
Trại Tù – Tranh: THANH CHÂU
.
(Tác giả sáng tác từ sau 1975 đến tháng 11/1983, từ trang 174 đến trang 205, trích từ cuốn Tuyển Tập Thơ Văn Tiểu Luận Lê Mai Lĩnh, Cội Nguồn xuất bản, 2015)
Hôm nay tôi muốn viết một bài cảm nhận về 12 bài thơ tù làm trong tù của tác giả văn thi sĩ Lê Mai Lĩnh, bởi tôi cũng là một người tù, cũng từng xuất bản thơ tù, tôi tù trong Nam, Lê Mai Lĩnh tù ngoài Bắc+ trong Nam.
Tôi quý thơ tù của ông, như quý thơ tù của TS Nguyễn Chí Thiện, TS Tô Thuỳ Yên vậy, dù nội dung và phong cách có khác nhau, nhưng theo tôi đều là những áng thơ tù đặc sắc nhất, phản ảnh rõ nét nhất, một giai đoạn lịch sử VN đau thương.
Tôi muốn kết 12 bài thơ tù làm trong tù đó thành một xâu chuỗi ngọc đẹp óng ánh gởi tác giả Lê Mai Lĩnh- xứng đáng là một người tù hiên ngang, bất khuất, suốt 8 năm 6 tháng trong các trại tù cải tạo, luôn đứng thẳng lưng, dùng thơ tấn công trực diện đám cai tù, kể cả lãnh đạo chóp bu, mà không hề biết sợ sệt là gì: không sợ khám xét, bắt bớ, tra tấn, gông cùm, thủ tiêu, bắn bỏ…
Tác giả Lê Mai Lĩnh chắc có nghe chuyện người tù Quách Dược Thanh (khóa 1 CTCT Đà Lạt) tại trại tù Long Giao năm 1976, trong giờ học chính trị chỉ vì phát biểu một câu (chủ nghĩa Mác-Lênin giống như cây chuối trồng lộn ngược) mà bị nhốt conex rồi lôi ra bắn bỏ lúc nửa đêm.
Ở trong tù có mấy ai dám làm thơ tù? Làm thơ tù trong tù là to gan lớn mật, là bản lĩnh hơn người.
Ngay cả ngục sĩ kiên cường Nguyễn Chí Thiện ở tù 27 năm làm rất nhiều thơ tù cũng không dám chép ra giấy mà để trong đầu, sau khi ra tù leo lên căn gác ngồi ghi lại từ trí nhớ phi thường của mình.
Thiển nghĩ 12 bài thơ tù có một không hai làm trong tù cải tạo của tác giả Lê Mai Lĩnh sẽ sống mãi với thời gian, với lịch sử dân tộc VN đau thương, vì đó là những bằng chứng sống tố cáo tội ác “vi phạm nhân quyền” của đám cai tù đã đối xử hà khắc với tù nhân không xét xử phải ăn đói mặc rét, phải lao động khổ sai nặng nhọc.
Sau ngày 30/4/1975 đã có 100 trại tù (có nguồn nói 150 trại tù) mọc lên khắp 3 miền đất nước để nhốt hàng trăm ngàn tù nhân (quân dân cán chính VNCH) không xét xử, hôm nay sau nửa thế kỷ, Văn học VN Hải ngoại có bao nhiêu tập thơ tù? ngoài tập thơ tù của Thích Quảng Độ, tập thơ tù của Nguyễn Chí Thiện, tập thơ tù của Duyên Anh, tập thơ tù của Vinh Hồ, v.v…?
Và có bao nhiêu bài thơ tù? ngoài những bài thơ tù của Thích Tuệ Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên, Lê Mai Lĩnh, Trần Thúc Vũ, Nguyễn Phúc Sông Hương, Ý Yên, Vương Đức Lệ, Mai Trung Tĩnh, Nguyễn Xuân Thiệp, Phù Du, Chu Tất Tiến, Hải Triều, Trần Hoài Thư, Song Nhị, Diên Nghị, Khang Lang, Phan Nhự Thức, Dương Quân, Lê Nguyễn, Tạ Tỵ, Duy Năng, Nguyên Huy, v.v…?
Hiện tại cái kho thơ “tù cải tạo” không nhiều, càng làm thơ tù của Nguyễn Chí Thiện, Tô Thuỳ Yên, Lê Mai Lĩnh thêm quý giá.
Nhà thơ Song Nhị viết:
“Trong kho tàng văn học sử nước ta, thơ tù hầu như không có. Suốt một thời kỳ Văn Học sử Việt Nam chỉ có một áng thơ tù duy nhất, đó là Tự Tình Khúc của Cao Bá Nhạ.”
