Phần Mười Lăm: “Đã Bước Chân Đi Chẳng Trở Về” (1)
Tôi vẫn đang trong thời kỳ dưỡng bệnh, vẫn được làm công việc nhẹ. Trước đây, đã lâu, vợ tôi có mang lên cho tôi một bộ quần áo thường, gồm một áo sơ mi xanh nhạt, một quần ka ki màu vàng đậm, và một cái áo khoác ngoài mỏng. Tôi đã gói trong hai lớp bao nylon, chôn xuống một cái hố cạnh bìa rừng, gần xã Đức Hạnh. Chưa biết có bao giờ sẽ phải dùng đến nó nhưng có vẫn hơn không.
Một anh bạn thân trong tổ, anh Nguyễn Huy Tưởng, người hay ra sóc Thượng buôn thịt heo về phân phối cho anh em. Anh Tưởng cũng là người đã dám mạo hiểm đi trong đêm, sang bên kia đám cháy rừng để xóa vết tích đám cháy do tổ chúng tôi gây nên. Tôi và anh Tưởng rất thân nên tôi có thổ lộ với anh về ý định trốn trại của tôi. Tôi cũng hay đi rừng nhưng so với anh Tưởng thì khả năng đi rừng của tôi còn thua xa. Anh nghe xong ý định muốn trốn trại của tôi, anh hứa sẽ giúp khi nào tôi sẵn sàng thực hiện việc này. Anh rất thản nhiên nghe và coi như đó cũng là chuyện nhỏ. Anh Tưởng có gia đình ở tận ngoài Quảng Nam nên, theo anh, việc trốn trại, anh có thể thực hiện dễ dàng – nhưng ra đến ngoài rồi đi đâu, về đâu, mới là vấn đề.
Tôi và anh Tưởng rủ nhau đi rừng, ra xã Đức Hạnh. Trên đường đi, anh chỉ cho tôi những cái mốc cần phải nhớ. Đó có thể là một cái cây cao, có thể là một cái chòi canh lúa của người Thượng, có thể là một ghềnh đá dưới bờ suối, v…v…Anh Tưởng cũng nhấn mạnh là muốn tìm hướng đi chính xác, luôn luôn phải đối chiếu hai điểm để xác định hướng đi vì một trong hai vật mà mình dùng để làm cột mốc, có thể thay đổi vì biết đâu một ngày nào đó, người ta quyết định đốn ngã cái cây cao mình vẫn ghi nhớ để làm cột mốc, tìm mãi không thấy đâu thì sẽ bị hoảng loạn. Phải bình tĩnh để tìm vật đối chiếu thứ hai thôi. Tôi không nhớ anh Tưởng này ngày xưa đã từng là Biệt Kích hay Thám Báo gì không mà anh ấy có kinh nghiệm “sinh tử” loại đó.
Từ đó, mỗi lần đi ra sóc Thượng tôi luôn cố nhớ một vài cột mốc, vì thế, tôi trở thành yên tâm hơn.
(Vào những năm 1974, 1975, Phước Long là một trong số 11 tỉnh bao quanh Biệt Khu Thủ Đô Sài Gòn-Gia Định. Ở cách Sài Gòn khoảng 150 cây số về phía Bắc, Phước Long có địa giới giáp với Bình Long (phía Tây), Quảng Đức (phía Đông), Long Khánh (phía Nam) và Campuchia (phía Bắc) và nằm trong địa bàn tác chiến của Quân khu III (Quân đoàn III) của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.)
Tôi trao đổi với anh Tưởng về kế hoạch trốn trại của tôi. Tôi cũng chia sẻ với anh là bà xã tôi cho biết, trên đường quốc lộ từ Phước Long về tới Bình Dương, đã có tất cả 5 nút chặn của công an. Tất cả mọi hành khách trên xe đều phải xuống xe, đi bộ và trình giấy trong trạm kiểm soát. Nếu không bị gây khó dễ vì những nghi ngờ của công an trạm – thì sẽ được sang bên kia trạm kiểm soát, lên xe và tiếp tục hành trình.
Anh Tưởng cũng có hiểu biết về địa hình của Phước Long. Anh nói nếu vậy thì nguy hiểm quá. Thực ra, lúc đầu, anh Tưởng có nghĩ đến cách là đưa tôi ra đến điểm hẹn gần xã Đức Hạnh, móc nối một người quen, chở tôi bằng xe gắn máy ra bến xe, mua vé, lên xe đò và thẳng đường về Biên Hòa. Bây giờ có thêm tin tức về những nút chặn của công an trên đường về, anh sẽ tính cách khác cho tôi. (Như đã có lần tôi nói, anh Tưởng quê ở tận Quảng Nam, mà dân xã Đức Hạnh, cũng từ Quảng Nam, đã được Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho vào khai khẩn ruộng đất ở vùng này nên anh Tưởng cũng kết bạn với một vài đồng hương ở đây.)
