Jessica Lê: Một Thời, Lý Toét – Xã Xệ

Họa sĩ Đông Sơn – Chính là nhà văn Nhất Linh! – vẽ nhân vật Lý Toét vào đầu thập niên 1930, và tờ báo đầu tiên đăng tranh Lý Toét, là Phong Hóa. Đó là hai điểm chính, về nhân vật cụ Lý vốn dĩ được bạn đọc Việt Nam yêu chuộng đặc biệt từ hơn chín mươi năm qua.

Tìm đọc lại báo Ngày Nay, số Xuân 1940, mới biết chính ông Nhất Linh có giải thích rõ ràng chi tiết về lý lịch của cụ Lý trong bài viết Lịch Sử Lý Toét: “Tên Lý Toét ra đời trước, rồi hình người Lý Toét mới ra đời sau”. Năm 1930, trong báo Tứ Dân, người “đẻ ra” tên Lý Toét nơi văn chương chính là Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, “chuyên viên thơ trào phúng” của Tự Lực Văn Đoàn, rồi họa sĩ Đông Sơn và bà chủ Phụ Nữ Thời Đàm mới “đẻ ra” hình ảnh Lý Toét sau đó. Sự tích: Đông Sơn một hôm đang xem báo Phụ Nữ, đã vẽ nghịch một người nhà quê, thấy hay hay nên xé tờ giấy đó vứt vào ô kéo, chưa biết để làm gì. Chính nó, mảnh giấy nhật trình ấy là có ghi chân dung “thủy tổ” của tất cả các Lý Toét sau này!

Trên bức hình đó, Lý Toét trông trẻ hơn sau này nhiều, nhưng đã được mặc áo dài khăn đóng, như mọi cụ già thời đó. Lại có đủ cả râu ria, búi tóc, xách thêm đôi dép da Gia Định và cắp cái ô đen: Cá tính như thế là được định hình. Cụ Lý thường xách dép lên, đi đất, vì ngại sẽ làm chóng hỏng đôi dép cũ. Cái ô cũng ít khi mở ra, mà chỉ để dành đánh chó và đeo lên vai cho oai. Nhưng chúng cũng làm khổ cụ Lý, vì chúng cứ bị tụi trộm đặt vào tầm ngắm, quấy phá luôn luôn!

Từ Phong Hóa số 14, ra ngày 2/9/1932, mới có chủ bút rõ ràng là Nguyễn Tường Tam. Cùng em là Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long và các bạn như Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, Khái Hưng Trần Khánh Giư, ông chính thức phụ trách tờ Phong Hóa. Ngay trong số 14 ấy, bạn đọc đã bắt gặp Đông Sơn đưa hình “cụ” (Chưa có tên) về Hà Nội trên một chuyến xe đò đông như nêm cối. Nhất Linh kể, Lý Toét như vậy là ra mắt độc giả ngay từ số Phong Hóa 14, nhưng còn ngơ ngác vì chưa có tên. Sau đó, Đông Sơn đính thêm cái tên Lý Toét vào hình, thế là Phong Hóa có trong tay một nhân vật hí họa hoàn chỉnh, nom rõ có duyên. Lần đầu tiên cây bút Tứ Ly (Tức Hoàng Đạo) đem Lý Toét – tên (không có hình), lên báo Phong Hóa là nơi số 35, trong bài viết Cuộc Chợ Phiên Do Phong Hóa Tổ Chức. Đến lúc đó, Lý Toét – hình, không tên, chỉ dùng để trang trí cho mục Vui Cười. Tới số 48, năm 1933, Phong Hóa có tranh Lý Toét Ra Tỉnh. Đó là lần đầu cụ Lý có đủ tên – hình, cùng cái dáng lom khom hay đặt những câu hỏi rất ẩm ương. Thế rồi tới Phong Hóa số 59, bức vẽ Lý Toét Ra Tỉnh thứ hai chiếm ngay trang bìa. Đến lúc ấy thì Nhất Linh – Đông Sơn biết, nhân vật này sẽ chinh phục độc giả toàn quốc. Quả như vậy, Lý Toét đã làm mưa làm gió trên văn đàn trong suốt thập niên 1930.

