Tuy không có con số thống kê cụ thể, đề tài chiến tranh Việt Nam đã được khai thác dưới nhiều góc độ. Riêng trong lĩnh vực phim ảnh, đã có hơn một trăm dự án lớn nhỏ. Mời quý vị theo dõi cuộc trò chuyện với Phạm Văn Nam – nhà sản xuất phim tài liệu Vietnam War, Untold Stories – Chiến Tranh Việt Nam, Những Chuyện Chưa Kể – để hiểu rõ vì sao cuốn phim này nên có một chỗ đứng trang trọng qua những chi tiết được tường thuật sau hơn một nửa thế kỷ kể từ khi cuộc chiến chấm dứt.
Vivian Luu: Những ý tưởng về cuốn phim đã hình thành trong suốt 6 năm trời, và đã trải qua nhiều truân chuyên, từ giai đoạn thu thập tài liệu, đến vấn đề đạo diễn, quay phim, cũng như gây quỹ. Mong anh chia sẻ thêm những thử thách hậu trường để khán giả có dịp đồng cảm.
Nam Phạm: Tôi từng làm việc trong các lĩnh vực chính phủ, ngân hàng, cộng đồng, giảng dạy và cơ xưởng, làm việc chân tay. Ở mọi nơi, tôi đều cảm nhận rằng đại đa số người Hoa Kỳ và ngay cả một số người Việt Nam chưa có được cái nhìn chính xác về cuộc chiến Việt Nam, nhất là về VNCH. Điều này đã làm tôi thao thức suốt mấy chục năm. Cho đến năm 2018, một đạo diễn, nhà làm phim tài liệu nổi tiếng của Hoa Kỳ, Ken Burns, đã ra mắt bộ phim Chiến tranh Việt Nam dài 15 tiếng. Cuốn phim này cũng chỉ lặp lại những điều phản chiến sai lầm và những tuyên truyền của cộng sản. Phim này đã khiến tôi vô cùng phẫn nộ. Cộng đồng của chúng ta cũng vậy, vì thế, khi vài người bạn Mỹ, Việt chúng tôi bàn nhau phải làm gì đó để phản bác lại cuốn phim cố tình bôi xấu miền Nam, rồi tôi lao vào ngay.
Từ phim ảnh đến sách vở, cuộc chiến Việt Nam không những thường bị kể theo một quan điểm đóng khung tả phái, mà trong khung đó, tiếng nói của người miền Nam, của quân cán chính VNCH bị bóp méo hoặc bị bóp nghẹn. Chúng tôi chợt nghĩ về chuyện của mình, mình không làm thì ai làm? Mình không kể, ai kể! Vì vậy, chúng tôi đã thực hiện một nhóm làm phim để chia sẻ với thế giới và những thế hệ tiếp nối quan điểm và kinh nghiệm sống chết với chiến tranh và chính nghĩa của người miền Nam.
VL: Trong suốt thời gian sản xuất cuốn phim, anh đã gặp những thử thách đáng kể nào khiến dự án bị trì hoãn hoặc thay đổi hướng đi hay không?
NP: Có, và thật ra là rất nhiều. Dịch bệnh, lịch phỏng vấn, vấn đề bản quyền, những khía cạnh pháp lý và việc tiếp cận tư liệu đều khiến công việc biên soạn nhiều lần bị chậm lại. Mỗi khi tìm được một nguồn tư liệu mới hoặc một nhân chứng mới, chúng tôi lại phải xem xét cấu trúc của bộ phim, đôi khi phải sửa lại cả một phần để câu chuyện chính xác, công bằng và đầy đủ hơn.
Người Việt mình thường nói: “Cái khó bó cái khôn.” Ken Burns có hơn 30 triệu để thực hiện bộ phim về Chiến tranh Việt Nam; ngân sách của chúng tôi chỉ bằng khoảng 1% con số đó. Vì thế, chúng tôi phải làm rất nhiều với nguồn lực rất hạn chế.