Tôi cũng đang suy nghĩ về lộ trình trốn trại của mình. Anh Tưởng không có ý trốn trại nên chúng tôi chỉ trao đổi suy nghĩ để giúp chuyến đi của tôi an toàn. Sau cùng, chúng tôi đồng ý với nhau là cứ đi về phía Nam của Phước Long là có thể sẽ gặp Long Khánh, hay Bình Dương, hoặc nếu may lắm, thì gặp Biên Hòa. Từ đó tìm đường về Sài Gòn. Dĩ nhiên, trong chương trình của tôi và anh Tưởng, khi tôi về đến Sài Gòn sẽ tìm cách móc nối lại với gia đình rồi sẽ tính tiếp.
Chúng tôi đều thấy rõ là những người bạn trốn trại gần đây, không người nào bị bắt lại. Kết luận (ngây thơ) của chúng tôi là thành phố Sài Gòn, giờ này chưa có hệ thống kiểm soát người dân quy mô, cứ về tới nơi đã rồi sẽ có cách!
Tôi càng tìm cớ đi ra ngoài nhiều hơn. Các bạn của tôi cũng thương tôi nên cũng chiều, để tôi tự tung tự tác! Miễn làm sao lúc 7 giờ tối, cán bộ trại điểm danh, tôi có mặt để hô “có” một tiếng cho các bạn đỡ lo sợ, áy náy dùm. Tôi nhờ một người bạn thân mỗi ngày phơi hộ ít cơm bo bo thành cơm khô. (Tôi không muốn bác Răng để ý tôi làm việc này làm gì.) Tôi sẽ ngào với đường và ruốc, đựng trong lon “gô” mang theo mình khi quyết định đi trốn. Một nắm cơm khô loại này (và một vài hớp nước lạnh) cũng có thể giúp no bụng được cả ngày.
Tôi cũng hay mua quà về tặng anh em như một hình thức âm thầm cám ơn họ trước. Khi thì vài cục đường thẻ, khi thì một hai lon gạo nếp, lúc thì một nửa trái mít. Ai cần thuốc rê hay thuốc tây thì tôi cũng có thể mua về từ xã Đức Hạnh. Người nào có ý muốn bán lại quần áo hay món gì khác thì tôi cũng giúp làm người trung gian. Anh em cũng có chỗ trông chờ, nhờ vả. Cuộc sống ở trong trại (khổ sai) này chỉ mong được bình an như vậy.
Đặc biệt, ông tù trưởng sóc Thượng là người hài lòng nhất với món quà của tôi. Đó là một lọ muối xả ớt, tôi đặt mua từ ngoài xã Đức Hạnh. Người Thượng vốn đã quý muối bọt của người miền xuôi vì trên núi cao, họ không có cách gì để làm ra muối được. Khi cần dùng muối, họ phải cạo lớp màng trắng bên trong ruột của cây tre, hay ở đây, là cây lồ ô. Loại “muối” này chỉ có tính tượng trưng vì cái lớp màng trắng này chỉ có vị hơi mặn, không biết có bằng được một phần mười so với muối bọt của chúng ta ở dưới đồng bằng hay không. Tôi mang lọ muối ra tặng ông tù trưởng. Ông nếm thử và vô cùng thích thú. Ông cười hở cả mảng lợi đỏ của ông. Ông nói cái muối này chấm được hết mọi thứ, từ lòng heo, lòng gà, thịt heo, đến các loại trái cây v…v… Ông lại sai cô con gái đi xuống suối múc môt gầu nước lên, chuẩn bị hai cái sừng trâu để chúng tôi uống rượu. Ông không quên sai một “tà lọt” của ông đi chuẩn bị cho chúng tôi một đĩa lòng gà luộc. Cô con gái cũng đặc biệt hứng thú với công việc phục vụ chúng tôi. Có lẽ người con hiếu thảo nào cũng vậy, làm việc gì cho cha mẹ mình vui là một niềm hạnh phúc cho họ (hay là cô muốn chiều đãi tôi? Tôi không biết.) Hôm ấy trước khi về, tôi có hẹn là sẽ trở lại. Cô con gái tặng cho tôi một cái vòng bằng chỉ đỏ gồm những sợi chỉ màu se lại với nhau. Cô nói phải để cô đích thân đeo vào cổ tay cho tôi và bắt tôi hứa không được tháo ra. Cô gái này kể cho tôi nghe là cô cũng có ra xã Đức Hạnh để trao đổi, mua bán với người kinh vào đầu mùa lúa. Cô không thích người kinh vì theo cô nói, họ hay bắt nạt và không thành thật với cô. Cô cũng xưng hô với tôi theo như cách của cha cô: Gọi tôi bằng “bác sĩ” nhưng xưng “tao”. Cô có vẻ tránh chữ “tao” khi nói chuyện với tôi. Cô có cảm tưởng rằng chữ này không đúng trong những dịp nói chuyện với nhau, nhưng không tiện hỏi tôi là cô nên xưng thế nào và tôi cũng không muốn sửa cho cô.
