Chương Hai Mươi Mốt: Tai Tiếng của Hòa Bình

Giới Thiệu: TỰ TRUYỆN “HY VỌNG” CỦA CỐ GIÁO HOÀNG FRANCIS

Chương 21.

Tai Tiếng của Hòa Bình

Hai người phụ nữ cùng bước đi trong đấu trường từng được thánh hiến để tưởng nhớ các vị tử đạo Kitô giáo vào Năm Thánh 1750. Họ tiến lên trong bóng tối, giữa những ngọn đuốc cháy sáng, vào một buổi tối tháng Tư lạnh giá. Cả hai đều còn trẻ, đều có mái tóc nâu đỏ dài, đều khoác áo choàng đen. Từ góc nhìn này, họ như không thể phân biệt. Không ai trong số họ cất lời. Theo cách nhìn của nhiều người, họ nên coi nhau là kẻ thù, nhưng đó không phải là điều Irina, một y tá người Ukraine, và Albina, một bác sĩ thực tập người Nga, lựa chọn cho mình. Họ ở bên nhau. Cùng nhau họ dừng lại dưới Thánh Giá, cùng nhau họ vác lấy nó. Di chứng của bệnh viêm phế quản đã buộc tôi phải vào bệnh viện một thời gian ngắn và không thể tham gia buổi đi Đàng Thánh Giá tại Đấu trường La Mã năm đó, nhưng tôi vẫn ở bên họ. Ở Santa Marta, trong cầu nguyện, tôi dõi theo một cú sốc kép trên màn hình tivi: tai tiếng của Thập Giá và tai tiếng của hòa bình.

Đầu năm 2022, mạng lưới phân mảnh của cuộc Thế chiến Thứ ba đã mở rộng thành một kịch bản mới và kinh hoàng, ngày càng biến thành một cuộc xung đột toàn cầu: Lực lượng vũ trang của Liên bang Nga xâm lược Ukraine vào rạng sáng ngày 24 tháng 2, ngay sau khi công nhận nền độc lập của các “Cộng hòa Nhân dân” Donetsk và Lugansk, hai nhà nước tự xưng ở vùng Donbass. Chiến tranh đã chạm đến trái tim châu Âu và cuốn trôi những ảo tưởng cuối cùng về “sự kết thúc của lịch sử” mà, hai mươi bốn thế kỷ sau Thucydides, từng đi kèm với sự sụp đổ của Bức tường Berlin. Giống như năm 1962, năm xảy ra Khủng hoảng Tên lửa Cuba, thế giới một lần nữa phải đối mặt với bóng ma của sự hủy diệt hạt nhân, dưới mối đe dọa thực sự từ những vũ khí mà chỉ riêng việc sở hữu đã là vô đạo đức.

Đó không phải là lúc để bận tâm về các nghi lễ hay giao thức. Dù thông thường giáo hoàng chỉ tiếp nhận các đại sứ vào thời điểm họ trình quốc thư, sáng hôm sau cuộc xâm lược, tôi đã hủy mọi buổi tiếp kiến và đích thân đến đại sứ quán Nga cạnh Tòa Thánh. Đây là lần đầu tiên một giáo hoàng làm như vậy. Đầu gối của tôi lúc đó vẫn còn đau, và vì thế là một giáo hoàng tập tễnh đã tự mình tới gặp Đại sứ Avdeev để bày tỏ toàn bộ mối lo ngại. Tôi đã khẩn cầu ngừng ném bom, kêu gọi đối thoại, đề xuất một sự trung gian của Vatican giữa các bên, và nói rằng tôi sẵn sàng đến Moscow ngay khi có thể, nếu chỉ cần Putin, người tôi đã ba lần gặp gỡ trong triều đại giáo hoàng, để ngỏ một cánh cửa nhỏ cho đàm phán. Đại sứ đã lắng nghe tôi cẩn thận, nhưng sau đó Ngoại trưởng Lavrov đã viết thư đáp lại một cách lịch sự rằng “chưa phải lúc”.

Đồng thời, tôi cũng gọi điện cho Tổng thống Ukraine Zelensky, người mà tôi sẽ tiếp đón tại Vatican vào năm sau và một lần nữa vào tháng 10 năm 2024, để bày tỏ nỗi buồn, sự cảm thông và sự gần gũi của tôi với dân tộc ông.

