Phần Mười Sáu: “Đã Bước Chân Đi Chẳng Trở Về” (2)
Đang lơ tơ mơ, vừa leo xuống triền dốc, vừa suy nghĩ miên man, bất thần, tôi trượt chân, cả thân thể cứ thế mà “trôi” xuống dốc. Tôi cố giang hai chân ra, tìm cách ngáng vào vật gì trên đường để có thể dừng lại được. Càng như vậy thì thân thể tôi càng quay, không cách gì gượng được. Thân thể tôi trôi như vậy bao lâu tôi không nhớ rõ.
Tôi mơ màng nghe như có tiếng cười nói. Khi mở mắt ra, tôi thấy một ngôi nhà thờ, có người lố nhố đứng trong đó. Còn có người vẫy tay gọi tôi vào. Tôi cố đứng lên, đi về phía nhà thờ. Tự nhiên, tôi thấy dáng một người phụ nữ mặc áo dài trắng. Trông dáng người rất quen. Tôi nhìn kỹ thì thấy áo dài trắng đang chuyển dần thành màu xanh. Tôi nhớ lại, đúng đây là hình ảnh Đức Mẹ mà các bạn của tôi: Linh, Uyển, Vang, Thái và anh Ninh Thế Đồng trong trại đã chỉ cho tôi xem khi dạy đức tin Công Giáo cho tôi. Tôi cầu xin:
– Phải Đức Mẹ đây không? Xin Mẹ cứu giúp con ra khỏi chốn nguy hiểm này. Đó là lần đầu tiên tôi xin ơn Đức Mẹ.
Bóng dáng người phụ nữ áo xanh cứ lui dần lên triền dốc. Tôi vừa bò, vừa cố leo lên để đến gần được người phụ nữ đó. Người ấy lấy tay chỉ về một hướng. Tôi không biết đó là ám chỉ gì. Trong khi lơ lửng trên sườn đồi như vậy, tôi nhìn xuống thì thấy rõ ràng thân thể tôi đang gục ngã bên bờ suối. Tôi nhủ thầm: “Không thể được. Không thể được. Tôi còn phải về với gia đình tôi. Tôi không chết ở đây như thế này được”. Tôi cố tìm cách xuống gần thân thể gục ngã dưới kia. Mọi chuyện sao khó vậy? Có một quãng không xa mà mãi tôi không xuống tới được. Cuối cùng, tôi chạm được vào thân xác tôi. Tôi còn đang mơ màng, không biết chuyện nãy giờ là sự thực hay chỉ là một cơn ác mộng.
Có một bàn tay chạm vào ngực tôi. Tôi hất bàn tayra, choàng dậy. Tôi nghe người đó nói:
– Người này chưa chết. Thân thể còn đang nóng.
Đó là một người đàn ông. Ông hỏi tôi:
– Cậu đi đâu mà té đập đầu vào thân cây, bất tỉnh nãy giờ, tôi cố lay cậu dậy đấy.
Tôi ngồi dậy, hỏi ông:
– Những người khác đâu hết rồi?
Ông trả lời:
– Nãy giờ chỉ có mình tôi ở đây với cậu. Con bé cháu tôi nó về trước rồi. Tôi nhìn quanh, tìm ngôi nhà thờ không thấy đâu cả. Tôi hỏi ông:
– Ngôi nhà thờ hồi nãy tôi thấy đâu rồi? Người đàn ông mỉm cười:
– Đúng là cậu mê man nhìn thấy ảo ảnh thôi. Ở đây làm gì có nhà thờ nào.
Tôi kể cho ông nghe những gì tôi nhìn thấy trong “mơ”. Có lẽ ông cũng là một người Công Giáo nên ông có vẻ tin tôi lắm. Ông nói:
– Vậy là Đức Mẹ cứu cậu thật rồi đấy. Cậu vô trong rừng này làm gì vậy?
