Tục ngữ Tầu
Thượng sàng phu thê, hạ sàng quân tử
(Lên giường là vợ chồng, xuống giường là quân tử)
(Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh)
Lợn
Nên lưu ý là về lợn, vốn từ vựng tiếng Việt rất dồi dào. Không những dồi dào mà còn chi li: lợn có nhiều loại khác nhau.
Ví dụ: lợn. Ðã có lợn lại còn có heo. Lợn thì có lợn bột, lợn cà, lợn cấn, lợn ỷ, lợn sề, lợn lòi, lợn tháu,… Heo thì có heo bông, heo cỏ, heo cúi, heo dái (heo hạch), heo đèo, heo gạo, heo gió, heo lang, heo nọc, heo rừng, heo sữa, heo vá chàm, heo voi..v..v..
Tuy nhiên, đó là sống. Còn chết thì khác. Gà, vịt, chim, cá v.v… lúc sống thế nào thì lúc chết thế ấy. Có lẽ chỉ có vài bộ phận của chúng là được đổi tên: máu hay huyết sẽ biến thành tiết; cái đầu sẽ được gọi bằng một từ Nôm khác: cái sỏ hoặc một từ Hán Việt thanh nhã hơn: cái thủ. Thế thôi.
(Nguyễn Hưng Quốc – Tiếng Việt: Cọp và Chó)
Tiếng Việt cổ
Luốc: luộc
Khọn: con khỉ
Cuồng: khùng
Năm
Chữ Nôm là chữ của người nước Nam pha trộn với một số các từ Hán Việt (chữ Tàu phát âm theo kiểu Việt Nam). Lối viết của chữ Nôm dựa hoàn toàn vào chữ Hán và lại phức tạp gấp mấy lần. Thông thường một từ chữ Nôm là sản phẩm của hoặc một sự chắp nối ít nhất 2 từ của tiếng Hán, hoặc một sự vay mượn nguyên con một từ tiếng Hán nhưng đọc theo kiểu Nôm.
“Năm” có nghĩa số 5, tiếng Hán là ngũ, tiếng Nôm kẹp từ “nam” (chỉ phương Nam) với “ngũ”, mới viết được ra tiếng Nôm “năm”, năm = nam+ngũ.
“Năm” chỉ năm tháng lại dùng: nam+niên. Nam nghĩa phương nam cho âm, niên tiếng Hán Việt là năm.
“Bà” (lão bà) viết bằng “ba” (sóng) đặt nằm trên chữ “nữ”
(Phan Trọng Hoa – Tự điển chũ Nôm)
Chữ nghĩa máy vi tính
Diệt vi-rút chuyên ngành:
1 – Sao chép file chứa vi-rút vào USB.
2 – Khi copy nửa chừng: rút USB ra để vi-rút đang chạy từ PC sang USB sẽ bị rơi ra ngoài.
3 – Bỏ vi-rút vào túi, đem đi thử nghiệm và cho uống thuốc.
4 – Thả vi-rút vào máy để truyền thuốc cho vi-rút khác và chúng sẽ chết hàng loạt.
Công tử bột
Công tử bột là ai vậy? Theo nhiều người kể lại, các chàng công tử bột không phải ai xa lạ mà chính là các công chức ngành dây thép (bưu điện) trong thời Pháp thuộc. Thuở ấy, các công chức này thường ăn diện quần áo trắng tinh, bảnh bao, cứ chạy nhong nhong như cờ lông công trên các đường phố ở thành phố. Nhưng cớ sao lại gọi là công tử bột?
Từ “bột”, vốn là cách đọc chệch của âm từ “poste” trong tiếng Pháp, có nghĩa là bưu điện (dây thép). Hóa ra công tử bột làm nghề bưu điện. Hiện nay các hình ảnh đó đã xa vắng, khác lạ so với chúng ta, không còn hình ảnh nào để gợi nhớ tới họ nữa.
Chữ nghĩa @
Thế hệ @ với 8x hay 9x là thế hệ trẻ sinh năm 1980 hay 1990.
Những sai lầm trong làng văn II
Sau khi vào công tác tại Sài Gòn, một lần tôi (Hoài An) đọc một bài văn nghệ có những văn nghệ sĩ như Tô Hoài, Chế Lan Viên, Chu Thiên… Lúc đầu tôi hơi sửng sốt nhưng sau vỡ lẽ ra, chẳng là tác giả bài báo thấy có tên Hoàng Minh Giám nên đinh ninh đó là Chu Thiên. Thì ra qua đó tôi rút ra một điều:
Chu Thiên có độc giả của mình, nhiều người quý mến ông đến nỗi nhớ cả tên thật của ông được ghi chú sơ sài trong một cuốn sách phê bình văn học và mỗi khi đọc đến tên nhà hoạt động chính trị xã hội Hoàng Minh Giám, được xuất hiện liên tục trong báo chí mấy chục năm qua, vẫn yên trí đó là Chu Thiên.
