Phần Mười Lăm: “Phần Đời Bị Lưu Đày”
Tôi chờ cho mọi người đi hết mới mò ra đường, gặp một anh xe ôm. Tôi hỏi:
– Anh ơi, giờ này anh còn chạy không? Anh xe ôm trả lời:
– Giờ này mới là giờ kiếm tiền của tôi. Anh muốn đi đâu? Tôi trả lời:
– Tôi muốn về khu Nhà Thờ Ba Chuông, gần cổng xe lửa số sáu. Anh xe ôm nhìn tôi, hỏi lại:
– Sao bữa nay đi xa dữ vậy? Có việc cần hả? Thôi được, tôi chỉ lấy anh 5 đồng.
Tôi nhảy lên sau xe của anh. Chúng tôi len lỏi qua các khu phố buôn bán nhộn nhịp về ban đêm. Tôi không ngờ là sau năm năm, thành phố Sài Gòn lại có nhiều quán nhậu và quán cà phê đêm như vậy. Về đến khu Nhà Thờ Ba Chuông, anh nói:
– Lúc nào muốn xuống thì nói tôi nhé. Tôi đâu có thể mường tượng ra được là quán cà phê của người bạn mà vợ tôi nói hôm trước ở đâu. Tôi nói với anh xe ôm:
– Thôi, hay là anh cho tôi xuống đây cũng được. Chúng tôi chào nhau. Anh phóng xe đi mất.
Vừa đi tôi vừa cố moi trí nhớ xem vợ tôi nói anh bạn ấy tên gì. Chịu.
Tôi chợt nhận ra rằng cả khu phố này, hai bên đường, dễ chừng có đến cả trăm tiệm cà phê mở buổi tối. Bây giờ mà lết từng tiệm, nói ra mật khẩu thì rát cả họng, không biết đã có cơ may tìm ra chưa.
Nghĩ vậy, nhưng tôi vẫn phải đi từng tiệm một. Vào nhà hàng nào, tôi cũng xin được gặp ông chủ. Những quán chỉ có “bà chủ” thì thủ tục xong rất lẹ. Tôi cám ơn, xin lỗi là tôi vào không đúng tiệm. Những tiệm có “ông chủ” thì nhiêu khê hơn.
Ông chủ quán cà phê ra hất hàm hỏi tôi:
– Xin việc làm hả, không có mướn. Tôi nói mật khẩu, ông xua tay:
– Đã nói là không mướn mà! Tôi lết từng quán cà phê bên đường, có lẽ đã khuya lắm rồi, vẫn chưa gặp may.
Bây giờ thì chỉ còn một số ít quán mở về khuya. Tôi nhìn thấy một cái quán nhỏ, bước vào, gặp “ông chủ”. Ông hỏi tôi muốn uống gì? Tôi nói: “Tôi là Kỳ, mới ở Long Khánh về”. Ông chủ ôm chầm lấy tôi:
– Anh về an toàn rồi hả? Ngồi đây, uống đỡ một ly nước chanh, tôi lấy xe đạp chạy sang nhà anh báo cho chị ấy biết.
Sao định mệnh cuối cùng cũng chiều tôi thế này nhỉ? Cám ơn Đức Mẹ.
Chỉ độ nửa tiếng sau, vợ tôi đạp xe đạp theo anh sang tiệm. Chúng tôi nhìn nhau nghẹn ngào. Anh bạn lẳng lặng rút lui để chúng tôi tự nhiên. Cũng may, lúc đó đã khuya lắm rồi nên quán không có khách. Chúng tôi thổn thức nói nhau nghe những nhớ nhung. Một lúc sau vợ tôi nói phải về chuẩn bị cho tôi vài thứ, ngày mai có mà dùng.