Tôi trả lời:
– Tôi vào đây kiếm củi với mấy anh bạn, bất ngờ lạc nhau. Chúng tôi có hẹn, nhỡ có lạc thì ra xã Đức Hạnh, gặp nhau ở quán bà Lài bán bánh cuốn.
Người đàn ông nói:
– Tôi cũng ở xã Đức Hạnh, nhưng ở đầu bên này, xóm bà Lài ở đầu bên kia, đi bộ mất khoảng nửa tiếng. Nếu cậu muốn thì đi theo tôi về Đức Hạnh. Người đàn ông không có vẻ nguy hiểm gì nên tôi theo đi ông. Bây giờ thì hoàn toàn đi tay không. Bi đông nước văng đâu mất. Bịch cơm khô và con dao rựa cũng văng đâu mất. Như thế cũng hay, đỡ sợ lộ tông tích.
Về tới xã Đức Hạnh, ông mời tôi vào nhà ông chơi, uống ly nước trà rồi ông chỉ đường cho đi. Vào tới nhà, tôi thấy có bàn thờ Chúa và Mẹ Maria. Tôi đang quan sát thì giật mình, thấy hình ảnh của người phụ nữ khuôn mặt khả ái mặc áo dài xanh hồi nãy. Tôi hỏi cô:
– Có phải hồi nãy cô đúng trên đồi chỗ tôi ngã không? Cô trả lời:
– Hồi nãy, anh làm em sợ quá. Trông anh như người mất hồn, nhất định muốn đến gần em. Mắt anh mở to nhưng hình như không nhìn thấy gì.
Tôi kể lại giấc mơ hồi nãy cho chú cháu cô nghe một lần nữa. Ông chú bảo tôi:
– Hay là cậu ở lại dùng bữa cơm với chú cháu chúng tôi. Sau đó, tôi chỉ đường cho mà đi. Tôi nhận lời.
Cô cháu gái nói với tôi:
– Em cũng có một người anh trai, cỡ trạc tuổi anh, trước đây là sĩ quan, làm cho đại tá Lưu Yểm ở đây. Anh ấy đi học tập năm năm rồi chưa được về.
Tôi giật mình nghĩ bụng, hay là họ đang dò hỏi tôi? Tuy vậy, sau đó họ không nhắc đến chuyện ấy nữa. Tôi phải làm bộ khai lý lịch của tôi:
– Tôi là một giáo viên ở trên thành phố nhưng lương không đủ sống. Anh em bạn rủ nhau về đây, kiếm củi, đốt thành than rồi chở về thành phố bán, kiếm thêm chút đỉnh.
Ông chú nghe nhưng cũng không hỏi thêm. Có thể ông đang quan sát tôi xem mức độ thật thà của tôi đến đâu. Thời buổi nhiễu nhương này không tin ai được. Biết đâu trong óc ông đang có câu hỏi: “Thằng em ở vào cái lứa tuổi này sao không đi lính, sao không đi cải tạo mà giờ này ở đây”? Tuy vậy, ông vẫn giữ thái độ bình thản, vô hại. Tôi cảm thấy nên xin phép rút lui là vừa. Tôi nói lời cáo từ và đứng dậy.
Ông chú bảo tôi:
– Hay là cậu thay đôi giày ra, đi đôi dép này vào cho thoải mái?
Ông đưa cho tôi một đôi dép plastic màu nâu. Tôi nghĩ thật nhanh:
– Người đàn ông này tinh đời thật. Tôi mà mang đôi bốt này ra xã Đức Hạnh thì khó mà hòa mình vào với người dân ở đây. Tôi lý nhí cám ơn ông, bỏ đôi giày lại, mang đôi dép ra đường.
Tối hôm đó, tôi tìm một cái sạp chợ ở chỗ kín đáo, cố dỗ giấc ngủ. Tôi cũng tự hài lòng với những giây phút “tạm” được Tự Do. Nếu các bạn tôi ở trong trại biết được tôi đã gặp Đức Mẹ và đã được cứu giúp thì niềm tin của họ lại càng mãnh liệt hơn. Tôi chìm vào giấc ngủ.
