Nguyễn Kỳ Dzương: Chiến trường Shiloh – Một khúc nhạc trầm của lịch sử

Chiến trường và Nghĩa trang Quân đội Quốc gia Shiloh (Ảnh: Tác Giả gởi)

Những bài viết của tôi được đưa đến độc giả trong giai đoạn này không được viết bằng tâm trạng cay đắng hay nuôi dưỡng hận thù, mặc dù tôi đã phải trải qua biết bao năm tháng tù đày, khổ đau và mất mát. Ngược lại, điều tôi mong muốn chỉ là góp phần làm sáng tỏ sự thật của lịch sử, để độc giả có thêm những dữ kiện trung thực và một cái nhìn sáng suốt về quá khứ.

Tôi cũng hy vọng là cộng đồng người Việt hải ngoại, sẽ luôn tỉnh táo trước những lời kêu gọi mang danh nghĩa “hòa hợp, hòa giải” khi những vấn đề căn bản của lịch sử vẫn chưa được nhìn nhận một cách trung thực. Theo suy nghĩ của tôi, hòa giải chỉ có thể có ý nghĩa khi được xây dựng trên nền tảng của sự thật, công lý và sự tôn trọng phẩm giá của tất cả những người đã phải gánh chịu đau thương vì cuộc chiến.

Trong một chuyến đi về miền Đông nước Mỹ, tôi có dịp viếng thăm Chiến trường và Nghĩa trang Quân đội Quốc gia Shiloh, nằm trên ranh giới giữa hai tiểu bang Tennessee và Mississippi. Tấm ảnh tôi đứng bên những khẩu đại bác từng được sử dụng trong trận đánh năm xưa đã gợi cho tôi nhiều suy nghĩ về chiến tranh và lòng bao dung.

Chỉ khi tận mắt đặt chân đến nơi này, người ta mới cảm nhận được hết bầu không khí trầm mặc, lắng đọng và có phần rờn rợn. Khung cảnh yên bình hôm nay dường như vẫn còn vang vọng tiếng đại bác, tiếng súng và tiếng xung phong của hơn một thế kỷ rưỡi trước.

Tôi tưởng tượng những chiến binh của cả Nam quân lẫn Bắc quân hiên ngang tiến lên giữa làn đạn. Lớp trước ngã xuống, lớp sau lại tiếp bước, cho đến khi hai bên lao vào những trận đánh giáp lá cà đẫm máu. Mỗi tấc đất nơi đây đã từng thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và máu của những người lính thuộc cả hai chiến tuyến.

Ngày nay, Shiloh vẫn giữ gần như nguyên vẹn địa hình của trận chiến lịch sử, điểm xuyết bằng những tượng đài và bia tưởng niệm trang nghiêm, như những chứng nhân lặng lẽ của một thời huynh đệ tương tàn.

Cuộc Nội chiến Hoa Kỳ kết thúc ngày 9 tháng 4 năm 1865. Chỉ vài ngày sau, Tổng thống Abraham Lincoln bị ám sát, không kịp chứng kiến thành quả hòa hợp và thống nhất đất nước mà ông đã đánh đổi bằng cả cuộc đời mình.

Điều đáng suy ngẫm là sau chiến tranh, những người lính của phe miền Nam không bị đưa vào các trại cải tạo. Họ được quyền lựa chọn tiếp tục phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ hoặc trở về quê hương xây dựng lại cuộc sống. Đó là một quyết định thể hiện tinh thần hòa giải, góp phần hàn gắn những vết thương chiến tranh và đưa đất nước bước sang một trang sử mới.

Nếu quý độc giả vào Internet tìm sẽ thấy hình minh họa hai ông tướng của “bên thắng cuộc” cũng như “bên bại trận”: Tướng Ulysses S. Grant — Tổng tư lệnh quân (Union) Liên bang (Bắc quân), người chỉ huy chiến dịch cuối cùng buộc miền Nam đầu hàng, và tướng Robert E. Lee — Tổng tư lệnh Liên minh (Confederacy) miền Nam, cùng ngồi khà khà bên hai ly Whisky trong sự tương kính.

Điều tôi muốn chia sẻ ở đây không chỉ là nỗi lòng của riêng tôi, mà còn là tiếng nói chung của biết bao người cùng chung số phận đã bị giam cầm trong các trại lao động khổ sai, được gọi bằng cái tên nhẹ nhàng hơn là các trại “cải tạo”. Chúng tôi là những người tù không bản án, chưa bao giờ được đưa ra xét xử, cũng chưa từng được kết tội bằng một phiên tòa đúng nghĩa.

Cho đến hôm nay, cái gọi là “Nhà nước” Việt Nam vẫn chưa một lần bày tỏ sự ân hận về việc đã giam cầm và đối xử tàn nhẫn với chúng tôi suốt nhiều năm trời. Họ chưa bao giờ chính thức nói một lời xin lỗi đối với những oan khuất mà chúng tôi đã phải gánh chịu, nhưng lại không ngừng kêu gọi “hòa hợp, hòa giải dân tộc.”

Ngay cả Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, họ cũng từng ngăn cản thân nhân tu sửa và chăm sóc phần mộ của những người đã khuất. Nếu ngay cả những người đã nằm xuống họ còn không sẵn lòng đối xử với sự bao dung và tôn trọng, thì làm sao chúng tôi có thể tin rằng họ thật sự mong muốn hòa giải với những người còn sống?

Không những vậy, họ vẫn tiếp tục xây dựng những hình ảnh méo mó về Quân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hòa, tiếp tục xuyên tạc lịch sử và phủ nhận quyền tự vệ chính đáng của quân dân miền Nam trong cuộc chiến.

Điều chúng tôi mong mỏi không phải là những khẩu hiệu về “hòa hợp, hòa giải”, mà trước hết là sự thật của lịch sử phải được trả lại đúng với bản chất của nó. Chỉ khi sự thật được tôn trọng và những oan khuất của quá khứ được nhìn nhận một cách trung thực, thì những lời nói về hòa hợp và hòa giải mới có thể mang ý nghĩa thực sự.

Nguyễn Kỳ Dzương

Bài Mới Nhất
Search