Trước hết, về cá nhân Lý Toét, tính chất tổng quát được chấp nhận bất thành văn: Một ông già nhà quê, có phận khá trong làng, chức Lý trưởng, nên được gọi là Lý, nhưng mắt bị bệnh đau mắt hột từ bé, thành ra nó cứ kèm nhèm, như viền vải Tây đỏ, gọi là mắt toét. Nhập hai chữ “Lý” và “Toét” vào nhau thành tên nhân vật, chứ đó không phải là tên cúng cơm do bố mẹ đặt cho.

Lý Toét nghèo, sống ở thôn quê, chưa từng được thấy những thứ văn minh ngoài phố do người Pháp mang lại. Lý biết đọc chữ quốc ngữ, biết ít chữ Nôm, chữ Nho, nhưng không hiểu tiếng Pháp, nên có nhiều phen không thông về chữ nghĩa, nhầm chữ nọ sang chữ kia. Vì nghèo nên Lý Toét tham ăn, lại nghiện rượu, mà ích kỷ, chỉ muốn mình được phần to; thêm nữa, không hiểu gì về vệ sinh, ăn ở dơ bẩn, lại cả tin, sợ hãi đủ thứ. Lý Toét rất mê tín, thờ cúng đủ mọi loại thần thánh, từ con cóc sành trên bể nước ngoài vườn hoa, đến con hổ sống trong chuồng Vườn Bách Thú. Vợ con ở quê rất lếch thếch: Lý Toét có một cô con gái lớn tên là Ba Vành, cô này bỏ nhà ra đi, rồi lấy Tây. Thỉnh thoảng Lý có xuống vùng mỏ thăm con gái, báo Xuân Phong Hóa, số 85 tường thuật như thế. Cô ấy có con, thỉnh thoảng con bị sài đẹn phải mang vào bệnh viện chữa, làm Lý đi tìm thăm thật khốn khổ. Phong Hóa có tranh chân dung của Ba Vành, cô mặc áo tân thời, nom cũng đẹp ra phết – Khi còn ở dưới quê thì vẫn áo tứ thân.

Họa sĩ Đông Sơn, cha đẻ của Lý Toét đã rất hào phóng không giữ tác phẩm đó cho riêng mình, mà rủ tất cả mọi người cùng vẽ. Do đó, cùng với ông, các họa sĩ của Phong Hóa cũng nhẩy vào vẽ Lý Toét với đầy hứng thú: Cuộc vui “Vẽ Lý Toét” bắt đầu. Mỗi họa sĩ của Phong Hóa qua đó đã vẽ ra một Lý Toét có dung mạo khác hẳn nhau, nhưng cùng tính cách, vẫn nhận ra được. Độc giả có thể ngắm các Lý Toét khác nhau của các họa sĩ Nhất Sách, Tô Tử tức Ái Mỹ Tô Ngọc Vân, Lemur tức Nguyễn Cát Tường, Bloc tức Trần Bình Lộc, Ngym tức Ngạc Mai Trần Quang Trân, hay Trần An. Nhân vật Lý Toét với rất nhiều chân dung đó, đã nổi lên như một vì sao vững vàng mà gần gũi, sau này có thêm danh họa Nguyễn Gia Trí (Lúc đó mới ra trường) tức Rigt, hay Gtri, cùng nhiều người khác, kể cả Lê Ta – Thế Lữ cũng cùng vẽ.

Nhưng ngắm tranh Lý Toét lâu, thấy nhân vật có vẻ hơi cô độc, thiếu bạn, và việc phải đến đã đến: Xã Xệ xuất hiện. Nhất Linh gọi đó là “do tự nhiên phải thế”: Xã Xệ là một nhân vật bằng vai phải lứa với Lý Toét, béo ị, thấp lè tè, đầu trọc lông lốc còn độc một sợi tóc quăn xoắn ốc trên đỉnh. Hình ảnh Xã Xệ hoàn toàn đối chọi với Lý Toét gầy đét và cao lênh khênh. Xã Xệ ra đời để đấu láo với Lý, cãi chầy cãi cối với Lý, chung buồn chung vui với Lý. Ngớ ngẩn, lẩn thẩn sống cuộc đời mới của dân nô lệ mất nước, dưới sự bảo hộ của mẫu quốc Phú-lăng-xa cùng Lý.