Trời chưa sáng hẳn mà tôi đã nghe người ta nói lao xao chung quanh. Tôi vội vàng nhỏm dậy, hòa mình vào những người buôn bán. Họ bắt đầu một ngày vất vả mới. Tôi đi về phía bìa rừng, nơi tôi chôn bộ quần áo. Gần đến nơi thì tôi thấy một tờ giấy nhỏ nhét vào kẽ thân cây. Tờ giấy viết: “Tôi sẽ trở lại”.
Anh Tưởng là người chí tình thật. Đã giúp thì giúp cho trót. Tôi ẩn mình vào một góc vắng, kiên nhẫn chờ đợi. Quả nhiên, lúc ấy khoảng 10 giờ sáng. Anh Tưởng, vị cứu tinh của tôi, đang đến gần điểm hẹn. Tôi nhảy ra mừng rỡ nắm lấy tay anh. Anh Tưởng nói:
– Tôi biết anh bị lạc nhưng chắc chắn thế nào anh cũng sẽ tìm cách ra được đến đây. Tôi đã đảo qua chỗ này hai buổi sáng nay. Thôi, vào thay quần áo rồi đi theo tôi. Anh ngồi xuống vệ đường chờ tôi. Đối với xã Đức Hạnh này thì anh đã là người quen nên anh rất bình thản. Tôi vào trong rừng, đến chỗ tôi chôn bộ quần áo ngày xưa. May quá, chúng còn nguyên vẹn. Tôi thay quần áo xong, ra chỗ anh Tưởng hỏi:
– Sao, anh thấy giống người Sè Goòng chưa? Anh Tưởng nói:
– Giờ này mà còn đùa được? Đi theo tôi.
Tôi đi theo anh được một quãng. Chúng tôi đang ở gần một con đường đất. Một anh thanh niên lái xe gắn máy chạy tới. Anh hỏi:
– Anh bạn của anh đây hả anh Tưởng? Chờ mấy ngày hôm nay rồi bây giờ mới gặp!
Anh Tưởng nói tôi:
– Thôi, tạm biệt. Chúc anh đi bằng an. Người bạn này sẽ giúp anh chặng kế tiếp.
Chàng thanh niên nói tôi leo lên xe, anh sẽ chở đi tiếp. “Lốp” sau xe gắn máy của anh chàng này có một chỗ bị phình bụng. Khi chạy, nó cứ “cà giựt, cà giựt”. Tôi áy náy quá, hỏi sao anh không thay nó đi. Anh chàng trả lời:
– Thời buổi này, cái gì cũng đắt đỏ. Chạy được ngày nào hay ngày đó. Lúc nào không chạy nổi nữa thì phải kiếm tiền thay nó sau.
Anh cho tôi biết là anh “chạy hàng xách” tức là ai muốn mua cái gì thì anh lùng cho ra và mua cho họ. Ai muốn bán cái gì cũng vậy. Lúc thường, không có ai tìm mua cái gì thì anh cứ chạy ra tỉnh, mua vài ba món đồ gia dụng, thuốc men, về bán lại cho bà con trong xã. Cứ như vậy mà sống qua ngày, không có ngày mai. Ngày xưa, anh cũng là lính.
Bây giờ anh mới hỏi tôi:
– Tôi biết anh là bạn thân của anh Tưởng, nhưng không biết ý định của anh. Anh đang định làm gì?
Tôi nói “Tôi cần về thành phố trong ngày hôm nay. Tôi sẽ gửi anh một số tiền nhỏ, hy vọng sẽ đủ để anh thay cái ruột xe mới”. Bất ngờ, anh hỏi tôi:
-Có phải anh đang chạy trốn khỏi trại tù trong đó không?
Đến nước này thì tôi biết rằng tôi không nên giả vờ với anh này nữa. Tôi thú thật:
– Anh biết rồi đó, tôi và anh Tưởng đều đang bị cải tạo. Gia đình anh Tưởng ở xa nên anh không có ý trốn trại. Gia đình tôi ở ngay trong Sài Gòn nên tôi thử thời vận, về đến thành phố rồi tính sau.