Nhưng khó khăn lớn nhất không chỉ là tiền bạc hay kỹ thuật, mà còn là trách nhiệm về cảm xúc và đạo đức. Nhiều nhân chứng mang theo những vết thương thật của chiến tranh: mất người thân, tù đày, vượt biển, cải tạo, ly tán. Chúng tôi luôn tự hỏi làm thế nào để kể câu chuyện của họ một cách trung thực mà không biến nỗi đau của họ thành công cụ tạo cảm xúc. Sự tôn trọng, đồng thuận và phẩm giá của nhân chứng luôn được đặt lên hàng đầu.
Việc tiếp cận tư liệu và nhân vật cũng không đơn giản. Có những hình ảnh, tài liệu rất khó tìm hoặc vướng bản quyền. Một số nhân chứng cao tuổi ngần ngại kể lại quá khứ vì ký ức quá đau đớn, hoặc vì họ không muốn bị cuốn vào những tranh cãi chính trị.
Về kỹ thuật và hậu cần, chúng tôi phải quay ở nhiều nơi, trong nhiều điều kiện khác nhau; phối hợp lịch với các nhân chứng lớn tuổi; điều động một khối lượng tư liệu rất lớn; đồng thời cố gắng giữ chất lượng hình ảnh và âm thanh đồng nhất trong suốt một dự án kéo dài nhiều năm.
Nói chung, mỗi khó khăn đều làm dự án chậm lại, nhưng cũng buộc chúng tôi phải suy nghĩ kỹ hơn về cách kể câu chuyện. Và nhiều khi chính những trở ngại đó lại giúp bộ phim trở nên sâu sắc và chính xác hơn.
Và còn thêm các vấn đề pháp lý dông dài và gian nan. Chúng tôi hy vọng trong một thời gian ngắn nữa sẽ có thể chia sẻ đầy đủ.
VL: Kinh phí là một trọng trách đầy thử thách. Ngoài thời gian nghiên cứu, quá trình gây quỹ có thể nói là giai đoạn cực nhọc nhất. Danh sách bảo trợ phim rất dài, xin anh chia sẻ một vài ấn tượng khó quên trong nhiều năm tháng chu du cộng đồng để truyền cảm hứng, tìm sự đóng góp chung tay?
NP: Tôi vẫn thường nói rằng đây không chỉ là bộ phim của chúng tôi. Đây là một bộ phim được hình thành từ tấm lòng, niềm tin và sự chung sức của cả một cộng đồng.
Khi bắt đầu, chúng tôi nghĩ khoảng $250,000, là có thể hoàn thành bộ phim. Nhưng càng đi sâu vào nghiên cứu, phỏng vấn, tìm kiếm tư liệu lịch sử, giải quyết bản quyền và hậu kỳ, chúng tôi càng nhận ra công việc lớn hơn rất nhiều so với dự tính. Cuối cùng, chi phí lên tới khoảng $450,000, chưa kể biết bao công sức của anh chị em trong nhóm thực hiện, cùng những đóng góp về địa điểm, dịch vụ và nhân lực thiện nguyện.
Nguồn tài trợ chủ yếu đến từ chính cộng đồng và những nhà hảo tâm — từng người một, từng tấm lòng một, từng đợt gây quỹ một. Đặc biệt, cộng đồng người Việt tại Texas và California đã đóng góp một phần rất lớn. Những tổ chức thân hữu như SBTN và Vietnam Veterans for Factual History cũng hết lòng ủng hộ chúng tôi bằng tài chính, tư liệu, kinh nghiệm và mạng lưới cộng đồng.
Nhưng điều còn lại trong tôi sau bao năm không chỉ là những con số. Đó là những con người và những khoảnh khắc mà tôi sẽ mang theo suốt đời.
Tại Houston, tôi sẽ không bao giờ quên hình ảnh Linh mục Phạm Hữu Tâm và Hòa thượng Thích Huyền Việt cùng cất tiếng hát để gây quỹ cho bộ phim. Một vị linh mục, một vị hòa thượng, khác nhau về tôn giáo nhưng đứng cạnh nhau vì cùng một ước nguyện: giúp một phần lịch sử của người Việt được kể lại trung thực.