Cha đẻ của Xã Xệ là họa sĩ Bút Sơn, từ Sài Gòn gửi tranh vẽ ra Hà Nội. Có lẽ vị này là một độc giả yêu quý báo Phong Hóa, nên tạo ra nhân vật Xã Xệ đối nghịch với Lý Toét. Ông lấy hiệu Bút Sơn để nhái Đông Sơn, nhưng Nhất Linh đến tận khi mất, vẫn chưa biết tên thật của Bút Sơn. Trên bản di cảo Đời Làm Báo ghi tất cả tên và bút hiệu các cộng sự viên, trong cũng như ngoài Tự Lực Văn Đoàn, Nhất Linh có hàng chữ sau: “Bút Sơn ở Sài Gòn (Người đẻ ra Xã Xệ), tên thật chưa biết. Xin ông Bút Sơn (Nếu ông còn sống) hoặc các bạn, cho biết tên thật”.

Về sau, người ta mới được biết tên thật họa sĩ Bút Sơn là Lê Minh Đức. Theo nhà báo – nhà thơ trào phúng Tú Kềnh viết trên báo Bình Minh Xuân Mậu Thân 1968 xuất bản ở Sài Gòn: “Vào năm 1936 báo Phong Hóa, nhóm Tự Lực Văn Ðoàn ở Hà Nội, có tổ chức cuộc thi vẽ tranh hài hước. Họa sĩ chuyên vẽ tranh hài hước Bút Sơn Lê Minh Ðức ở Sài Gòn vẽ một bức tranh gửi ra Bắc dự thi”. Nói cho chính xác, lần đầu Xã Xệ xuất hiện trong tranh Bút Sơn là ngày 16/3/1934, trên báo Phong Hóa số 89. Xã Xệ đã được đón tiếp thật nồng hậu: Xã cùng Lý lên ngay trang bìa của báo. Vậy là báo Phong Hóa đã tạo dựng được cặp đôi hí họa Lý Toét – Xã Xệ, mang rất nhiều “đặc tính dân tộc”, đi vào lịch sử văn chương Việt Nam. Tranh Lý Toét – Xã Xệ không của riêng ai, có khi là một tấm, có khi là một loạt nhiều tấm như phim hoạt họa, với lời chú giải ngắn gọn hoặc vài câu thoại, chính là những câu chuyện nhỏ, nhiều khi rất thâm trầm, nhiều khi lại mộc mạc. Bất cứ ai khi ấy có vài ý nghĩ tốt là có thể vẽ ra một tranh hay, nếu không biết vẽ thì viết thành truyện cười, cũng không kém phần dí dỏm.

Lúc đó, nhờ những cuộc thi tranh hài của Phong Hóa, nhiều họa sĩ bên ngoài tòa soạn đã gửi tác phẩm tới như NG9, HKB, DLAN, Trần An, 2TTG, Mạnh Quỳnh và rất nhiều người không chuyên cũng vẽ. Thêm nữa, các họa sĩ còn mang hình ảnh Lý Toét – Xã Xệ phổ biến, nhân rộng ra khắp các báo thời bấy giờ, từ ngoài Bắc tới vào Trung, trong Nam. Họa sĩ thích vẽ, người thường thích kể chuyện, báo nào có Lý – Xã thì có nhiều người đọc. Đến nỗi cặp đôi này đã trở thành cả nhân vật để quảng cáo: Có những bài quảng cáo thuốc, quảng cáo rượu của Lý Toét đăng trên Phong Hóa, Ngày Nay rất nhiều lần.