“NGÃ TRÊN NÚI VIỆT HỒNG Ở YÊN BÁY KHI ĐI VÁC NỨA” là bài thơ tù làm trong trại tù Yên Báy của TS Thanh Tâm Tuyền – tác giả cho biết làm thơ trong tù là “sự khó khăn”:
“…Nhưng thực tế làm thơ trong trại cải tạo, sự khó khăn vẫn có đó. Vì không thể nào viết, sửa/ rédiger những bài thơ, như trạng thái hạn chế cuối cùng của sáng tạo: niềm tin vui cao giọng, đọc thơ và chia xẻ với bằng hữu xung quanh. Thơ phải được đọc và nghe/ la poésie doit être lue et ecoutée – đó là số phận cuối cùng của thơ.(…) Sau khi được trả tự do, trên đường về; việc đầu tiên mà tôi đã làm, là, đã thu mình và viết xuống những bài thơ của suốt thời gian bị giam cầm… Tôi đã ghi trong ký ức tù cải tạo, “Tới lúc tôi phải viết như không có gì xảy ra/ comme rien s’était passée – như không có gì biến đổi/ comme rien n’était modifié…” -Thanh Tâm Tuyền.
12 bài thơ tù làm trong tù của Lê Mai Lĩnh rất thật, rất thẳng, thẳng như ruột ngựa, thật như đếm, rõ ràng như ban ngày, đọc là hiểu, là cảm, là soi sáng… Do đó, trong bài viết này, tôi không diễn giải nhiều, mà muốn giới thiệu những trích đoạn hay nhất, tiêu biểu nhất (theo tôi) của mỗi bài, để quý đọc giả đọc và suy gẫm.
1. Bài thơ: LỜI TẠ LỖI VỚI QUÊ HƯƠNG
(trang 175, dài 5 trang, thể thơ tự do)
Tháng 6/1975, toàn thể sĩ quan và viên chức bên thua cuộc bị triệu tập đưa vào các trại tù gọi là “trại tập trung học tập lao động cải tạo” không xét xử, bản thân tôi là tù binh thất trận bị bắt ngày 28/4/75 đưa vào 5 trại tù, trong khi Lê Mai Lĩnh vào tù trễ hơn, nên ông có thì giờ làm bài thơ từ giã quê hương Quảng Trị bằng những lời thơ thống thiết:
Tôi ra đi mang theo nửa trái tim
Nửa còn lại giữ giùm tôi nhé
Tôi ra đi mang theo cả quê hương
Vẫn chưa đủ ấm lòng tôi đó
Nguyễn Hoàng ơi, Quảng Trị ơi, Việt Nam ơi
Làm sao tôi có thể quên
(trang 175)
Năm chữ “Tôi ra đi mang theo” rất hay nhắc lại 2 lần, nói lên tình cảm gắn bó sâu đậm của tác giả đối với quê ông, vùng hỏa tuyến đau thương:
Nguyễn Hoàng ơi, Quảng Trị ơi, Việt Nam ơi
Làm sao tôi có thể quên.
2. Bài: BẢN CÁO TRẠNG HAY THƯ GỞI TÊN TÙ NHÂN CỦA LỊCH SỬ
(trang 180, dài 7 trang, ở trang 174 ghi: “Hồ Chí Minh, Tên Tội Đồ Của Dân Tộc”, tác giả cho biết bài thơ trên viết trong tù nhưng không nói trại tù nào?)
Đây là một bức thư, một bản cáo trạng có một không hai làm trong tù, gởi Hồ Chí Minh- người đứng đầu chế độ csVN, thần tượng của csVN- nói lên ý chí, bản lãnh và khí phách anh hùng, hiên ngang, lẫm liệt, quật khởi, can trường của một người tù bất khuất, một người lính dũng cảm, một nhà thơ yêu nước. Chỉ một bức thư, một bản cáo trạng này thôi cũng đủ để ghi tên tác giả Lê Mai Lĩnh vào Trang Hùng Sử Việt.
Nhưng người ta cũng có thể đưa ông xuống địa ngục như người tù Quách Dược Thanh vậy. Nhưng tác giả Lê Mai Lĩnh vẫn sống, vẫn ra trại trở về nhà và định cư tại Mỹ theo diện HO, quả là một chuyện lạ bất khả nghĩ bàn. Nhà thơ Hữu Loan mạng lớn, nhờ bài thơ Màu Tím Hoa Sim mà không bị thủ tiêu; nhà thơ Lê Mai Lĩnh mạng lớn, có thể chết vì bức thư của mình nhưng không chết.