Thời gian càng qua đi nhanh bao nhiêu thì chúng tôi đều biết là ngày chúng tôi sẽ bị đưa về Hàm Tân cho công an “quản lý” thì càng gần bấy nhiêu. Tôi biết rằng mình phải quyết định thôi. Từ đó, tôi ra sức tẩm bổ để dự trữ sức lực. Tôi mua được một con gà từ xã Đức Hạnh, đã được làm sạch. Mấy người bạn của tôi rất vui, đề nghị làm một nồi cà ri gà lớn, chia sẻ với anh em một bữa cho tưng bừng. Dĩ nhiên, ngoài anh Tưởng, không ai biết dụng ý của tôi là dùng nồi cà ri gà này nói thay cho lời tạm biệt! Hôm ấy, chúng tôi nấu một nồi cơm nếp lớn, lúc gần chín thì lấy mỡ của con gà đổ vào, trộn đều, béo ngậy, khỏi chê. Nồi cà ri gà được tiếp đón nồng hậu. Ai nấy cười nói vui vẻ. Tôi cũng có phần cảm thấy áy náy vì mình không dám nói thật dụng ý của mình.
Tôi trở về trại sau một chuyến đi kiếm củi cho “bếp”. Tôi thử sức của mình bằng cách vác một thân củi lớn và dài hơn khả năng thực sự của tôi. Về đến nơi, quẳng bịch xuống mặt đất. Các bạn tôi trông thấy la lên:
– Mày khùng hả Dz? Sao tự đày đọa thân xác dữ vậy? Vác cây củi cỡ đó, có ngày sụm xương sống mà mang tấm thân tàn phế suốt đời, con ạ.
Trắc nghiệm của tôi đã thành công. Với sức khỏe trong tình trạng hiện tại của tôi, tôi chắc chắn sẽ vượt qua được những thử thách trong tương lai gần.
Hai hôm sau, tôi lại ra sóc Thượng. Thú thật, tôi không hề có tình ý gì với cô con gái ông tù trưởng nhưng dù sao nếu nói tôi không để ý đến cô thì cũng không đúng. Mà cô bé ấy thì còn có vẻ mong ngóng tôi ra chơi lắm. Mỗi lần thấy bóng dáng tôi từ xa là cô nàng vội vàng sửa chữa, thu dọn lại chỗ ngồi của cha cô với tôi. Có hôm, tôi đánh bạo, hỏi tên cô là gì. Ông tù trưởng trả lời thay cho cô:
– Tao đặt tên nó là “Lan Rừng”. Ôi, cái tên thật là thơ mộng. Cô không hỏi tên tôi. Cô thấy gọi tôi là “bác sĩ” cũng hay.
Sau một chầu nhậu lòng gà luộc chấm với muối xả ớt, tôi ra về và hẹn sẽ trở lại năm ngày nữa. Cả ông tù trưởng và cô Lan Rừng bắt tôi phải hứa sẽ đến đây lại.
Tối hôm đó, tổ tôi có tổ chức họp tổ và bầu tổ trưởng mới. Họ nhất định lưu lại chức vụ tổ trưởng cho tôi. Tôi tìm cách thoái thác. Tôi nói rằng:
– Các anh em thương tôi thì tôi cám ơn, nhưng hồi này, tình hình sức khỏe của tôi không được khá. Tôi sợ nhận chức vụ này rồi mai kia, anh em lại phải bầu người mới thôi. Tôi có cảm tưởng đây là lời cuối cùng tôi trần tình với anh em trong tổ. Vài ngày nữa thì họ sẽ nghiệm ra lời nói của tôi hôm nay.
Tôi quyết định sẽ ra đi vào Chúa Nhật tuần đó. Tôi chọn ngày này vì chúng tôi chỉ phải làm một nửa chỉ tiêu của thường ngày. Còn dư nhiều thì giờ để làm những việc khác.
