Ngộ Không Phí Ngọc Hùng: CHÙA HUY VĂN, CHÙA BỘC

      

Đền chùa miếu mạo ở Hà Nội…đông như quân Nguyên. Vì chỉ với tượng Đức ông (vua Quang Trung) không thôi, Hà Nội có tới 65 chùa thờ bức tượng này. Bởi chữa nghĩa eo hẹp, lọ mọ vào thăm ông Google, đếm sổ nợ đời từ trên xuống dưới có đền Hai Bà Trưng ở làng Đồng Nhân. Đền Hòa Mã cũng ở làng Đồng Nhân. Nhẩy cóc xuống chút nữa là chùa Huy Văn, chùa Bột. 

       Ừ thì cứ bám như cua cắp theo bốn ngữ cảnh trên để tiêu pha thì giờ cho tuổi già. Với sổ nợ đời hãy sa đà với đền Hai Bà Trưng trước đã.

Dây cà ra dây muống vì năm 53, nhà ở số 26 phố Chợ Đuổi, trốn học đi bộ qua phố Huế, là tới làng Đồng Nhân.

Ngày ấy bảy, tám tuổi không biết trong đền thờ ai, chỉ biết trước cổng đền có cái ao, cây đa cụ cành vươn ra giữa ao. Thế là trèo lên nhẩy một cái ‘’ùm’’ xuống nước…Số ruồi, tiếp đến uống nước căng rốn vì…không biết bơi.

Năm 54 di cư vào Nam, khươm mươi niên sau lêu bêu trên đường Nguyễn Thiện Thuật, táp vào tiệm bánh mì Hòa Mã làm cái bánh mì kẹp pa tê, thịt nguội…ngon ăn kể gì. Tiệm bánh mì do bà Nguyễn Thị Tịnh làm cho hãng thịt nguội chuyên cung cấp cho các nhà hàng Pháp ở Hà Nội. Vào Sài Gòn, ngứa tay ngứa chân bà mở hàng bán bánh mì. Cửa hàng đã trên dưới 70 năm, với bảng hiệu cũ kỹ, phai màu theo năm tháng. Vì cây dây quần, thổ quán bà Nguyễn Thị Tịnh cũng ở…làng Đồng Nhân.

       Để lấy ngắn nuôi dài, đền Hòa Mã do ông Đào Duy Từ dựng lên. Theo chuyện xưa tích cũ, đền được xây dựng vào đời Lê Cảnh Hưng (1740-1788).

      ***

      Lơ mơ lỗ mỗ với đền chùa, am là nơi thờ Phật, nhỏ hơn chùa (miếu thờ thần linh ở các làng hoặc miếu cô hồn ở bãi tha ma cũng gọi là am). Từ am…“hóa thân” thành chùa. Sau am chỉ nơi yên tĩnh, tu tâm đọc sách của các văn nhân. Như am Bạch Vân của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm khi cáo lão về hưu ở Hải Dương, thổ quán của cụ.

      Miếu là dạng tín ngưỡng dân gian, miếu thờ thần núi được gọi là miếu Sơn thần. Miếu thờ thần nước gọi là miếu Hà Bá hoặc miếu Thủy thần. Miếu thờ thần đất là miếu Thổ thần hoặc thần Hậu thổ. Miếu thường được xây trên gò cao, nơi sườn núi, hoặc đầu làng, cuối làng, những nơi yên tĩnh để quỷ thần có thể an vị. Miếu nhỏ còn được gọi là miễu (cách gọi của người miền Nam)

      Chùa là thờ Phật, là nơi tu hành của các nhà sư, tăng, ni. Ở một số nơi, chùa cũng là nơi cất giữ xá lị và chôn cất các vị đại sư đã khuất núi.

      Đền để thờ cúng một vị thánh hay công đức danh nhân theo truyền thuyết dân gian.