Xin hãy đọc những câu sau đây để thấy không thể ngang tàng hơn, khẳng khái hơn, to gan hơn. Thân phận cá chậu chim lồng vẫn xem cái chết nhẹ tựa lông hồng:
Thưa Ông,
Ký tên dưới đây là tôi
Lê – Mai – Lĩnh
Thi sĩ
Yêu quê hương như yêu chính bản thân mình
Và Tổ Quốc, trong trái tim hằng đêm thao thức
Bụi và lãng mạn
Thêm một chút khùng
Khi trái trời trở gió biến thành điên
Có máu hiệp sĩ
Thích trừ gian diệt bạo
Dù chỉ cân nặng 46 ký lô và cao 1 mét sáu mươi lăm
Nhưng tôi vẫn luôn đứng thẳng
Dầu đã qua mấy mùa giông bão
……
Nhưng từ Tết Mậu Thân năm 68
Khi ông dùng thơ làm mật lệnh
Xua quân vào Huế chôn sống hàng chục ngàn người
Tôi bắt đầu biết ông là ai ?
Và từ đó tôi mang giày sô tiến lên phía trước
……
Cuộc thế đổi thay, lịch sử xoay vần
Tôi vào tù và ông khô xác
Làm con vật người triển lãm
Chuyện kể ra dài dòng
Để đó. Hồi sẽ rõ
Lịch sử sẽ phân minh
Công và tội
Duy một điều tôi cần nói với ông
Là hiện nay, nhân dân đang nguyền rũa ông quá đỗi
Họ nguyền rũa ông đã làm tay sai cho CS Quốc Tế
Đem chủ nghĩa phi nhân, ngoại lai về giết hại dân lành
Họ nguyền rũa ông đã Bần Cùng Hóa Nhân Dân
Đưa Dân Tộc vào tận cùng rách nát
……
Ông giết những nhà trí thức, những người yêu nước
Không chịu theo ông: Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi,
Khái Hưng, Hoàng Đạo, Huỳnh Phú Sổ,
Tạ Thu Thâu…
Và nhiều người nữa không sao kể hết.
Năm Cải Cách Ruộng Đất 53, 54
Ông giết hàng chục ngàn người, bị ông đem ra Đấu Tố
Không từ đàn bà,trẻ em, người già, người bệnh
Năm Nhân Văn Giai Phẩm 1956
Ông nhốt trí thức, văn nghệ sĩ vào tù, thủ tiêu,
đọa đày xác thân
Năm Tết Mậu Thân ở Huế, chỉ trong 21 ngày
Ông đã ra lệnh chôn sống hàng chục ngàn người
trong những ngôi mồ tập thể
……
Năm 75, ngày 30 tháng 4
Đảng ông xua quân vào cướp miền Nam
Xé bỏ hiệp định Ba Lê
Đảng ông chơi trò giải phóng
Giải phóng cho nhân dân lầm than
Giải phóng cho nhân dân tù đày
Giải phóng cho đảng ông mặc tình vơ vét
(vội vã vào vơ vét về)
Các ông lùa dân đi kinh tế mới
Để cướp nhà đoạt của
……
Tội của ông :
“Trúc rừng Nam sơn không ghi hết tội
Nước biển đông không rửa sạch tanh hôi”
(Nói như thơ Nguyễn Trãi)
……
Thưa ông
Nhân danh tôi, một nhà thơ
Có máu hiệp sĩ
Thích rút súng, vung gươm và
Múa bút
Bênh vực và xót thương cho những phận đời bất hạnh,
Thấy ông bị nguyền rủa,
Tôi muốn thương,
Mà thương không vô
Hỡi tên tù nhân lịch sử
Hồ chí Minh.
3. Bài thơ: SẮN
(trang 187, dài 2 trang, thể thơ tự do)
Xưa TS Quách Thoại làm bài thơ Thược Dược, hoa thược dược bất tử, nay Lê Mai Lĩnh làm bài thơ Sắn, củ sắn bất tử.
Sắn theo người tù bất cứ lúc nào, nơi nào, bất kể tù Nam hay Bắc.
Xin trích 4 khổ 13 câu:
Sắn đã nuôi ta sống
Sắn đã hại đời ta say
Ôi những bữa ăn đắng cay
Những sắn. Toàn sắn
……
Sắn củ ngon, sắn lớn bành ky
Sắn đuôi chuột, còn trong đống vỏ
Sắn gì cũng không chê không bỏ
Ta cứ ăn vào đầy bao tử được là hay
Đời tù no đếm được từng ngày
……
Sắn Vĩ Đại
Sắn muôn năm
Sắn đời đời ghi nhớ
Sống Mãi Trong Sự Nghiệp Của Chúng Ta.