Tôi đã và vẫn sẵn sàng, như một người thợ, làm bất cứ điều gì cần thiết cho mục đích hòa bình. Đây cũng là lý do tại sao Vatican chưa từng đóng cửa văn phòng đại diện ngoại giao của mình tại thủ đô Ukraine — là cơ quan duy nhất làm như vậy — ngay cả trong thời điểm những cuộc oanh tạc khốc liệt nhất.

Người dân Ukraine không chỉ bị xâm lược mà còn bị hành hạ, từng bị Stalin đàn áp bằng “nạn đói diệt chủng” Holodomor, khiến hàng triệu người thiệt mạng. Trong những năm xung đột này, Tòa Thánh đã thực hiện nhiều bước nhằm xoa dịu những đau khổ to lớn mới. Các chuyến đi của Hồng y Czerny đến khu vực biên giới Hungary và của Hồng y Krajewski tới khu vực giáp Ba Lan là những biểu hiện cụ thể của tình liên đới và cam kết. Tương tự, chuyến thăm của Đức ông Gallagher, Tổng thư ký phụ trách quan hệ với các quốc gia, cùng những sứ mệnh không chỉ tại hai nước mà còn tới Washington và Bắc Kinh của Hồng y Zuppi, người đã đặc biệt nỗ lực vận động để các trẻ em Ukraine bị cưỡng bức sang Nga được trở về nhà, với một cơ chế đặc biệt đã được thiết lập để giải quyết từng trường hợp cụ thể. Chính tôi cũng đã ngay lập tức hành động để thúc đẩy việc trao đổi tù binh giữa Moscow và Kiev, ưu tiên cho những người bị thương hoặc bệnh tật. Hai năm sau khi cuộc xung đột bắt đầu, tôi cũng đã gặp Đại sứ Nga mới tại Tòa Thánh, ông Soltanovsky, trong nỗ lực không ngừng tìm kiếm giải pháp ngoại giao.

Nhưng tôi biết rằng như thế là chưa đủ, rằng chúng ta cần nhân lên nỗ lực, bắt đầu từ cộng đồng châu Âu và quốc tế, những người phải thực sự đảm nhận nhiệm vụ tìm kiếm con đường đối thoại, đàm phán, trung gian. Chúng ta biết rằng không thể đạt được kết quả bằng mọi giá, nhưng cũng cần hiểu rõ trách nhiệm lớn lao đè nặng trên vai tất cả. Những lợi ích đế quốc — lợi ích của mọi đế quốc — không thể lại một lần nữa được đặt cao hơn mạng sống của hàng trăm ngàn con người. Thiên Chúa sẽ đòi hỏi chúng ta chịu trách nhiệm cho tất cả những giọt nước mắt đã đổ xuống ở Ukraine. Quá nhiều trẻ mồ côi, quá nhiều góa phụ, quá nhiều người tị nạn, quá nhiều sự tàn phá. Sau khi dâng hiến cả hai quốc gia cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Maria, kêu gọi biến chiến tuyến thành những nhịp cầu, năm sau đó, một năm nữa của cái chết và hủy diệt, tôi đã khóc trước tất cả những đau thương ấy trong buổi cầu nguyện thường niên ở Rome, tại quảng trường Piazza di Spagna, vào lễ trọng Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội. Mỗi ngày mà tiếng súng còn vang lên là một ngày của thất bại và đau khổ vô nghĩa.

Kiev, Kharkiv, Mariupol, Izium, Bucha — những thành phố tử đạo, những nơi chứng kiến sự tàn bạo khủng khiếp giáng xuống các thường dân vô tội, phụ nữ, trẻ em, những nạn nhân mà máu vô tội của họ kêu lên trời và van nài: “Đủ rồi! Đủ rồi cái điên rồ này!” Khi những trận oanh tạc bắt đầu ở Kharkiv, ngay cả sở thú cũng trở thành nơi hoang tàn: Các vụ nổ làm vỡ kính, và những con khỉ, nai, mèo, chim muông chạy tán loạn ra công viên, hoảng loạn. Một cậu bé kể rằng em đã nhìn thấy một con sói đỏ bới rác trong thùng rác. Hai ánh mắt nhìn nhau trân trối, bất động, bàng hoàng, và đều chắc chắn rằng thế giới này đã phát điên.