      Mỗi khi nhắc đến những nơi thờ tự ở nước ta thường nói đến cụm từ “đền chùa miếu mạo”. Vậy chứ mạo ở đây nghĩa là gì? Chữ Hán, miếu mạo viết là 廟貌, nghĩa chung là miếu. Mạo [貌], theo Hán Việt từ điển là “nghi thức cung kính, lễ mạo”. Như thế, miếu mạo là một từ ghép, nếu viết riêng sẽ không có nghĩa.

      Với ngữ nghĩa: Chùa thờ thần, đền thờ người.

       ***

       Một ngày không nắng cũng chẳng mưa, đọc một bài văn khảo, mặt mũi cứ bơ ngơ chả biết chùa Huy Văn cổ sự,…cổ lỗ ra sao? Vì bám như sam theo tác giả thì:

“…Vừa lái xe tôi vừa hỏi :

– Chắc anh (1) có nhiều dịp đến chuà Huy Văn cũ ở Hà Nội ?

– Có …

– Sao tôi cứ ngờ cái thuyết Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ đem giấu bà phi Ngô Thị Ngọc Dao có thai hoàng tử Tư Thành vào chuà Huy Văn …

Người-bạn-sử-hà-nội chép miệng. Ánh mắt ông cắt ngang không gian như lằn mũi-tên-thời-mỵ-châu-trọng-thuỷ :

– Anh nghi ngờ là phải. Tôi đã mò mẫm xem xét mãi khu di tích chuà Huy Văn cũ mà chẳng tìm được chút dấu vết gì …

– Thế thì đúng như ông Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án viết rằng người ta hay lầm chuà Huy Văn với chuà Dục Khánh.  Chuà Dục Khánh mới có đền thờ bà phi Ngọc Dao.  Sau thờ thêm vua Thần Tôn chứ không phải Thánh Tôn.  Anh thấy không, một sự lầm lẫn đáng tiếc. Đáng tiếc nhất là nó làm hỏng hẳn những “dự thuyết lịch sử” mà các nhà sử học Hà Nội các anh đã và đang lập ra …

Ông cười bằng mắt :

– Cái ông này hay nhỉ.  Làm gì có “dự thuyết lịch sử” nào chứ! Mà đâu có phải tất cả những người làm sử ở Hà Nội đồng quan điểm với nhau…”

       (1) Phụ bản của người góp nhặt năng nhặt chặt bị.

       Anh đây là giáo sư sử học Trần Quốc Vượng, cao đồ của cố học giả Ðào Duy Anh. Ông đỗ thủ khoa Sử Ðiạ nên được chỉ định thành lập ngành Khảo cổ học của khoa Sử. Ông sinh năm 1934 ở Hải Dương, nhưng quê gốc Phủ Lý, Hà Nam; từng là chủ tịch Hội sử gia Việt Nam. (nguồn: Trần Quốc Vượng, tính trời nết đất – Viên Linh)

       Bèn lễnh đễnh vào mạng lưới hỏi thăm ông Google.

       Chùa Huy Văn toạ lạc trên đất làng Huy Văn, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương, phủ Phụng Thiên, kinh đô Thăng Long. Nay chùa mở ở 2 ngõ Văn Chương và Huy Văn, phường Văn Chương, quận Đống Đa, Hà Nội. Chùa Huy Văn được nhiều người biết đến bởi nơi đây vua Lê Thánh Tông được sinh ra và lớn lên. Vua lên ngôi cho tu sửa chùa khang trang và đổi tên nhằm ý nghĩa nơi đây dưỡng dục mình. Vua tôn mẹ làm Quang Thục hoàng thái hậu và xây điện Huy Văn ở ngay sân trước chùa để mẹ ở và tu hành. Khi bà mất, vua lại cho tạc tượng, đúc chuông và thờ mẹ ở điện Huy Văn. Để ghi nhớ tấm lòng hiếu thảo ấy, ngày vua băng hà, dân làng Văn Chương xưa, tổ chức tưởng niệm trọng thể, rước kiệu lên đền thờ vua ở phố Hàng Hành.