Anh chàng quay lại hỏi tôi:
– Bây giờ anh có sợ không? Tôi trả lời:
– Người sợ bây giờ là anh chứ không phải là tôi. Tôi trốn trại và nếu tôi bị bắt lại, tôi xứng đáng với cái tội của tôi. Còn anh, anh vô tình tiếp tay cho thằng trốn trại, nếu bị bắt thì quả thực anh gặp xui.
Anh chàng nói:
– Tôi nói thật với anh. Theo như tôi hứa với anh Tưởng, tôi sẽ chở anh ra đến bến xe đò Phước Long, thả anh ở đó, anh tự mua vé mà về Sài Gòn. Nhưng coi cái dáng người khác thường của anh, cộng với cái bộ điệu lúng túng của anh, sau năm năm không tiếp xúc với người bên ngoài, trông biết ngay. Đứng sớ rớ ở đó thế nào cũng bị bắt lại. Thôi được, nếu anh không sợ thì tôi sẽ chở anh ra đến trạm công an đầu tiên. Tôi quen với mấy anh công an ở đây, tôi sẽ nhờ họ gửi anh lên chuyến xe đò đầu tiên về Sài Gòn.
Mới nghe, tôi cũng choáng người. Mình là thằng trốn tù mà lại loanh quanh ở trong trạm công an. Không biết sống được mấy phút. Chúng tôi cứ “lọc cọc” chạy như vậy một thời gian khá lâu. Tình trạng cái bánh xe như vậy không thể chạy nhanh được. Anh chàng tốt bụng này chưa hỏi tên tôi, mà tôi cũng không hỏi tên anh.
Chúng tôi đã đến được trạm công an. Anh công an vừa thấy anh bạn này thì chạy ra nói:
– Cho tao mượn cái xe mày phóng một vòng coi. Nói xong là anh ấy nhảy lên xe, phóng mất.
Đây là lúc tôi moi tiền ra trả cho anh chàng tốt bụng. Tôi nói với anh:
– Tôi và anh chưa hề biết tên nhau, mà có lẽ cũng không cần, vì bây giờ tôi đang dùng tên giả trong giấy tờ. Nhưng tôi phải cám ơn anh rất nhiều. Đây là chặng đầu tiên trong hành trình trốn trại của tôi. Bây giờ chỉ biết cầu may rủi thôi. Chúc anh luôn khỏe, và may mắn trong cuộc sống.
Khi đó thì anh chàng công an trạm vừa về đến. Người thanh niên nói với anh công an:
– Tao có ông anh cần về thành phố ngày hôm nay. Lát nữa, có xe đò chạy ngang, nhờ mày gửi anh ấy lên xe dùm.
Anh công an thản nhiên:
– Ờ thì mày cứ nói anh ấy ở đây, lát nữa tao sẽ tính hộ.
Anh chàng thanh niên quay xe, chào tôi rồi phóng mất.
Tôi làm bộ mệt mỏi, ngồi ngủ gật trong góc.
Độ nửa tiếng sau, một xe Molotova chạy đến. Một anh bộ đội cầm lái và hai anh khác ngồi bên cạnh trong buồng lái. Phía sau xe đã có một vài người đi làm ruộng, rẫy về, đi quá giang. Anh công an hỏi:
– Xe có đi về thành phố không? Người trên xe trả lời:
– Xe này chỉ chạy về đến Bình Dương thôi. Anh công an quay vào hỏi tôi:
– Anh gì ơi: Xe không về thành phố mà chỉ chạy đến Bình Dương thôi, anh có muốn đi không? Tôi vội vàng nói:
– Cho tôi theo với, về được đến đâu hay đến đó. Thế là tôi nhảy lên phía sau xe. Cũng là một chiếc xe Molotova! Những chiếc xe này đã từng chở tôi vào tù, bây giờ lại chở tôi đi trốn tù!