Bây giờ anh bạn, tên Thăng, (bây giờ anh ta giới thiệu, tôi mới nhớ ra!) kể với tôi rằng:
– Lúc tôi sang nhà, chỉ gặp bà ngoại mấy đứa. Bà cụ nói chị đang ở trong nhà thờ cầu nguyện cho anh. Để bà vào nói cho chị ấy nghe. Sau đó thì chị ấy đạp xe sang đây gặp anh đấy. Tôi nắm tay, cám ơn lòng tốt của anh. Anh Thăng cho biết tiệm chỉ có bấy nhiêu thước vuông, vợ chồng con cái anh ngủ trên gác, cũng có diện tích bằng dưới nhà nên anh nói tôi cảm phiền, sau khi đóng của, chịu khó kê mấy cái ghế lại với nhau, lấy chỗ ngủ. Anh cũng chỉ cho tôi mảnh bếp đàng sau, chỉ đủ để một người tắm ban đêm. Anh bảo tôi cứ tự nhiên. Tôi hỏi anh nhà có cửa sau không? Tôi chuồn khi cần. Anh cho biết: nhà chỉ có vậy, không có cửa sau.
Tối hôm đó rồi cũng ổn thỏa. Tôi kê mấy chiếc ghế nằm cũng được. Lâu lắm không nghe tiếng xe cộ chạy trong đêm nên cũng khó ngủ.
Sáng sớm, tôi xin phép chủ quán, đi lanh quanh gần khu đó cho biết. Tôi thấy một xe đẩy, hành nghề ép plastic giấy tờ khổ nhỏ, lấy liền. Tôi đưa tờ giấy “Chứng Minh Nhân Dân” của tôi cho anh chủ xe, nói muốn ép plastic tờ giấy này cho chắc ăn. Anh chủ xe cầm tờ giấy, xem xong, hỏi tôi:
– Anh mua tờ giấy này ở đâu vậy?
Tôi hỏi lại:
– Sao anh lại hỏi tôi mua ở đâu? Giấy thật mà?
Anh chủ xe nói:
– Thời buổi bây giờ người ta dùng giấy tờ giả, tên giả nhiều lắm. Anh đừng lo. Tôi không báo cáo anh đâu nhưng tờ giấy này làm giả vụng về quá sức. Anh coi nè: hàng số đỏ ở trên góc phải, đóng vụng về quá, không thẳng hàng. Công an mà nó nhìn vào thì biết ngay là giấy chứng minh giả. Anh sẽ bị lôi thôi to. Tôi toát mồ hôi, chưa biết nói sao thì anh chủ gian hàng lại nói:
– Nếu anh cần một bộ giấy tờ giả mà làm thật “xịn” thì tôi chỉ chỗ cho, tính rẻ thôi. Tôi lúng túng nói với anh:
– Nếu vậy thì tôi chờ vợ tôi tiếp tế tiền đã rồi mới có thể chi nổi. Bây giờ, trong túi tôi chỉ có mấy đồng bạc lẻ. Anh chủ xe bình thản nói:
– Việc này tôi quen rồi, đừng ngại. Lúc nào có tiền thì ra đây tìm tôi. Trong khi chờ đợi thì hủy tờ giấy này đi. Thà làm bộ nói để quên ở nhà, câu giờ rồi hãy hay, còn hơn là trình tờ giấy này ra thì bị “tóm” ngay.
Tôi thẫn thờ trở về quán cà phê của anh Thăng, nói cho anh biết cả sự việc. Anh nói, như vậy thì tay này có chỗ làm thật. Phải tin hắn thôi. Chút xíu nữa, nếu chị chưa sang đây thì tôi chạy sang nói hộ cho.
Sáng hôm đó, dĩ nhiên là vợ tôi sốt ruột lắm, lo cho hai đứa con xong là đạp xe sang bên quán cà phê gặp tôi ngay. Tôi chưa kịp nói với vợ tôi về chuyện giấy tờ giả thì vợ tôi kéo tay tôi đi ngay.
Chúng tôi chở nhau trên chiếc xe đạp. Vợ tôi nói là sang nhà anh này, anh ấy hứa sẽ giúp chỗ tạm trú, sẽ lo cho giấy tờ giả trong khi chờ đợi sắp xếp cho xuống ghe, đi vượt biển. Lúc ấy, tôi mới biết là vợ tôi đã “nạp” cho anh này năm cây vàng. Theo anh ấy hứa thì với 5 cây vàng, anh ấy sẽ lo cho tôi và đứa con trai lớn của tôi đi trước. Anh chàng này tên là “Anh Thìn”. Anh ấy nổi tiếng là đã đưa được nhiều người vượt biên an toàn. Chỉ cần Anh Thìn “vui lòng” cầm tiền đặt cọc là gia đình đã yên trí rồi.