Tối hôm trước, tôi gọi Uyển và Phúc ra một chỗ, đưa cho hai bạn này số lương thực khô và một ít thuốc tây tôi còn lại và dặn:
– Sáng mai, lúc đi làm, có nhìn thấy tao thì cũng chỉ làm ngơ, đừng nhìn nhau kẻo tao bịn rịn, không đi được, hoặc nhỡ có thằng “ăng ten” nào thấy ánh mắt mình trao đổi, nó sẽ nghi. Sau khi tao trốn đi rồi, có thể nó sẽ báo cáo với trại là mày biết mà không tố cáo, liên lụy, tội cho mày. Uyển nghẹn ngào bắt tay tôi, chúc tôi may mắn.
Phần thuốc tây còn lại, tôi có ý định sẽ mang theo ra sóc Thượng, tặng lại cho ông tù trưởng. Tôi cũng nói với anh Đệ, người đội trưởng của chúng tôi:
– Ngày mai tôi sẽ trốn trại. Nếu 7 giờ tối mà chưa thấy tôi về, trại không điểm danh thì anh lờ đi hộ tôi, giữ đến ngày mai. Còn nếu xui lắm, trại điểm danh tối hôm đó, thì anh đành phải báo cáo với họ là tôi vắng mặt. Anh Đệ cũng là một trong những bạn thân của tôi ở trong này. Tôi biết anh không nỡ tố giác “âm mưu” của tôi đêm ấy nên tôi đã nói thật với anh. Tôi cũng nói là sáng mai, khi thức dậy, tôi sẽ cuốn chăn màn của tôi, luồn sang cho anh. Anh cứ giữ lấy mà dùng.
Buổi tối hôm ấy tôi vẫn ngủ được như thường, không hề trằn trọc gì cả. Tôi cũng không hiểu tại sao. Tôi và anh Tưởng đã hẹn nhau sẽ đi (làm) cùng đường, kẻ trước người sau, như một sự tình cờ. Anh sẽ dẫn tôi đi đường khác, ra xã Đức Hạnh. Ở đó, tôi sẽ đào số quần áo lên, đi bộ theo anh, xuyên qua xã Đức Hanh, về phía Nam. Đến khu biên giới của xã Đức Hạnh và một xã khác, sẽ có người đón tôi, dẫn đường tôi đi tiếp.
Sáng Chúa Nhật, ngày của định mệnh đã bắt đầu. Tôi thức dậy sớm, cuốn chăn màn, luồn sang giường anh Đệ như đã hứa. Làm mọi thủ tục buổi sáng như thường lệ để không ai nghi. Tôi cũng vẫn trong bộ đồ lính của VNCH như mọi ngày. Hôm nay, tôi còn trang bị một dây lưng loại lớn, đeo “bi đông” nước. Chân thì cũng xỏ đôi “bốt đờ xô” như thường ngày. (Đột nhiên, tôi nhớ vợ con quá mức. Đôi bốt này vợ tôi mang lên cho tôi cũng là một kỳ công: Bà xã tôi phải nhờ hai người cùng đi chuyến xe thăm nuôi chồng, mỗi người mang hộ một chiếc giày vì vợ tôi đã vừa khiêng, vừa vác hai bao tải đồ thăm nuôi cho tôi. Hai chiếc bốt nhà binh này trở thành “quá tải”. Cũng may là hai chị kia sẵn lòng giúp, tôi mới có đôi bốt này mà đi làm rừng.) Ngoài con dao rựa là vật liền thân của tôi, hôm nay tôi còn đeo theo một túi vải nhỏ. Những người ở ngoài sẽ không biết được trong đó đựng những gì. Đi làm việc ở ngoài rừng, mang theo cây cuốc, hay con dao rựa, và một túi vải nhỏ cũng không có gì lạ.
Tôi và anh Tưởng đã nhìn thấy nhau, anh Tưởng rảo bước đi trước. Tôi theo sau, đi sâu vào trong rừng. Từ từ thì mọi người cũng tản mát hết. Mỗi người có công việc riêng của mình.
Lần này, anh Tưởng dẫn tôi đi theo con đường rừng mới, tôi chưa đi bao giờ. Chúng tôi phải lội qua con suối nhỏ, chỉ ướt đến đầu gối. Tôi sợ ướt giày vớ, có khi cả ngày chưa khô nổi, sẽ khó chịu lắm, nên tôi nói anh Tưởng chờ tôi chút xíu, tôi tháo giày ra, đi chân không sang bên kia, rồi đi giày vào lại, sẽ đi theo anh. Có lẽ anh Tưởng không nghe tôi nói nên anh lội qua con suối rồi, cứ rảo bước đi. Sang đến bên kia bờ suối, tôi không thấy anh Tưởng. Dĩ nhiên là tôi không thể bắc loa tay mà gọi anh được, chỉ hy vọng anh đang ẩn nấp đâu đó, đang quan sát tôi. Ngóng mãi không thấy anh Tưởng, tôi phải liều mình, lặng lẽ đi loanh quanh xem may ra gặp lại anh.