Thỉnh thoảng, xe ngừng lại để cho những người quá giang đi xuống. Lúc tôi lên xe thì đã có khoảng mươi người. Bây giờ thì con số này cứ nhỏ dần. Người sau cùng bám vào thành xe chỉ là tôi. Khi xe đi qua các trạm công an, tôi không xuống xe như hành khách xe đò. Trạm công an hỏi:
– Ai trên xe đó? Người bộ đội trong buồng lái nói:
– Anh này ở trạm công an trên gửi về Bình Dương. Trạm gác khoác tay bảo:
– Vậy thì thôi, đi đi.
Xe đi qua liên tiếp ba trạm công an khác. Cũng một câu hỏi và cũng một câu trả lời.
Chừng độ năm giờ chiều ngày hôm đó thì xe về đến Bình Dương. Xe đậu trước cửa một “Doanh Trại Quân Đội Nhân Dân Việt Nam”. Tôi không biết đây đã là Bình Dương nên chưa nhảy xuống xe. Một trong ba anh bộ đội nói vọng lên:
– Đến Bình Dương rồi, chúng tôi không đi đâu nữa. Sao anh chưa xuống xe? Tôi nhanh trí trả lời:
– Nãy giờ tôi đứng lâu quá nên đang còn tê chân. Chút xíu nữa tôi xuống mà. Các anh bộ đội bỏ đi vào trong trại.
Chỉ đợi có thế, tôi nhảy xuống xe, đi bộ vào khu phố chiều.
Tôi thấy một quán mì nhỏ ven đường. Tôi vào quán, gọi một tô mì, một ly cà phê sữa, và một điếu thuốc lá. (Thời buổi khó khăn nên người ta chỉ mua từng điếu thuốc một. Hiếm khi ai có khả năng mua hẳn một gói thuốc lá). Cũng xin nói thêm ở đây là tôi đâu có biết hút thuốc. Ngày xưa, lúc ở cạnh bạn Nguyễn Vĩnh Linh, tôi có tập nhưng không hút được và bỏ luôn từ đó. Hôm nay, tôi biết ít ra, tôi cũng được Tự Do hơn ba ngày rồi. Tôi tự thưởng cho mình đủ mùi vị của cuộc đời: Một tô mì, ly cà phê, và thuốc lá! Còn gì bằng?
Ăn tô mì xong, đang nhâm nhi ly cà phê và điếu thuốc lá. Chú Ba, chủ tiệm, đến hỏi tôi: “Nị ở đâu ra vậy”? Tôi hỏi:
– Sao chú lại hỏi tôi ở đâu ra? Chú Ba nói:
– Cánh tay áo của nị có vết máu. Tôi nhìn xuống thì quả thật, cánh tay áo trong bên trái của tôi có vết máu thật. Chắc chắn đây là một con vắt trong rừng đã bám được vào tôi, hút máu no nê và đã rụng đi mất! Tôi nói với chú:
– À, tôi gãi quá nó chảy máu vậy chứ không sao. Hôm trước, bà xã tôi cẩn thận, có gói thêm cho tôi một áo khoác mỏng. Tôi chôn tất cả trong rừng và lúc đi cũng có mang theo. Bây giờ có cái mà dùng. Tôi khoác cái áo mỏng ra ngoài áo sơ mi, che vết máu đi và hỏi chú:
– Chú tính tiền cho tôi đi và chỉ tôi đường đi ra bến xe đò. Chú tính tiền xong nói:
– Ở phía đó, đi chừng hai mươi phút là đến nhưng giờ này thì họ không bán vé nữa đâu. Hết giờ rồi. Lại một cơn buồn ập đến. Vui chưa được bao lâu! Tôi chào chú và đi về hướng chú chỉ.