Vợ chồng chúng tôi đến nhà anh lúc khoảng hơn 12 giờ trưa. Người giúp việc nói là “cô cậu” còn đang ngủ trên lầu, yêu cầu vợ chồng chúng tôi chịu khó đợi. Chúng tôi sốt ruột ngồi đợi. Khoảng hai tiếng sau, “cậu chủ” mới đủng đỉnh đi xuống. Vợ tôi gặp được cậu mừng lắm. Giới thiệu đây là chồng tôi mới về tới hôm qua, xin anh sắp xếp chỗ ở giúp. “Anh Thìn” thản nhiên nói:
– Rất tiếc là “đường giây” của tôi đang bị động, những việc tôi hứa với chị hôm trước, bây giờ tạm hoãn đã. Vài hôm sau đến gặp tôi, sẽ tính tiếp. Máu trong người tôi sôi lên. Nghe như vậy là biết “tiền mất, tật mang” rồi. Mình là con cá, vào rọ của người ta rồi, mà thân phận của tôi bây giờ lại đang ở vào thế kẹt, chịu mất toi thôi. Tôi thầm nghĩ, ngày xưa, thái độ hách dịch của mày với một sĩ quan Quân Cảnh, quyền hành một cõi như tao, tao tát cho vỡ mặt. Bây giờ thì “ngậm đắng nuốt cay” vậy. Năm cây vàng bốc hơi ngay từ hôm đó. (Hồi đó, 5 cây vàng là cả một gia tài cho một gia đình rồi.) Những lần sau, xin hẹn gặp, bao giờ cũng bị từ chối! Bây giờ vợ chồng chúng tôi đều ở thế kẹt. Tiền (và vàng) thì không còn. Lấy đâu ra mà đi vượt biên? Chả lẽ chỉ đợi đến ngày bị bắt lại?
Chỗ ở (quán cà phê) của vợ chồng anh Thăng không thể là nơi trú ngụ an toàn. Mỗi ngày có cả chục người khách khác nhau ra vào. Buổi tối thì lại kê mấy cái ghế với nhau mà ngủ. Các phương tiện vệ sinh khác cũng quá giới hạn. Tôi phải tính cách khác.
Tôi nhớ lại hình ảnh của bến xe đò. Mỗi đêm, hàng nghìn người mướn chiếu ngủ la liệt trên lề đường. (Trong phim Doctor Zhivago cũng vậy, hàng ngàn người chờ đợi ở ga xe lửa mỗi đêm.) Tôi bàn với vợ tôi, hay là để tôi trà trộn vào dòng người đi buôn bán, ngày thì la cà cho hết thì giờ. Đêm cứ ra bến xe đò lục tỉnh, mướn một cái chiếu ngủ qua đêm rồi tính tiếp.
Từ đó, tôi trở thành một người vô gia cư, ban ngày thì la cà, tìm cách đi vệ sinh “chùa” ở các hàng, quán. Đến gần tối thì trở về bến xe đò. Sở dĩ tôi chọn bến xe đò là vì với số người đi, lại mỗi ngày đông như vậy, không ai thèm xét giấy tờ của ai. Một cái chiếu không đủ dài cho tôi duỗi chân cũng mất hai mươi xu. Tôi dùng hai chiếc dép cao su làm gối, không sợ bị lấy mất. Khoảng ba giờ sáng là người ta đã xô lấn, có khi đạp cả lên thân thể mình mà họ cũng không thèm để ý. Họ giữ chỗ để lát nữa mua vé xe đi lục tỉnh! Một lon gô nước để đánh răng, rửa mặt, cũng mất hai mươi xu nữa. Một ngày vô vị như vậy vẫn cứ trôi qua. Được cái là vỉa hè Sài Gòn thân thương hồi đó “khai” không thể tả nổi! Riết rồi cũng phải quen thôi. Thỉnh thoảng vợ tôi cũng đạp xe lang thang ra bến xe tìm tôi, tiếp tế cho ít tiền. Vợ chồng lại rủ nhau đi ăn cơm trưa. Một đĩa cơm lạp xưởng là rẻ nhất, chỗ nào cũng có bán, giá chỉ có một đồng.