      

Văn bia “Huy Văn điện Dục Khánh tự bi ký” dựng ngoài hiên điện ghi chùa Huy Văn được xây dựng từ thời vua Lê Thái Tông, đã được hơn 500 năm, trải qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn giữ nguyên kiến trúc “tiền Thần hậu Phật”.

       Chùa được xây dựng theo hình chữ “Đinh”, gồm 5 gian Tiền Đường, 3 gian Thượng Điện. Ngoài ra chùa còn khu nhà Tổ 3 gian, vườn Tháp và nhà Giảng Kinh. Trong Phật điện lớp trên bày 3 pho tượng Tam thế. Lớp thứ hai ngồi chính giữa là tượng Lê Thái Tông, xung quanh vua có tượng bốn vị tứ trụ triều đình. Lớp thứ ba có tượng thân mẫu của vua Lê Thánh Tông. Lớp thứ tư đặt tượng Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ, hai người đã có công phò trợ, bảo vệ mẹ con vua Lê Thánh Tông thuở hàn vi…

       Nhắc đến chùa Huy Văn là nhắc đến vua Lê Thánh Tông. Sử kiện là khi ấy, bà phi Ngô Thị Ngọc Dao của vua Lê Thánh Tông đang mang thai và bị thất sủng, buộc phải đi đày nơi xa. Nhờ ông Nguyễn Trãi và bà Nguyễn Thị Lộ xin cho, bà Ngọc Dao được ra một ngôi chùa làng trú ngụ và sinh con ở đó. Người con trai này là Lê Tư Thành, sau trở thành vua Lê Thánh Tông. Sau khi Lê Thái Tông mất trong vụ án Lệ Chi Viên vì bệnh sốt rét (nguồn: sử gia Tạ Chí Đại Trường). Thế nhưng ông Nguyễn Trãi, và bà Nguyễn Thị Lộ bị mang vạ âm mưu giết vua, ông Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc, bà Nguyễn Thị Lộ bị tử hình khiến triều đình nhà Lê trải qua những biến cố trong nội bộ hoàng thất. Lê Thánh Tông lên ngôi đã dẹp yên những mâu thuẫn trong hoàng tộc. Sau gần 40 năm trị vì, ông đưa nước ta trở thành một quốc gia hùng mạnh (đánh Chiêm Thành).

Phụ bản của người góp nhặt năng nhặt chặt bị.

Vua Lê Thánh Tông là một trong những vị vua trị vì lâu nhất, anh minh nhất trong các vị vua thời Lê. Thời vua Lê có bộ Luật Hồng Đức, một bộ luật được coi là đầy đủ và nhân văn nước ta thời ấy. Vua cho dựng bia tiến sĩ từ khóa thi 1442 trở đi. Ngoài ra vua còn được biết đến là một nhà thơ, chủ soái hội Tao Đàn “nhị thập bát tú”. Khuê Vân Các ở Văn Miếu là nơi vua quan tới ngâm vịnh. Vua cũng là vị vua duy nhất làm thơ nhân cách hóa, và những bài tự trào như Thằng mõ, Thằng bù nhìn, Cái chiếu, Cái điếu bát,…

Bài thơ khẩu khí hào hùng Con chó đá:

Quyền trọng ra oai trấn cõi bờ
Cửa nghiêm chem chép một mình ngồi

Khuê Văn Các có một lầu vuông 8 mái, gồm 4 mái thượng và 4 mái hạ. Tầng trên là kiến trúc gỗ 2 tầng, mái cũng 2 tầng và được lợp ngói ống. Bốn cạnh gác có diềm gỗ được chạm trổ tinh vi, xung quanh là lan can hình con tiện. Ở bốn mặt gác trổ 4 cửa sổ tròn xung quanh có những thanh gỗ tỏa ra bốn phía, tượng trưng cho các tia sáng của sao Khuê.

