì có một cuộc hẹn. Ravi đồng ý… nhưng lại bí mật chĩa webcam vào giường của Tyler và livestream cảnh Tyler thân mật với một người đàn ông. Ravi còn khoe khoang trên Twitter và rủ bạn bè xem “lần thứ hai” vào hai ngày sau đó .
Tyler phát hiện sự việc qua mạng xã hội. Cậu bị sốc, xấu hổ, tổn thương sâu sắc – đúng vào thời điểm cậu đang cố gắng sống thật với bản dạng của mình.
Ba ngày sau, Tyler Clementi đến cầu George Washington và gieo mình xuống dòng Hudson. Cậu mới 18 tuổi. Thi thể được tìm thấy một tuần sau đó .
Cái chết của Tyler gây chấn động nước Mỹ. Nó phơi bày sự tàn nhẫn của “bắt nạt kỹ thuật số” – thứ tưởng như vô hại nhưng có thể giết người.
Ravi và Molly Wei (người cho Ravi dùng máy tính để xem livestream) bị truy tố vì xâm phạm quyền riêng tư. Ravi bị kết án năm 2012 với nhiều tội danh, bao gồm “bias intimidation” – một dạng tội thù ghét, dù bản án này sau đó bị hủy một phần và anh ta chỉ nhận tội xâm phạm quyền riêng tư vào năm 2016 .
Sau cái chết của Tyler, gia đình cậu thành lập Tyler Clementi Foundation, một tổ chức chống bắt nạt và thúc đẩy sự chấp nhận người LGBTQ+. Câu chuyện của Tyler trở thành lời cảnh tỉnh toàn quốc về:
- sự mong manh của tuổi trẻ LGBTQ+,
- tác hại của việc làm nhục người khác trên mạng,
- trách nhiệm của cộng đồng trong việc tạo môi trường an toàn cho mọi người.
Từ bi kịch của một người, phong trào chống bắt nạt lan rộng khắp nước Mỹ, ảnh hưởng đến luật pháp, giáo dục và văn hóa đại học .
Bởi vì Tyler Clementi không chỉ là một nạn nhân. Cậu là lời nhắc nhở rằng sự tàn nhẫn đôi khi bắt đầu từ những hành động “đùa vui” mà người gây ra không hề nghĩ đến hậu quả. Và rằng mỗi chúng ta đều có trách nhiệm trở thành “upstander” – người đứng lên bảo vệ người khác – thay vì im lặng.
***“Prufrockian moment
“Prufrockian moment” là một cụm từ rất đẹp trong phê bình văn học, nhưng cũng khá… khó nắm nếu chưa từng đọc qua T.S. Eliot và bài thơ The Love Song of J. Alfred Prufrock.
Prufrockian moment là gì?
Prufrockian moment là khoảnh khắc một con người đột nhiên nhận ra sự do dự, bất lực, tự hoài nghi và nỗi sợ hành động của chính mình — đúng như nhân vật Prufrock trong bài thơ của T.S. Eliot.
Nó là giây phút ta đứng trước một lựa chọn, một cơ hội, một lời nói cần thốt ra… nhưng lại khựng lại, bị trói bởi:
- nỗi sợ bị đánh giá,
- nỗi lo mình không đủ,
- cảm giác đời sống trôi qua mà mình không sao nắm bắt,
- sự tự vấn: “Liệu mình có dám?”
Đó là khoảnh khắc ý thức về bản thân trở nên quá lớn, đến mức làm tê liệt hành động.
Nguồn gốc: Prufrock của T.S. Eliot
Trong The Love Song of J. Alfred Prufrock, nhân vật Prufrock là một người đàn ông trí thức, nhạy cảm, nhưng bị mắc kẹt trong sự do dự triền miên. Anh muốn nói điều gì đó quan trọng, muốn bước vào đời sống thật, nhưng cứ lặp đi lặp lại:
“Do I dare?” “Do I dare?” “And how should I begin?”
Prufrock nhìn đời qua lớp kính của tự hoài nghi, và chính điều đó khiến anh không bao giờ thực sự sống.
Hay nói cách khác:
“Khoảnh khắc Prufrock — khi con người đứng trước đời sống, muốn bước vào nhưng lại sợ chính tiếng bước chân của mình.”
****Chiếc mũ nồi và (chôn vùi) chiếc váy xanh:

Monica Lewinsky đội mũ nồi đen trong bức ảnh nổi tiếng chụp cùng Bill Clinton tại Nhà Trắng. Bức ảnh này trở thành biểu tượng nhận diện của cô trong toàn bộ scandal.

Chiếc váy xanh (blue dress): Đây là chiếc váy có vết tinh dịch của Clinton, được Lewinsky giữ lại như bằng chứng (và phải nộp cho Công Tố Viên Đặc Biệt Ken Starr). Chiếc váy trở thành biểu tượng của sự ô nhục công khai, bị truyền thông khai thác đến mức ám ảnh.
Trong câu chuyện của Monica Lewinsky, “chiếc mũ nồi” và “chiếc váy xanh” không chỉ là những vật dụng gắn với một scandal từng làm chao đảo nước Mỹ, mà còn là hai dấu tích của một quãng đời bị phơi bày, tổn thương và không thể quay lại. Khi nói đến việc “đốt chiếc mũ nồi và chôn vùi chiếc váy xanh”, Lewinsky muốn khép lại những biểu tượng của nỗi nhục công khai, của một thời tuổi trẻ bị truyền thông nghiền nát. Đó là cách cô tự trả lại cho mình quyền được bước tiếp, nhẹ hơn, bình thản hơn, như người vừa đặt xuống một gánh nặng đã mang quá lâu.
