Nguyễn Kỳ Dzương: Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ (3)

(Ảnh: Tác Giả gởi)

“Có những lá thư không còn nguyên vẹn, nhưng từng dòng chữ vẫn hằn sâu trong tim. Có những cuộc tình đã khép lại, nhưng sợi tơ của kỷ niệm vẫn quấn chặt lấy tâm hồn. Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ… Con người, có lẽ cũng vậy.”

Tôi không nhớ rõ là gia đình chúng tôi đã về lập nghiệp ở xã Tăng Nhơn Phú này bao lâu rồi. Dần dà, những cây sầu riêng trong vườn cũng lớn hơn nhiều. Mỗi năm đã có thể kêu người đến bán “mão”. Họ ngắm nghía, ước lượng xong rồi trả giá. Đến mùa trái chín đều, họ cho xe, cho người đến hái và chở đi. Cứ đến mùa này là nhà tôi rộn rã, tưng bừng, tiếng cười, tiếng nói. Dĩ nhiên mẹ tôi là người sung sướng nhất vì bà sẽ nhận được một bó bạc mặt “to bằng cái bắp vế”.

Tôi cũng đã quen với những tiếng cười nói rộn ràng, không phải từ những lái thương, mà từ các chàng sinh viên sĩ quan tinh nghịch của trường Bộ Binh Thủ Đức đi thực tập hành quân ngang qua và tìm dịp ghé vào vườn nhà chúng tôi.

Mẹ con chúng tôi ở đây đã lâu nên biết rõ thời khóa biểu, lịch trình “hành quân” của những khóa học nối tiếp nhau, năm này qua năm khác. Mỗi năm, dễ đến cả ngàn người mới vào và cũng cả ngàn người tốt nghiệp, rời trường.

Trong những lần ghé thăm vườn của các chàng thanh niên tinh nghịch vô tư ấy, có một hôm, tư nhiên linh cảm cho tôi biết rằng, trong những anh chàng này, có một anh sinh viên đã chiếm một chỗ đứng đặc biệt trong tim tôi.

Anh tên là Dzương, có vẻ ít nói nhất, hơi bị lạc lõng vì anh là người duy nhất trong đám bạn là người Bắc, nói giọng Bắc và không biết ăn sầu riêng. Tội nghiệp, có một lần bị bạn bè thách thức, trong nước mắt nước mũi dàn dụa, anh cố nuốt trôi miếng sầu riêng để không thua cuộc với đám bọn bạn tinh quái.

Cũng lạ, từ đó trở đi, anh lại biết thưởng thức sầu riêng và lần nào ghé thăm, cũng phải có được một vài múi. Được cái, đây là món đặc sản của Tăng Nhơn Phú, lại cây nhà lá vườn, dễ có và dễ “chiều”.

Câu chuyện từ từ thành sự thực. Anh Dzương hay tìm cách đến vườn sầu riêng nhà tôi nhiều hơn. Khi bắt đầu mang “con cá” trên ngực áo trận, từ “huynh trưởng” đến “đại huynh trưởng”, anh lại càng có nhiều cớ, dẫn khóa đàn em đi thực tập ở trên đồi Tăng Nhơn Phú. Anh có nhiều cơ hội để ghé vườn nhà tôi.

Có lẽ đây cũng là lúc mối tình của chúng tôi đậm đà mùi sầu riêng hơn. (Ủa, mình có nói yêu nhau bao giờ đâu mà mơ mộng vậy cà?)

Thỉnh thoảng, chúng tôi trao đổi vội vàng một lá thư viết tay vì những nhung nhớ không thể nói ra. Thư trao đi rồi bắt đầu trông đợi hồi âm. Dù cũng chỉ là những đối đáp bâng quơ nhưng có lẽ người viết cũng như người nhận, đều thổn thức như nhau. (Mình đang mơ mộng và tưởng tượng quá đây chăng?)

Có một lần, trong bức thư viết tay của mình, tôi nhớ tôi có hỏi “phải hôn anh?” Đối với học trò con gái người Miền Nam, chữ “hôn” ở đây chỉ là chữ “không”, phải không anh? Thế mà cu cậu tưởng bở, trong thư trả lời mình, “dám” nói “phải hôn em”. Ông này quá lắm rồi. Không khù khờ như mình tưởng. Mình hạch tội rồi nguýt cho một cái, “nghiêng thùng đổ nước”. Cũng tội nghiệp, chỉ vì một chút khác biệt của ngôn ngữ. Anh chàng trông khổ sở vị bị “mắng vốn” không đâu.

Một lần khác, chàng khen tôi có mái tóc mượt mà, thơm thoang thoảng nhưng không biết đó là mùi gì. À thì đây là cơ hội để “điều tra” xem chàng có gia đình chưa! Tôi cho biết đó là mùi thơm của dầu dừa. Con gái người Nam, người nào cũng thích dùng dầu dừa này. Vừa có mùi thơm trinh nguyên, vừa giúp mái tóc óng ả. Tôi đưa chai dầu dừa và nói:

– Anh đem về tặng cho vợ! Anh chàng dãy nẩy, “mới học xong là bị động viên liền, đã làm gì có vợ”?

Mẹ tôi cũng có vẻ ưng bụng với chàng sinh viên sĩ quan này nên đã có lần bà nói:

– Mai mốt thằng Dzương lấy con Út nhà này, tao cho một “bó bạc to bằng cái bắp vế”! Tôi mắc cở chín người, hét ầm lên:

– Má, sao má nói kỳ dzậy? Con không chịu đâu.