Xưa nay chỉ có cái họa trùng bút hiệu…, nhưng đến cái họa trùng tên thì thật là quả hiếm có. Điều đó nhắc nhở chúng ta nên quan tâm giới thiệu tiểu sử các nhà văn chính xác và kỹ càng hơn nữa để tránh tình trạng lẫn lộn người này với người kia, mặc dù những người ấy đang còn sống sờ sờ.
(Phụ chú: Bên dưới bút danh Chu Thiên, Vũ Ngọc Phan ghi tên thật nhà văn là Hoàng Minh Giám trong hai ngoặc đơn. Ban đầu tôi cứ tưởng ông là Hoàng Minh Giám hiệu trưởng trường trung học Thăng Long được ghi trong danh sách giáo viên nhà trường đăng báo Ngày nay. Tôi hỏi cha tôi, cha tôi bảo ông Hoàng Minh Giám dạy trường Thăng Long là ông Hoàng Minh Giám khác, người làng Đông Ngạc huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông, con cụ Phó bảng Hoàng Tăng Bí.
Còn ông Chu Thiên là người Phú Khê, huyện Ý Yên, Nam Định, ông tên Giám lấy hiệu Chu Thiên, do chữ “Giám chi chu thiên” nghĩa là “xem xét khắp cả vòng trời”).
(…trích Chu Thiên, gương sáng nhà nho chân chính – Hoài Ân)
Chữ nghĩa thập niên 20
Viễn phố Hợp phố – Sông Tiêu tương có 8 cảnh đẹp trong đó có Viễn phố và Hợp phố.
Xưa có một người nằm mộng: Thấy tình nhân ở Viễn phố, rồi sau thực được gặp ở Hợp phố. Cho nên có câu “Mộng quân ư Viễn phố hề phùng quân ư Hợp phố”.
(Tôn Thất Lương – Xuân mộng)
Chức vụ
Những chức vụ như vua, tổng thống, thủ tướng, v..v.. bình thường không viết hoa. Nhưng nếu đặt trước một tên nhân vật cụ thể thì phải viết hoa chữ đầu, ngoại trừ những trường hợp ngoại lệ.
Ví dụ “Vua Quang Trung” chứ không phải ” vua Quang Trung”.
(nguồn Wikipedia)
Ca dao tình yêu miền Nam
Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị, hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu miền Nam. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây. Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, qua những từ ngữ mộc mạc, chân thật như tâm sự của một anh chàng đêm hôm khuya khoắt lặn lội đi thăm người yêu:
“Thương em nên mới đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau
May đất mềm nên mới hổng đau
Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này”
(Đoàn thị Thu Vân – Chất hóm hỉnh trong ca dao miền Nam)
Già
Già – Do chữ “Già lam”, theo tiếng Phạn là chùa Phật (cửa Già)
Kiều có câu: “Có người đàn việt lên chơi cửa Già”.
Già: Còn có nghĩa là cái gông. ”Già giang” là cái gông đeo cổ.
Trong Kiều có câu: “Già giang một gái, một trai – Một dây xô loại buộc hai thân mình”.
Tự hiệu, biệt hiệu
Xưa, khi sinh ra đến 19 tuổi, con trai được gọi bằng tên tục tức là tên húy. Từ 20 tuổi trở đi bắt đầu đội mũ (mão), sau khi làm lễ đội mũ gọi là lễ gia quan mới có tên tự (tự hiệu). Do đó tuổi 20 gọi là tuổi nhược quan (nhược là tuổi 20, quan là mũ).
Với những người trong giới văn thơ có thêm hiệu (biệt hiệu). Hiệu để trước họ, tự đặt sau họ. Thí dụ:
Thanh Hiên Nguyễn Tố Như (Nguyễn Du) thì Thanh Hiên là hiệu (biệt hiệu). Tố Như là tự (tự hiệu). Còn Du là tên húy, tên tục.
(Phụ chú: Tầu có câu “Quan, hôn, tang, tế vô hồi” là bốn cái lễ lớn trong gia đình. Riêng với quan là lễ đội mũ cho con trai như trên..v..v..và tế là cúng lễ thần linh)
(Trần Bích San – Văn Khảo)
Ung dung tự tại?
Cụm từ “ung dung tự tại”, nhưng thực ra là “thung dung tự tại”.
Trong Nhị độ mai có câu: “Thung dung xuống hậu sảnh đường…”.
Thằng sàng…
Hồi xưa, khi vừa biết chữ võng (Hán tự) có nghĩa là cái lưới, tôi liền hoan hỉ thấy công việc tầm nguyên chữ nghĩa xem ra thoải mái quá. Cái võng do cái lưới mà ra: Đích rồi. Mặt võng khác gì mặt lưới? Giằng ra bắt chim bắt thú, gọi là lưới; còn treo nó lên để nằm đu đưa thì gọi là võng. Cũng nó thôi.