Sao Khuê, là ngôi sao trong chòm 28 sao, sách Hiếu kinh ghi : “Khuê chủ văn chương”. Vì vậy sao Khuê biểu tượng của văn chương. Hình tượng sao Khuê xuất hiện vào thế kỷ XV qua câu thơ của vua Lê Thánh Tông, khi ông ca ngợi Nguyễn Trãi: “Ức Trai tâm thượng quang Khuê – Tảo” hàm ý ca ngợi tài năng văn chương của nhà nho này.

Ngã Tư Sở ở Đống Đa có hai làng Khương Thượng và làng Khương Hạ. Khương Thượng là nơi Sầm Nghi Đống đóng quân. Khương Hạ là làng của anh Nguyễn Huy Thiệp giam giữ tù binh Chàm được đưa về từ đời vua Lê Thánh Tông. Làng anh có xóm Chàm, họ sống ở đây lâu rồi cũng lấy chồng lấy vợ, bây giờ chả còn phân biệt được Chàm, Việt nữa. Dẫu đã Việt hóa rồi, nét mặt, màu da có khác, tiếng nói lơ lớ mất dấu. Cái nghề dưa muối ở xóm Cầu Mới, làng anh, anh ngờ rằng có gốc rễ từ Chàm. Vì chỉ làng Khương Hạ các món này mới là đặc sắc nhất. (nguồn: Nguyễn Linh Khiếu)

Thế kỷ 20, Ngã Tư Sở thay da đổi thịt thành xóm cô đầu, đi vào văn học với Vũ Trọng Phụng. Trước khi về cõi, ông trối trăng: “Khi tôi chết, sắp bản thảo của tôi trên viên gạch để gối đầu…”. Ông mất 27 tuổi vào lúc xóm Cầu Mới, Ngã Tư Sở còn đang ngái ngủ.

Phụ bản

Đền chùa miếu mạo không hẳn phong cảnh hữu tình,…u tịch. Thảng như ngôi chùa dành cho người Chàm. Tây Hồ chí ghi vua Lê Thánh Tông cho làm chùa ở gò Phượng Chuỷ bên bờ nam Tây Hồ cho người Chàm hành đạo, sau được gọi là chùa Bà Đanh.

Cảnh chùa không phải lúc nào cũng có cây bạch đàn lá rơi…nghiêng nghiêng (nhà thơ Trần Đăng Khoa). “Bà Ðanh tự” (tên trên bia) không thờ Phật. Chùa thờ một nữ thần Chàm ngồi trong tư thế đặc biệt hớ hênh. Thần ban phúc cho người cầu cúng khi người này cầm gậy đá thọc vào…hạ bộ của thần. Theo sử gia Tạ Chí Ðại Trường, “đanh” là cây gậy bằng đá, vì thế chùa còn có tên dân giã là chùa Bà Banh.

Vua Lê Thánh Tông đề thơ Tượng Bà Banh

Chốn long cung cảnh giới này

Uẩy, ai đứng đấy lõa lồ thay
Miệng cười hơn hớn hoa in nhụy
Má đỏ hồng hồng tóc vén mây
Ây rắp phất cờ trêu ghẹo tiểu
Hay toan bốc gạo thử thungthầy
Chẳng lên bảo điện ngồi thong thả
Khéo đứng ru mà đứng mãi đây 

       ***

       Thêm một ngôi chùa mà nhiều tác giả viết ngúc ngắc một cách khó hiểu vừa phải. Lại có tác giả “tiểu dẫn” nhiều chi tiết…đa thư loạn mục, là đọc nhiều quá đâm rối mắt (xem tr 6) nên chùa Bộc được nhãn kiến vi thật như dưới đây:

       Chùa Bộc, tên chữ Sùng Phúc tự tọa lạc ở làng Khương Thượng, thuộc phường Quang Trung, quận Đống Đa, Hà Nội. Chùa xây trên khu đất có thế quy hạc giữa cánh đồng làng Khương Thượng, khi đó còn là trại. Phía trước có hồ rộng, phía sau có hai gò đất, dân làng thường gọi là núi Ông, núi Bà. Hồ ở phía trước chùa gọi là hồ tắm Tượng. Những chú voi chiến đã ra đây tắm sau trận đánh đồn Khương Thượng.

