Chương Mười Bẩy: Để Ngươi Nhớ Lại và Phải Xấu Hổ

Giới Thiệu: TỰ TRUYỆN “HY VỌNG” CỦA CỐ GIÁO HOÀNG FRANCIS

Chương 17.
Để Ngươi Nhớ Lại và Phải Xấu Hổ

Tôi đã sống một cuộc đời dài — dài hơn cha mẹ tôi, dài hơn các anh chị em của tôi. Và đó là một cuộc đời mà thuở nhỏ tôi chưa từng hình dung nổi. Lòng biết ơn và cảm thức bất xứng là những tâm tình đi theo tôi trong lúc suy niệm và hồi tưởng này.

Và đây không chỉ là lời nói suông. Tuyệt đối không.

Tôi cảm thấy mình bất xứng.

Tôi cảm thấy mình vô ơn, vì trước biết bao điều tốt lành tôi đã nhận được, tôi đã phạm biết bao lỗi lầm, sai sót.

Tôi cũng cảm thấy mình may mắn, may mắn một cách quá mức, vì không phải tất cả các anh chị em tôi đều đạt được sự thành tựu nhân bản như vậy: Dĩ nhiên, không ai trong họ chết vì đói, cũng không ai bị coi thường, nhưng họ đã trải qua không ít khó khăn, có người nhiều hơn, với những thời điểm đau khổ, chia ly, tái hôn.

Tôi là một con người đã được tha thứ. Tôi luôn là như vậy. Trong đời mình, tôi đã trải qua những thời kỳ khủng hoảng, trống rỗng, sa ngã, những giai đoạn thế tục. Và rồi Chúa đã có thể kéo tôi ra khỏi những điều đó. Khi tôi hồi tưởng lại những khoảnh khắc tối tăm về mặt hiện sinh hay đạo đức ấy, tôi tự hỏi làm sao mình có thể sống sót. Ấy vậy mà tôi đã vượt qua: Tôi vẫn tiếp tục cuộc hành trình của mình.

Nếu xét về hồng ân lớn nhất mà tôi khao khát từ nơi Chúa và đã từng cảm nghiệm, thì đó là ơn biết xấu hổ. Đời tôi được diễn tả trong những câu cuối cùng của chương 16, sách Êdêkien (16,62–63): “Ta sẽ lập lại giao ước với ngươi, để ngươi biết rằng Ta là Đức Chúa… để ngươi nhớ lại và phải xấu hổ.” Để ngươi nhớ lại và phải xấu hổ.

Tôi cảm thấy mình có một danh tiếng mà tôi không xứng đáng, một sự kính trọng công khai mà tôi không xứng hợp. Đây, không nghi ngờ gì, là tâm trạng mạnh mẽ nhất trong tôi.

Tôi đã được đưa đến đây không phải nhờ công lao nào của mình, và ý nghĩ đó luôn đi kèm cùng với sự xấu hổ cũng như kinh ngạc.

Một sự kinh ngạc ngỡ ngàng, nhưng lại mang theo một sự thanh thản lớn lao: tôi đã cảm nghiệm điều ấy ngay khi được bầu lên ngai Tông Tòa Phêrô.

Nói rằng tôi chưa bao giờ kỳ vọng điều gì như vậy trong đời, ngay cả lúc bắt đầu mật nghị hồng y, thì thực ra còn là nói giảm.

Vâng, tôi biết rằng mình — như người ta vẫn nói trong giới Vatican — là một “kingmaker”, tức là một nhân vật có thể ảnh hưởng đến số phiếu dành cho ứng viên này hay ứng viên khác. Nhưng không hơn thế.

Tôi không phải là cái tên được nhắc đến. Những ứng viên được các nhà báo tìm kiếm và bàn tán trong những ngày tháng Ba năm 2013 ấy là những người khác: Angelo Scola, tổng giám mục Milan; Seán O’Malley, hồng y Boston; Odilo Scherer, tổng giám mục São Paulo; và Marc Ouellet, hồng y Canada, khi ấy là Chủ tịch Ủy ban Giáo hoàng về Châu Mỹ Latinh…