Tôi đứng nhìn mà vô cùng cảm kích. Trong khoảnh khắc ấy, tôi cảm nhận rất rõ rằng câu chuyện chúng tôi đang kể đã vượt qua ranh giới tôn giáo, địa phương và thế hệ. Đó không còn là câu chuyện của riêng một nhóm làm phim. Đó là trách nhiệm chung đối với ký ức của cả một cộng đồng.
Một kỷ niệm khác tại Little Saigon cũng khiến tôi không thể nào quên. Sau khi xem phim, cựu Thiếu Tá Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy cùng Hội Cựu Quân Nhân đã quyên góp ngay tại chỗ $350.
Trong số tiền ấy có cả những đồng tiền lẻ.
Nhìn những tờ bạc, những đồng tiền được gom lại từ những cựu quân nhân tóc bạc để trao cho chúng tôi, tôi gần như muốn khóc. Ba trăm năm mươi đô la có thể không phải là một số tiền lớn đối với một dự án điện ảnh, nhưng với tôi, giá trị của nó không thể đo bằng tiền.
Đó là tấm lòng. Đó là niềm tin. Đó là sự gửi gắm của những người đã từng mặc quân phục, đã chiến đấu, đã hy sinh và đổ máu trong cuộc chiến ấy.
Nhưng có lẽ kỷ niệm khiến tôi xúc động sâu xa nhất là một lá thư từ Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam. Trong thư có ghi:
“Theo lời của bà quả phụ Trần Minh Phương, có nhờ Khu hội chuyển thẳng số tiền của quỹ tương trợ hậu sự $1,200, đến ban tổ chức làm phim phản bác lại phim Vietnam War, theo ước nguyện và di chúc của cố Đại úy Ngô Chước.”
Tôi đọc những dòng ấy mà tim như ngừng lại.
Một người trước khi lìa đời vẫn còn mang trong lòng một nỗi ưu tư: làm sao để câu chuyện của miền Nam, của Việt Nam Cộng Hòa và của những người đã chiến đấu trong cuộc chiến ấy được kể lại trung thực hơn.
Số tiền $1,200 vốn dành cho hậu sự của ông, cuối cùng lại được gửi cho bộ phim theo chính di nguyện của ông.
Tôi không biết phải diễn tả cảm xúc ấy như thế nào cho đủ.
Với chúng tôi, $1,200 đó không còn là một món tiền, mà đã hóa thân thành một di nguyện. Một sự ký thác. Và cũng là một trách nhiệm rất trĩu nặng trên vai.
Có những lúc chúng tôi mệt mỏi, thiếu tiền, gặp trở ngại và tự hỏi liệu có thể tiếp tục hay không. Nhưng rồi tôi lại nhớ đến lá thư ấy, nhớ đến cố Đại úy Ngô Chước, nhớ đến những đồng tiền lẻ của các cựu quân nhân, nhớ đến vị linh mục và vị hòa thượng cùng đứng hát ở Houston.
Những hình ảnh đó đã giúp chúng tôi bước tiếp.
Chúng nhắc nhở chúng tôi rằng bộ phim này không được phép làm qua loa. Bởi phía sau mỗi đồng tiền đóng góp là một tấm lòng; phía sau mỗi tấm lòng là một cuộc đời; phía sau mỗi cuộc đời là một ký ức — và đôi khi, như trường hợp cố Đại úy Ngô Chước, là cả một ước nguyện cuối đời.
Có người đóng góp hàng chục ngàn đô la. Có người trao vài chục đô la. Có người gom những đồng tiền lẻ trong túi. Và có người đã ra đi nhưng vẫn để lại một phần tiền hậu sự cho bộ phim.
Số tiền khác nhau, nhưng tôi tin rằng tất cả đều gửi đến chúng tôi cùng một lời nhắn:
“Xin hãy kể câu chuyện của chúng tôi.