 (cổng trước, cổng sau chùa Bộc)

       Chùa là di tích lịch sử, văn hoá và cũng là ngôi chùa duy nhất ở Hà Nội thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ Quang Trung. Trải qua hơn hai thế kỷ và bao cuộc binh lửa, chùa Bộc vẫn giữ được pho tượng Đức Ông kỳ lạ, độc nhất vô nhị. Theo dân gian và các nhà nghiên cứu lịch sử văn hoá khẳng định, đó chính là tượng vua Quang Trung.

Chùa nằm giữa trận địa diễn ra trận Đống Đa năm 1789 (cách gò Đống Đa 300 mét), cạnh Núi Loa (Loa Sơn) (xem t 7), nơi tướng giặc Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử. Chùa vốn được dựng để thờ Phật, nhưng vì chùa tọa lạc sát trận chiến giữa quân Tây Sơn và quân Thanh nên chùa còn thờ cả vong linh những người đã chết trận là thế.

       Bia dựng trong sân chùa ghi vị Tăng lục Trương Trung Bá sửa chữa lại chùa đã bị hư hại trong trận Đống Đa này, chùa bị thiêu trụi nên ba năm sau, vua Quang Trung ra chiếu trùng tu. Sư trụ trì Lê Đình Lượng đứng ra tổ chức xây chùa trên nền cũ, đổi tên là Thiên Phúc Tự (trên tấm bia chùa còn lưu giữ được ghi niên hiệu Quang Trung năm thứ 4, 1792). Trải bao cơn binh lửa, chùa Bộc vẫn còn giữ được nhiều bảo vật từ thời vua Quang Trung. Tuy nhiên dân gian vẫn quen gọi là chùa Bộc, bộc có nghĩa “phơi bày”, là phơi bày xác quân thù chết phơi thây.

       Trong chùa còn có di tích Thanh miếu tức miếu Sầm Nghi Đống do chính vua Quang Trung ra lệnh cho xây dựng. Vì theo thỉnh nghị của Phúc Khang An xin trả xác Sầm Nghi Đống, và xin nước Nam lập cho một cái miếu, xuân thu cúng tế những binh sĩ nhà Thanh tử trận. Qua tác giả Nguyễn Duy Chính: Sau trận thắng năm Kỷ Dậu, bởi là nước nhỏ, Nguyễn Huệ muốn giữ giao hảo với nhà Thanh nên cùng với Ngô Thời Nhiệmvà Ngô Văn Sở dẫn đoàn sứ bộ 60 người tới kinh đô nhà Thanh dự lễ bát tuần đại khách của vua Càn Long và cũng để làm lễ phong vương cho Nguyễn Huệ.

Dân gian vẫn còn lưu truyền câu:

Đống Đa ghi dấu nơi đây

Bên kia Thanh miếu, bên này Bộc am.

       ***

       Trong chùa ngoài tấm bia năm 1676 còn có bia “Chính hòa Bính Dần” (1686), nhưng quan trọng hơn là bia làm năm Nhâm Tí niên hiệu Quang Trung. Năm 1959, phát hiện tấm bia đề niên hiệu Quang Trung tứ niên (1792) và chuông đồng đề niên hiệu Cảnh Thịnh (thời Nguyễn Quang Toản). Và cũng như một số hiện vật xung quanh gò Đống Đa như súng hỏa mai, gươm đao của quân Tây Sơn. Sau khi lên ngôi (1802), Gia Long triều Nguyễn thực hiện một loạt các cuộc báo thù tàn khốc đối với các tướng lãnh triều Tây Sơn, với con cháu cũng như với chính linh cốt của vua Quang Trung. Mọi việc thờ cúng liên quan đến triều Tây Sơn đều bị nghiêm cấm. Tuy chùa Bộc đã bí mật thờ tượng Quang Trung dưới hình thức Đức ông.