Ngày 10 tháng Ba, Chủ nhật trước ngày khai mạc mật nghị, cả bốn vị ấy, cùng với nhiều vị khác, đều dâng lễ tại các giáo xứ được chỉ định ở Rôma. Mỗi hồng y có một nhà thờ riêng — của tôi là San Roberto Bellarmino, một nhà thờ hiện đại theo phong cách duy lý ở Piazza Ungheria, với bàn thờ chính nguyên thủy được hiến tặng bởi danh ca Beniamino Gigli. Nhưng thành thật mà nói, lúc đó tôi chẳng mấy hứng thú. Thế là tôi đã cử hành Thánh lễ vào sáng sớm hôm đó tại nhà nguyện của Domus Internationalis Paulus VI, nơi tôi đang trọ ở via della Scrofa, rồi sau đó đi ăn trưa tại nhà của Lella, chị gái của Đức Ông Ubaldo Calabresi, người từng là khâm sứ Tòa Thánh tại Argentina suốt hai mươi năm và trước đó là bí thư tại tòa khâm sứ, người mà tôi có mối thân tình sâu đậm cho đến khi ngài qua đời. Mỗi lần tôi đến Rôma, tôi đều được mời về nhà Lella và cháu gái bà dùng bữa: tôi như người trong gia đình vậy. Sau bữa trưa, các thành viên khác trong gia đình — con cháu — cũng đến, và chúng tôi trò chuyện đủ thứ. Nhưng tuyệt nhiên không ai đả động gì đến mật nghị.

Sáng hôm sau, thứ Hai, là buổi họp chung cuối cùng của Hồng y Đoàn để chuẩn bị. Tôi đã phát biểu trong buổi họp trước đó, vào thứ Bảy, với một bài nói kéo dài bốn hoặc năm phút, không hề chuẩn bị trước. Và, như tôi nhận ra vào sáng thứ Hai, bài nói ấy đã gây sự chú ý, quan tâm. Nhưng tôi nghĩ đó chỉ là sự lịch sự, xã giao mà thôi. Một hồng y tiến lại gần tôi và nói: “Đúng vậy, chúng ta cần ai đó làm được những điều như thế…” Tôi đáp: Vậy chúng ta tìm đâu ra người ấy? Ông ta đáp: “Là ngài.” Tôi phá lên cười: Ha ha ha, thôi, chào nhé, gửi lời thăm mọi người ở nhà!

Ngày hôm sau, thứ Ba, 12 tháng Ba, mật nghị bắt đầu.

Sáng hôm đó, tôi đến Nhà Thánh Marta với chiếc vali, trong đó tôi bỏ hai bộ lễ phục tôi vẫn để ở Rôma, và không nhiều đồ đạc khác. Tôi đã để lại mọi thứ ở Buenos Aires — những cuốn sách vừa mới bắt đầu đọc, những bài giảng tôi đã soạn cho Chúa Nhật Lễ Lá và Thứ Năm Tuần Thánh, tất cả đều còn bề bộn. Tôi cũng đã mua vé về nước vào thứ Bảy ngày 23. Tôi nghĩ: Sẽ không có tân giáo hoàng nào được bầu trong Tuần Thánh đâu, nên tôi quyết định đặt vé bay về vào thứ Bảy. Tôi sẽ trở về nhà. Thế thôi.

Các hồng y xếp hàng ở lối vào Nhà Thánh Marta để kiểm tra hành lý và làm thủ tục. Không được phép mang theo điện thoại, máy tính hay các thiết bị điện tử khác. Cũng không được đọc báo. Trong suốt thời gian mật nghị, mọi sự đều được giữ bí mật tuyệt đối. Các cửa sổ đều đóng kín và các tần số vô tuyến di động bị chặn.

Họ cho tôi đi qua: “Xin mời, Đức Hồng Y, chúng tôi sẽ mang vali của ngài vào.” Khắp nơi đều bị phong tỏa, cả tại Nhà Thánh Marta lẫn Nhà nguyện Sistina. Người gác cổng bước tới đưa vali cho tôi: “Đức Hồng Y Bergoglio?” ông ta hỏi. Sau này tôi mới được kể rằng có người đứng sau đã bình luận: “Hy vọng ngài ấy sẽ nhận lời…” Có lẽ một số hồng y đã bàn luận chuyện đó. Nhưng tôi thì chẳng nghe gì cả, và cũng chẳng có ý nghĩ nào như thế trong đầu.

Sau này nghĩ lại, tôi nhớ rằng mấy ngày trước ở Via della Scrofa, một tổng giám mục đã đến hỏi tôi nghĩ gì về tình hình lúc đó. Nhưng kỳ thực, ai trong chúng tôi cũng đang tự hỏi như vậy. Tôi trả lời lấp lửng: Tôi không biết, có những cái tên mà ai cũng biết thôi… “Vậy nếu là ngài thì sao?” ông ta hỏi. Thôi nào, đừng đùa nữa. Tôi đáp: “Nhưng nếu thực sự lúc này, đối với Giáo hội, thì không có hồng y nào có thể nói không…” Chỉ vậy thôi. Tôi chỉ muốn kết thúc cuộc trò chuyện khó xử đó.