Chỉ có một khoảnh khắc ngắn, tôi đã có cảm tưởng thời gian như vô tận. Biết đi hướng nào bây giờ? Sao anh này đi nhanh dữ vậy? Đợi mãi không thấy nhau, tôi phải quyết định cứ liều nhắm hướng mà đi. Trong rừng thì chỗ nào cũng giống chỗ nào. Không thể tìm ra dấu vết gì quen thuộc hết. Tôi cũng thầm cầu mong anh Tưởng bình an, không gặp sự nguy hiểm nào.
Tôi cứ lò mò nhắm hướng đi, có lẽ cũng phải cả hơn một giờ đồng hồ rồi mà chưa thấy quang cảnh nào quen thuộc hết. Tôi vẫn thầm cầu mong là đi đúng hướng về xã Đức Hạnh, và sẽ gặp anh Tưởng ở đó.
Đi cái kiểu lần mò như vậy thì không đi nhanh được. Có lẽ tôi chỉ cách bờ suối, cái chỗ lạc nhau khoảng một cây số. Sốt ruột quá, nhưng biết làm sao bây giờ. Đang suy nghĩ luẩn quẩn trong óc thì nghe có tiếng gọi, tôi mừng quá, đứng lại, hỏi “có phải anh Tưởng đó không”?
Người mới gọi tôi không phải là anh Tưởng. Đó là hai anh du kích Thượng. Họ mặc quần áo bộ đội và có trang bị hai khẩu súng AK-47. Họ đến gần tôi và hỏi:
– Mày trốn trại hả? Tôi đáp:
– Không, tôi định ra sóc Thượng gặp ông tù trưởng. (Tôi nhanh trí chuyển mục đích chuyến đi của tôi.)
Hai người du kích không tin, họ nói:
– Trông mày giống như đang đi trốn trại. Đi theo tao, về giao cho ông tù trưởng rồi tùy ông ấy tính.
Tôi nói với họ:
– Thật mà, tôi có ý định ra chơi với ông ấy đây. Các anh bắt tôi rồi lát nữa ông ấy cũng thả tôi ra mà. Tôi có trốn trại đâu.
Hai anh chàng này vẫn nghi ngờ. Họ bắt tôi đi trước, hai người theo sau. Họ dắt tôi về sóc Thượng. (Không biết đây là cứu tinh của tôi hay là một tai họa mới?)
Về tới sóc Thượng thật! Hú vía. Ông tù trưởng đúng trên nhà sàn cao, nhìn xuống hỏi:
– Hai đứa mày dắt ông bác sĩ đi đâu đó?
Tôi nói vọng lên:
– Tôi nói với hai anh này là tôi đang trên đường ra gặp ông mà hai anh ấy không tin, nhất định bắt tôi về đây giao cho ông. Anh ấy nghi ngờ là tôi trốn trại!
Ông tù trưởng quát:
– Hai đứa mày để ông bác sĩ ở đây với tao, đi đâu thì đi đi!
Tôi quay lại, mỉm cười với hai anh du kích:
– Hai anh thấy không? Tôi đã nói là tôi ra đây chơi với ông tù trưởng của các anh mà.
Có lẽ hai anh chàng này có tiếp xúc nhiều với bộ đội nên khá rành tiếng người miền xuôi. Hai anh chàng này mất hứng, định quay đi, chợt thấy cô con gái ông tù trưởng chạy ra vẫy vẫy. Họ tưởng là cô vẫy họ, họ đáp lại bằng tiếng Thượng. Cô cũng đáp lại một tràng dài. Hai anh chàng du kích có vẻ tức tối, bỏ đi một nước.
Trong bụng tôi như có lửa đốt vì đã trễ lắm rồi mà chưa ra được tới xã Đức Hạnh, không biết anh Tưởng còn chờ tôi ở đó không? Nghĩ vậy, nhưng tôi vẫn phải làm bộ vui, leo lên nhà của ông tù trưởng.