Vợ tôi kể là mẹ tôi phát giác ra là cái giấy căn cước giả mà vợ tôi mang lên trại cho tôi làm quá dở, quá lộ liễu. Tôi mà mang cái giấy đó đi đường thì bị bắt sớm. (Cũng may là có lẽ nhờ Đức Mẹ che chở, hôm tôi trốn về từ Phước Long, đi quá giang xe bộ đội mới thoát được, chứ nếu mua vé xe đò, tự đi về thì đã bị tóm lại ngay từ hôm đó). Nghĩ như vậy cho nên mẹ tôi lên trại, dự định làm bộ thăm nuôi, đưa cho tôi căn cước mới. Khi mẹ tôi lên đến trại thì tôi đã đi trốn được hai hôm. Trại giữ mẹ tôi lại, đổ tội là mẹ tôi cố ý lên đưa tôi về. Mẹ tôi làm bộ khóc bù lu bù loa, nói:
– Tôi giao con tôi cho Cách Mạng giáo huấn nó, mong nó trở thành người tốt, mau chóng trở về với gia đình. Bây giờ, trại để cho nó trốn, tôi bắt đền Cách Mạng!
Vừa nói, bà cụ vừa làm bộ đưa cho anh vệ binh đứng gần mấy chục bạc, nói:
– Tôi không biết ai, bây giờ có chú, tôi gửi chú mấy chục này, khi nào con tôi nó trở về thì nhờ chú đưa cho nó hộ tôi. Tôi cám ơn chú. Anh vệ binh cầm được số tiền lớn như vậy thì mừng rơn, làm bộ quát tháo:
– Bà già này lắm chuyện quá. Thôi bà đón xe đò mà đi về đi. Chúng tôi không chịu trách nhiệm về con bà.
Mẹ tôi thoát ra được khỏi trại, ba chân bốn cẳng chạy ra đường đón xe về Sài Gòn ngay.
Làm cái thân vô gia cư này được vài hôm thì vợ tôi dẫn bố tôi đến tìm tôi. Bố tôi nhìn thấy thằng con ngày xưa “cậu cả” như thế mà bây giờ đang sống kiếp lưu đày như thế này thì xót quá. Bố tôi nói:
– Thôi con cầm cái giấy chứng minh nhân dân này đỡ, hôm nay đi theo bố về Gia Kiệm, bố đã nói với một người quen ở đó, họ chịu cho con ở nhờ.
Vợ tôi lại nghẹn ngào chia tay tôi. Bây giờ ở gần thế này mà còn khó gặp, mai kia ở mãi tận Gia Kiệm thì làm sao? Tuy vậy, vợ tôi tin ở bố tôi. Biết đâu chỗ này là nơi trú ngụ tốt cho tôi trong khi chờ đợi cơ hội mới.
Bố con tôi lên xe đò về Gia Kiệm. Người quen ở đây thực ra đã cùng sống trong một xóm với gia đình chúng tôi ở Ngã Tư Bảy Hiền. Anh ấy tên là anh Niệm. Anh Niệm gặp tôi mừng lắm. Anh nói:
– Hôm trước nghe bác nói muốn gửi thằng con trai trốn từ trại cải tạo về, tôi không nhớ là ai. Hóa ra là cậu. Thế thì vui quá rồi, cứ ở đây với gia đình chúng tôi. Từ hôm ấy, tôi có chỗ ăn, chỗ ở đàng hoàng. Từ hôm đó, tôi nghiệm lại những biến chuyển mới nhất trong đời tôi gần đây, tôi nghĩ, có thể đây là ơn phước của Đức Mẹ ban cho tôi thực chăng?
Tự nhiên, tôi được ăn trắng mặc trơn. Các cháu con anh Niệm cũng có vẻ quý mến tôi lắm. Nhiều buổi sáng, tôi muốn phụ chị Niệm thái rau cho heo ăn, hoặc làm một vài công việc nhẹ, chị ấy nhất định không cho. Tôi mặc một bộ quần áo “bà ba” vải đen, tay cầm cuốn sách kinh, (tướng mạo trông “thư sinh” ra phết), đi tới đi lui trong nhà, cố đọc cuốn sách kinh để có thêm kiến thức về đạo Thiên Chúa Giáo. Thỉnh thoảng, mấy bà hàng xóm sang chơi, trông thấy tôi, các bà chào:
– Chào cha ạ. Cha ở đâu về nghỉ vậy? Tôi vội trả lời:
– Ấy, các bác đừng gọi cháu là cha. Cháu đang học kinh kệ chứ có phải là cha ở đâu về đâu!