Mười giờ sáng thứ Ba, thánh lễ “pro eligendo Romano Pontifice” — thánh lễ khởi đầu mật nghị — được cử hành tại Đền thờ Thánh Phêrô. Buổi chiều, chúng tôi di chuyển từ Nhà nguyện Phaolô tới Nhà nguyện Sistina để long trọng tuyên thệ.

Mật nghị đã tiến hành cuộc bỏ phiếu đầu tiên vào buổi tối hôm đó, và thường thì đây chỉ là một thủ tục mang tính hình thức. Bỏ phiếu cho một người bạn, một nhân vật được kính trọng… Cơ chế ấy bắt đầu vận hành theo cách ai cũng biết: Khi có nhiều ứng viên mạnh, những người chưa quyết định, như tôi, sẽ bầu cho một người biết chắc sẽ không đắc cử. Thực chất, đó là những lá phiếu “giữ chỗ,” nhằm chờ tình hình sáng tỏ hơn. Vì vậy, tôi có nhận được một số phiếu, nhưng tôi biết rõ đó chỉ là những phiếu “giữ chỗ.” Tôi rất bình thản.

Sáng hôm sau, thứ Tư ngày 13, trong cuộc bỏ phiếu lần thứ hai, tôi vẫn nhận được những phiếu kiểu “giữ chỗ.” Tới cuộc bỏ phiếu lần thứ ba, số phiếu tăng lên một chút. Tình hình lúc đó rõ ràng còn rất lỏng lẻo, chưa ngã ngũ, nên tôi cũng không ngạc nhiên. Tôi nghĩ rằng mọi sự rồi sẽ đâu vào đấy, và tôi sẽ kịp chuyến bay về Buenos Aires, để cử hành Lễ Lá và Phục Sinh ở quê nhà.

Sau làn khói đen, tôi tiến ra nhà ăn để ăn trưa, nhưng trước đó đi tìm Đức Tổng Giám Mục Jaime Lucas Ortega của Havana, người đã yêu cầu tôi đưa cho ngài bản văn bài phát biểu mà tôi đã phát biểu trước các phiên họp tiền mật nghị. Tôi không có bản viết, nên tôi đã phác lại những ý chính trong bốn điểm: “Ô, cảm ơn ngài,” ngài nói. “Giờ tôi có một kỷ niệm về vị giáo hoàng để mang về nhà rồi.” Tôi vẫn nghĩ đó chỉ là một câu đùa.

Ortega hỏi tôi có thể chia sẻ bản tóm tắt đó cho người khác không, và tôi đồng ý.

Tôi gặp một hồng y khác trong thang máy, cũng là người châu Mỹ Latin. “Ngài đã chuẩn bị bài diễn văn chưa? Chuẩn bị cho tốt nhé!” Diễn văn nào? tôi hỏi. “Diễn văn ngài sẽ đọc từ ban công đó!” Một câu đùa nữa chăng? Hay chỉ là cách bày tỏ cảm tình cá nhân?

Có lẽ chỉ là một lời chúc.

Hồng y Ortega sau đó đã công bố đọc những ghi chú của tôi trong Thánh lễ Dầu mà ngài cử hành hai tuần sau đó, tại nhà thờ chính tòa ở Cuba:

Se hizo referencia a la evangelización… (Có đề cập đến việc loan báo Tin Mừng). Đó là lý do tồn tại của Giáo hội. “Niềm vui dịu ngọt và êm ái của việc loan báo Tin Mừng” (Đức Giáo hoàng Phaolô VI). Chính Chúa Giêsu thúc đẩy chúng ta từ bên trong.