Xin hãy kể cho trung thực.
Và xin đừng để lịch sử này bị lãng quên.”
Đó cũng chính là lý do chúng tôi phải cố gắng hoàn thành bộ phim.
Vì vậy, theo một nghĩa rất sâu sắc, bộ phim này không thuộc riêng về những người đứng tên làm phim. Nó thuộc về cả cộng đồng — những người đã góp tiền, góp sức, góp tư liệu, góp ký ức, góp nước mắt, và có người còn gửi lại cả di nguyện cuối cùng của đời mình.
Chúng tôi chỉ là những người được họ trao niềm tin để kể lại câu chuyện ấy cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Nam Pham
Nhà sản xuất phim Nam Phạm
VL: Đi đôi với việc nhận nguồn tài trợ công là trách nhiệm phải giải trình tài chánh một cách minh bạch. Anh có gặp trường hợp các nhà tài trợ cá nhân đặt ra những yêu cầu, yêu sách, hay đòi giải thích về cách sử dụng nguồn tài trợ từ cộng đồng?
NP: Có người hỏi, và tôi nghĩ họ hoàn toàn có quyền hỏi. Khi nhận một đồng tiền của cộng đồng, dù $10 hay $10,000, chúng tôi đều có trách nhiệm giải trình minh bạch.
Ngay từ đầu, chúng tôi đã công bố rõ ràng mục đích gây quỹ và việc sử dụng nguồn tài trợ trên GoFundMe. Mọi khoản thu chi của tổ chức đều được ghi nhận trong sổ sách kế toán và khai báo đầy đủ trong hồ sơ thuế theo quy định.
Tuy nhiên, chúng tôi phân biệt rất rõ giữa quyền được biết tiền được sử dụng ra sao và quyền can thiệp vào nội dung của bộ phim. Tiền tài trợ không thể mua quyền quyết định lịch sử phải được kể như thế nào.
Rất may, phần lớn các nhà tài trợ hiểu và tôn trọng nguyên tắc đó. Họ có thể góp ý, đặt câu hỏi, đề nghị chúng tôi tìm hiểu thêm. Chúng tôi luôn lắng nghe, nhưng quyết định cuối cùng phải dựa trên tư liệu, chứng cứ lịch sử và trách nhiệm của người làm phim, chứ không phải dựa trên số tiền đóng góp.
Tôi nghĩ nguyên tắc rất đơn giản: minh bạch tài chánh là trách nhiệm với đồng tiền của cộng đồng; trung thực về nội dung là trách nhiệm với lịch sử.
Nhất là khi nhớ đến những đồng tiền lẻ của các cựu quân nhân hay $1,200 đô la tiền hậu sự mà cố Đại úy Ngô Chước để lại theo di nguyện, chúng tôi càng hiểu rằng đó không chỉ là tiền. Đó là niềm tin và sự ký thác mà chúng tôi có bổn phận phải trân trọng.
VL: Sản xuất phim tài liệu về một đề tài nhức nhối như chiến tranh Việt Nam chắc hẳn sẽ gây không ít tranh luận. Tâm lý công chúng vẫn khó tách rời giữa sự thật khách quan có thể kiểm chứng và quan điểm cá nhân xuất phát từ cảm xúc chủ quan. Thể loại phim tài liệu lại là sự hòa quyện tài tình giữa cả hai yếu tố lý trí và tình cảm. Anh chắc đã gặp những trường hợp khi người xem quả quyết rằng quan điểm được nhiều người đồng tình mới là sự thật, và những sự thật anh trích dẫn trong phim, với họ, lại không phải sự thật. Anh đối phó với những hoàn cảnh này như thế nào?
NP: Đây có lẽ là một trong những thử thách lớn nhất khi làm bộ phim này. Với chiến tranh Việt Nam, nhiều người không chỉ mang theo ký ức, mà còn mang theo những mất mát, niềm tin và lập trường đã hình thành suốt hàng chục năm. Vì vậy, đôi khi điều họ tin là “sự thật” thực chất là cách họ đã hiểu và sống với lịch sử.