Hình như càng cải chính thì các bà càng không muốn tin. Đi ra, đi vào vẫn gọi tôi bằng “cha”. Thỉnh thoảng, các bà lại sai con cháu đưa sang cho tôi một đĩa xôi, hay vài quả chuối, có khi cả một cái đùi gà. Mãi rồi cũng quen, không muốn cải chính nữa. Anh Niệm cũng nói:
– Hay là cậu không cần cải chính nữa. Các bà có nói với tôi là các bà biết là “cha” mới chịu chức “chui” ở địa phận nào đó, về đây nghỉ, đợi đi nhận “xứ”. Cứ để các bà nghĩ vậy, có khi lại tốt cho cậu. Nhỡ công an phường mở cuộc khám xét, các bà sẽ báo ngay để cậu liệu mà “chuồn”.
Tôi ở với gia đình anh Niệm được độ hai tuần. Anh Niệm cho con gái thứ nhì của anh đi lấy chồng. Trong đám cưới, một người em ruột của anh Niệm về dự đám cưới cháu. Hóa ra quả đất tròn thật. Người em này là bạn chơi với tôi lúc anh ấy ở nhà anh Niệm trong xóm tôi. Chúng tôi nhận ra nhau, mừng mừng tủi tủi. Bạn này tên Phạm Văn Đường, tốt nghiệp cao học Luật Khoa Sài Gòn, hồi xưa cũng có làm cho USAID như tôi, hiện đang làm trưởng phòng phòng nhân viên của hãng Nike ở Sài Gòn. Anh Đường nói với tôi:
– Ở đây coi vậy chứ cũng không chắc đã an toàn cho ông đâu. Hay là về nhà tôi ở, Cư Xá Thanh Đa, tôi quen với tất cả công an phường, hy vọng tôi đỡ đần cho ông được.
Tôi lại chào anh chị Niệm, theo bạn Đường về Thanh Đa. Lại được ơn Đức Mẹ che chở? Về Thanh Đa, vừa yên trí hơn, mà nhất là được gần vợ con, gia đình hơn. Nhà anh chị Đường ở lầu bốn trong cư xá. Hai căn nhà hai bên phải, trái, là hai bà chị ruột của vợ anh Đường. Hai bà nói:
– Chú cứ ở đây, đừng lo. Đường nó quen công an phường ở đây rồi. Lỡ bất thần họ đi xét nhà thì chúng tôi thò đầu sang hành lang phía sau báo động, chú cũng trốn kịp.
Gia đình chúng tôi thỉnh thoảng cũng thay nhau đến thăm chúng tôi. Định mệnh của tôi hóa ra cũng không quá khắt khe với tôi.
Một hôm, có anh công an phường đến tìm anh Đường, thấy tôi, anh ta cũng không hỏi gì. Tôi lánh mặt vào phía trong nhà. Lúc về, anh Đường nói tôi:
– Họ muốn bảo lãnh mấy người quen bị công an Thành bắt. Họ muốn nhờ tôi tìm người làm hộ con dấu giả. Tôi muốn xem mẫu con dấu. Anh Đường đưa tôi tờ giấy có đóng con mộc thật. Tôi xem xong, hỏi:
– Những việc như thế này thì họ trả mình bao nhiêu tiền?
Anh Đường bảo anh chưa biết. Anh hỏi tôi:
– Thế ông định làm gì? Tôi nhìn qua con dấu, tôi biết là tôi có thể làm được. Với tài vẽ tỷ mỉ của tôi, tôi bảo đảm là không ai có thể biết đây là dấu giả.
Anh Đường đạp xe đi một lúc, trở về nói với tôi:
Công An họ muốn trả hai trăm đồng một con dấu. Ông dám làm không? Tôi nhận lời liền.