  1. Loan báo Tin Mừng đòi hỏi lòng nhiệt thành tông đồ. Loan báo Tin Mừng đòi hỏi Giáo hội phải biết ra khỏi chính mình. Giáo hội được kêu gọi đi ra khỏi mình và tiến đến những vùng ngoại vi, không chỉ về mặt địa lý mà còn cả những vùng ngoại vi hiện sinh: mầu nhiệm của tội lỗi, đau khổ, bất công, sự dửng dưng và ngu dốt đối với tôn giáo, những trào lưu tư tưởng, và mọi dạng khốn cùng.
  2. Khi Giáo hội không ra khỏi mình để loan báo Tin Mừng, Giáo hội trở nên tự quy chiếu và rồi sinh bệnh (xem người phụ nữ lưng còng trong Tin Mừng theo thánh Luca). Các tệ nạn trong các cơ chế giáo hội qua thời gian đều bắt nguồn từ thái độ tự quy chiếu và một loại chủ nghĩa ái kỷ thần học. Trong sách Khải Huyền, Chúa Giêsu nói Ngài đứng ngoài cửa và gõ. Rõ ràng bản văn nói về việc Ngài gõ từ bên ngoài để xin vào… Nhưng tôi nghĩ cũng đến những lúc Chúa gõ từ bên trong, để chúng ta cho Ngài ra ngoài. Giáo hội tự quy chiếu tìm cách giữ Chúa Kitô lại cho riêng mình, không cho Ngài ra đi.
  3. Khi Giáo hội tự quy chiếu, vô tình Giáo hội tin rằng mình có ánh sáng riêng; Giáo hội không còn là mysterium lunae [“mầu nhiệm của mặt trăng” – nhận ánh sáng từ mặt trời là Chúa Kitô] và rơi vào một điều ác rất nghiêm trọng là tính thế tục thiêng liêng (mà theo de Lubac, là điều tệ hại nhất có thể xảy ra cho Giáo hội); tức là sống để chỉ tôn vinh nhau. Nói đơn giản, có hai hình ảnh về Giáo hội: Giáo hội loan báo Tin Mừng và bước ra khỏi mình, Dei Verbum religiose audiens et fidenter proclamans [“Giáo hội chăm chú lắng nghe và tin tưởng công bố Lời Chúa”], hoặc Giáo hội thế gian sống cho mình, trong mình và vì mình. Điều này phải soi sáng cho những thay đổi và cải tổ cần thực hiện nhằm cứu rỗi các linh hồn.
  4. Nghĩ về vị giáo hoàng sắp tới: một người biết từ việc chiêm niệm và tôn thờ Chúa Giêsu Kitô, giúp Giáo hội ra khỏi chính mình để đến với những vùng ngoại vi hiện sinh, giúp Giáo hội trở thành người mẹ sinh hoa trái nhờ “niềm vui dịu ngọt và êm ái của việc loan báo Tin Mừng.”

Rôma, ngày 9 tháng 3 năm 2013

Thang máy tới khu vực nhà ăn.

Một số hồng y châu Âu đang ngồi quanh một bàn, còn trống một chỗ. Họ gọi tôi: “Mời Đức Hồng y, mời ngài ngồi với chúng tôi.” Họ bắt đầu hỏi tôi hàng ngàn câu hỏi về châu Mỹ Latin, về những đặc điểm riêng, về thần học giải phóng…

Tâm trí tôi trôi về những thời khắc kinh khủng: sự đàn áp liên tục của chế độ Peron vào đầu những năm 1960, sự ra đời của những nhóm cực hữu thường có liên hệ với những kẻ trốn chạy Đức Quốc xã, chiến dịch bạo lực bài Do Thái và những vụ tấn công ở Argentina, rồi cuộc chiến du kích, khi tôi còn là giám sư tập sinh tại Villa Barilari, ở San Miguel, năm 1972, và có tin phát hiện một tu sĩ Dòng Tên giữ vũ khí trong tủ áo của mình… Một thời kỳ dài và bi thảm.

Tại bàn ăn, chúng tôi nói về đủ mọi thứ. Tôi giải thích những gì đã xảy ra. Họ hỏi rất nhiều. Lúc ấy tôi nghĩ thầm: À, giống như bị thi tuyển vậy… Và thực ra, có lẽ đúng vậy. Họ đang thẩm định tôi: chỉ là tôi không nhận ra.

Khi cuộc trò chuyện kết thúc, tôi đứng dậy để rời đi thì một hồng y nói tiếng Tây Ban Nha tiến tới: “Đức Hồng y, Đức Hồng y!” Vâng. “Ngài bị mất một phần phổi đúng không?” ông hỏi. Không, tôi đáp, chỉ cắt bỏ thùy trên phổi phải vì tôi từng có ba u nang. “Và chuyện đó xảy ra lúc nào?” Hồi lâu rồi, năm 1957, tôi trả lời. Vị hồng y đỏ bừng mặt, thốt lên một câu chửi thề và nghiến răng: “Những âm mưu phút chót này!” ông thốt lên.

Lúc đó tôi bắt đầu hiểu.

Ít nhất tôi hiểu rằng mối nguy đã đến gần.