Để cạnh tranh, báo Thanh Niên số 2, ra ngày 27/1/1934 cho ra đời Xã Dù – Một nhân vật anh em họ hàng với Lý Toét. Nhưng tiếng tăm của Xã Dù quá lu mờ, nay không ai còn biết, nhớ đến. Như vậy, Nhất Linh và Phong Hóa đã dựng ra được một phong trào có vô số họa sĩ trong, ngoài tòa báo, cùng độc giả dấn thân, đua nhau sáng tác ra vô số tranh Lý Toét – Xã Xệ để cùng kể chuyện vui đùa. Thỉnh thoảng, chính Lý Toét cũng có bài viết riêng như Điều Thỉnh Cầu Của Lý Toét (Phong Hóa số 68), bài thơ Vợ Lý Toét Khuyên Chồng, trong mục Dòng Nước Ngược, thơ trào phúng của Tú Mỡ, rồi Lý Toét Trả Lời, Lý Sự Cùn viết. Lâu lâu báo cũng có đăng Lý Toét Phú, Xã Xệ Phú, Ván Cờ Lý Toét, cả Văn Tế Lý Toét của Đỗ Đức Thu. Có nhiều kỳ, báo Phong Hóa và Ngày Nay có cả 5 – 7 tranh Lý – Xã trên cùng một số báo. Tranh nào cũng kể những chuyện ngây ngô, những suy nghĩ, suy luận chéo cẳng ngỗng, những hiểu nhầm về ngôn ngữ Tây Ta Tầu. Những chuyện vui vu vơ, vô tội này, ngày một lan rộng, ngày một thu hút; những tính tình xấu xí, gàn bướng, cù nhầy, đáng cười của người đời được diễn tả, phô bầy dưới hình thức khôi hài rất duyên, rất khéo mà trong đó, Lý – Xã rất “nghệ”, với những phản ứng không giống ai, diễn tả được biết bao khía cạnh khác nhau của cuộc sống. Đừng tưởng hai nhân vật nhà quê này luôn khù khờ, trái lại, có khi lại rất láu và trong nhiều tranh, biết lý luận hay đáo để.

Cặp bài trùng ấy dần dần nổi tiếng, được sự ủng hộ triệt để từ trẻ con tới người lớn. Người coi tranh, mê tranh mỗi ngày một nhiều, tạo ra một hiện tượng xã hội chưa từng có. Năm 1933, Georges Mignon, trong Nụ Cười Tân Á, khen ngợi Lý Toét của Phong Hóa và năm 2007, tại Mỹ có bài nghiên cứu của George Dutton: Ly Toet In The City. Ròng rã từ 1932 tới cuối năm 1940, tranh Lý Toét là những cú đâm xầm vào đời sống văn minh mới, do mẫu quốc mang tới, của hai kẻ nhà quê cổ hủ “đẫm đặc dân tộc tính”, đó cũng là lúc người châu Á gặp phải cú va đập giữa hai nền văn hóa Đông Tây. Như bà văn sĩ Pearl Buck (Giải thưởng Nobel về văn chương 1938) trong truyện ngắn Bà Mẹ Già do Huyền Hà dịch, Ngày Nay số 200, 1940, kể chuyện bên Tầu: Cô con dâu đi du học về, trong bữa cơm đại gia đình, đã “hét inh lên vì sợ, khi thấy bà mẹ chồng đưa đôi đũa đã liếm nghiêm chỉnh thật sạch trước, chọc vào đĩa thức ăn chung của cả nhà”. Đồng thời trong những bức tranh nhỏ Lý – Xã, các ý tưởng cũng được đào sâu dần, nói lên được nhiều điều. Người đọc sẽ ngày một thấm thía về thân phận người dân nhược tiểu mất nước, mà đa số dân chúng còn chưa được giáo dục, vô kỷ luật, hay sợ hãi, mê tín, và cam chịu tủi nhục dưới ách nô lệ của Pháp. Đó là chủ ý của Tự Lực Văn Đoàn: Dùng văn chương, báo chí để vận động cải tạo xã hội.