Không ai có thể ngờ là tôi dám nhận việc này. Nhiều người cứ tưởng là tôi sẽ dùng củ khoai, khắc con dấu giả vào đấy. Nhưng không, tôi có một phương cách “thần kỳ” hơn:
Tôi dùng một tờ stancil, loại giấy lúc trước, mình hay dùng để quay ronéo. Tôi thức khuya, lúc hàng xóm đã đi ngủ mới bắt tay vào việc. Lầu bốn, nhà của vợ chồng Đường nóng như thiêu. Hai vợ chồng thay phiên nhau đứng quạt cho tôi làm việc. Tôi nhìn con dấu “thật” để vẽ con dấu “giả”. Tôi cố gắng làm thật tỷ mỉ. Mọi chi tiết đều đúng y như “đúc”. Tôi mua một hộp tampon mực đỏ về, đặt “con dấu” stencil lên mặt mực đỏ của tampon, đặt một tờ giấy nháp lên, lấy lòng bàn tay ấn nhẹ, mực đỏ từ dưới thấm lên trên, qua nét vẽ của tôi ở tờ stencil. Một cái triện đỏ đã được in lên tờ giấy nháp, trông y như thật! Bạn Đường của tôi phục “sát đất”. Ngày hôm sau, Đường lại làm thân con thoi, đem mẫu dấu giả đi cho công an xem. Họ chịu quá, đặt tiền ngay cho tôi thực hiện công việc “phạm pháp” này. Một thằng trốn tù, bây giờ lại tiếp tay với công an, bán giấy tờ giả cho người muốn mua. Đây cũng là một phần của định mệnh chăng?
Từ hôm ấy, vợ của anh Đường không phải bưng thúng xôi ra đầu hẻm bán nữa. Chúng tôi có thể mua những món ăn ưng ý hơn. Tôi cũng làm cho tôi một bộ giấy tờ giả, dùng tên giả là Nguyễn Minh Kỳ, tên của hai đứa con trai của tôi. Trong giấy, tôi là cán bộ nhà nước, chức vụ trung úy. Bây giờ đi ra đường, không sợ thằng tây nào!
Vợ tôi tìm đến gặp tôi ở nhà anh Đường, cho tôi biết là mới gặp được mẹ một người bạn, chồng chị ấy cũng đang ở trong trại cải tạo. Bà cụ nêu ý kiến, hay là để tôi có thêm chỗ ẩn náu, thỉnh thoảng tôi cứ về nhà ông bà để thay đổi chỗ ở cho an toàn. Tôi lại có thêm chỗ ở mới. Tôi về gặp ông bà. Ông bà rất vui, lại còn cho tôi mượn chiếc xe đạp để có cái mà đi lại. Nhà ông bà ở đường Lạc Long Quân, gần Ngã Tư Bảy Hiền. Thỉnh thoảng, tôi đạp xe từ nhà nọ sang nhà kia, từ cư xá Thanh Đa về Ngã Tư Bảy Hiền, cũng “bở hơi tai”. Bà cụ biết tôi có ý muốn rửa tội, theo đạo Công Giáo, trước khi đi vượt biên, có nơi mà gửi gấm linh hồn. Vợ chồng cùng một tôn giáo cũng tiện hơn. Bà hay giúp đỡ giáo xứ gần nhà cho nên quen thân với Cha Sở. Bà nói, “để tao lo cho nó”.
Ông bà nhận làm cha mẹ linh hướng của tôi, đỡ đầu cho tôi rửa tội, theo đạo.
Một lễ cưới “chạy làng” được tổ chức âm thầm trong nhà thờ của họ Đạo. Cha Sở làm chủ tế. Thầy giúp lễ đánh đàn “organ” cho lễ cưới. Khách được mời rất giới hạn, chỉ có mẹ vợ tôi cùng bà chị ruột. Bên tôi thì cũng chỉ có bố mẹ tôi tham dự. Chúng tôi, trong bộ quần áo đơn giản, khoác tay nhau đi lên cung Thánh trong bài “Oui, Devant Dieu”
Oui devant dieu devant les hommes. Oui pour mes jours je te les donne. Et plus que tout mieux que personne. Je t’aimerai toujours. Je t’aimerai toujours…. Jusqu’à mon dernier jour.
Tôi mang cái tội đa sầu, đa cảm sẵn nên cảm động quá sức! Đang bị tù khổ sai, biệt xứ, mà được nắm tay người vợ thủy chung, chính thức kết hôn trước bàn thờ Thiên Chúa.