Tôi lên phòng ngủ trưa, hay như người Rôma gọi là pennichella, và tôi ngủ rất ngon, trong bình an. Đến ba rưỡi chiều, tôi thức dậy và lên chuyến xe buýt đầu tiên đến Nhà nguyện Sistina.

Tôi là một trong những người tới sớm nhất, và tôi ngồi trò chuyện với Hồng y Gianfranco Ravasi, nguyên Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Văn hóa, trong lúc chờ các hồng y khác tới. Chúng tôi nói về Sách Gióp, vì tôi cũng từng giảng dạy các sách khôn ngoan và Ravasi thì là một chuyên gia lớn. Câu chuyện say sưa tới mức…

Đến nỗi có người phải gọi chúng tôi: “Nhanh lên, các ngài là những người cuối cùng còn ngoài cửa!”

Cửa đóng lại, và cuộc bỏ phiếu lần thứ tư bắt đầu.

Khi kiểm phiếu, các giám thị bắt đầu như thường lệ, đọc to từng tên. Người ta được phát một tờ giấy ghi tên tất cả các hồng y để ghi kết quả kiểm phiếu, tài liệu này sau đó phải nộp lại và sẽ bị đốt cùng với các lá phiếu để tạo ra làn khói. Tôi thì không bao giờ điền vào, cả kỳ mật nghị lần trước cũng vậy. Tôi đọc kinh Mân Côi, bình an. Việc kiểm phiếu nghe rất đơn điệu — như một bài thánh ca Gregorian nhưng kém du dương hơn nhiều. Tôi bắt đầu nghe: Bergoglio, Bergoglio, Bergoglio, Bergoglio… Hồng y Cláudio Hummes, ngồi bên trái tôi, vỗ nhẹ vào lưng: “Đừng lo, đó là công việc của Chúa Thánh Thần.” Tôi đạt 69 phiếu, tôi nghĩ vậy, và tôi hiểu.

Để đắc cử cần đạt 77 phiếu trên tổng số 115, tức hai phần ba. Chúng tôi tiến hành cuộc bỏ phiếu lần thứ năm, tức cuộc bỏ phiếu lần thứ hai trong buổi chiều cùng ngày. Nhưng trong quá trình kiểm, phát hiện ra thừa một lá phiếu: hai phiếu bị dính vào nhau khi bỏ. “Chúng ta làm sao đây?” Hồng y Giovanni Battista Re hỏi. Quy trình phải làm lại từ đầu. Tất cả phiếu bầu bị đốt ngay, dù chưa mở ra.

Chúng tôi bầu lại. 115 lần, mỗi hồng y tiến lên, quỳ trước bàn thờ, tuyên xưng rằng mình bỏ phiếu cho người mà, theo ý Chúa, mình cho là đúng. Sau đó họ đặt lá phiếu vào đĩa bạc rồi bỏ vào thùng phiếu.

Khi tên tôi được đọc tới lần thứ bảy mươi bảy, một tràng pháo tay vang lên, trong khi việc đọc phiếu vẫn tiếp tục. Tôi không còn nhớ đã đạt bao nhiêu phiếu, vì tiếng vỗ tay át cả tiếng giám thị. Nhưng vào khoảnh khắc đó, khi các hồng y vẫn còn vỗ tay, Hồng y Hummes, người đã từng học ở chủng viện Phanxicô tại Taquari, bang Rio Grande do Sul, đứng lên ôm lấy tôi: “Đừng quên người nghèo,” ngài nói.

Những lời đó thấm sâu vào thịt da tôi.

Chính khi ấy, tên gọi Phanxicô hiện lên trong tôi.

Tôi chưa từng nghĩ rằng mật nghị sẽ liên quan đến mình, và càng không nghĩ đến chuyện chọn một tên giáo hoàng. Trong những ngày mật nghị, có một người vô gia cư đi lang thang ở Quảng trường Thánh Phêrô đeo một tấm biển ghi dòng chữ: “Pope Francis I.” Nhưng hình ảnh đó chỉ trở lại trong tâm trí tôi nhiều ngày sau, khi bức ảnh xuất hiện trên nhiều tờ báo.

Tôi đứng dậy ôm lấy Hồng y Scola. Ngài xứng đáng nhận cái ôm đó. Sau đó, tôi được mời tiến về phía trước. Lúc đó vừa mới qua bảy giờ tối, và việc kiểm phiếu đã xong.