Tôi kể cho ông nghe sự việc xảy ra. Ông nói từ bây giờ trở đi, tôi không phải sợ những anh du kích nữa, ông sẽ dặn họ. Cô con gái thì vui lắm, cô đem một thanh “cơm lam” ra khoe tôi. Cô nói:
– Hôm nay “tao” cho bác sĩ ăn thử món cơm của người chúng tao. Cô lấy con dao nhỏ chẻ thanh cơm lam ra, cơm còn nóng hổi, thơm phức mùi nếp mới. Cô trải ra chiếc lá chuối, rắc một chút muối tôi mang đến hôm trước. Ông tù trưởng và tôi cùng bốc ăn. Cô con gái sung sướng nhìn chúng tôi ăn ngon lành. Quả thực, đã lâu lắm tôi mới được thưởng thức một bữa cơm nếp ngon miệng như vậy. Tôi vốn thích ăn xôi nên tuy bữa cơm đơn sơ, đạm bạc nhưng với ánh mắt trìu mến của cô con gái Thượng, tôi cảm thấy ngon hơn những nắm xôi tôi thường mua ở xã Đức Hạnh. Nhớ đến xã Đức Hạnh, tôi giật mình nghĩ bụng: Mình không thể chiều thể xác quá như thế này. Phải đi thôi.
Ông tù trưởng vẫn tưởng tôi có nhiều thì giờ như mọi khi nên tỏ ý luyến tiếc khi tôi nói phải xin phép đi một chút, nếu xong việc sớm tôi sẽ quay lại. Cô con gái cũng giật mình. Cô quay vào trong đem ra hai thanh cơm lam còn nóng, có lẽ cô mới nướng xong, vỏ cây tre đã cháy đen. Cô lấy lá chuối bịt đầu ông tre, lấy lạt buộc chặt, trao cho tôi và nói:
– Bác sĩ cầm về ăn. Nếu ăn không hết, cứ lấy lá này đậy lại, để một hai ngày cũng còn ăn được. Tôi cám ơn và chào hai cha con ông. Hai thanh cơm lam nằm yên trong cái túi vải tôi mang theo.
Tôi phải chú thích thêm ở đây: Cơm lam là một hình thức nấu cơm đặc biệt của người miền thượng du. Họ lấy một khúc tre (ở vùng này là lồ ô) cưa hai đầu, một đầu giữ lại cái mắt tre, dùng như đáy nồi, phía trên cưa bỏ mắt để cho gạo vào. Có khi là gạo tẻ, có khi là gạo nếp. Gạo đã được trộn với nước sẵn. Họ lấy lá bít đầu trên cho gạo không thể trào ra khi nấu. Lá chuối hoặc lá tre cũng được. Sau đó, họ thẩy vào bếp lửa. Thanh tre cháy đen ở ngoài và cơm ở trong thì cũng vừa chín tới. Những thanh cơm lam này thưởng tỏa ra mùi thơm lừng, trông vừa lạ mắt, lại vừa rất ngon.
Tôi chào hai cha con ông tù trưởng xong là ba chân bốn cẳng chạy về phía xã Đức Hạnh. Bây giờ có lẽ đã trễ lắm, chắc phải hơn ba giờ chiều. (Hồi ở Long Khánh, cán bộ trại đã tịch thu hết đồng hồ, dây chuyền, vàng bạc của chúng tôi và lúc chuyển trại lên đây, họ “quên” không trả lại nên chúng tôi đều trở lại thời “đồ đá”, chỉ còn biết nhìn bóng mặt trời mà đoán giờ!)
Bình thường, tôi chỉ mất khoảng một giờ đồng hồ để đi từ sóc Thượng ra tới xã Đức Hạnh. Nếu ra tới nơi mà không gặp được anh Tưởng thì tôi vẫn còn thì giờ kịp trở lại trại trước khi điểm danh.
Đi không được bao lâu, lại nghe tiếng gọi. Lại là hai anh chàng du kích Thượng. Lần này, họ thay quần áo nguyên thủy của họ, nghĩa là chỉ mặc một cái khố, vai đeo cái “gùi” bằng nan tre, tay cầm cái gậy đi đường rừng. Tôi giật mình, suy nghĩ thật nhanh. Chắc đây mới là điềm xấu. Tôi lấy con dao rừng của tôi chém thật mạnh vào một thân cây gần đó. Lưỡi dao lún xâu vào thân cây.
Hai người Thượng xấn đến gần tôi. Một người giật lấy cái bao vải trên vai tôi. Người ấy có vẻ tức tối lắm, cầm hai ống cơm lam đập thật mạnh vào một thân cây gần đó. Hai ống cơm lam bể tan, cơm trắng văng tung tóe. Tôi chưa kịp phản ứng gì thì người thứ hai giật cái vòng tay chỉ đỏ của tôi, ném xuống đất. Hóa ra hai anh này ghen với tình cảm của hai cha con ông tù trưởng dành cho tôi. Một cây gậy vụt mạnh lên đầu tôi. Tôi kịp thời lách sang một bên. Cây gậy chỉ đập xuống vai trái của tôi.