Thời gian cứ thế trôi đi. Sẽ đến ngày mãn khóa. Chàng sẽ tốt nghiệp và sẽ xa rời Tăng Nhơn Phú. Cứ nghĩ đến đây là lòng tôi quặn đau. Nước mắt cứ thế mà tuôn rơi.

Một hôm, tôi bạo dạn hỏi Dzương về dự tính của anh sau khi ra trường. Anh cũng thành thật, chậm rãi giải thích cho tôi rằng một sĩ quan mới ra trường, với cấp bậc chuẩn úy, chưa biết số phận sẽ đưa đẩy về đâu. Ra tiền tuyến có khi “ngồi” chưa nóng chỗ thì đã leo lên bàn thờ. Bây giờ đâu đã tính gì được?

Tôi cũng cảm nghiệm được điều này nhưng vẫn muốn dò hỏi ý định của chàng. Tôi chỉ biết thẫn thờ ngồi cạnh chàng cho đến hết buổi chiều. Chàng vô tình nói:

– Buổi chiều trên đồi Tăng Nhơn Phú đẹp chi lạ. Chiều nay tôi không thấy đẹp như mọi khi. (Chàng không biết nói điều gì khác với tôi hay sao?)

Còn hai tuần nữa là chàng ra trường. Tôi muốn có dịp ở cạnh chàng lâu hơn và nhân thể, giới thiệu chàng với một người bà con bên mẹ tôi có sạp bán cơm tấm ngoài chợ Biên Hòa.

Chúa nhật đó, chàng không đi phép về Sài Gòn, ra nhà tôi thay bộ quần áo “xi vin” và đi cùng tôi ra chợ Biên Hòa. Hôm đó, tôi đã “diện” bộ cánh mới: quần Mỹ A đen và một chiếc áo bà ba màu tím nhạt. Tôi cũng không quên trang điểm nhẹ. Trông thấy tôi, mắt chàng reo vui. Chàng như ngỡ ngàng nhìn thấy tôi khác mọi khi, hơi lúng túng, có vẻ muốn nói gì đó rồi lại thôi.

Tôi đã có dịp bán chính thức giới thiệu “người trai thời chiến” với bà dì tôi. Tôi được sống trọn vẹn một ngày với anh.

Về đến nhà, lòng tôi nặng trĩu vì biết rằng thời gian ở bên nhau sắp hết, không có cách nào kéo dài hơn được. Trong khi chờ chàng thay lại bộ đồ trận, tôi sửa soạn sẵn chiếc khăn tay tôi thêu tặng chàng, có hai chữ D và H quấn vào nhau.

Khi chia tay, có lẽ cả hai đều linh cảm đây là lần cuối cùng gần bên nhau. Cả hai chúng tôi đều bịn rịn, không rời. Tôi mạnh dạn nắm chặt tay chàng, trao vội chiếc khăn tay, có gói sẵn vài trăm đồng cho chàng dằn túi rồi chạy vội vào nhà, không cầm được nước mắt cứ lã chã tuôn rơi.

Bộ quần áo xi vin chàng để lại đã được giặt ủi tử tế và được treo trong tủ áo của tôi.

Thế rồi một tuần, hai tuần, ba tuần. Rồi một tháng, hai tháng, ba tháng… chàng vẫn biệt tăm, chưa một lần về thăm lại Tăng Nhơn Phú (thăm tôi thì đúng hơn).

Sau này, một tai nạn đã xảy ra cho đại đội cũ của chàng ngay sau cổng trường Thủ Đức khiến cho mấy sinh viên và một sĩ quan cán bộ bỏ mình tại chỗ.

Năm đó, tôi không thi đậu tú tài hai nên giấc mộng về học trường Văn Khoa để có cớ và có thì giờ đi tìm lại “người trong mộng” cũng tiêu tan. Nghe chàng nói là cha mẹ và gia đình chàng sinh sống ở khu trường Đắc Lộ, Ngã Tư Bảy Hiền.

Mãi cho đến cả năm sau, tôi mới nguôi ngoai, buổi tối không còn đẫm nước mắt trong giấc ngủ chập chờn.

Anh ơi, em nghĩ về anh như một mối tình vô vọng. Em chỉ là người bên kia ảo ảnh. Anh có thể là kẻ bạc tình đến thế sao?

Dù sao, em vẫn không dám trách anh vì người trai thời loạn, mấy ai ra đi có thể hẹn ngày về?

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi? Em còn nhớ ngày xưa anh đã nói “chỉ sợ sau này, cầm một trung đội, đi gỡ mìn trên các tuyến xe đò lục tỉnh, có khi lon chưa khô mà đã sớm lên bàn thờ ngồi”. Em không biết tin tức gì về anh từ hôm ấy và cũng không cách gì để dò hỏi tin tức của anh.

Em oán trách định mệnh ngang trái đã đưa anh đến với em rồi lại mang anh vĩnh viễn ra khỏi cuộc đời em. Em chỉ còn biết cầu mong anh được bình an và còn nhớ đến em.

Em bắt chước nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, viết tặng anh bốn câu thơ:

Em cầu em với Dzương,

Mãi mãi bước chung đường,

Xin Phật Trời chứng giám,

Nguyện muôn kiếp còn thương.

Em, Trần Thị Huệ.

Nguyễn Kỳ Dzương

Bài Mới Nhất
Search