Lúc Cha xứ bảo chúng tôi cầm tay nhau, trao đổi câu thề hứa:
Tôi Dz… nhận em H…làm vợ, và hứa sẽ giữ long chung thủy với em, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em mọi ngày suốt đờ itôi.
Tôi H… nhận anh Dz… làm chồng, và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với anh, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng anh mọi ngày suốt đời tôi.
Tôi đã nghẹn ngào, nước mắt cứ tuôn rơi, không nói nổi nên lời.
Sau tiệc cưới, cả hai gia đình chúng tôi và Cha Xứ, thầy giúp lễ, kéo nhau về nhà cha mẹ đỡ đầu của tôi, ngả một bữa tiệc vui nhỏ. Cha Xứ nói với tôi:
– Tớ nói thật với cậu: Hôm nay, cậu mà có mệnh hệ gì thì cậu đi về Thiên Đường thẳng rẵng. Cậu đã ở trong luyện ngục 5 năm rồi, bây giờ chắc đã được thanh tẩy sạch các tội lỗi. Trong một ngày mà cậu chịu 4 bí tích Công Giáo: Bí tích Rửa Tội, Chịu Mình Thánh Chúa, Thêm Sức, và Hôn Phối, còn muốn gì nữa?
Quả thực, suốt năm năm bị đày đọa trong cái địa ngục trần gian cộng sản, tôi đã có nhiều dịp suy ngẫm lại quá khứ của mình. Có những điều mình không nên làm – mà mình đã làm. Có những điều mà mình nên làm – thì mình lại chưa làm. Tôi rất ân hận với những điều đó. Tôi tự dằn vặt mình với những thiếu sót trong quá khứ, với cha mẹ, vợ con, anh em bạn bè và nhiều điều đáng tiếc trong khi thi hành nhiệm vụ của một người trai thời chiến đang phục vụ trong quân ngũ.
Những ngày sau đó, vào các Chúa Nhật, tôi thức dậy thật sớm, đi xem lễ thứ nhất, lúc 5 giờ sáng. Tôi luôn luôn quỳ trên cùng để không ai nhìn thấy mặt.
Một buổi sáng, sau lễ, tôi nán lại, đợi mọi người ra về hết, mới làm dấu, đứng dậy, ra về. Một cô bé chừng 8 tuổi, lên hàng ghế, khều vai tôi, nói nhỏ:
– Bác ra phía sau nhà thờ, ba con đang đợi bác ở ngoài đó. Tôi nghĩ bụng: không lẽ đây là giây phút Tự Do sau cùng của tôi? Công an đã có mặt ở ngoài đó? Tôi nói với cháu bé:
– Ừ, con cứ ra ngoài trước, chút xíu bác sẽ ra sau.
Chậm chậm lê bước nặng trĩu ra ngoài nhà thờ, một anh chàng trông rất quen thuộc, nhảy lại, nắm tay tôi, kéo tôi về nhà anh, cũng gần nhà thờ.
Câu đầu tiên anh ta hỏi là:
– Ngày xưa, ở Biên Hòa, ông đã có vợ rồi, sao bây giờ lại cưới “bà” khác?
Tôi nhận ra, đây là anh Toàn, thượng sĩ, phòng Văn Thư của chúng tôi trong phi trường.
Anh Toàn cho biết bây giờ, anh đang đạp xe xích lô sống qua ngày. Vợ anh thì buôn bán lặt vặt ở chợ Tân Bình. Tôi vui cười trả lời:
– Vẫn bà ấy đấy thôi. Ngày xưa, tôi được phép chuẩn của Tòa Giám Mục Sài Gòn, cho đạo ai nấy giữ, bây giờ mới làm phép hôn phối thực thụ. Anh Toàn thở phào. Anh cho biết là thấy có người lạ mặt đi lễ, anh đã quan sát tôi từ lâu. Tôi cũng thú thực là chúng tôi đang tìm đường vượt biên. Anh đãi tôi một chầu bánh cuốn bà hàng xóm bán. Xong anh bắt tay tôi, chúc người bổn đạo mới được nhiều ơn phước của Chúa và Mẹ Maria.