Đến chùa Bộc, ai cũng thấy pho tượng Đức ông được tạc và bài trí khác hẳn so với các chùa khác: tượng có hình dáng to cao như người thật. Tượng Đức ông ngồi trên bệ sơn son, ở dưới, hai bên có hai pho tượng của hai vị quan. Cả ba pho tượng cho ta thấy như thể quân vương đang bàn chuyện đại sự với hai vị cận thần.

Theo những nhà sử học, khảo cổ học xác định tượng mặt trắng ngồi dưới là Ngô Thời Nhiệm và vị mặt đỏ là Ngô Văn Sở. Tư thế của tượng Đức ông cũng khác thường. Ngài ngồi trên bệ sơn son, một chân ở trong hài, còn một chân để bên ngoài một cách tự nhiên, rất sống động. Ngài mặc áo hoàng bào, đầu đội mũ xung thiên, có hai dải kim tuyến thả xuống trông rất oai nghiêm.

        Sau lưng tượng, phía trên đỉnh đầu, có một chữ tâm (心) bằng chữ Hán rất lớn. Bên trên, trước ngai thờ có một tấm hoành phi ghi bốn chữ: “Uy phong lẫm liệt”.

Đặc biệt hơn hết là đôi câu đối thờ đức Chúa ông như sau:

” 洞裡無塵大地山河留棟宇

 光中化佛小天世界轉風雲”

(Động lý vô trần đại địa sơn hà lưu đống vũ.

Quang trung hoá Phật tiểu thiên thế giới chuyển phong vân.)

(Trong động sạch bụi dơ, non sông rộng lớn lưu truyền lương đống

Giữa ánh sáng thành Phật, tiểu thiên thế giới chuyển động gió mây).

       Câu đó nếu được đọc đầy đủ phải là: “Quang trung hoá Phật vô số ức”, có nghĩa: Trong ánh sáng (quang trung) có vô số hoá Phật. Nhưng vế thứ hai của câu đối này có thể hiểu theo nghĩa khác: “Vua Quang Trung hoá thành Phật…”.

       Vì trên đầu tượng có đề chữ Tâm, sau cụ Trần Huy Bá đặt giấy bản sau bức tượng rồi dùng than củi trà lên, mới hiện ra thêm dòng chữ: “Bính Ngọ tạo Quang Trung tượng”. Tức là, đúng vào cái năm Gia Long truy diệt tất cả những gì liên quan đến nhà Tây Sơn thì dân chúng Thăng Long dựng tượng Quang Trung này…

       Trên tờ báo Hà Nội, tác giả Đạm Duy viết “Chính ông Nguyễn Kiên, một võ tướng cai quản đội tượng binh Tây Sơn, sau trở thành nhà sư, tu ở chùa Bộc đã cho tạc tượng vua Quang Trung. Ông Nguyễn Kiên từng kết bạn với nhà thơ, Cao Bá Quát. Câu đối ca ngợi vua Quang Trung dẫn ở trên tương truyền là của nhà thơ họ Cao“.

       Đầu năm 1962, nhà nho Lê Thước, đến chùa Bộc xem xét lại câu đối. Đối chiếu với lạc khoản ở đôi câu đối trên, xác định được đó là năm Bính Ngọ 1846.

       ***

       Tiếp đến nhiều chi tiết… đa thư loạn mục, là đọc nhiều quá đâm rối mắt thế này đây:

       Năm 1990, gs Nguyễn Duy Hinh công bố bài “Về pho tượng chùa Bộc”, ông đã dùng 30 năm để đi điền dã các tượng Đức ông tại 65 chùa ở Hà Nội, như chùa Láng, Trấn Quốc, Bụt Mọc… Ông luận rằng, việc diễn giải tượng Đức ông thành tượng Quang Trung là không đủ căn cứ.

       Thứ nhất, các chùa đều có tạc tượng Đức ông với triều phục, giáp trụ,… không khác gì tượng chùa Bộc, và cũng có tượng để một chân ngoài hia như chùa Xiền Pháp, chùa Lý Quốc Sư. Việc tượng Đức ông để một chân trần không phải là chuyện của riêng chùa Bộc. Ông đưa giả thuyết, bộ ba tượng đó có thể là Thổ Địa.