Hồng y Re tiến đến và đặt câu hỏi định mệnh: Ngài có chấp nhận việc được bầu làm Giáo hoàng tối cao không? Accepto, tôi trả lời. Tôi cảm thấy mình rất thanh thản, bình an. “Vậy ngài muốn lấy tên gì?” ngài hỏi. Vocabor Franciscus. Tôi sẽ được gọi là Phanxicô. Một tràng pháo tay khác lại vang lên.

Các trợ lý bỏ những lá phiếu vào lò và nạp thuốc cho làn khói trắng, bốc lên từ ống khói Nhà nguyện Sistina khi buổi tối bắt đầu buông xuống.

Sau đó tôi đi vào phòng thánh, được gọi là “Phòng Nước Mắt”, để thay áo lễ. Tôi đang đeo nhẫn hồng y, nên tháo ra, nhưng trong túi tôi có nhẫn của lễ phong giám mục nên tôi đeo chiếc đó. Họ muốn đưa cho tôi một chiếc khác: Không, không, tôi giữ cái này, cảm ơn. Họ đưa cho tôi một cây thánh giá vàng rất đẹp và tôi nói: Tôi đã có cây thánh giá bằng bạc niken này từ khi chịu chức giám mục, tôi đã mang nó suốt hai mươi năm. Ngay cả tại Công nghị năm 2001, tôi cũng không muốn có áo lễ mới: chiếc áo của người tiền nhiệm, Hồng y Quarracino, dùng vẫn tốt — chỉ cần chỉnh sửa một chút là ổn. Còn đôi giày đỏ? Không, tôi mang giày chỉnh hình, vì tôi bị bẹt chân.

Nhưng tất cả những điều đó đều không được tính toán trước. Tôi chỉ làm theo cảm giác, hoàn toàn tự nhiên. Cũng vậy, tôi không muốn mặc áo choàng nhung hay áo rochet bằng vải lanh… Chúng không dành cho tôi. Hai ngày sau, họ bảo tôi phải đổi quần, mặc quần trắng. Tôi bật cười. Tôi không muốn thành người bán kem, tôi nói. Và tôi vẫn giữ bộ quần áo của mình.

Sau khi thay áo lễ, tôi bước ra và đi thẳng đến với Hồng y Ivan Dias, lúc đó đang ngồi xe lăn. Có lẽ vì chưa quen với bộ lễ phục mới, tôi vấp ngã ở một bậc thềm. Hành động đầu tiên của tôi khi trở thành Giáo hoàng… là vấp ngã. Nhưng tôi không té. Tôi ôm lấy ngài. Sau đó tôi quay lại, không hề ngồi lên ngai vàng đã chuẩn bị trước bàn thờ. Đức Gioan Phaolô II cũng đã làm như vậy: tôi đứng để ôm chào từng người. Có cái gì đó rất trung cổ trong việc người ta quỳ gối và hôn tay mình. Thay vào đó, đây là một cử chỉ đơn giản, giữa những người anh em. Chúng tôi cùng cầu nguyện tại Nhà nguyện Phaolô.

Tôi không biết quy trình, nên đã bảo với Đức Hồng y Agostino Vallini, giám quản Rôma, và bạn tôi, Hồng y Hummes: Hãy đi cùng tôi! Theo nghi thức, lẽ ra Hồng y Re và những vị khác mới là người tháp tùng, nhưng tôi không hề biết điều đó.

Và rồi tôi bước ra ban công nhìn xuống quảng trường. Tôi không hề biết mình sẽ nói gì.

Vào ngày 13 tháng 3 năm 2013 đó, tôi đã xin phúc lành của Dân thánh của Thiên Chúa.

Tôi chỉ bắt đầu suy nghĩ về bài nói trong lúc cầu nguyện ở Nhà nguyện Phaolô. Nhưng tôi thấy bình an. Thanh thản. Một cảm giác cho tới nay vẫn luôn ở trong tôi.

Tất cả mọi người đã thấy những gì diễn ra trên ban công.

Tôi xin phúc lành của dân Chúa, của Dân thánh trung tín của Thiên Chúa, cho giám mục của họ. Cùng nhau, chúng ta bắt đầu cuộc hành trình của Giáo hội Rôma, Giáo hội dẫn dắt các Giáo hội khác trong đức ái.