Trong bài Trả lời Tân Xã Hội, Hoàng Đạo viết trên Ngày Nay số 30, năm 1936: “Ông sẽ phải công nhận như chúng tôi, là dân chúng – hầu hết là dân quê – chỉ biết mình khổ cực, đói rét, chứ chưa biết đường tự bênh vực lấy mình. Vậy công việc tối quan trọng của ta, của chúng tôi, của ông, là làm thế nào cho họ hiểu hết quyền lợi nghĩa vụ của họ. Công cuộc to tát không phải một ngày mà nên: Công cuộc ấy có thành cũng nhờ một phần lớn ở sự tự do báo chí và tự do kết đoàn”. Thực vậy, hẳn trước khi thành người thành thị, ai chẳng có gốc gác nhà quê, không là ta, thì bố mẹ ông bà ta. Mà cũng từ những nơi đó, có bao kho tàng vốn văn hóa cổ ai cũng say mê, đó là những chuyện cười, chuyện diễu, chuyện tiếu lâm, phóng đại, nói khoác được truyền khẩu từ nghìn xưa, từ các bác dân quê như Ba Giai, Tú Xuất ngoài Bắc, tới bác Ba Phi trong Nam, cùng các bậc trí thức không theo lề lối quan trường như các Trạng, Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, rất nhiều. Trong khi đó, người đầu đàn của Tự Lực Văn Đoàn là Nhất Linh cũng là một họa sĩ; các thành viên khác như Thế Lữ, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam… cũng có thú vẽ tranh không phải thường. Nếu bạn đọc tinh ý, thỉnh thoảng có thể bắt gặp trong Phong Hóa hoặc Ngày Nay những bức vẽ rất đẹp ký tên Khái Hưng và đặc biệt, Ngày Nay số 198, Xuân 1940, có in tranh vẽ của nhiều thành viên Tự Lực Văn Đoàn như Khái Hưng, Tú Mỡ, Thế Lữ, Hoàng Đạo, Thạch Lam. Với tinh thần ấy, hai báo Phong HóaNgày Nay sử dụng tranh ảnh trang trí rất nhiều, luôn luôn có họa sĩ nhà nghề làm việc minh họa. Những họa sĩ lớp mới này được học rất bài bản, họ học được kỹ thuật hội họa Tây phương tại trường Mỹ Thuật Đông Dương Hà Nội, khóa đầu tốt nghiệp năm 1930. Vì vậy, họ sử dụng rất thông thạo kỹ thuật hí họa kiểu Tây phương, để đùa giỡn các ông dân biểu, các quan thượng thư với mục đích sửa lưng các ông, xin các ông nhớ đến dân đến nước, và cũng làm cho công chúng hiểu đời sống chính trị hơn. Những năm sau có thêm Bang Bạnh và Ba Ếch trong cái thế giới hoạt kê đó, giúp các họa sĩ tạo được nhiều màu sắc, nhiều khía cạnh sâu xa hơn.

Những bức tranh Lý Toét, báo Phong Hóa và Ngày Nay có nhiều: Gần 1.000 tấm, mà 2 khía cạnh mỹ thuật và khôi hài đã trộn vào nhau rất ăn ý. Chúng là một sáng tạo tài tình, giúp Phong Hóa và Ngày Nay càng ngày càng đông người đọc, để trở thành báo không đối thủ lúc đó. Có lần, một tờ báo Xuân Phong Hóa đã phải xuất bản lần thứ hai, vì nhu cầu bạn đọc. Trong tinh thần phản đối Khổng giáo lỗi thời, đả phá thái độ phong kiến quan lại cũ, chế diễu lòng mê tín ngu muội, tố cáo sưu cao thuế nặng, những tấm tranh bé nhỏ ấy đã dám đụng tới rất nhiều vấn đề, rất nhiều hủ tục, thói xấu, đã “làm mờ mịt khối óc người ta”. Riêng những vấn đề xã hội, chính trị thực sự, chỉ được nói rất nhẹ nhàng, và được giấu rất kỹ để tránh chế độ kiểm duyệt khắt khe của thực dân Pháp. Tuy vậy, ngày 31/5/1935, Phong Hóa vẫn bị Thống sứ Bắc Kỳ đình bản 3 tháng trước khi đóng cửa luôn. Theo Martina Nguyễn Thục Nhi, trong hồ sơ của phòng nhì Pháp: Việc đóng cửa 3 tháng báo Phong Hóa là do báo đã chế giễu các quan lại.