Con đường hòa bình chắc chắn có những rủi ro, nhưng con đường của vũ khí còn tiềm ẩn vô vàn hiểm họa lớn hơn, khi nó thúc đẩy một cuộc chạy đua vũ trang vĩnh viễn làm hoen ố tâm hồn và lấy đi những nguồn tài nguyên khổng lồ lẽ ra có thể được dùng để chống suy dinh dưỡng, để bảo đảm thuốc men cho mọi người, để xây dựng công lý, để đi theo con đường duy nhất thực sự có thể ngăn ngừa sự tự hủy diệt của nhân loại. Anton Chekhov từng nói rằng nếu trong một câu chuyện xuất hiện một khẩu súng, thì nó phải được bắn, nhằm minh họa một nguyên lý cơ bản trong mọi tác phẩm hư cấu hay sân khấu. Điều tương tự cũng xảy ra trong cuộc sống, trong xã hội, nơi mà số lượng vũ khí lưu hành tỷ lệ thuận với số người bị sát hại, và cả trong các quốc gia.

Hiện nay có năm mươi chín cuộc chiến đang diễn ra trên thế giới — năm mươi chín cuộc xung đột được tuyên bố giữa các quốc gia hoặc giữa các nhóm sắc tộc, xã hội có tổ chức. Một số cuộc chiến không xuất hiện trên các bản tin, nhưng không phải vì chúng kém khốc liệt hơn: Tôi nghĩ đến Kivu, Yemen, Myanmar với người Rohingya, khu vực Karabakh ở vùng Kavkaz, khu vực Tigray ở Ethiopia. Tổng cộng, gần một phần ba các quốc gia trên hành tinh đang trực tiếp tham gia, và còn nhiều hơn thế tham gia gián tiếp. Đôi khi, chúng thậm chí còn được gọi một cách đạo đức giả là “các chiến dịch hòa bình”.

Tình trạng này đã kéo dài từ rất lâu, quá lâu rồi.

Chỉ cần suy ngẫm như vậy cũng đủ để phơi bày sự phi lý của chiến tranh như một công cụ giải quyết vấn đề: Đó là một sự điên rồ đơn thuần, làm giàu cho những lái buôn cái chết, và khiến những người vô tội phải trả giá. Nếu trong một năm không sản xuất vũ khí, nạn đói trên thế giới sẽ hoàn toàn chấm dứt; chỉ một ngày không chi cho quốc phòng sẽ cứu được ba mươi tư triệu người; vậy mà, các chính phủ vẫn chọn tăng chi tiêu quân sự ở mức chưa từng có… và sản xuất ra nạn đói.

Tôi đủ già để tận mắt chứng kiến rằng chiến tranh luôn là con đường dẫn tới ngõ cụt: Nó không mở ra viễn cảnh nào, không giải quyết được điều gì, chỉ làm mọi thứ thối rữa, và mỗi lần đều để lại thế giới nghèo nàn hơn trước. Một sự thiếu lý trí tội lỗi khiến ngày nay hơn bao giờ hết, cần phải nhắc lại lời cảnh báo tiên tri của Giáo hoàng Gioan XXIII trong thông điệp Pacem in terris. Trước sức hủy diệt khủng khiếp của vũ khí hiện đại và hàng chục ngàn đầu đạn hạt nhân hiện nay — có sức công phá gấp bốn mươi lần bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki —, ngày càng rõ ràng rằng quan hệ giữa các quốc gia phải được điều chỉnh không phải bằng vũ lực mà bằng những nguyên tắc của lý trí lương thiện, tức là của sự thật, công lý và hợp tác chân thành.

Vậy mà, trước sự thiếu lý trí hiển nhiên đó, từ “hòa bình” dường như càng ngày càng trở nên bất tiện, đôi khi bị cấm đoán. Những người thợ xây dựng hòa bình và công lý thậm chí còn bị nhìn với ánh mắt nghi ngờ, bị tấn công như thể họ là những kẻ ủng hộ “kẻ thù”, với một kiểu truyền thông không biết tránh việc suy xét ngay cả sự “lôgic phi lý” của chiến tranh, và dường như muốn Giáo hội sử dụng ngôn ngữ của phe phái chính trị này hay phe kia thay vì ngôn ngữ của Đức Kitô, hoặc biến giáo hoàng thành tuyên úy quân đội của phương Tây thay vì là mục tử của Giáo hội Hoàn vũ.