(Làm tại Vĩnh Phú 1979)
4. Bài thơ: GIAO THỪA NĂM 37 TUỔI.
(trang 189, dài 3 trang, thể thơ mới, trại tù Lào Kai 1978)
Bằng giọng thơ khẩu khí đầy khí phách anh hùng, người tù Lê Mai Lĩnh đã lưu lại cho đời những vần thơ đặc sắc mang tính bi tráng:
“ Ta thấy rồi trời TỰ DO mở rộng/ Song sắt nào khóa nổi hồn ta/ Đón giao thừa trong nhà giam lạnh/ Nhưng ấm lòng ta, niềm tin quê nhà”.
Ta nay đã 37 tuổi tròn
Đầu lốm đốm với hai thứ tóc
Nhớ từ thuở còn thơ đi học
Qua đồng làng, ruộng lúa, nương khoai
Thấy những đàn trâu ăn cỏ mệt nhoài
Và những bác nông phu suốt đời vất vả
Ta thấy xót xa cõi lòng khôn tả
Mong có ngày đất nước tiến lên.
……
Nào ngờ đâu trong cơn mặc cả
Của lũ người mua bán chiến tranh
Chúng trao ta vào tay đối nghịch
Ôm hận tù đày, tội phạm chiến tranh.
Ta được người mệnh danh giải phóng
Đưa xuống tàu từ giã miền Nam
Ra tới đây núi rừng Việt Bắc
Tù khổ sai, không được than van.
Nhờ ra đây ta còn thấy lại
Những chiếc cày và mấy con trâu
Những cụ già còng lưng cày cấy
Trên ruộng đồng nước lũ thật sâu.
……
Bánh chưng bóc rồi, ta ăn một nửa
Từ từ thôi để hạnh phúc còn dài.
Đã ba năm rồi ăn Tết trong tù
Vợ con ta ơi, bốn phương lưu lạc.
Đã lâu lắm, ta thèm miếng thịt
Nay Tết đến rồi nhà nước mới cho
Ôi miếng thịt này sao ngon đáo để
Chẳng biết trâu hay ngựa hay bò.
……
Ta thấy rồi trời TỰ DO mở rộng
Song sắt nào khóa nổi hồn ta
Đón Giao Thừa trong nhà giam lạnh
Nhưng ấm lòng ta, niềm tin quê nhà
(Trại tù Lào Kai 1978)
5. Bài thơ: CHUYẾN TÀU CUỐI NĂM
(trang 192, dài 100 câu, thể thơ mới)
Tôi thích bài thơ này bởi ý từ bay bổng, phiêu bồng như cánh chim trời đón mừng nắng ấm Miền Nam. Tôi cho đây là một bài thơ tù làm trong tù thuộc hàng tuyệt bút.
Có những câu thơ đẹp nhưng cũng rất xót xa: “Trên con tàu chở đầy xiềng xích/ Xin vĩnh biệt chào vương quốc lừa dối/ Trả lại Người những đói rét hờn căm.”
Có những câu thơ mô tả bộ mặt thật của thiên đường lừa dối: “Chào bo bo, chào sắn khoai, bắp xay bắp hột/ chào những ngôi giáo đường/ Đứng lạnh lùng giữa hoang tàn cỏ dại/ những nghiêng chùa đổ chái.”
Từ nơi đau khổ tận cùng vẫn có những hình ảnh cao cả phi thường để ta cúi đầu ngưỡng mộ và ca ngợi: “Để nhớ Trần Dần và nhóm Nhân Văn/ Để ngợi ca những thi sĩ, nhà văn/ Đã dũng cảm đấu tranh cho Sự Thật.”
Lời thơ Lê Mai Lĩnh chân thật tận cùng, lại có sức nặng chạm thẳng vào trái tim thổn thức: “Về quê hương vào những ngày cuối năm/ Dẫu trong tay xích xiềng còn trói chặt.”
Về quê hương vào những ngày cuối năm
Trên con tàu chở đầy xiềng xích
Xin vĩnh biệt chào vương quốc lừa dối
Trả lại Người những đói rét hờn căm.
Mai ta đi từ bóng tối mù tăm
Nơi ta về quê miền Nam yêu dấu
Hãy ở lại những đói nghèo đau thương ẩn náu
Chia tay nghe, vĩnh biệt yên nằm.