Tổng Giám mục Agostino Marchetto, người mà tôi cho là một trong những người diễn giải xuất sắc nhất Công đồng Vatican II và tôi đã biết từ thời chúng tôi cùng sống ở nhà dành cho các giáo sĩ quốc tế trên đường via della Scrofa, nơi tôi trú khi tới Rôma với tư cách hồng y, đã nói đại khái: “Tôi chỉ có một nghi ngờ về Bergoglio, rằng ông ấy không bao giờ cười… và giờ thì ông ấy luôn cười.” Bà Cristina Kirchner, tổng thống Argentina lúc đó, cũng nhận xét đại loại như vậy, chỉ khác là với lối diễn đạt… khá sống động: “Có ai hiểu nổi vị giáo hoàng này không? Hồi ở Buenos Aires thì mặt như… [bà ấy dùng một từ không lịch sự], mà giờ thì cười với cả thế giới!”

Biết nói sao đây? Tôi luôn thích ở bên mọi người; khi ở với người khác tôi luôn mỉm cười. Tôi thấy lạ khi có người bảo tôi lúc nào cũng nghiêm nghị, nhưng có lẽ họ cũng có phần đúng… Có lẽ khi làm hồng y tôi quá lo lắng, sợ sai, và tự ti hơn.

Khi quay lại Santa Marta sau lời chúc lành, tối hôm đó, tôi xuống cùng các hồng y. Phía dưới, một chiếc limousine sáng choang đang chờ. Nhưng tôi bình thản nói: Không, không, tôi đi cùng các hồng y. Thế là tất cả cùng lên xe buýt và trở về Santa Marta. Tôi không còn thấy chiếc limousine nữa.

Khi về đến Santa Marta, trước bữa tối, tôi xin được gọi điện cho Đức Bênêđictô XVI, để chào ngài, cảm ơn và xin ngài cầu nguyện cho tôi. Ngay sau đó, tôi gọi cho vị sứ thần Tòa thánh tại Buenos Aires, dặn: Hãy báo cho các giám mục Argentina đừng tới Rôma dự lễ khởi đầu sứ vụ Giáo hoàng ngày 19 tháng 3; thay vào đó, hãy quyên tiền giúp người nghèo và cầu nguyện cho tôi. Một số người vẫn đến, như thường lệ.

Sau đó tôi gọi cho chị tôi, Maria Elena. “Nhưng em thế nào rồi, cảm thấy ra sao?” chị hỏi. Tôi mỉm cười: Em ổn, em ổn, rất bình thản. Tôi nghẹn ngào. Chúng tôi ôm nhau qua điện thoại. Chúng tôi luôn ở bên nhau, trong trái tim nhau.

Tại Santa Marta, chúng tôi cùng ăn tối. Sau bữa ăn, Đức Hồng y Becciu, lúc đó là Phó Tổng trưởng Bộ Quốc vụ viện, tiến lại gần: “Giáo hoàng phải chúc rượu…” Được thôi; tôi mỉm cười nâng ly: “Xin Chúa tha thứ cho các ngài!” tôi nói.

Tôi đã xin ngày hôm sau được đi ngay tới Vương cung Thánh đường Đức Bà Cả, tới với Mẹ Maria; nơi mà tôi vẫn luôn tới mỗi khi chuẩn bị hoặc kết thúc các chuyến tông du. Để Mẹ đồng hành, chỉ dạy và gìn giữ tôi. Với Đức Mẹ, tôi an tâm.

Người ta nói Rôma có hơn chín trăm nhà thờ, nhưng khi đó tôi chỉ biết vài nơi: đương nhiên là Nhà thờ Thánh Phêrô, rồi Đức Bà Cả, Nhà thờ Chúa Giêsu, Sant’Ignazio, San Luigi dei Francesi gần via della Scrofa, San Roberto Bellarmino là nhà thờ giáo xứ của tôi ở Rôma. Năm 1970, tôi từng được đưa đến thăm bức tượng Moses của Michelangelo ở San Pietro in Vincoli.

Không còn nhà thờ nào khác. Đến giờ tôi vẫn biết rất ít — làm Giáo hoàng thì khó có dịp đi đâu.

Tôi xin được đi sớm, trong một chiếc xe thường. Họ đưa cho tôi một chiếc Ford Focus màu xanh, tôi còn dùng một thời gian sau đó. Ở Santa Maria Maggiore, tôi cầu nguyện trước bức ảnh Salus populi romani (Phù hộ Dân thành Rôma), phó thác giáo phận cho Đức Mẹ. Sau đó tôi xin được ghé Domus Paulus VI ở via della Scrofa để lấy mấy cuốn sách tôi để quên, và trả tiền phòng. “Đừng lo, chúng tôi sẽ thu xếp,” người ta nói. Nhưng tôi muốn tự mình làm, vì tôi thấy như vậy là phải.