Đôi khi, dường như chẳng có gì gây tai tiếng hơn hòa bình…

Tuy nhiên, điều quan trọng là đừng đầu hàng, đừng mệt mỏi khi gieo những hạt giống hòa giải. Cũng đừng nhượng bộ những luận điệu kích động chiến tranh hay những cơn cuồng loạn, bởi vì vận mệnh của nhân loại không thể là xây dựng những vương quốc vũ trang tận răng đối đầu nhau trong nỗi sợ hãi.

Đúng là Giáo hội thường là vox clamantis in deserto (Mc 1:3), tiếng kêu trong sa mạc: Chỉ cần nhớ lại ba mươi năm qua, những lời kêu gọi vô ích của Gioan Phaolô II trước nguy cơ chiến tranh ở Nam Tư và hai cuộc chiến vùng Vịnh, những lời tiên tri của ngài đã bị phớt lờ lúc đó nhưng rồi được công nhận trong toàn bộ sự thật bi thảm của chúng — dù đã quá muộn — sau hơn nửa triệu người chết vô ích. Nhưng chúng ta phải nuôi dưỡng sự xác tín rằng mỗi hạt giống hòa bình sẽ sinh hoa kết trái. Cũng như mỗi hành động chiến tranh, kể cả cuộc chiến bằng lời nói, đều làm chậm trễ thời khắc “công lý và hòa bình sẽ giao hòa” (Tv 85:11).

Nghệ thuật cũng thường mang trong mình ân ban của sự tiên tri. Pablo Picasso từng nói rằng “nghệ thuật là một lời nói dối giúp ta nhận ra sự thật”, bởi vì nó có thể nắm bắt được thực tại sâu xa của sự vật. Tôi hình dung ra một bức tranh cuối thế kỷ XIX đã thể hiện trọn vẹn nỗi thống khổ và thảm kịch của những cuộc chiến tranh trong thế kỷ sau đó — và cả của hôm nay. Bức tranh mô tả một người đàn ông ôm đầu giữa hai tay, dưới bầu trời đỏ rực một cách bất thường. Nhìn kỹ hơn, thật khó để phân biệt đó là người trẻ hay già, thậm chí có thể là phụ nữ; một hình bóng không tuổi, không giới tính, chỉ còn đôi mắt và cái miệng mở to, không thể làm gì ngoài việc gào thét: chỉ vậy thôi. Tiếng Thét của Edvard Munch chính là cảm giác mà tất cả chúng ta đều có khi đối diện với cảnh tàn sát những người vô tội và thảm họa nhân đạo ở Thánh Địa.

Một sự man rợ mới lại bùng phát với cuộc thảm sát ngày 7 tháng 10 năm 2023, khi các chiến binh Hamas vượt qua rào chắn ngăn cách Dải Gaza với Israel và bắn giết binh sĩ lẫn dân thường Israel. Hơn một ngàn người đã thiệt mạng, bị sát hại một cách cực kỳ tàn bạo trong nhà riêng hoặc khi cố gắng trốn chạy, và nhiều người khác bị bắt làm con tin, trong đó có phụ nữ, trẻ em và cả trẻ sơ sinh. Tôi cũng đã mất những người bạn Argentina trong cuộc thảm sát đó — một nỗi đau gấp đôi, vì họ là những người tôi quen biết nhiều năm, sống trong một kibbutz sát biên giới Gaza.

Rồi sau đó, thêm vào nỗi đau đó, là sự tàn bạo khôn lường khác, qua các đợt không kích của Israel, khiến hàng chục ngàn người vô tội thiệt mạng — chủ yếu là phụ nữ và trẻ em — hàng trăm ngàn người bị sơ tán, nhà cửa tan hoang, dân chúng rơi vào cảnh đói khát.

Tôi luôn giữ liên lạc thường xuyên với Gaza và Giáo xứ Thánh Gia, nơi Cha Gabriel Romanelli, cũng là người Argentina, làm cha sở. Ngay cả khuôn viên nhà thờ, nơi trú ẩn của các gia đình và người bệnh, cũng trở thành chiến trường chết chóc. Một người mẹ, bà Nadha Khalil Anton, cùng con gái bà là Samar Kamal — người nấu ăn tại nhà chăm sóc trẻ khuyết tật do các nữ tu của Dòng Thừa Sai Bác Ái Mẹ Têrêsa điều hành — đã bị lính bắn tỉa của quân đội Israel sát hại khi họ tiếp cận tu viện, một người chết khi cố gắng kéo người kia vào chỗ an toàn. Nhiều người khác cũng bị bắn chết ngay trong khuôn viên giáo xứ, một cộng đoàn Kitô hữu nhỏ bé đau buồn trước cái chết của hơn hai mươi thành viên. Đây cũng là khủng bố. Một cuộc chiến giết hại dân thường không vũ trang, không tự vệ — trong đó có cả các tình nguyện viên Caritas đang phân phát cứu trợ nhân đạo — là thứ gieo rắc một nỗi kinh hoàng điên cuồng tương tự.