Chào không chút xót thương núi rừng Việt Bắc
Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, Lào Kai
Chào Vĩnh Phú, Thanh Phong, Thanh Hóa
Còn trong ta cơn ác mộng chưa phai.
Chào bo bo, chào sắn khoai, bắp xay bắp hột
Vĩnh biệt nghe nước muối đại dương
Chào rau tàu bay, lá rừng chua xót
Khi nghĩ về lạnh buốt khớp xương.
Mai ta đi chào những ngôi giáo đường
Đứng lạnh lùng giữa hoang tàn cỏ dại
Hãy ở lại nghe những nghiêng chùa đổ chái
Áo rêu phong khép kín niềm thương.
Chào con phố nào ta đã có lần qua
Dẫu không biết tên để gọi
Nhưng trong lòng ta thầm nói
Đó là phố Sinh Từ
Để nhớ Trần Dần và nhóm Nhân Văn
Để ngợi ca những thi sĩ, nhà văn
Đã dũng cảm đấu tranh cho Sự Thật.
……
Trên những cánh đồng miền Trung tàu qua
Ta chỉ thấy đàn bà em nhỏ
Thanh niên đâu, đi lính hay tù
Đã mấy năm rồi quê mình thế đó.
……
Về quê hương vào những ngày cuối năm
Dẫu trong tay xích xiềng còn trói chặt
Nhưng trong lòng ta bao nỗi hân hoan
Khi thấy dấu bạo tàn sắp tắt.
(Trại tù Gia Rai 1-1-81)
6. Bài thơ: MỘT NGÀY NHƯ MỌI NGÀY
(trại tù Vĩnh Phú 1979, trang 196, dài 36 câu, thể thơ mới)
Trong trại tù đói khổ như trâu “người nuôi người” kiểu sáng sắn, trưa sắn, chiều sắn, rồi sẽ “thành đười ươi” mất! Tác giả sử dụng nghệ thuật đảo ngược trong câu chữ rất hay: “Trưa, hai chén sắn lưng/ Chiều, lưng hai chén sắn.” Lê Mai Lĩnh vừa chơi chữ, vừa ngầm tố cáo sự tráo trở, lật lọng, lừa dối của trại tù nói một đằng làm một nẻo.
Sáng, một khúc sắn nhí
Trưa, hai chén sắn lưng
Chiều, lưng hai chén sắn
Làm, tám tiếng còng lưng.
Ăn, nuôi như trẻ nít
Chơi, có thì giờ đâu
Ngủ, chật như cá hộp
Làm, hối thúc như trâu.
Sáng mở mắt, khẩn trương
Tối đi ngủ, khẩn trương
Giờ tập họp, khẩn trương
Khẩn trương và khẩn trương.
Nuôi như thế, đành sao
Dẫu chi cũng là người
Người nuôi người như thế
Rồi cũng thành đười ươi.
7. Bài thơ: THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH
(trang 198, 20 câu, thể thơ mới)
Bốn câu thơ sau đây, tác giả Lê Mai Lĩnh dùng những chữ đắt địa như: “chói chang, làng chàng, điêu đứng, hàng nối hàng” gây cảm xúc mạnh trong lòng ta:
Thời buổi chi mà lạ lùng thế rứa
Mở mắt ra toàn nói chuyện ăn.
Trông lên thấy cờ đỏ chói chang
Biểu ngữ, huy chương nghĩa chữ làng chàng
Ngó xuống thấy dân đời điêu đứng
Máu đổ, thây phơi hàng nối hàng
(Trại tù Thanh Phong 1980)
8. Bài thơ: BÊN NÀY BÊN KIA NÚI CHỨA CHAN.
(trại tù Gia Rai 1981, trang 199, 36 câu, thể thơ mới)
Trong nhạc phẩm Khúc Thuỵ Du, hình ảnh mặt hồ khơi gợi sự ly tan:
Chỉ cách một mặt hồ
Mà muôn trùng chia xa (nhạc Anh Bằng)
Trong bài thơ Bên Này Bên Kia Núi Chứa Chan, hình ảnh trái núi “ngăn cách tình chan chứa” nhưng bóng núi “đâu khuất nổi dáng người”. Dù hoàn cảnh, thời thế có “ngăn cách” về địa lý, nhưng không thể cách ngăn nổi tình yêu chung thuỷ của con người. Hy vọng vẫn còn trong tuyệt vọng. Sau đêm dài sẽ có ánh bình minh, sau mùa đông cây cỏ sẽ đâm chồi nẩy lộc, tác giả luôn tin tưởng “đại nghĩa thắng hung tàn” câu thơ của đại thi hào Nguyễn Trãi.
Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ nói lái “bên này-bên kia, chứa chan-chán chưa-chan chứa, ngăn cách-cách ngăn” tạo nên sự lạ lẫm, gây cảm giác thích thú trong lòng người đọc, và cũng làm cho bài thơ mang dấu ấn rất Lê Mai Lĩnh.
Bên kia núi Chứa Chan, anh có em
Em có anh bên này núi Chứa Chan
Qua trái núi ngăn cách tình chan chứa
Đã chán chưa trái núi cách ngăn.
Bên này Chứa Chan anh còn trái tim
Anh còn tình yêu, anh còn cuộc đời
Còn em một trời chói chang hạnh phúc
Bóng núi kia đâu khuất nổi dáng người.
9. Bài thơ: LỜI BÀY TỎ CÙNG CÁC CON.
(trang 201, thể thơ tự do, dài 28 câu)
Khi đọc đến câu thơ thứ 10 thì tôi đã muốn khóc rồi, người cha Lê Mai Lĩnh chân thật tới tận cùng tới não lòng, cho thấy một hoàn cảnh quá ư bi đát: người cha đi cải tạo, người mẹ bị ở tù, con cái bơ vơ giữa chợ đời, làm lòng ta rưng rưng bao niềm cảm xúc và xót thương cho thân phận người lính Miền Nam sau 75 đã rơi vào cảnh tan cửa nát nhà.
Các con hãy tha thứ cho cha
Vì quá tin đời nên cha lầm lỗi
Các con hãy tha thứ cho mẹ các con
Vì quá tin người nên bị lừa dối.
Nội, sẽ nuôi các con lớn khôn
Ngoại, sẽ nuôi các con lớn khôn
Các chú, các bác, các cô, các cậu
Sẽ nuôi các con lớn khôn.
Hãy cho ngoan, dù ăn sắn, ăn khoai
Dù ăn rau, ăn cỏ, cũng nên nhìn thẳng,
Dẫu quanh năm không có miếng thịt nào,
Cũng cố giữ gìn cho thắng.
10. Bài thơ: VÔ ĐỀ
(trang 202, 8 câu, thể thơ mới)
Bài thơ này ngắn nhất chỉ có 8 câu nhưng tác giả Lê Mai Lĩnh đã nói lên một sự thật trần trụi, chua cay, gớm ghiếc, có sức nặng ngàn cân tố cáo tội ác phi nhân trong các trại tù cải tạo:
Trời trong xanh, buổi sáng hôm nay,
Soi xuống hố phân, thấy mặt mình vẫn còn tươi sáng,
Còn nét thơ ngây, còn dáng hình người,
Chưa có gì ra vẻ đười ươi.
Hỡi những cục phân còn xác bắp, cọng rau,
Trôi lềnh bềnh giữa bầy dòi, bọ,
Trông các em, thân quá làm sao?
Giữa đời ta, chuỗi ngày lem lọ!
(Trại tù Lào Cai 1979 – Vô Đề – Thơ LML- trang 104)
11. Bài thơ: MÙA ĐÔNG ĐI CẤY RUỘNG SÌNH
(trang 203, có 24 câu, thể thơ mới)
Đây là bài thơ tù làm trong tù sắc bén, sắc như dao, tố cáo một sự thật lạnh lùng khó tin nhưng có thật, tù nhân đã bị đối xử như con vật: “Nơi Việt Bắc, núi rừng trùng điệp/ Tù khổ sai, đói rét là đây/ Bùn ngập sâu người, hơn một nửa /Ruộng trâu chê, bắt người thay thế.”
Tù nhân kéo cày thay trâu nơi ruộng sình, bùn ngập tới hơn nửa người. Bởi “trâu chê, bắt người thay thế”. Còn gì thảm thiết hơn?
Nghệ thuật sử dụng từ ngữ của tác giả Lê Mai Lĩnh rất tài hoa “đêm gió chướng, mưa rừng, thêm hăm he, đấm đá, đủ lời, lội ruộng sình, cấy lúa vụ chiêm” gieo vào lòng ta bao nỗi kinh khiếp hãi hùng: bị hiếp đáp, bị bạo hành; đồng thời gây bao cảm giác tê tái lạnh lùng, lạnh tím môi, lạnh rút ruột, lạnh thấu xương, lạnh cầm cập… giữa mùa Đông nơi núi rừng Việt Bắc: “Tù khổ sai, đói rét là đây.” Còn gì khủng khiếp hơn?
Nhà văn Pháp A. Maurois nói:
-“Nghệ thuật làm cho người ta hiểu được bộ mặt chân thật của cuộc đời.”