Thừa thắng xông lên, tôi phăng ngay ra quê quán của chiếc võng. Lại gốc từ phương Bắc nữa đây. Tiếp xúc với văn minh Trung Quốc có nhiều cái lợi; ít nhất là cái lợi cho thuở bé nằm bú sữa mẹ, và khi lớn lên thỉnh thoảng được nằm toòng teng về nhà ngoại. Tôi hài lòng về sự học hỏi của mình. Đến khi gặp bài thơ “Tức sự” của Cao Bá Quát liền nhận ra sự lố lăng của mình. Cao Bá Quát mở đầu:
Nhãn khan cao điểu độc phàn lung
Tự ỷ thằng sàng bất ngữ trung
Hoá ra cái võng nó không hề là cái lưới; nó là “thằng sàng”, là “cái giường” dây! Như vậy rõ ràng là ở Tàu võng không có tên, không có mặt. Người Tàu khi cần nói đến nó, phải tìm cách phiên dịch tiếng nước ta. Thế là cái võng mất quê quán ở phương Bắc.
(Võ Phiến – Cái võng)
Chữ Tầu gốc Việt
Tý chữ Hán là con chuột
Tử cũng là chữ Hán (con chuột) nhưng “tử” là tiếng Việt cổ.
Chữ tử viết bằng bộ khẩu, gần giống với chữ tý.
Bút hiệu
Dương Ngiễm Mậu bị giam giữ ở trại giam Phan Đăng Lưu với Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Hữu Hiệu và Nhã Ca. Chẳng hiểu vì lý do nào, cũng như với Lê Xuyên tác giả Chú Tư Cầu. Mậu là một trong hai tù nhân bị quản huấn bỏ quên lâu nhất. Mãi gần nửa năm sau, mới được gọi lên. Cuộc thẩm vấn thật tức cười:
– Anh tên gì?
– Dương Nghiễm Mậu. Tên thật Phí Ích Nghiễm.
– Sao lại những hai tên?
– Một tên cha mẹ đặt. Một tên vì nghề nghiệp.
Quản huấn lắc đầu, Mậu không có hồ sơ tội phạm. Đành hỏi:
– Anh bị bắt tội gì?
– Nghề văn nghệ sĩ.
Tên quản huấn mặt mày rạng rỡ:
– Có thế chứ. Vậy tôi ghi vào hồ sơ tội trạng anh, anh nhớ kỹ nhé: Tội anh là tội văn nghệ sĩ có…hai tên.
(Mai Thảo – Con đường Dương Nghiễm Mậu)
Chữ và nghĩa với địa danh miền Nam
Con sông Đồng Nai đã đưa ta đến tỉnh Biên Hòa (hòa bình ở biên cương), một trấn đã được sáp nhập vào nước ta năm 1653. Khoảng đất này xưa được gọi là Đông Phố đúng ra là Giãn Phố vì hai chữ Đông và Giãn viết theo chữ Hán hơi giống nhau.
Về sau nơi này đã được triều đình Huế giao cho người Trung Hoa gốc Quảng Tây di cư theo hai tướng Trần Thượng Xuyên và Trần An Bình đến khai khẩn và lập nghiệp năm 1679 tại Cù lao Phố, sau khi nhà Minh bị nhà Thanh lật đổ.
Trên Biên Hòa thì có Hố Nai (hố sập nai), Trảng Bom (trảng là một đồi bằng phẳng và rộng rãi có trồng nhiều cây chum-bao-hom đọc trạnh thành bom, sinh ra một thứ dầu gọi là chaulmougra, dùng để trị phong hủi).
(Hồ Đình Vũ – Nguồn gốc một số địa danh miền Nam)
Tên tác phẩm
Có nhiều câu thơ hay tên tác phẩm được các tác giả vay mượn lẫn nhau: Đường vào tình sử là câu thơ của Vũ Hoàng Chương lấy từ tên thi tập của Đinh Hùng.
Trả ta sông núi là tên tác phẩm của Phạm Văn Liễu vay mượn từ câu thơ của Vũ Hoàng Chương. Nhiều nhất là tên bài thơ Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển của Du Tử Lê, v..v..
Chữ nghĩa bệnh già
Người già không muốn nhắc nhở đến ngày sinh nhật.
Họ mở báo đọc hay tìm trang cáo phó đọc trước.
Bà Bé Tý
Bà là quả phụ của ông Tây chánh chủ sở Bưu Điện Hà Nội. Nhà bà ở phố Hàng Bạc đã nổi tiếng nhờ chuồng thú của bà còn được gọi là “sở thú tại gia” có nuôi nhiều con vật lạ.
Trong số đó có “Một con gà ba chân”.
Ngộ Không
(Sưu Tập)