Từ Gaza, cuộc xung đột còn lan rộng hơn nữa, kéo dài từ Palestine sang Syria, Iran, Liban, gia tăng nạn nhân và người tị nạn lên đến hàng trăm ngàn. Trong sự bất lực đáng xấu hổ của cộng đồng quốc tế và các cường quốc trong việc chấm dứt thảm trạng này, làn sóng thù hận đã trở thành cơn sóng thần bạo lực. Máu đổ càng làm gia tăng nỗi sợ hãi, sự phẫn nộ và cơn khát báo thù, tạo nên một vòng xoáy tội ác tự nuốt chính mình, nuốt chửng cả tương lai. Ở thành phố Tyr, gần Beirut, tu viện Phanxicô của Dòng Custody Thánh Địa trở thành nơi trú ẩn cho vô số người tị nạn, bất kể màu da hay tôn giáo. Trước khi buộc phải rời khỏi tu viện cùng đoàn người di cư, mang theo Mình Thánh Chúa và các thánh tích về thủ đô, cha sở Toufic Bou Merhi đã cử hành một Thánh lễ xúc động, trong đó ngài ngỏ lời cầu xin với chính các loại vũ khí: “Hỡi quả bom thân mến, xin để chúng tôi yên. Hỡi tên lửa thân mến, xin đừng phát nổ. Xin đừng vâng lời bàn tay của hận thù. Tôi cầu xin các bạn, vì trái tim của những người có trách nhiệm đã trở nên chai đá, và sự tàn bạo đối với con người đã lan rộng, nên xin hãy lắng nghe tôi.” Không còn ai để giết nữa, cha nói. Gia đình này đến gia đình khác bị xóa sổ. Một bé gái sáu tuổi tên Sila đã mất cha, mẹ, em gái nhỏ mới mười tám tháng tuổi, ông bà nội, ông bà ngoại và cả chú bác cùng gia đình. Một ngày trước bài giảng đó, một quả rocket đã phá hủy chín ngôi nhà cách tu viện năm mươi mét. Đá vụn rơi xuống sân nơi người tị nạn trú ngụ. Tiếng thét, tiếng khóc, tiếng kêu cứu hòa lẫn vào máu của những người bị thương.

Tôi ở cùng họ. Tôi ở cùng những người buộc phải rời bỏ nhà cửa, gia đình tan nát. Tôi ở cùng những người buộc phải từ bỏ trường học, công việc, lang thang tìm nơi trú ẩn khỏi bom đạn. Tôi ở cùng những người mẹ khóc con, cùng những đứa trẻ bị cướp đi quyền được vui chơi. Tôi ở cùng những ai không dám ngẩng đầu nhìn lên vì sợ lửa trời trút xuống.

Tất cả họ ở trong suy nghĩ, trong lời cầu nguyện hằng ngày của tôi, và đôi khi cả trong những giọt nước mắt của tôi.

Trước cơn lũ bạo lực ấy, mỗi lần nước mắt trẻ thơ rơi xuống, miệng chúng như lặp lại tiếng thét của Munch: “Đủ rồi!” Cũng là tiếng thét tôi phát ra, lời cầu nguyện tôi đã lặp lại trong các cuộc điện thoại với các nguyên thủ quốc gia, trong những lời kêu gọi những ai mang trọng trách cai quản các dân tộc. “Đủ rồi! Hãy dừng tiếng súng lại. Hãy nghĩ đến những đứa trẻ.”

Có lần, tôi được cho xem một bức tranh minh họa cuộc xung đột vĩnh viễn ở Afghanistan. Bức vẽ là hình ảnh một đứa trẻ cụt tay chân, với khuôn mặt chỉ còn lại những đường nét đứt. Bên cạnh có dòng chữ: “Nếu bạn muốn hiểu chiến tranh là gì, hãy dán ảnh con bạn vào đây.” Đó chính là chiến tranh, là nỗi kinh hoàng không được camera drone ghi lại, mà nằm trong các bệnh viện dã chiến: ở Kabul hay Kiev, trong một kibbutz hay ở Gaza, hoặc Tyr. Nghĩ đến tất cả những đứa trẻ ấy như con mình — đó là liều thuốc chống lại sự phi nhân hóa, sự phi nhân hóa đang biến mỗi đòi hỏi chính đáng về quyền tồn tại thành một cuộc chiến ngày càng đẫm máu nhằm phủ nhận sự tồn tại của người khác.