Đọc bài thơ Mùa Đông Đi Cấy Ruộng Sình, tác giả Lê Mai Lĩnh đã cho người đọc “hiểu được bộ mặt chân thật của cuộc đời” trong các trại tù cải tạo tại miền Bắc.
Chào tái ngộ mùa đông Việt Bắc
Năm thứ hai ta ở chốn này
Nơi Việt Bắc, núi rừng trùng điệp
Tù khổ sai, đói rét là đây.
Lưng hai chén sắn, phần một bữa
Nước muối thôi, liệu đủ cầm hơi
Đêm gió chướng, mưa rừng, dồn dập
Thêm hăm he, đấm đá, đủ lời.
Lội ruộng sình, cấy lúa vụ chiêm
Bùn ngập sâu người, hơn một nửa
Ruộng trâu chê, bắt người thay thế
Nhè nhẹ bò thôi, kẻo chết chìm.
12. Bài thơ: VỖ VỀ GIẤC NGỦ
(trang 204, 35 câu, thể thơ mới)
Có một nhà thơ phương Tây mà tôi quên tên đã nói:
“Thơ không phải là đám mây lơ lửng trên dòng đời, mà chính là dòng đời đó. Thơ đâm rễ từ thực tại, nở hoa từ thực tại và giải thoát từ thực tại.”
Bài thơ VỖ VỀ GIẤC NGỦ không phải là “đám mây lơ lửng trên dòng đời mà chính là dòng đời đó” nơi núi rừng Việt Bắc trong các trại tù lao động khổ sai, nhọc nhằn, đói rét, nơi tác giả đã trải qua 8 năm dài, nơi có những nỗi đau thể xác tận xương tuỷ giữa rừng thiêng nước độc, nơi có những nỗi đau tinh thần tận tâm hồn mà mỗi đêm về dằn vặt, thao thức, suốt đêm dài không ngủ: “Thao thức, thao thức mãi, làm gì?”
Thơ Lê Mai Lĩnh đã “đâm rễ từ thực tại” nỗi đau thương thấm đẫm trong từng chữ từng câu: “Hỡi ta, hãy ngủ đi/ Cái ăn, đã không ra gì, thì lo toan cái ngủ.”
Thơ Lê Mai Lĩnh đã “nở hoa từ thực tại và giải thoát từ thực tại”: “Thân ta chúng nhốt trong lồng sắt/ Ta thả hồn bay khắp bốn phương.”
Tôi cho đó là những câu thơ tù làm trong tù tuyệt bút sẽ sống mãi với thời gian.
Hỡi ta, hãy ngủ đi,
Chẳng còn bao lâu nữa, trời sắp sáng,
Vậy ngủ đi, cho sức người cường tráng,
Thao thức, thao thức mãi, làm gì?
Hỡi ta, hãy ngủ đi,
Cái ăn, đã không ra gì, thì lo toan cái ngủ,
Chớp thời cơ, tạo điều kiện, cho mắt no đủ,
Còn ta, trăm mối việc nhớ ghi.
……
Thân ta chúng nhốt trong lồng sắt,
Ta thả hồn bay khắp bốn phương,
Chân, dẫu trong cùm gông đau thắt,
Tim Tự Do ta, khắp nẻo đường
……
Bốn giờ sáng, thèm một hơi thuốc thẳng,
Thao thức hoài, nhớ vợ con, mẹ cha,
Thôi ngủ đi, ngủ đi, hỡi ta,
Chẳng còn bao lâu nữa, trời sắp sáng.
Lê Mai Lĩnh
(trại tù Lào Kai 1978)
KẾT LUẬN:
Nhà biên khảo Phạm Công Thiện gọi nhà văn Mỹ Henry Miller là “Bồ tát nghệ sĩ”, Henry Miller viết:
“Viết không phải là một sự đào thoát, mà viết là sự phóng mình xuống ao hồ đen tối nhất.” -Henry Miller
Câu này theo tôi rất đúng với 12 bài thơ tù làm trong tù của tác giả Lê Mai Lĩnh, nhất là bài Sắn, Vô Đề, Mùa Đông Đi Cấy Ruộng Sình, Vỗ Về Giấc Ngủ…
Nhà văn/nhà phê bình văn học Đỗ Trường viết:
-“Có lẽ, người nghệ sĩ lớn, ngoài nhân cách, tài năng, ngòi bút của họ phải chọc thẳng vào hiện thực xã hội, cũng như cuộc sống và con người một cách trung thực nhất chăng?.” -Đỗ Trường, 20-11- 2019.