Tôi luôn nhắc mình rằng sự thật lịch sử không được quyết định bởi số đông. Một quan điểm được nhiều người tin chưa chắc đã đúng; ngược lại, một sự kiện ít người biết đến cũng không vì thế mà trở thành sai.
Cách chúng tôi đối phó là lắng nghe rồi trở lại với tư liệu, nhân chứng và những dữ kiện có thể kiểm chứng. Nếu có chứng cứ cho thấy chúng tôi sai, chúng tôi sẵn sàng xem xét và sửa đổi. Nhưng chúng tôi không thể thay đổi sự thật chỉ vì nó làm một số người khó chịu.
Cũng phải nhớ rằng một bộ phim chỉ dài 90 phút thì làm sao có thể kể hết một câu chuyện trải dài hơn 80 năm, cả trước, trong và sau cuộc chiến. Chúng tôi buộc phải chọn lọc những sự kiện và câu chuyện tiêu biểu nhất. Vì vậy, bộ phim không có tham vọng nói hết mọi điều, mà muốn mở thêm một cánh cửa để người xem tìm hiểu sâu hơn.
Phim tài liệu luôn có góc nhìn. Điều quan trọng là trung thực với chứng cứ, không bóp méo dữ kiện để phục vụ cảm xúc hay định kiến.
Tôi không mong tất cả mọi người đều đồng ý. Tôi chỉ mong sau khi xem, ngay cả người không đồng ý cũng có thể nói: “Những dữ kiện này đáng để tôi suy nghĩ lại.”
VL: Câu văn mở đầu tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Charles Dickens: “Đó là thời kỳ tốt đẹp nhất, cũng là thời kỳ tồi tệ nhất”, phản ánh sự chia rẽ cực đoan của thời đại. Vì sao anh lại trình chiếu câu chuyện ấy này vào thời điểm này?
NP: Vì chúng ta đang sống trong thời kỳ thông tin bị phân cực—nhiều thế hệ trẻ biết về chiến tranh qua vài đoạn tóm tắt, vài khuôn mẫu truyền thông. Thời điểm này cũng cấp bách vì số lượng nhân chứng sống không còn nhiều, và mỗi năm trôi qua là thêm một phần ký ức biến mất.
Vì đây là lúc cần nghe lại lịch sử bằng tiếng nói con người, trước khi ký ức biến mất và bị thay thế bởi những phiên bản tiện lợi.
Vì vậy, tôi đã truy tìm những chứng nhân lịch sử có uy tín và kiến thức như Đại sứ Bùi Diễm, Luật sư Trần Thanh Hiệp, nhà báo Từ Thức, các nhà văn miền Bắc như Vũ Thư Hiên, Trần Khải Thanh Thúy, các sĩ quan VNCH như Trung tá Bùi Phổ, Phan Nhật Nam và những học giả Hoa Kỳ. Hầu hết đều vui vẻ trò chuyện.
Càng nói chuyện với những nhân chứng, những cựu quân nhân, những người tù cải tạo, những người vượt biên mất con, mất chồng, mất vợ, chúng tôi càng cảm thông với những đau đớn khôn nguôi, vô cùng tận của họ cũng như của Việt Nam. Những lời kể của họ có lúc run rẩy, có lúc đầy cương quyết, với những ký ức rõ ràng, khiến tôi hiểu rằng đây không chỉ là “chuyện phim”, mà còn là một kho tàng lịch sử được lưu trữ qua con người.
VL: Trong thể loại phim tài liệu, phỏng vấn có thể nói là nền tảng chính của toàn bộ cấu trúc, vừa cung cấp thông tin theo mạch thời gian, vừa là cầu nối cảm xúc với người xem. Với tầm quan trọng này, anh đã lựa chọn những chứng nhân để phỏng vấn và cân bằng quan điểm như thế nào?