Tôi nhẩy ra phía sau, hỏi:
– Tại sao hai anh đánh tôi?
Hai người họ không trả lời, vung gậy đập tôi rối rít. Giờ này thì tôi biết rằng có đôi co cũng vô ích. Phải phản đòn thôi.
Tôi nhảy lui lại phía sau, quan sát tình hình xem nên hạ thằng nào trước. Người đập hai ống cơm lam của tôi còn đang đứng gần tôi. Tôi bám vào cây gậy của anh này, phóng mình lên, đá một phát bằng gót giày bốt vào cạnh sườn của anh ta. Anh chàng này không ngờ tôi ra đòn nhanh như vậy, ngã xuống đất, ôm cạnh sườn có vẻ đau đớn lắm. Anh chàng thứ hai cũng có vẻ chột dạ, bỏ đi thì cũng quê quá, mà ở lại thì bây giờ coi như còn có một mình. Anh ấy nhìn tôi bằng ánh mắt căm hờn. Trong đầu tôi cũng thoáng qua một ý nghĩ. Hai đứa mày làm lỡ cơ hội của tao. Giờ lại còn chặn đường gây sự với tao. Mày phải nếm mùi thất bại đau đớn. Thực lòng, tôi hận hai thằng này lắm nhưng dĩ nhiên tôi không muốn hạ độc thủ. Người còn lại nhảy đến trước mặt tôi, định dùng gậy đâm vào vùng bụng tôi một đòn nữa. Tôi giật được cây gậy và chụp ngay lấy cổ tay hắn. Người giỏi Judo, hoặc Aikido thì đều biết rằng khi nắm được cổ tay của địch thủ thì phần thắng đã có thể tới 50 phần trăm. Khốn nỗi là họ mặc “quần áo” kiểu dân tộc thiểu số, không có cổ áo hay tay áo để dùng đòn vai hay đòn hông. Nhanh như chớp, tôi đành phải áp dụng đòn chí tử của Judo, đó là đòn “hy sinh” Tomoe Nage. Tôi té xuống đất trước, kéo anh này ngã theo, dùng chân phải đá vào hạ bộ và thẩy anh này 180 độ. Thú thực, trong lúc thập tử nhất sinh như thế này, tôi vẫn còn nghĩ được là chỉ nên làm họ sợ thôi, không cần giết họ. Khi đà ngã của cả hai đến gần mặt đất, tôi giựt ngược cánh tay của anh này lại, tránh cho đầu anh không bị đập xuống đất. Đầu bị đập xuống đất trong trường hợp này, không bể đầu thì cũng gãy cổ, chết ngay tại chỗ. Lúc còn học trong trường, khi thực tập với các bạn, thầy chỉ cho đạp vào “bẹn” hoặc phần trên của đùi chứ không cho đạp vào hạ bộ. Lúc này, tôi chỉ muốn loại hai anh này ra khỏi cuộc càng sớm càng tốt thôi.
Giờ này thì cả hai người Thượng vẫn còn nằm trên mặt đất rên la. Họ không ngờ là đã ăn hiếp lầm người. Tôi đứng lên, nhổ con dao ra, chỉ vào mặt hai người nói:
– Tao không có trốn trại. Lần này, tao không muốn giết hai đứa mày, nhưng lần sau, gặp tao thì cũng tránh mặt tao ra.
Tôi quay gót bước đi sau khi cầm hai cây gậy của hai đứa nó vứt xuống triền dốc. Bây giờ, hơi tỉnh táo lại một chút mới kịp nhận ra là trời trong rừng đã chập choạng tối. Hai người này biết là tôi có ý định ra xã Đức Hạnh và có thể, khi họ đứng dậy được, họ cũng sẽ tìm về hướng đó để “phục kích” tôi. Nghĩ vậy cho nên thay vì đi xuống dưới triền dốc, tôi đi ngược lên trên đồi. Cứ đợi xem tình hình thế nào đã.
Thoáng một cái mà trời đã tối hẳn. Cơ hội trở về trại không còn nữa rồi. Tôi tức cái định mệnh oái oăm của tôi quá. Tự nhiên thì xảy ra những chuyện không đâu, mất thì giờ và vuột mất cơ hội. Từ bây giờ trở đi, tôi chỉ còn biết trông nhờ vào chính khả năng của tôi để giành sự sống. Tôi leo lên một cành cây, dự trù sẽ ngủ qua đêm ở trên này. Sáng ra, ở trên cao quan sát phía dưới cũng dễ mà không sợ bị lộ.