Không có sự cứu rỗi nào được xây dựng trên những lời nói và hành động báo thù; sự sống chỉ có thể xây dựng trên những lời nói và hành động công lý, những hành động tránh việc hạ nhục đối phương.

Nhiều lần tại Vatican, tôi đã gặp cả gia đình các con tin Israel và thân nhân các nạn nhân Gaza, và tôi thấy cùng một khát vọng: khát vọng hòa bình, yên bình và công lý.

Tôi đã gặp những người cha của hai cô gái trẻ — một người Israel và một người Palestine — đều đã mất con vì chiến tranh: một bé gái mười lăm tuổi bị chết trong một vụ đánh bom, và một bé mười tuổi bị lính bắn chết trước cổng trường học. Tôi đã thấy trong họ cùng một nỗi đau và cùng một quyết tâm: chôn vùi hận thù để tìm một con đường khác, để nỗi đau của họ không trở nên vô nghĩa. Hai người cha ấy, hai người đã cùng trải qua cuộc đóng đinh, đã trở thành bạn bè, làm chứng rằng một thế giới khác là có thể — thực ra, đó là thế giới duy nhất có thể có.

Tại Giêrusalem, tôi để lại lời cầu nguyện của mình trong một khe nứt ở Bức tường Than khóc.

Đối với Thánh Địa, con đường duy nhất khả thi là con đường đã được vạch ra trong Hiệp định Oslo năm 1993, vốn đã trở thành một bản cam kết chết sau vụ ám sát Thủ tướng Yitzhak Rabin bởi một phần tử cực đoan Israel. Đó là giải pháp sáng suốt về hai quốc gia với đường biên giới rõ ràng, và trao cho Giêrusalem một quy chế đặc biệt. Nếu không, bất kỳ giải pháp nào được xây dựng dựa trên sự trả thù và bạo lực, bất kể từ phía nào, sẽ không bao giờ đem lại hòa bình, mà chỉ gieo thêm những hạt giống thù hận và oán giận, hết thế hệ này đến thế hệ khác, trong một chuỗi áp bức bất tận.

Vào tháng 6 năm 2014, trong năm thứ hai của triều đại giáo hoàng, cùng với Tổng thống Israel Shimon Peres, Tổng thống Palestine Mahmoud Abbas, và Thượng phụ Bartholomew, chúng tôi đã trồng một cây ôliu trong Vườn Vatican để cầu nguyện cho hòa bình Trung Đông.

Trước đó không lâu, tôi đã có chuyến hành hương đến Thánh Địa. Tại Giêrusalem, tôi đã cầu nguyện trước Bức tường Than khóc và theo tập quán, tôi đã đặt vào một khe nứt một mảnh giấy nhỏ, trên đó tôi đã viết những câu trong Kinh Lạy Cha bằng tiếng Tây Ban Nha: perdona nuestras ofensas, como también nosotros perdonamos a los que nos ofendenxin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Mỗi người chúng ta phải tha thứ cho lỗi lầm của người khác — chỉ có như vậy chúng ta mới được cứu thoát khỏi sự dữ. Rồi trong hành trình đến Bêlem, tôi bắt gặp một bức tường khác, bức tường chia cách người Israel và người Palestine suốt hàng trăm dặm. Tôi yêu cầu tài xế dừng xe — điều này đã gây ra chút lo lắng cho bộ phận an ninh — rồi tôi xuống xe để cầu nguyện, áp trán mình vào bức tường, giữa vòng vây của một nhóm thanh niên Palestine. Chính tại Bêlem, tôi đã bày tỏ mong muốn được gặp gỡ các nhà lãnh đạo của hai dân tộc để thực hiện một cử chỉ đối thoại và hòa bình mang ý nghĩa lịch sử, bằng cách mời họ đến nhà tôi ở Vatican để cùng cầu nguyện.

(Hình ảnh: Trên đường tới Bêlem, tôi tựa trán vào bức tường chia cắt người Israel và Palestine.)