        Về hoành phi, Gs Nguyễn Duy Hinh có luận cứ như sau. Bức “Uy phong lẫm liệt” không chỉ có ở chùa Bộc, mà còn có ở một số chùa khác. Chùa Viên Minh có bức này và bức “Duệ khí hiên ngang” đặt ở trên đầu tượng hộ pháp, chùa Cự Châu là “Uy cự trắc”, chùa Trấn Quốc là “Hiển thân uy”… ông khẳng định: “không thể kể xiết những câu hoành trên tượng Đức ông mang ý uy vũ mà lúc nào ta cũng có thể gán ghép cho Quang Trung”  (tr.42).

        Để luận chứng lại cụm “Quang Trung hóa Phật” trong đôi câu đối, ông dẫn các chữ “quang trung” cũng xuất hiện ở câu: “Bảo giác quang trung hàm thập hư nhi đãng đãng” tại chùa Trấn Quốc.

       Quay quả với dòng chữ “Bính Ngọ tạo Quang Trung tượng”, ông cho biết: dòng này được viết ra bởi một người chỉ biết chút ít về chữ Hán. Thứ nhất, chữ khắc theo dòng ngang (không theo dòng dọc) từ trái sang phải (chứ không từ phải sang trái). Đây là kiểu khắc của người quen với chữ Quốc ngữ. Thứ hai, câu văn ngô nghê không đúng văn pháp Hán văn. Sau năm can chi không có chữ niên, lại gọi hiệu vị vua một cách trần trụi, và cũng không có đế hiệu. Đây là tri thức tối thiểu của nhà Nho. Ông cho rằng, các chữ này khắc thô vụng, lộ liễu. “Nét khắc thô kệch chứng tỏ tay nghề kém, dao cùn…”.

        ***

       Đọc hết tao đoạn trên đọc giả có những lực bất tòng tâm này nọ…Ngược dòng sử học, Đống Đa, Hà Nội ở làng Khương Thượng, có chùa Huy Văn thờ vua Lê Thánh Tông, là người cất quân đánh Chiêm Thành năm 1471, quân Đại Việt thắng lớn đến mức Chiêm Thành không còn được nhắc đến trong sử sách. Trong khi làng Khương Hạ với chùa Bộc, có vua Quang Trung…”bộc” phá quân Thanh năm Kỷ Dậu 1789, đến nỗi Tôn Sĩ Nghị phải cắt cầu phao trên sông Hồng chạy về phía Bắc. Chữ nghĩa nó bập vào người, làng Khương Thượng là nơi Sầm Nghi Đống treo cổ tự tử. Còn làng Khương Hạ có món dưa muối của người Chàm ngon quên….chết.

Với chết chóc, thái thú họ Sầm đóng quân ở Loa Sơn (núi Ốc, hay gò Đống Đa) rồi chết tại đây. Sau được Hoa kiều lập đền thờ tại ngõ hẻm cạnh phố Hàng Buồm, ngõ thành tên ngõ Sầm Công. Ngõ Sầm Công nay là ngõ Đào Duy Từ.

Cùng văn học dân giã, mấy chục năm sau, bà Chúa thơ Nôm ghé qua…buồn tình húc dậu thưa. Bài thơ thể hiện đa nghĩa như thế này.
     

       Ghé mắt trông lên thấy bảng treo
       Kìa đền Thái thú đứng cheo leo
       Ví đây đổi phận làm trai được
      Thì sự anh hùng há bấy nhiêu

      (theo bản khắc 1922)


       Thạch trúc thảo lư

       Quý Mão 2023 (Hiệu Đính 2024)

       Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

       Nguồn: Hoàng Văn An, Thanh Quy, Tường Vũ Anh Thi, Phạm Kim Thanh

Bài Mới Nhất
Search