Trong giấc ngủ chập chờn, thỉnh thoảng tôi nghe thấy tiếng xe của cả một đoàn “công voa”, rầm rầm chạy ngoài đường. Lúc khác thì lại nghe thấy tiếng voi thét trong đêm khuya, hình như một con voi và một con hổ đang quần nhau dưới đất. Gần sáng thì lại nghe tiếng anh em trong trại gọi nhau ơi ới, rõ ràng có cả tiếng của Uyển, Linh, anh Đồng, anh Tuyến, lại có cả tiếng nói vọng lại rất mơ hồ của Lộc và Bé. Thiếp đi một lúc sau thì lại thấy tiếng của bạn Tiêu Quang Hiền và của Nguyễn Hữu Phương, đồng môn trường Quân Cảnh với tôi, khuyến khích tôi cứ giữ chức vụ tổ trưởng. Choàng tỉnh dậy thì cảnh vật vẫn còn yên tĩnh trong hơi sương sớm. Tôi nhắm mắt, cố tìm lại giấc mơ dở dang xem Lộc và Bé định nói gì với tôi.
Tôi cảm thấy bụng đói cồn cào mới nhớ ra là từ lúc ra khỏi nhà ông tù trưởng cho đến giờ, chưa ăn thêm miếng nào vào bụng. Tôi lấy lon gô ra, bốc một nắm cơm bo bo ngào đường và ruốc bỏ vào miệng, vừa nhai từ từ, vừa ngẫm nghĩ về những phần đời trước trong cái định mệnh này, không biết nó sẽ kéo mình về đâu. Vậy mà trời đã sáng bạch tự bao giờ. Tôi vẫn ngồi trên cành cây cao, quan sát bên dưới xem có ai đi làm rừng ở khu vực này vào giờ này không. Cảnh vật vẫn yên tĩnh. Thỉnh thoảng chỉ có tiếng chim bay vụt vì một cái cử động của tôi. Từ đây, tôi cũng chưa thể định hướng được xem xã Đức Hạnh ở phía nào. Nhìn bao quát toàn cảnh vật thì cũng chỉ thấy toàn rừng là rừng. Chỉ một điều tôi chắc chắn là xã Đức Hạnh phải ở phía đồng bằng dưới chân đồi.
Dễ chừng đã khoảng một giờ đồng hồ trôi qua, tôi cầu mong đừng có ai đi qua khu vực này, nhất là hai anh chàng du kích Thượng. Nhất định tôi phải tìm cách định hướng về Đức Hạnh. Nghĩ vậy, tôi tuột xuống khỏi thân cây, coi lại dao rựa, thức ăn, nước uống đầy đủ và bắt đầu đi xuống đồi. Những kiến thức đi rừng tôi học được khi còn ở Long Khánh hình như không giúp được tôi trong trường hợp này. Có biết hướng Bắc ở đâu theo vị trí của sao Bắc Đẩu đã thấy trong đêm qua thì cũng như không – vì đứng ở vị trí này, tôi đâu có biết xã Đức Hạnh nằm ở hướng nào? Định mệnh ơi, dẫn dắt tôi đi với.
Xuống đến gần chân đồi, tự nhiên tôi nghe tiếng nước róc rách. Tôi đứng lại để nghe xem đây có phải là ảo tưởng không. Quả thật, đây là tiếng nước suối chảy. Tôi cứ theo trườn đồi mà đi xuống hướng có tiếng nước chảy. Càng xuống gần, tôi càng nhận thấy đây là một con suối thật. Đúng là cái kiếp con tằm đến thác hãy còn vương tơ! Tôi liên tưởng ngay, đây chắc chắn là phần hạ nguồn của con suối mà cô con gái ông tù trưởng hay múc nước lên, pha rượu cho chúng tôi uống. Con người đa sầu đa cảm của tôi nghĩ ngay đến bốn câu thơ tôi trích ra ở đây. Ai cũng biết là tôi muốn tâm sự điều gì rồi!
(Còn Tiếp)
Phụ Chú:
1.
(Vào những năm 1974, 1975, Phước Long là một trong số 11 tỉnh bao quanh Biệt Khu Thủ Đô Sài Gòn-Gia Định. Ở cách Sài Gòn khoảng 150 cây số về phía Bắc, Phước Long có địa giới giáp với Bình Long (phía Tây), Quảng Đức (phía Đông), Long Khánh (phía Nam) và Campuchia (phía Bắc) và nằm trong địa bàn tác chiến của Quân khu III (Quân đoàn III) của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.)
2.
Đòn Tomoe Nage, ảnh minh họa lấy từ Internet xuống.
3.
Thiếp tại Tương giang đầu
Chàng tại Tương giang vỹ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương giang thủy