NP: Chúng tôi lựa chọn nhân chứng dựa trên bốn tiêu chí chính: có trải nghiệm trực tiếp hoặc chuyên môn liên quan; lời kể có thể đối chiếu bằng tư liệu và dữ kiện; sẵn sàng kể lại một cách có trách nhiệm, không thổi phồng; và có sự đa dạng về vùng miền, vai trò, thế hệ, kể cả những người từ miền Bắc và Hoa Kỳ.
Về cân bằng quan điểm, chúng tôi không áp dụng công thức máy móc kiểu “mỗi bên một nửa thời lượng.” Cân bằng, theo chúng tôi, không có nghĩa là mọi quan điểm đều có giá trị ngang nhau, mà là mỗi lời kể phải đứng vững trước sự kiểm chứng và được đặt trong bối cảnh lịch sử rộng hơn.
Dĩ nhiên, có rất nhiều nhân vật và câu chuyện chúng tôi rất muốn đưa vào nhưng không thể. Thực ra, cuộc đời của mỗi người Việt Nam từng trải qua thời kỳ ấy đều có thể trở thành một bộ phim riêng.
Hơn 80 năm sau khi Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc, thế giới vẫn tiếp tục làm những bộ phim mới về Holocaust, mỗi phim khai thác một số phận hay một góc nhìn khác. Trong khi đó, câu chuyện Việt Nam, đặc biệt là những gì xảy ra sau năm 1975 — tù cải tạo, vượt biên, vượt biển, đời sống của người tị nạn và hành trình xây dựng lại cuộc đời — vẫn chưa được kể đầy đủ.
Một bộ phim 90 phút không thể chứa hết những câu chuyện ấy. Vì vậy, chúng tôi hy vọng bộ phim này chỉ là một khởi đầu, và trong tương lai sẽ có thêm nhiều người tiếp tục kể những câu chuyện Việt Nam còn chưa được nghe đến.
VL: Bộ phim có ý nghĩa với thế hệ trẻ như thế nào? Và theo anh, cách tốt nhất để tiếp cận đối tượng khán giả này là gì?
NP: Bộ phim giúp thế hệ trẻ hiểu rằng lịch sử không chỉ là “ai thắng ai thua”, mà còn là số phận con người. Các em cũng thấy rõ hơn vì sao gia đình mình có mặt ở Mỹ, và vì sao cộng đồng Việt hải ngoại trân trọng hai chữ tự do. Một khi các em hiểu được những hy sinh của cha chú, các em sẽ hãnh diện về nguồn gốc lịch sử của mình, và đây sẽ là một hành trang giúp các em thành công nhiều hơn trong tương lai.
VL: Bất cứ đội ngũ làm phim nào cũng mong muốn những thông điệp đầy nhiệt huyết của họ sẽ đọng lại trong lòng khán giả. Nếu anh được chọn, những ao ước đó là gì?
NP: Tôi mong sau khi xem phim, khán giả sẽ lưu lại bốn điều.
Thứ nhất, hiểu rõ hơn rằng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ động phát động cuộc chiến, đưa chiến tranh vào miền Nam và tạo nên cuộc chiến Việt Nam kéo dài nhiều thập niên.
Thứ hai, nhìn nhận đầy đủ hơn sự chiến đấu và hy sinh của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa — những người đã kháng cự cuộc xâm lăng từ miền Bắc cho đến phút cuối cùng, cho đến viên đạn cuối cùng.
Thứ ba, tôi mong người Việt, đặc biệt là thế hệ trẻ, có thể hiểu và hãnh diện hơn về Việt Nam Cộng Hòa — về cha ông đã nỗ lực xây dựng và bảo vệ một xã hội tự do, nhân bản và dân chủ giữa chiến tranh và những hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt.
Và thứ tư, tôi mong khán giả hiểu sâu hơn về miền Nam Việt Nam và số phận của hàng triệu người Việt bị cuốn vào cuộc chiến ấy — không chỉ trong chiến tranh mà còn trong những năm tháng đau thương sau 1975.