Trong khi đó thì bà xã tôi vẫn tìm đường giây đi vượt biên. Tôi được một cái hẹn gặp một ông chủ ghe, cũng có thành tích giúp được nhiều chuyến vượt biên êm thắm. Ông chủ ghe là một người dân xứ Gò Công, có một bộ “răng dzàng sáng chói”. Ông gặp tôi thì có vẻ chịu ngay. Tôi cũng thật thà nói với ông: ngày xưa, tôi là một sĩ quan Quân Cảnh, “võ nghệ đầy mình”! Ông nói:
– Nếu vậy thì cho chú làm “thuyền trưởng”, trách nhiệm an ninh trật tự trên ghe. Chú đi miễn phí, nhưng thím và hai đứa nhỏ thì 6 “cây”. Giá đặc biệt cho chú đó. Không biết làm cách nào mà vợ tôi có thể “xoay” được 6 cây nhưng tôi vẫn nhận lời bừa.
Ông muốn ngay hôm đó, tôi phải đi theo ông về Cà Mau cho quen đường và ông sẽ giới thiệu với những người trưởng toán khác. Vợ tôi đạp xe về, còn tôi thì theo ông ra bến xe đò.
Tôi theo ông chủ ghe xuống Cà Mau, quan sát địa hình. Sau đó, ông đưa tôi một ít tiền, nói tôi về bến Ninh Kiều, Cần Thơ, gặp mấy người nữa cho ông. Vào thời điểm đó, lúc nào tôi cũng mặc một cái áo màu xanh lá cây của bộ đội, một chiếc quần tây “bèo”, chân đi đôi dép cao su đen, để qua mắt “bàn dân thiên hạ”. (Cũng may là tôi vẫn giữ giọng Bắc xưa nay, bây giờ chỉ phải học thêm mấy “từ” của các ông 75 nữa, dễ ẹc).
Tôi về Cần Thơ, ra bến Ninh Kiều, theo sự chỉ dẫn của ông chủ ghe, tìm gặp mấy người trưởng toán kia không khó. Mỗi người trưởng toán chúng tôi có nhiệm vụ móc nối và đưa đón khách (đã đóng tiền) của ông chủ ghe. Theo chương trình, chúng tôi sẽ đi từng ghe nhỏ, trên ghe là toán khách của mình. Mỗi ghe sẽ giả vờ đi bán trái cây, rau quả, đi trong sông, từ bến Ninh Kiều ra tới Cà Mau. Nếu đúng dự trù thì sẽ được đón bởi các ghe “taxi”, hướng dẫn ra ngoài cửa biển, leo lên ghe lớn đã đợi sẵn ở ngoài đó, và nổ máy, ra khơi.
Chương trình nghe đơn giản và dễ dàng như vậy, nhưng dĩ nhiên không phải vậy! Nếu dễ dàng và đơn giản như vậy thì “cột đèn” nó cũng đi hết rồi!
Từ hôm đó, ông chủ không cho tôi về Sài Gòn nữa. Ông bắt tôi phải ở Cần Thơ để làm trung gian cho ông. Khi ông cần nhắn ai hoặc cần làm việc gì thì tôi sẽ là người đảm nhiệm.
Hai lần tôi thoát công an địa phương trong gang tấc. Một lần ở Cần Thơ và một lần ở Cà Mau. Cũng từ hôm đó, tôi không được về Sài Gòn, phải đi tới, đi lui Cà Mau, làm việc với ông chủ ghe. Tôi không được gặp mặt bố mẹ và các em tôi. Tôi cũng không có cơ hội chào tạm biệt vợ chồng anh Đường.
Tôi cũng phải tạm dừng ở đây để nói lên lòng chân thành biết ơn của tôi đối với anh chị Niệm, vợ chồng bạn Phạm Văn Đường, anh Thăng, cha mẹ đỡ đầu của tôi, Cha Xứ, thầy giúp lễ, cha mẹ, họ hàng hai gia đình, và nhiều ân nhân “không biết tên” nữa đã âm thầm an ủi, giúp đỡ tôi có thêm can đảm, nghị lực, để vượt qua những chướng ngại trong cuộc đời bị lưu đày trên chính xứ sở của mình.
(Còn Tiếp)
Kỳ 1 Kỳ 2 Kỳ 3 Kỳ 4 Kỳ 5 Kỳ 6 Kỳ 7 Kỳ 8 Kỳ 9 Kỳ 10 Kỳ 11 Kỳ 12 Kỳ 13 Kỳ 14