Câu này theo tôi cũng rất đúng với 12 bài thơ tù làm trong tù của Lê Mai Lĩnh. Thơ Lê Mai Lĩnh đã “chọc thẳng vào hiện thực xã hội, cũng như cuộc sống và con người một cách trung thực nhất” và rõ nét nhất trong các trại tù cải tạo.
12 bài thơ tù làm trong tù của Lê Mai Lĩnh nổi bật tính “hiện thực xã hội” trần trụi, chân thật đến não lòng, gây cho người đọc cái cảm giác gớm ghiếc, rùng mình, ớn lạnh, sởn gai óc, nổi da gà…
Thơ tù làm trong tù của tác giả Lê Mai Lĩnh nổi bật tính bi tráng: những nỗi buồn đau, uất hận, đắng cay, chua xót kéo dài dai dẳng, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, như thể không có hồi kết. Cảnh tối tăm, âm u, co ro, đói khát, lạnh lẽo… đầy âm khí, đầy nộ khí xung thiên, như thể đang ở trong chín tầng địa ngục, nhưng cũng không thiếu khí phách anh hùng, quật khởi, bất khuất, như lửa cháy rừng ngùn ngụt…, như tiếng sư tử rống gầm gào thét…, thấm đẫm trong từng câu từng chữ.
Phong cách bi tráng trong thơ tù Lê Mai Lĩnh đứng riêng một góc trời không lẫn lộn với thơ tù của ai.
Tác giả Lê Mai Lĩnh khác người ở bản tính ngay thẳng, bộc trực, dám nói dám làm, không khúm núm quỵ lụy trước cường quyền:
“Dù trong gông cùm, xiềng xích, trước những họng súng lưỡi lê, thi sĩ Lê Mai Lĩnh vẫn lên tiếng và thơ đã có mặt.” -Lê Mai Lĩnh.
Nhưng ông lại có lòng vị tha, yêu thương bằng hữu, đồng bào, dân tộc khổ đau:
“Tôi ra đi mang theo cả quê hương
Vẫn chưa đủ ấm lòng tôi đó
Nguyễn Hoàng ơi, Quảng Trị ơi, Việt Nam ơi
Làm sao tôi có thể quên” -Lê Mai Lĩnh
Chính nhân cách sáng như ban ngày đó mà có nhiều mặc khách tao nhân ở trong và ngoài nước dù khác phong cách trường phái, vẫn quý mến ông- Văn thi sĩ Lê Mai Lĩnh.
Riêng tôi, rất ngưỡng mộ, kính phục ông, mỗi lần nghĩ đến ông lại hiện ra một khuôn mặt chữ điền “mắt sâu râu rậm” (chữ của ông) không khác những nhân vật phong sương bụi đời ngồi trên lưng ngựa phóng như bay qua núi đồi hoang dã trong những bộ phim miền viễn Tây Hoa Kỳ, hay 2 câu thơ hùng tráng của đại thi hào Nguyễn Du:
“Râu hùm, hàm én, mày ngài.”
“Đội trời đạp đất ở đời.”
VINH HỒ
Orlando, 21/4/2026
CHIẾN TRANH VÀ TÙ NGỤC
Là chàng trai thế hệ
Trước vận nước u sầu
Tôi không thể trốn tránh
Đứng bên lề khổ đau
Sách vở đành xếp lại
Xa phố cũ trường xưa
Xa người yêu bé bỏng
Xa dòng sông con đò
Một chiều đông lạnh lẽo
Khói lửa mờ biên cương
Tôi người lính tác chiến
Cầm súng giữ quê hương
Đối diện với sinh tử
Suốt bao năm bàng hoàng
Còn gì ngoài đổ nát
Và cốt nhục tương tàn
Rồi một ngày khủng khiếp
Một ngày tối om om
Hai tay ta bị trói
Trước họng súng đen ngòm
Sài Gòn không còn nữa
Thân khổ ải tù đày
Mỗi ngày trong mỗi trại
Bằng cả một thiên thu
Tù nhân không xét xử
Lao động còn xương da
Bao nhiêu người kiệt sức?
Con đường về còn xa
Tù nhân không bản án
Ngày bứng gốc đào rừng
Nhớ nhà không điếu thuốc
Châm lửa cháy phừng phừng
Đêm về nằm đói khát
Từng tế bào rỉ rên
Giữa rừng thiêng nước độc
Đời phi lý buồn tênh
Đêm từng đêm thao thức
Nghe cú rúc mễn la
Chiến tranh và tù ngục
Phận người quá xót xa!
VINH HỒ
Apr. 22, 2026