Mười năm đã trôi qua kể từ giấc mơ ở Bêlem đó. Tháng 6 năm 2024, tôi muốn kỷ niệm sự kiện ấy bằng cách mời toàn thể đoàn ngoại giao tại Vatican đến Vườn Vatican, đặc biệt là các đại sứ Israel và Palestine, cũng như rabbi và tổng thư ký của đền thờ Hồi giáo Roma: Cây ôliu ngày đó giờ đã cao hơn năm mét, và dù tiếng súng vẫn chưa ngừng, dù chúng ta vẫn chứng kiến quá nhiều người vô tội thiệt mạng trước mắt mình, thì vẫn có hàng ngàn, hàng ngàn người Palestine và Israel thiện chí chưa bao giờ ngừng hy vọng vào một ngày mới sẽ tới. Chúng ta không được bỏ cuộc, không được ngừng phản kháng và xây dựng những mối quan hệ huynh đệ, chuẩn bị cho bình minh của một thế giới trong đó mọi người rèn gươm đao thành lưỡi cày; đồng thời, hơn bao giờ hết, chúng ta phải hiểu rằng hòa bình cần những trái tim được biến đổi nhờ tình yêu của Thiên Chúa, tình yêu phá tan ích kỷ và đập vỡ những định kiến. Như Thánh Gioan Phaolô II đã tuyên bố, không có hòa bình nếu không có công lý, nhưng cũng không có công lý nếu thiếu sự tha thứ.

Tha thứ không phải là phản bội, cũng không phải là sự yếu đuối — ngược lại. Như tôi đã nói trong bài diễn văn trước Quốc hội Hoa Kỳ vào tháng 9 năm 2015, việc bắt chước sự hận thù và bạo lực của những kẻ bạo chúa và sát nhân là cách nhanh nhất để thay thế họ. Ngược lại, chúng ta phải đưa ra một câu trả lời của hy vọng và chữa lành, của hòa bình và công lý. Chúng ta hãy đối xử với người khác bằng cùng niềm đam mê và lòng trắc ẩn mà ta mong muốn người khác dành cho mình. Chúng ta hãy tìm kiếm những cơ hội cho người khác như ta mong muốn cho chính mình. Chúng ta hãy giúp người khác trưởng thành, như ta mong muốn được giúp đỡ. Nói một cách ngắn gọn: nếu chúng ta muốn có an ninh, hãy ban an ninh; nếu muốn có sự sống, hãy cho sự sống; nếu muốn có cơ hội, hãy tạo cơ hội. Thước đo mà ta dùng cho người khác cũng sẽ là thước đo thời gian dùng cho ta.

Chúng ta phải thay thế sự hèn nhát của vũ khí bằng lòng can đảm của sự hòa giải.

Chiến tranh là danh từ giống cái trong nhiều ngôn ngữ, nhưng nó không bao giờ có gương mặt phụ nữ: chúng ta cần đôi mắt của những người mẹ; cần lòng can đảm của họ. Và chúng ta cần những người hoạch định biết hiện thực hóa nhận thức và tầm nhìn đó. Bởi vì chúng ta không thể để giáo hoàng kế nhiệm lại phải tưới cho cây ôliu ấy trong mười năm nữa.

Tôi muốn nhắn gửi đến tất cả mọi người trên khắp thế giới, đặc biệt là các bạn trẻ: Đừng tin những ai nói với bạn rằng không gì có thể thay đổi, hay rằng những người đấu tranh cho hòa bình chỉ là những “kẻ ngây thơ,” những “tâm hồn tốt bụng.” Đừng khuất phục trước những kẻ muốn bạn tin rằng sống chống lại người khác, hoặc không cần người khác, chống lại các dân tộc hoặc không cần các dân tộc, là điều hợp lý. Những người đó giả vờ mạnh mẽ, nhưng thực chất lại yếu đuối. Họ có thể làm ra vẻ khôn ngoan, nhưng thực chất là điên rồ. Đôi khi, họ là những kẻ điên với những toan tính đầy lợi ích, phục vụ những âm mưu và lợi ích, thường là những lợi ích đen tối, của những kẻ tạo ra bạo lực và chà đạp hòa bình để trục lợi: Đằng sau biết bao cuộc chiến được thực hiện “vì dân” hay “vì an ninh” thực chất chỉ là những món lợi ích cá nhân hay chính trị nhỏ nhoi. Đừng hài lòng với những giấc mơ yếu ớt và lừa dối của họ, những giấc mơ chỉ dẫn tới những cơn ác mộng mới. Hãy mơ những giấc mơ lớn hơn. Chiến tranh là sự điên rồ, còn hòa bình là lý trí, bởi nó phản ánh và hoàn thiện bản tính con người và khát vọng tự nhiên của con người. Đó là một giấc mơ được mơ với đôi mắt mở, giữa ánh sáng ban ngày, và được mơ cùng nhau, luôn luôn ở thì số nhiều.