Điều chúng tôi mong muốn không phải là khơi lại hay nuôi dưỡng thù hận. Chúng tôi chỉ mong người xem bước ra khỏi rạp với một sự nhận thức mới, rất đơn giản nhưng rất con người:
“À, hóa ra còn có những câu chuyện như thế này — những câu chuyện mà trước đây mình chưa từng được nghe.”
Chiến tranh Việt Nam không chỉ là một chương trong lịch sử quốc tế hay một cuộc đối đầu trong thời Chiến tranh Lạnh. Đó còn là bi kịch, sự hy sinh, lòng can đảm và nghị lực của hàng triệu gia đình Việt Nam; là câu chuyện của những con người đã cố gắng xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, bảo vệ tự do và giữ gìn phẩm giá của mình giữa những biến động khốc liệt của lịch sử.
Và sau cùng, tôi muốn để lại cho khán giả một câu hỏi:
“Nếu những nhân chứng cuối cùng ra đi trước khi chúng ta kịp lắng nghe họ, thì ai sẽ kể lại lịch sử — và lịch sử ấy sẽ được kể theo cách nào?”
Có lẽ đó cũng chính là lý do chúng tôi làm bộ phim này: để những câu chuyện ấy được lắng nghe trước khi quá muộn.
VL: Những cảm xúc nghẹn ngào của nhân chứng Huấn Nguyễn – cựu đô đốc hải quân Hoa Kỳ – về cái chết vô danh của gia đình anh, đọng lại trong tôi những câu hỏi xoay vòng về công lý nhân văn. Anh nghĩ rằng, bộ phim này, cùng với những dự án khác về cuộc chiến, có đưa chúng ta đến một phần giải tỏa nào không?
NP: Tôi hy vọng là có. Nhưng sự giải tỏa không có nghĩa là quên đi quá khứ, càng không có nghĩa là xóa nhòa những bất công đã xảy ra.
Câu chuyện của Đô đốc Huấn Nguyễn là một khúc quanh lịch sử khiến chúng ta phải nhìn lại và đặt nhiều câu hỏi — không chỉ về chiến tranh, mà còn về vai trò của báo chí và điện ảnh trong việc chuyển tải một biến cố được ghi nhận, diễn giải và lưu lại trong ký ức của nhiều thế hệ.
Phim ảnh không thể trả lại những người đã mất, cũng không thể mang đến công lý trọn vẹn cho mọi nạn nhân. Nhưng ít nhất, chúng ta có thể trả lại cho họ một tên gọi, một câu chuyện và một vị trí xứng đáng trong lịch sử. Những người đã chết không nên phải chết thêm một lần nữa vì bị lãng quên, hay vì câu chuyện của họ chưa từng được kể đầy đủ.
Tôi hy vọng bộ phim này, cùng với những dự án khác, có thể góp một phần vào sự giải tỏa ấy: để những người từng chịu đau khổ cảm thấy câu chuyện của họ cuối cùng đã được lắng nghe; và để thế hệ sau hiểu rằng phía sau những con số, những hình ảnh và những trang sử chiến tranh là những con người bằng xương bằng thịt, những gia đình và những số phận có thật.
Với tôi, đó cũng là một hình thức của công lý — công lý của ký ức và sự thật. Chỉ khi sự thật được nhìn nhận một cách trung thực và đầy đủ, chúng ta mới có thể tiến gần hơn đến sự cảm thông, hòa giải và chữa lành.
Vietnam War Untold Stories of the South: Trials, Triumphs & Tragedies
Những Câu Chuyện Chưa Kể về Chiến Tranh Việt Nam từ Miền Nam: Thử Thách, Chiến Thắng & Bi Kịch
Đạo Diễn: Nguyễn Đức
Nhà sản xuất: Nam Phạm
Thể loại: Phim tài liệu
Thời lượng: 1 tiếng 40 phút
Phụ đề: Anh, Việt
Giải thưởng: The Los Angeles Tribune International Film Festival – Best Documentary Film
Vivian Luu
(Theo Vietbao Online)
*Bài do CTV/TVBH gởi