Tôi thu dọn đồ đạc, chào tạm biệt mọi người. Tôi cũng gọi cho người giao báo ở calle Bolívar, Buenos Aires, cảm ơn và hủy việc giao báo, vì… À, tôi bảo rằng chắc ông ấy cũng biết chuyện gì đã xảy ra.

Chiều hôm đó, tôi dâng lễ đầu tiên tại Nhà nguyện Sistina, cùng các hồng y, mặc áo lễ chung với họ. Người phụ trách nghi lễ đưa cho tôi một bài giảng dài bằng tiếng Latinh, nhưng tôi chỉ cảm ơn rồi để lại đó. Tôi đã cử hành Thánh lễ nhiều năm, tôi nói. Nhưng hãy ở gần tôi nếu tôi cần. Rồi tôi giảng ứng khẩu, bằng tiếng Ý của tôi khi ấy, còn tệ hơn cả sau này, lấy cảm hứng từ các Bài đọc.

Tối hôm đó, tôi được đưa đi xem căn hộ giáo hoàng vốn đã được niêm phong từ khi Đức Bênêđictô ra đi.

Vừa bước vào với cha Georg, lúc đó là Chánh Văn phòng Giáo hoàng, tôi lập tức nghĩ: Tôi sẽ không ở đây.

Tôi im lặng. Tôi cảm ơn cha. Nhưng trong lòng, tôi bắt đầu tìm giải pháp.

Tôi cầu nguyện, nói chuyện với Chúa để cân nhắc kỹ lưỡng. Tôi trao đổi với Đức Hồng y Bertello, Chủ tịch Thống đốc quốc gia Vatican, và ngài đề nghị nếu muốn thì tôi có thể ở tại căn hộ của ngài ở Palazzo San Carlo trong Vườn Vatican. Nhưng nơi đó cũng quá cách biệt.

Rồi tình cờ, khi trở về Santa Marta, tôi thấy họ đang dọn dẹp căn phòng đối diện với căn tôi ở trong mật nghị. Tôi hỏi: “Phòng này là gì?” — “Phòng khách, chúng tôi đang chuẩn bị cho Thượng phụ Bácthôlômêô.” Tôi nhìn vào: có phòng khách nhỏ, phòng ngủ nhỏ, phòng làm việc nhỏ, rất đơn sơ. Tôi lập tức nghĩ: Đây là chỗ của mình.

Tôi gặp Giám đốc và nói quyết định của mình. Ban đầu ông ấy sửng sốt: Không thể. Rồi do dự. Cuối cùng: Đồng ý.

Thế là vài ngày sau khi Thượng phụ Bácthôlômêô rời đi, phòng 201 trở thành nơi ở của tôi.

“Cho đến khi có thông báo mới,” phát ngôn viên Vatican, cha Federico Lombardi, loan báo hồi tháng Tư.

Nhiều năm đã trôi qua. Tôi rất vui ở Santa Marta vì tôi có mọi người quanh mình. Nếu có chút bất tiện, cũng dễ giải quyết.

Tôi sẽ ở đó cho tới khi Chúa muốn. Còn về cái chết, tôi có cái nhìn rất thực tế. Và cũng vậy khi có ai nhắc tới những nguy cơ ám sát.

Khi điều đó đến, tôi sẽ không được chôn ở Nhà thờ Thánh Phêrô mà là tại Nhà thờ Đức Bà Cả: Vatican là nơi cho sứ vụ cuối cùng của tôi, chứ không phải nhà vĩnh cửu. Tôi sẽ yên nghỉ tại căn phòng hiện nay chứa chân đèn, gần tượng Regina della Pace mà tôi đã nhiều lần tìm kiếm sự che chở trong suốt giáo triều của mình.

Mọi sự đã sẵn sàng.

Tang lễ sẽ giản dị: không cỗ quan tài, không nghi lễ đóng nắp, không đặt quan tài gỗ bọc chì và gỗ sồi. Một cách trang trọng, nhưng như một Kitô hữu bình thường, bởi giám mục Rôma là mục tử và môn đệ, không phải kẻ quyền lực của thế gian.

Dù biết mình đã được Chúa ban cho nhiều ơn lành, tôi chỉ xin Ngài một điều nữa: Hãy gìn giữ con, cho con ra đi bất cứ khi nào Ngài muốn, nhưng — Ngài biết đấy — con không chịu đau giỏi đâu… Xin đừng để con đau đớn quá nhiều.

Bài Mới Nhất
Search