Chúng ta không phủ nhận sự tồn tại của xung đột, không cố giấu giếm, không làm ngơ, cũng không đẩy nó ra bên lề: vì chúng ta biết rằng nếu loại bỏ nó, hậu quả cuối cùng sẽ chỉ làm gia tăng bất công và tạo ra phản ứng bất mãn và tuyệt vọng, dẫn tới bạo lực ở cả cấp độ cá nhân lẫn tập thể.

Chúng ta không nhầm lẫn giữa kẻ tấn công và nạn nhân, và chúng ta không phủ nhận quyền tự vệ: Chúng ta khẳng định mạnh mẽ rằng chiến tranh không bao giờ là “không thể tránh khỏi,” và rằng hòa bình luôn luôn khả thi.

Chúng ta kêu gọi thực thi ius pacis – quyền được sống trong hòa bình – cũng như quyền của mọi dân tộc trong việc giải quyết các xung đột bằng cách “bài trừ chiến tranh,” như hiến pháp nước Ý, đất nước nơi tôi làm giám mục, cũng đã ghi rõ.

Chúng ta không trung lập: Chúng ta đứng về phía hòa bình.

Chúng ta biết rằng hòa bình sẽ không bao giờ đến từ việc dựng tường, hay từ việc chĩa vũ khí vào nhau. Chúng ta biết rằng một nền hòa bình thực sự và lâu bền chỉ có thể là kết quả của một nền kinh tế không giết người, không sản sinh cái chết, mà vun trồng công lý, không khuất phục trước mô hình kỹ trị hay nền văn hóa lợi nhuận bằng mọi giá. Như Thánh Phaolô đã nói: “Ai gieo gì sẽ gặt nấy” (Galát 6:7).

Chiến tranh, bất kỳ cuộc chiến nào, đều là một sự xúc phạm thiêng liêng, bởi hòa bình là món quà của Thiên Chúa – nhưng là món quà cần phải được con người vun trồng và chăm sóc. Nếu hiện tại các nền văn minh của chúng ta đang gieo rắc cái chết, sự hủy diệt, nỗi sợ hãi, bất công, sự vỡ mộng, điều đó có nghĩa là chúng ta phải trở thành những người thợ thủ công của sự thay đổi, khẳng định quyền lợi của con người và các dân tộc, bắt đầu từ những người yếu thế, những người bị loại trừ, để cùng nhau xây dựng ngôi nhà chung, biến các giếng thù hận thành những suối nguồn huynh đệ.

Chúng ta phải thuyết phục những kẻ muốn cướp đoạt tương lai rằng tương lai duy nhất có thể tồn tại chỉ thuộc về những con người đoàn kết, những dân tộc sống với nhau trong tình huynh đệ, và rằng thẩm quyền duy nhất có thể được chấp nhận là thẩm quyền phục vụ cho chính lý tưởng này, bởi thẩm quyền không phải để cai trị, mà là để phục vụ: nếu không, đó chỉ là độc tài.

Chiến tranh không chỉ là một màn kịch đầy dối trá – bởi nó luôn được tiền trạm và hộ tống bởi những lời dối trá, và sự thật luôn là nạn nhân đầu tiên. Chiến tranh tự thân nó đã là một sự dối trá. Không ngạc nhiên khi đại văn hào Nga Lev Tolstoy, trong một trong những tác phẩm của ông, “Chủ nghĩa yêu nước hay Hòa bình?”, đã so sánh chiến tranh với sự giả hình: “Cái ác kinh hoàng nhất trên thế giới là sự giả hình. Không phải ngẫu nhiên mà Chúa Kitô chỉ duy nhất một lần nổi giận, và đó là khi Ngài đối mặt với sự giả hình của những người Pharisiêu.”

Sự thật là: tương lai chỉ có thể tồn tại trong sự thực tế, trong lý trí, trong sự thực hành của những người gieo rắc hòa bình và hy vọng.

Bài Mới Nhất
Search