Trên đường đi, không bao lâu, tôi thấy một chú bé chừng 12 tuổi, đang gánh một gánh củi nhỏ. Tôi chận chú lại hỏi:
– Nè cháu, còn bao xa nữa thì tới bến xe hả cháu? Thằng nhỏ nhìn tôi nói:
– Mèng ơi, giờ này mà chú còn định ra bến xe đò. Họ đóng cửa rồi. Nếu chú muốn đón xe đò thì cứ đứng đây, cầm đồng bạc vẫy vẫy vầy nè, xe họ ngừng lại, chú đưa tiền cho anh lơ xe, họ cho chú lên hà! Tôi đưa cho thằng bé mấy đồng lẻ như để cám ơn nó nhưng thằng bé không cầm, chào tôi rồi gánh củi đi luôn.
Quả thực, một lúc sau, có một chiếc xe đò nhỏ chạy tới. Tôi làm như lời thằng bé nói, cầm đồng bạc vẫy vẫy. Chiếc xe ngừng lại. Chú lơ xe hỏi tôi:
– Anh Hai muốn về đâu dzậy? Tôi hỏi lại:
– Vậy xe chạy về đâu? Chú lơ xe cho biết là sẽ ghé Biên Hòa rồi về tới Bình Triệu là không đi nữa. Quá đẹp rồi còn gì? Tôi leo lên xe. Mọi người phải nhích thêm cho tôi có chỗ ghé cái mông vào. Khi xe đã chạy, tôi mới thử tìm hiểu xem những người đi trên xe này thuộc thành phần nào. Tôi giật mình vì ngoài những bà con buôn thúng bán bưng, còn có cả mấy anh bộ đội! Phải cẩn thận mới được.
Có lẽ tôi cũng ngủ gà ngủ gật được một lúc. Đến Biên Hòa, đất ngày xưa của tôi, mấy anh bộ đội xuống xe hết. Bây giờ chỉ còn những người thường với nhau. Lòng tôi lâng lâng, tưởng tượng đến cái giây phút tôi được trùng phùng với gia đình. Chợt nghĩ ra cái điều mà vợ tôi dặn:
– Nếu may mắn mà trốn được về đến Sài Gòn thì tìm đến quán cá phê của anh Thăng ở gần Cổng Xe Lửa Số Sáu, dùng “mật khẩu” “Tôi là Kỳ, từ Long Khánh về” thì anh ấy sẽ nhận ra và sẽ đến nhà báo tin hộ.
Lúc đó, việc trốn trại của tôi hãy còn mơ hồ, nên điều vợ dặn, tôi không chú ý lắm. Bây giờ nghĩ mãi không ra tên của anh chủ quán là gì. Cùng lắm thì cứ vào các quán cà phê, nói mật khẩu, nếu đúng thì anh chàng đó sẽ nhận ra. Ung dung với ý nghĩ đó, tôi thiu thiu dỗ giấc ngủ tiếp.
Khi xe về đến khu nhà thờ Bình Triệu thì cũng là lúc vừa tan lễ. Cả hàng trăm giáo dân ùa ra đường. Tôi cũng trà trộn vào đám người ấy. Tôi cũng có ý vào nhà thờ, tạ ơn Đức Mẹ nhưng nghĩ bụng, chả lẽ tạ ơn mà vào tay không.Thôi thì đợi hôm nào có cả vợ, sắm của lễ đầy đủ rồi vào viếng Đức Mẹ sau. Dù sao, có lòng thành thì Mẹ cũng chứng cho rồi!
Đến đây, tôi xin được nói lên tấm lòng biết ơn chân thành của tôi đối với anh Nguyễn Huy Tưởng và nhiều ân nhân “không biết tên” đã giúp tôi thoát được kiếp sống đọa đày trong cái-gọi-là “trại cải tạo” của cộng sản VN.
(Còn Tiếp)
Kỳ 1 Kỳ 2 Kỳ 3 Kỳ 4 Kỳ 5 Kỳ 6 Kỳ 7 Kỳ 8 Kỳ 9 Kỳ 10 Kỳ 11 Kỳ 12 Kỳ 13