May thay, báo Ngày Nay hãy còn giấy phép (Ngày Nay là báo dự phòng của Tự Lực Văn Đoàn, do Nguyễn Tường Cẩm, anh ruột Nguyễn Tường Tam, một công chức, đứng tên, số 1 ra ngày 30/1/1935) nên Tự Lực Văn Đoàn còn hoạt động thêm được mấy năm nữa. Lý Toét còn tiếp tục sống, tiếp tục kể chuyện đời trên báo. Phải đến thời Mặt Trận Bình Dân cầm quyền ở Pháp, những lời mong cầu tự do, bỏ kiểm duyệt, bớt thuế mới được viết ra công khai. Những tưởng Mặt Trận Bình Dân thuộc tả phái, sẽ nới lỏng chế độ bảo hộ, mà không. Tất cả những lời hứa chỉ là bánh vẽ, báo chí vẫn chịu chế độ kiểm soát như cũ, bởi vì bên Pháp vẫn còn Bộ Thuộc Địa. Sau này, trong Thế chiến thứ II, dù năm 1939 Paris đã bị Đức Quốc Xã chiếm đóng, chế độ Bảo hộ ở Bắc Kỳ vẫn rất khắt khe: Báo Ngày Nay bị đóng cửa vĩnh viễn năm 1940, người viết báo bị bắt bỏ tù. Hoàng Đạo, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí… bị giam, bị tra tấn dã man từ 1941 tới 1943 tại Vụ Bản, Hòa Bình. Ngày Nay đóng cửa như thế, sau một vài cố gắng ra sách báo đều chết yểu, các thành viên phân tán, Tự Lực Văn Đoàn tan đàn xẻ nghé: Người chết vì bệnh, người bị Pháp bắt bỏ tù, người trốn sang Tầu làm cách mạng, người đi xa lánh nạn, người quay sang viết kịch. Chỉ còn nhà xuất bản Đời Nay sống lây lất, tới tháng 4/1945 còn xuất bản tập thơ Hoa Niên của Tế Hanh (Ông là người cùng Anh Thơ được giải thưởng thơ của Tự Lực Văn Đoàn năm 1939, năm cuối còn có phát thưởng, trước khi báo Ngày Nay đóng cửa). Cuối cùng, tới tháng 5/1945, báo Ngày Nay “kỷ nguyên mới” ra đời, mà cũng chỉ được 16 số là hết. Tới giữa năm 1946, nhà in được mang bán, chia tiền cho các thành viên. Tất cả chỉ còn là bóng chim nhạn bay qua ngang trời.

  • … TAK kể khi anh còn rất nhỏ, bố anh ấy vẫn đàn mandoline, hát cho con nghe bài này, đó chính là bài hát không biết ai sáng tác mà ra đời đúng vào thời Lý Toét – Xã Xệ:

Ông Lý Toét mà cắp cái ô

Đi ra phố gặp lúc mưa to

Có bác Xã Xệ mà muốn đi nhờ

Tay thì vời vời miệng thét bô bô:

“Này bác Lý, thủng nhĩ hay sao?

Gọi như thế mà chẳng nghe sao?

Mưa to sao mà mặt bác tảng lờ,

Đi nhờ một tẹo, lại cứ vênh vênh!”.

“Ồ bác Xã thật cứ lôi thôi,

Đây chỉ có mình bác với tôi,

Ô tôi năng cụp mà bất năng xòe

Năng dựng đầu hè mà bất năng treo!”.

Jessica Lê

(Trích: câu chuyện tháng 8)

*Bài do CTV/TVBH gởi.

Bài Mới Nhất
Search